Thuyền vừa cập bến, Tần Tang cũng nghe ông lão kể không ít chuyện về đạo nhân Tịch Tâm.
Thanh Dương quán trên núi Thúy Minh thuở đầu từng hưng thịnh, về sau ngày một sa sút. Đạo sĩ trong quán lần lượt bỏ đi, chỉ còn lại mấy ông già, rồi cũng qua đời theo năm tháng.
Đạo quán chẳng ai tu sửa, càng lúc càng tiêu điều. Cỏ dại mọc kín khắp nơi. Nếu không có đạo nhân Tịch Tâm, chỉ vài năm nữa, Thanh Dương quán e rằng chỉ còn lại tường đổ ngói tan.
Điều khiến người đời nhắc mãi về đạo nhân Tịch Tâm không phải thân phận quán chủ, mà là tấm lòng nhân nghĩa của ông.
Sau khi dẫn theo một tiểu đồ đệ tiếp quản Thanh Dương quán, ông chẳng cầu người dâng hương lễ bái. Ngày ngày, ông lên núi hái thuốc, đem thuốc chữa bệnh cho dân nghèo.
Ai bị thương do ngã đập, mắc bệnh cảm lạnh, phong thấp hay nóng sốt, chỉ cần tìm đến nhờ vả, đạo nhân Tịch Tâm đều tận tâm chữa trị. Y thuật của ông chưa chắc đã cao minh, nhưng tiền khám bệnh lấy rất rẻ.
Nếu người bệnh thật sự không có tiền, cứ ghi nợ cũng được. Dăm ba năm không trả, ông cũng chẳng sai người đến đòi. Tiếng lành dần dần lan xa. Lại thêm thân phận quán chủ Thanh Dương quán, người đời bèn tặng ông danh hiệu “thần tiên sống”.
Ông lão cho thuyền dừng trước bến. Một tay đỡ Tần Tang xuống thuyền, một tay khuyên nhủ:
- Chân của Tần lão đệ bị thương không nặng, thần tiên sống nhất định chữa được. Có điều núi Thúy Minh nằm giữa thành Tam Vu và bến đò. Từ đây đến đó còn mười dặm đường, lại phải đi qua đường núi. Tần lão đệ nên thuê một cỗ xe thì hơn. Lão già này quen mấy người đánh xe, đảm bảo giá cả phải chăng…
Tần Tang cảm tạ rồi khéo léo từ chối ý tốt của ông lão. Trước ánh mắt thất vọng của ông, hắn chống gậy, tập tễnh chen vào đám đông.
Đi giữa dòng người, nghe đủ giọng nói từ khắp nơi vọng lại, Tần Tang thầm nghĩ, thành Tam Vu quả nhiên danh bất hư truyền.
Vì chân đau, hắn đi một quãng lại phải dừng nghỉ. Chẳng ngờ nhờ thế mà hắn nghe thấy giọng quê nhà. Tần Tang mở to mắt nhìn sang, chỉ thấy bên bờ có mấy người ăn mặc lụa là đang chỉ huy phu khuân vác chất hàng lên thuyền.
Hắn đứng nhìn họ chất đầy một chuyến hàng, rồi lái thuyền rời khỏi bờ sông. Rốt cuộc Tần Tang vẫn không nói tiếng nào, dứt khoát quay người bước vào một tửu lâu.
Ăn xong những món cá sông tươi ngon, Tần Tang ngồi trên lầu hai, đón gió sông, tay nâng chén trà nhìn mặt sông mênh mang ngoài cửa sổ cùng chúng sinh đang tất tả mưu sinh. Hắn ngẩn người hồi lâu.
- Chủ quán, tính tiền!
Tần Tang lấy ra một mẩu bạc vụn, nhìn chưởng quỹ dùng cân tiểu ly cân đủ số, rồi cầm mấy đồng tiền thừa trong tay, hỏi:
- Phiền chưởng quỹ cho hỏi, ta muốn đến thành Tam Vu thì thuê xe ngựa ở đâu?
