Chương 45: Cái gì? Ông nội tôi gãy chân rồi! - Người Vớt Xác

Trang chủ › Người Vớt Xác › Chương 45

Chương 45 - Cái gì? Ông nội tôi gãy chân rồi!

☰ DS Chương 📖 7,630 chữ

Nhuận Sinh đứng sững. Hắn được ông Sơn nhặt về bên bờ sông. Hai ông cháu thường xuyên sống cảnh bữa đói bữa no, nhưng hễ phải nhịn đói thì cả hai cùng nhịn, bởi vậy tình cảm giữa họ chân thành và sâu nặng vô cùng.

Đàm Văn Bân phấn khích đến mức đôi mày giật giật. Gã chỉ hận không thể chống một chân, xoay mấy vòng ngay tại chỗ. Cuối cùng gã cũng có dịp được tận mắt xem người ta vớt xác rồi!

Lý Truy Viễn lại thấy áy náy trong lòng. Tính thời gian thì chuyện xảy ra đúng vào lúc mình đánh bạc thắng tiền ở trấn Tây Đình. Khi ấy, ông Sơn đã chia mất một nửa số tiền của hắn. Than ôi, tiền bẩn quả nhiên chẳng dễ tiêu.

- Còn đứng ngây ra đó làm gì! Lý Tam Giang quát Nhuận Sinh. Mau vào chuẩn bị đồ nghề, chúng ta lên đường!

- Vâng.

Nhuận Sinh lập tức chạy vào nhà lấy đồ. Lần này hắn không chỉ về thăm ông nội, mà còn phải theo mọi người làm việc.

- Ông Lý, cháu cũng muốn đi. Cho cháu theo với.

Đàm Văn Bân hận không thể bám luôn lên người Lý Tam Giang, sợ lần này lại bị bỏ lại.

- Được rồi, được rồi. Dẫn cậu theo.

Lý Tam Giang đồng ý ngay. Người gọi điện báo rằng cái xác trôi cứ lúc nổi lúc chìm trong một khúc sông. Mấy người trong làng đã trông thấy, nhưng đến khi tập trung nhân lực xuống tìm thì lại chẳng thấy đâu.

Loại xác trôi này chẳng đến mức nguy hiểm, chỉ là phải tốn công tìm kiếm. Có thêm một người đi cùng cũng chẳng thừa.

- Thái gia.

- Sao vậy, Tiểu Viễn?

- Cháu muốn đi thăm ông Sơn.

- Nên thế. Vậy cùng đi.

Nóng lòng trở về gặp ông nội, Nhuận Sinh đạp chiếc xe ba bánh nhanh như bay. Ba người ngồi phía sau đều phải bám chặt lấy thành xe.

Bởi khu vực giữa thùng xe đã bị ba bó đồ nghề chiếm gần hết.

Đồ của Lý Tam Giang, đồ của Lý Truy Viễn, rồi cả đồ nghề của Nhuận Sinh. Tất cả đều được hắn chất lên xe.

- Tôi nói này, cậu Nhuận Sinh, cậu mang theo lắm đồ thế làm gì? Chúng ta đi vớt xác, chứ có phải đến xây nhà cho nhà cậu đâu.

Nhuận Sinh chẳng đáp. Hắn đạp nhanh quá, gió thổi vù vù, chẳng nghe thấy tiếng than phiền phía sau.

Lý Tam Giang cũng lười nói thêm. Ông lấy chiếc la bàn trong ngực áo ra, bắt đầu nghiêm túc chỉnh lại phương hướng.

Lý Truy Viễn lấy chiếc la bàn màu tím trong túi, cũng bắt đầu kiểm tra. Đã đi tìm xác trôi thì nhất định phải dùng đến thứ này. Còn chiếc la bàn trong tay cụ nhà hắn chỉ có một công dụng duy nhất: dẫn cả bọn đến Nam Cực tìm chim cánh cụt.

Vừa đến bên ngoài nhà ông Sơn, từ bức tường đổ quá nửa, mọi người đã trông thấy ông lão đang ngồi một mình trong sân. Cái chân bó bột gác lên chiếc ghế con bên cạnh. Ông cầm củ khoai lang, vừa bóc vỏ vừa ăn, còn hàm răng giả thì đặt bên cạnh.

Lý Tam Giang xuống xe. Người chưa đến mà tiếng đã vọng vào trước:

- Tôi bảo này, Sơn pháo, răng cậu dù có yếu đến đâu cũng không thể uống toàn cháo loãng được!

Củ khoai lang trong tay ông Sơn rơi xuống đất. Biết lão già kia đã hay chuyện mình ngã xuống hố phân, mặt ông lập tức đỏ bừng. Ông vội chộp lấy cây nạng bên cạnh, định đứng dậy nhảy về phòng đóng cửa.

Nào ngờ cuống quá nên không giữ được thăng bằng, ông ngã nhào xuống đất.

