- Tên thương…
Đằng Thanh Sơn ngắm cây thần thương, rồi nhìn cha và ông ngoại đứng bên cạnh. Vì rèn cho hắn cây thương này, hai người đã thức trắng suốt mười tám canh giờ. Nghĩ đến đó, lòng hắn chợt dâng lên bao nỗi ngậm ngùi.
Kiếp trước, hắn sống cô độc. Kiếp này, hắn lại có cha mẹ thương yêu, cô em gái đáng mến, cùng bao người trong tộc chất phác thật thà.
Kiếp trước, kiếp này, tựa như một vòng luân hồi. Những điều dang dở thuở trước, đời này đã được bù đắp.
- Cây thương này, con đặt tên là Luân Hồi.
Đằng Thanh Sơn vừa dứt lời, Đằng Vĩnh Phàm và Đằng Vân Long đã nhìn nhau. Hai người từng nghĩ đến đủ cái tên, nào là Hàn Thiết Thương, Tử Văn Thương, Hàn Tinh Thương… nhưng chưa ai nghĩ tới cái tên Luân Hồi.
Ông ngoại Đằng Vân Long ngẫm nghĩ một lát, rồi cười vang:
- Luân Hồi, Luân Hồi, luân hồi địa ngục! Cây thần thương này vừa xuất thế, kẻ địch ắt sẽ rơi vào cơn ác mộng của mười tám tầng địa ngục. Hay lắm, cái tên thật có ý vị! Vĩnh Phàm, thằng bé Thanh Sơn này giỏi hơn con nhiều, đến đặt tên cũng hay như vậy.
- Nếu con còn không giỏi bằng con trai, chẳng phải đời sau kém đời trước hay sao?
Đằng Vĩnh Phàm cũng vui vẻ cười lớn.
Đằng Thanh Sơn chỉ đang ngậm ngùi nhớ lại kiếp trước, cảm khái số phận đổi thay, nên mới đặt tên thương là Luân Hồi. Hắn đâu ngờ ông ngoại và cha lại liên tưởng xa đến thế.
Đằng Vân Long giục:
- Thanh Sơn, thử xem cây thương này dùng có thuận tay không.
Đằng Vĩnh Phàm cũng sáng mắt lên. Ông một lòng rèn nên cây thần thương, chỉ mong con trai dùng được thật tốt, vậy thì đời này ông chẳng còn gì phải tiếc nuối.
Cảm nhận hơi lạnh truyền từ cán thương, Đằng Thanh Sơn khẽ rung cổ tay phải, nắm lấy chuôi ở cuối cán. Cây thương nặng một trăm lẻ tám cân nằm ngang, thẳng băng trong tay hắn.
- Cha, ông ngoại, hai người lùi lại mấy bước.
Vừa nói, Đằng Thanh Sơn vừa cảm nhận luồng lực bên trong cây thương Luân Hồi.
Chất liệu khác nhau, độ khó khi cảm nhận sức nặng và thế vận động của từng cây thương cũng khác nhau. Luân Hồi nặng đến một trăm lẻ tám cân, cán thương đặc chắc, muốn nắm bắt luồng lực của nó càng khó hơn.
Nhưng Đằng Thanh Sơn đã đạt đến cảnh giới người thương hợp nhất. Cầm cây thương một lát, hắn đã hoàn toàn hiểu rõ sức nặng và thế vận động của nó.
Vù!
Hắn đột ngột kéo mạnh cây thương. Tay trái nâng thương, tay phải vung lên. Cây thương lập tức hóa thành từng vòng bóng tròn, như một chiếc lồng che kín quanh người hắn. Rồi hắn chợt ghìm lại. Mũi thương vẫn rung lên không ngừng.
Ngay sau đó, tay phải hắn dồn sức, mũi thương liên tiếp đâm về phía trước ba lần.
Phập! Phập! Phập!
Mũi thương nhanh đến mức xé gió, phát ra những tiếng nổ bụp bụp.
Trong phép đánh thương xưa nay có câu: côn sợ bổ xuống đầu, thương sợ múa thành vòng. Người luyện thương thường làm mũi thương xoay tít, khiến đối thủ không sao đoán được đường đi nước bước. Chỉ một thoáng sơ hở là có thể mất mạng.
Nhưng khi đã đạt đến cảnh giới người thương hợp nhất, điều cần theo đuổi lại là vững vàng, là chuẩn xác đến từng li từng tí.
Cũng như ba tầng cảnh giới nhìn núi là núi, nhìn nước là nước; nhìn núi chẳng còn là núi, nhìn nước chẳng còn là nước; rồi cuối cùng nhìn núi vẫn là núi, nhìn nước vẫn là nước. Phép thương cũng vậy.