Chưởng quỹ nhìn hắn một lượt, rồi chỉ ra ngoài cửa:
- Cứ đi thẳng về phía tây theo con đường này. Đi đến cuối đường sẽ thấy hơn chục hiệu xe chen chúc một chỗ. Đều là người làm ăn đàng hoàng, xe đi thành Tam Vu và các bến đò lớn lúc nào cũng có.
Có lẽ thấy Tần Tang ăn khá nhiều, chưởng quỹ tốt bụng nhắc thêm:
- Thời buổi này… công tử tốt nhất đừng đi đường một mình. Tìm vài người cùng thuê một cỗ xe, còn bớt được tiền.
Từ ngã rẽ đầu tiên đến thành Tam Vu, đường đi cứ thế dốc dần lên. Người từ mấy bến đò lớn vào thành đều phải qua con đường này, bởi vậy khách bộ hành không ít. Đường rộng, bằng phẳng, xe ngựa chạy cũng không quá xóc.
Đến chân núi Thúy Minh, Tần Tang xuống xe. Hắn ngẩng đầu nhìn ngọn núi trước mặt. Đường núi nom khá hiểm trở, mà chân hắn lại không tiện đi lại, trong lòng không khỏi chùn bước.
Hai bên sông Vu Lăng là núi non trùng điệp. Núi Thúy Minh chẳng qua chỉ là một đỉnh trong dãy núi kéo dài bất tận, đứng giữa muôn ngọn núi cũng không mấy nổi bật.
Thế nhưng Thúy Minh sơn lại có vẻ thanh tú và linh thiêng riêng. Giữa những cánh rừng rậm trên núi, thỉnh thoảng lại thấy mái cong vút của chùa chiền, đạo quán nhô ra. Đôi khi tiếng chuông ngân dài vọng qua rừng núi, khiến lòng người cũng lắng xuống, trở nên sáng trong.
Trên đường đi, Tần Tang nghe người đánh xe kể mấy chuyện yêu quái và ma quỷ trong núi Thúy Minh. Hắn cũng chẳng biết những ngôi chùa, đạo quán này tìm đến Thúy Minh vì các truyền thuyết ấy, hay sau khi họ đến đây rồi, những truyền thuyết kia mới xuất hiện.
Tần Tang cố sức trèo lên được nửa đường thì gặp mấy người cũng đang đến Thanh Dương quán cầu chữa bệnh. Nhờ họ dìu đỡ, hắn mới đến được Thanh Dương quán nằm giữa sườn núi phía sau.
Tần Tang chống gậy, đứng trước cổng Thanh Dương quán.
Quy mô đạo quán quả thật không nhỏ. Chung quanh quán là cả một vùng rừng trúc. Ánh nắng buổi chiều không còn gay gắt, lá trúc xào xạc, gió mát từng cơn thổi qua.
Vì thế núi dốc đứng, đứng ngoài quán cũng có thể nhìn thấy từng tầng mái hiên bên trong. Kiểu kiến trúc nơi đây khá giống những đạo quán Tần Tang từng thấy ở kiếp trước, chỉ là tất cả đều đã tàn tạ đến thảm hại. Ngói vỡ rải rác khắp mái, từng búi cỏ tranh thò ra dưới những mảnh ngói. Xem chừng chẳng có mấy gian nhà còn không dột.
Đứng ngoài cổng, hắn vẫn nghe được tiếng người trò chuyện bên trong, số người hình như không ít.
Tần Tang men theo bậc thềm lát đá xanh, từng bước chậm chạp đi vào. Trên thanh đá ngang cổng khắc ba chữ Thanh Dương quán. Hai cánh cửa gỗ mục nghiêng ngả treo sang hai bên, vòng gõ cửa phủ đầy rỉ sắt.
Qua cổng là một sân lớn. Trong sân có đống rơm, chuồng lừa, giếng cổ, guồng kéo nước, cối xay và cối đá. Hai mảnh vườn nằm cạnh nhau, vườn nhỏ trồng rau, vườn lớn trồng những thứ Tần Tang không nhận ra, chắc là dược liệu.