Tiếng bước chân phía sau đã đến gần.

Ông Sơn tức tối nện mạnh tay xuống nền đất, cắn chặt môi.

Lý Tam Giang bước tới đỡ ông dậy, dìu ngồi xuống rồi phủi bùn đất trên người ông.

Ông Sơn hậm hực nói:

- Ai bảo ông đến đây?

Lý Tam Giang chẳng để tâm đến giọng gay gắt ấy, chỉ cười:

- Sơn pháo à, xảy ra chuyện thì cũng phải sai người báo cho tôi một tiếng chứ. Dù sao chúng ta cũng là bạn già bao nhiêu năm rồi. Nói thật, cậu đừng lẳng lặng bỏ đi như thế. Tôi sẽ buồn lắm.

Lời nói chan chứa tình nghĩa khiến vẻ mặt ông Sơn dịu xuống.

- Tam Giang hầu à…

- Cậu có chết thì cũng đừng chết trong hố phân chứ! May mà được người ta phát hiện sớm. Chứ ngâm cả đêm trong đó, đến lúc tôi lo tang lễ, làm lễ cầu siêu cho cậu, rồi còn phải nhịn mùi để thay quần áo liệm, chẳng bẩn thỉu lắm sao!

Ông Sơn nghẹn lời.

Lý Tam Giang rút hai điếu thuốc. Ông ngậm một điếu, nhét điếu còn lại vào miệng ông Sơn, rồi liếc mắt ra ngoài, gọi:

- Tráng Tráng!

- Có ngay!

Đàm Văn Bân lấy bao diêm ra quẹt lửa, lần lượt châm thuốc cho Lý Tam Giang và ông Sơn.

Lý Tam Giang nói:

- Sơn pháo, đến nhà tôi ở đi. Dưỡng thương cho lành rồi hẵng về.

- Không đi. Chỉ gãy một chân thôi, tôi vẫn tự ăn tự uống được, chẳng phiền ai.

- Vậy để Nhuận Sinh về chăm cậu nhé?

Ông Sơn ấp úng một hồi, rồi vẫn lắc đầu:

- Không cần. Nhuận Sinh ở nhà ông là được rồi. Ăn ngon, ngủ kỹ, người cũng béo khỏe hơn. Thằng nhỏ đang có ngày lành tháng tốt, tôi kéo chân nó làm gì.

Lời ấy nghe thật cảm động. Nhưng Lý Tam Giang chỉ phẩy tay:

- Cậu Nhuận Sinh, mau vào nhà xem thử chum gạo với lu dầu đi.

Nhuận Sinh chạy vào trong. Chẳng bao lâu sau, hắn lại chạy ra, kinh ngạc hỏi:

- Ông ơi, ông thật sự bán hết gạo, bột mì với dầu lần trước cháu mua cho ông rồi à?

Những thứ ấy phải cạo từng ít một dưới đáy chum, đáy lu ra bán lẻ. Rốt cuộc phải túng quẫn đến mức nào mới làm nổi chuyện đó?

Ông Sơn nhả một vòng khói thuốc, mong làn khói che được gương mặt lúng túng của mình.

- Chẳng hiểu mấy hôm đó làm sao nữa. Ngày nào tôi cũng gặp bàn lớn, vậy mà ngày nào cũng thua. Thua mãi, nhưng cứ tưởng sắp gỡ được. Đúng là gặp tà.

- À, vậy là ông không cho Nhuận Sinh về vì sợ nó về rồi đến khoai lang ông cũng chẳng đủ ăn chứ gì?

Ông Sơn quay mặt sang bên, không nói.

- Tôi bảo ông lão Sơn này, dù gì cũng là ông nội người ta. Ông không cần phải để dành của cải cho cháu, nhưng cũng đừng phá sạch như thế. Vài năm nữa Nhuận Sinh muốn lấy vợ, người ta nhìn căn nhà rách nát này, cô nào chịu gả cho nó?

Ông nhìn tôi đi. Tôi đã dành dụm của cải cho Tiểu Viễn hầu nhà tôi thế nào. Sau này chuyện trong thành thì chưa nói, chứ mười làng tám xóm quanh đây, con gái nhà nào chẳng mặc sức cho nó lựa?

Ông Sơn lập tức bắt được trọng tâm, hỏi:

- Sao? Tiểu Viễn hầu không về kinh thành nữa à?

Sắc mặt Lý Tam Giang biến đổi. Ông rít một hơi thuốc thật mạnh, khói nghẹn trong lồng ngực.

Ông Sơn nói tiếp:

- Cậu làm ăn kiểu gì vậy? Đến hộ khẩu ở kinh thành của thằng bé cũng làm mất được?

- Ông câm miệng!

- Được, ông đừng nói tôi nữa thì tôi câm. Bằng không, tôi sẽ giảng cho ông nghe hộ khẩu có lợi thế nào.