Người thường luyện thương mới mải mê múa vòng. Cao thủ chân chính phải điều khiển cây thương tuyệt đối chính xác. Muốn đâm xuyên miếng đậu phụ dày một nửa thì chỉ xuyên đúng ngần ấy, không hơn một chút. Muốn đâm chết con ruồi đậu trên tấm kính thì cũng không làm vỡ kính.
Đó mới gọi là chính xác.
Đằng Thanh Sơn múa thương nhanh như chớp. Đến giây cuối cùng, hắn còn có thể bất ngờ đổi hướng. Muốn đâm chỗ nào thì đâm chỗ ấy, thực thực hư hư đan xen. Đó mới là bản lĩnh của cao thủ, khiến người ta không thể phòng bị.
- Độc Long Toản!
Đằng Thanh Sơn càng múa càng hăng. Tay phải nắm giữa cán thương, dồn nội kình vào trong, đồng thời xoắn mạnh theo chiều vào. Cây thương xoay tít như mũi khoan điện, đâm xuyên vách tường. Thoáng chốc, nó hóa thành một tia chớp, khiến không khí xung quanh cuộn rối, bóng thương cũng nhòe đi.
Ngay lúc cây thương xoáy tới cực điểm…
Ầm!
Tiếng nổ chát chúa xé toạc không trung, chẳng khác nào sấm xuân giữa trời quang. Đằng Vĩnh Phàm và Đằng Vân Long đứng bên cạnh giật bắn mình. Cả Đằng gia trang lập tức náo động, không ít người trong tộc la lên:
- Lò nổ rồi!
Ai nấy vội chạy về phía lò rèn.
Cây thương vừa tuột khỏi tay, Đằng Thanh Sơn lập tức chộp lấy đuôi thương, bước liền hai bước mới ghìm lại được.
Chiêu Độc Long Toản uy lực cực mạnh, sức xoáy cũng đáng sợ. Khi ra chiêu, cây thương thoáng mất khỏi tầm khống chế. Nhưng với thương pháp của Đằng Thanh Sơn, hắn có thể kéo thương về ngay tức khắc, chuyển công thành thủ.
Đằng Vân Long lớn tiếng khen:
- Giỏi lắm! Chiêu này gọi là gì? E rằng cả quả đồi cũng bị đánh nát mất!
Đằng Vĩnh Phàm cười ha hả:
- Thanh Sơn, nghe bên ngoài kìa, bà con trong tộc kéo tới hết rồi!
Nghe tiếng người bên ngoài hô “lò nổ rồi”, Đằng Thanh Sơn vừa buồn cười vừa bất lực. Trong lòng hắn cũng dâng lên niềm phấn khởi:
“Cây thương Luân Hồi quả nhiên không tầm thường. Nó chịu nổi sức mạnh hơn mười vạn cân của ta, lại còn chịu được nội kình bùng nổ toàn lực. Vậy mà vẫn chưa đến giới hạn của nó.”
Trước đây, mỗi lần dùng thương sắt rèn, Đằng Thanh Sơn đều cảm thấy chất liệu bên trong rung lên, như khúc gỗ bị ép đến cực hạn, sắp sửa nứt vỡ. Hắn phải dùng nội kình trợ lực cho cây thương, sợ nó gãy bất cứ lúc nào, thành ra không thể phát huy trọn vẹn sức mạnh.
“Uy lực lần này mới thật sự được bộc lộ. Chiêu Độc Long Toản quả nhiên lợi hại. Nếu hôm ấy ta giao đấu với con giao long mà có cây thương Luân Hồi, dù nó thắng, cũng chẳng thể thắng dễ dàng như vậy.”
Đằng Thanh Sơn vẫn nhớ hôm đó, hắn dùng thương sắt rèn thi triển Độc Long Toản, chỉ đâm thủng được lớp vảy bên ngoài của giao long, không tài nào xuyên tới bắp thịt bên trong.
Nếu dùng thương Luân Hồi, mũi thương hẳn sẽ đâm sâu hơn. Nhưng muốn giết con yêu thú ấy, Đằng Thanh Sơn vẫn chưa dám chắc. Dù sao, sức mạnh và lớp da thịt cứng rắn của nó, cùng làn khói đen phun ra, thứ nào cũng khiến hắn lạnh sống lưng.
Đằng Vân Long cười ha hả, đi về phía cửa:
- Đi thôi, chúng ta ra ngoài giải thích với bà con, kẻo họ tưởng lò rèn nổ thật.
Đằng Thanh Sơn và Đằng Vĩnh Phàm chỉ biết cười trừ, rồi cùng ông bước ra ngoài.
Với một võ giả chân chính, thần binh chẳng khác nào anh em ruột thịt. Những ngày đầu có được cây thương Luân Hồi, Đằng Thanh Sơn ngày nào cũng nghiền ngẫm cách dùng thương. Nhưng mỗi lần tập, hắn chỉ dùng một phần mười sức lực, sợ gây ra động tĩnh quá lớn, làm bà con trong tộc kinh ngạc.