Sau sân là mấy bậc thềm cao. Trên đó có một tòa đại điện, lớn nhất và nguy nga nhất trong cả Thanh Dương quán, cũng là nơi được sửa sang tử tế nhất.
Trên đại điện treo một tấm biển gỗ, nét chữ cứng cáp viết ba chữ Thanh Dương điện. Lớp sơn trên chữ đã bong gần hết.
Nhìn thế nào cũng chẳng giống chỗ ở của thần tiên.
Tần Tang thầm than một tiếng, đang định bước vào thì có ba người đẩy cửa đi ra. Hai người đàn ông áo quần rách rưới đang dìu một bà lão mặt mày trắng bệch. Vừa đi ra ngoài, họ vừa ngoái đầu cảm tạ rối rít, hứa tháng sau nhất định sẽ mang tiền thuốc đến trả.
Tần Tang biết thế gian này quả thật có thần tiên, đương nhiên không dám nảy lòng bất kính. Sắc mặt hắn cũng trở nên nghiêm trang, nhẹ chân bước vào Thanh Dương điện.
Đại điện rộng rãi trống trải. Những mảng tranh màu trên tường đã bong tróc gần hết, loang lổ chẳng còn nhìn ra hình vẽ ban đầu.
Chỉ có ba pho tượng thần ở chính điện vẫn rực rỡ như mới. Lớp sơn và đường chạm khắc đều tinh xảo khác thường.
Trên bàn thờ có một nén hương đang cháy, khói tỏa lững lờ, hương thơm lan khắp điện.
Bên cạnh bàn thờ đặt một chiếc bàn dài và hai chiếc tủ. Một tủ đựng thuốc, tủ kia chất đầy kinh sách. Sau bàn, một lão đạo gầy gò ngồi thẳng như cây tùng, đang bắt mạch cho một ông già.
Râu tóc lão đạo bạc trắng, nhưng gương mặt chẳng hề lộ vẻ già nua. Đôi mắt sáng quắc, thần thái rạng rỡ. Một chòm râu dài trắng như tuyết rủ xuống trước ngực, quả thật có phong thái của bậc tiên nhân. Trên người lão mặc đạo bào màu xanh. Áo đã giặt đến bạc màu, nhưng sạch sẽ tinh tươm.
Bên tay phải lão đặt bút mực giấy nghiên. Bên tay trái là một hòm thuốc, cùng cuốc hái thuốc, chu sa, giấy vàng, ống đựng thẻ và đủ thứ dụng cụ kỳ lạ.
Tần Tang thầm nghĩ, lão chính là đạo nhân Tịch Tâm.
- Công tử đến dâng hương hay chữa bệnh?
Tần Tang quay đầu nhìn theo tiếng nói, thấy trong nhóm người đang chờ khám bệnh có một tiểu đạo sĩ bước ra. Cậu ta chừng mười ba, mười bốn tuổi. Bộ đạo bào khoác trên người rộng thùng thình, nom vừa buồn cười vừa ngộ nghĩnh. Gương mặt cậu trắng trẻo, sáng sủa.
Nhớ lại lời ông lão chèo thuyền kể rằng đạo nhân Tịch Tâm có một đồ đệ, Tần Tang nở nụ cười, nói:
- Tiểu đạo trưởng, xin chào. Ta họ Tần, hôm trước bị thương ở chân, muốn nhờ đạo trưởng xem giúp.
Tiểu đạo sĩ bưng đến một chiếc ghế gỗ thấp:
- Tần công tử, mời ngồi.
Tần Tang làm theo. Tiểu đạo sĩ nâng chân bị thương của hắn lên, đưa tay sờ dọc theo xương rồi nói:
- Chân của Tần công tử chưa gãy xương, có lẽ chỉ bị rạn. Sắc vài thang thuốc bồi bổ xương cốt uống vào, chẳng bao lâu sẽ khỏi. Nếu công tử không vội, cứ ngồi đây chờ một lát, để sư phụ ta xem cho.
Tần Tang vốn tìm đến đây vì đạo nhân già kia, đương nhiên lập tức đáp ứng:
- Vậy làm phiền tiểu đạo trưởng.