Nửa tháng sau, trong khu rừng phía tây Đằng gia trang.
Đằng Thanh Hổ tìm đến, đúng lúc Đằng Thanh Sơn đang luyện thương.
- Thanh Sơn, cha ta đã bàn với người Đại Lý trang rồi. Hôn lễ sẽ cử hành vào ngày mồng sáu tháng ba!
Đằng Thanh Hổ phấn khởi nói tiếp:
- Ha ha, còn chưa đầy một tháng nữa. Đến hôm ấy, ngươi phải đi cùng ta đấy. Chẳng phải ngươi vẫn muốn xem chị dâu tương lai trông thế nào sao? Hôm đó sẽ biết ngay.
Đằng Thanh Sơn bật cười:
- Nhìn bộ dạng đắc ý của ngươi kìa.
- Hì hì, chuyện thành thân ta đã nghĩ kỹ rồi. Đời này ta chỉ cưới một người thôi.
Đằng Thanh Hổ cười tít mắt.
- Trông ngươi ngốc chưa kìa.
Đằng Thanh Sơn hiểu rất rõ, mối tình đầu thường để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người. Đằng Thanh Hổ vừa mới đem lòng thích một cô gái, giờ lại sắp thành thân lần đầu, nên mới luôn miệng khẳng định sau này chỉ cưới một mình nàng. Tâm trạng của hắn, Đằng Thanh Sơn hiểu hơn ai hết.
Đằng Thanh Hổ nói liền:
- Thanh Sơn, ngươi là huynh đệ thân thiết nhất của ta. Mồng sáu tháng ba, nhất định phải theo ta đi đón dâu.
- Cứ yên tâm, ta nhất định sẽ đi. À, hôm đó trong tộc có nhiều người cùng đi không?
Đằng Thanh Sơn hỏi.
- Có cha ta, ông nội ta, rồi một số bà con trong tộc nữa. Ít nhất cũng phải vài chục người.
Đằng Thanh Hổ đáp.
Bà con Đằng gia trang sống những ngày tháng yên bình. Ngày nối ngày trôi qua, chẳng mấy chốc đã đến mồng sáu tháng ba.
Theo lời người đời, mồng sáu tháng ba là ngày lành nhất trong vòng hai ba tháng. Cưới hỏi, đi xa hay làm những việc trọng đại đều hợp ngày này.
Sáng hôm ấy, mặt trời đã lên cao. Cổng Đằng gia trang treo dải lụa đỏ rực, điểm thêm hoa đỏ, khắp nơi đều ngập tràn không khí vui mừng.
Cổng lớn mở rộng, mọi người tất bật đưa tiễn đoàn đón dâu.
Trong đoàn, phần đông đều đi bộ. Chỉ có tộc trưởng Đằng Vân Long và chú rể Đằng Thanh Hổ cưỡi ngựa bờm vàng. Ngựa bờm vàng là giống ngựa bản địa Dương Châu, mỗi con chỉ đáng vài chục lạng bạc, giá khá rẻ. Thế nhưng dân thường hiếm khi cần dùng đến ngựa.
Cày ruộng thì dùng trâu.
Vào thành, đi bộ cũng được. Nhiều trang trại trong vùng chẳng có nổi một con ngựa. Đằng gia trang có hai con đã là khá giả lắm rồi.
Đằng Vân Long hôm nay vui ra mặt. Đằng Thanh Hổ là cháu ruột của ông, cháu trai thành thân, người làm ông sao không vui cho được?
Ông cười lớn, nhắc:
- Thanh Hổ, ngồi cho thẳng lưng! Hôm nay là ngày vui của ngươi. Phải cho người Đại Lý trang thấy trai tráng Đằng gia trang ta ra sao chứ!
Mấy người trong tộc bên cạnh cũng trêu:
- Thanh Hổ, cẩn thận kẻo làm bẩn bộ đồ chú rể đấy!
Đằng Thanh Hổ chỉ cười.
- Được rồi, lên đường!
Đằng Vân Long vừa hô, đoàn đón dâu lập tức tiến về Đại Lý trang. Đằng Thanh Sơn cũng có mặt trong đoàn. Tất nhiên, hắn phải đi bộ, vì cả Đằng gia trang chỉ có hai con ngựa.
Đằng Thanh Sơn nhẩm tính: “Cứ đi với tốc độ này, đến được Đại Lý trang thì cũng gần trưa. Ăn qua loa ít bánh trôi bên đó rồi quay về, vừa kịp bày tiệc.”
Bao năm qua, hắn đã chứng kiến không ít đám cưới. Là tay hảo hán số một trong tộc, hắn từng theo đoàn đi đón dâu không chỉ một lần, nên quá rành các bước.
Gió nhẹ thổi, nắng rực trên cao. Đoàn người cười nói rộn ràng, hướng về Đại Lý trang.