Lý Truy Viễn bước đến trước mặt ông Sơn, hỏi:

- Ông Sơn, chân ông có nặng lắm không?

- Không nặng, không nặng. Nghỉ ngơi ít hôm là khỏi.

Ông Sơn hơi ngượng ngùng, xua tay.

Lần trước nhận tiền, ông chẳng biết rõ đầu đuôi. Sau đó quay lại bàn bạc mới nghe người ta nói cho tường tận. Hóa ra người đánh chính là thằng bé, còn đứa lớn chỉ chạy việc. Vốn liếng cũng là của Tiểu Viễn hầu. Vậy mà ông lại cầm mất một nửa số tiền.

Nhưng số tiền ấy đã thua sạch, muốn trả cũng chẳng còn gì mà trả. Nghĩ đến chuyện mình đã làm, ông xấu hổ đến mức chỉ muốn chui xuống đất.

- Cậu Nhuận Sinh.

Ông Sơn nhìn sang Nhuận Sinh.

- Sau này phải nghe lời Tiểu Viễn hầu.

Không có tiền trả thì chỉ còn cách đền bằng chính con người vậy.

Nhuận Sinh gật đầu:

- Ông ơi, cháu hiểu rồi.

Bên ngoài chợt vọng vào tiếng trưởng làng. Chính ông ta là người gọi điện ban nãy.

- Đến chưa? Tôi nói, đến chưa vậy?

Ông Sơn chưa hiểu chuyện gì, bèn hỏi:

- Có chuyện gì thế?

Lý Tam Giang bực bội đáp:

- Nếu làng các ông không có xác trôi, chúng tôi cũng chẳng biết chân ông đã gãy đâu!

- Vậy các ông mau đi làm việc đi. Vớt được nó rồi hẵng nói.

- Ừ.

Lý Tam Giang vừa định đứng dậy thì nghe chắt mình nói:

- Thái gia cứ ở đây nói chuyện với ông Sơn đi. Để anh Nhuận Sinh đi là được rồi.

Ông Sơn vẫn chưa yên tâm:

- Nhuận Sinh làm việc còn vụng về lắm mà?

Lý Truy Viễn nói:

- Ông Sơn, trước kia anh Nhuận Sinh quả thật chưa vững tay. Nhưng từ ngày theo Thái gia, anh ấy đã khác rồi. Ông cứ chờ mà xem.

Ông Sơn bĩu môi:

- Cậu đúng là Tiểu Viễn hầu.

Lý Tam Giang nghe vậy lại vui ra mặt, vỗ vỗ đầu gối:

- Được, vậy để cậu Nhuận Sinh đi tìm xác trôi trước. Nếu gặp chuyện gì thì lập tức quay về gọi tôi.

Lừa được Thái gia ở lại trong nhà, Lý Truy Viễn lập tức ngoắc tay gọi Nhuận Sinh.

Nhuận Sinh hiểu ý. Hắn vác một bộ dụng cụ vớt xác lên vai, rồi ném bộ của Tiểu Viễn cho Đàm Văn Bân.

Ba người theo trưởng làng đến một khúc sông. Mặt sông không rộng, nhưng hai bên đều là rừng cây. Lau sậy mọc dày ven bờ, tầm mắt bị che khuất nghiêm trọng.

Trưởng làng chỉ xuống dòng nước:

- Chính là đoạn này. Mấy hôm nay có không ít người đến nói với tôi rằng họ trông thấy xác chết trôi trên sông. Tôi đã dẫn người đến tìm mấy lần, vậy mà chẳng lần nào thấy cả. Lạ thật đấy. Thế này đi, các cậu cứ tìm trước. Nếu tìm được rồi mà cần thêm người, cứ về làng gọi tôi. Tôi còn mấy việc gấp phải giải quyết.

Nhuận Sinh gật đầu:

- Được rồi, trưởng làng cứ đi lo việc đi.

Trưởng làng lấy thuốc lá ra đưa cho hắn. Nhuận Sinh không nhận. Tiểu Viễn còn nhỏ, cuối cùng chỉ có Đàm Văn Bân cầm một điếu, kẹp sau vành tai.

Đợi trưởng làng đi khỏi, Lý Truy Viễn cầm la bàn đứng bên bờ sông.

Sở dĩ trưởng làng bỏ đi, đại khái vì ông ta cũng chẳng trông mong hôm nay sẽ tìm thấy xác. Trước đó, ông ta hẳn đã từng huy động người rà soát cả khúc sông này, nhưng đều tay trắng. Gọi người vớt xác đến chẳng qua là thử vận may lần cuối, ít nhất còn có thể cho dân làng một lời giải thích.

Đàm Văn Bân đã hoàn toàn nhập việc. Gã nghiêm túc hỏi:

- Anh Tiểu Viễn, có cần tôi với Nhuận Sinh chia nhau ra, đi dọc bờ sông tìm thử không?

Lý Truy Viễn đáp:

- Anh Bân cứ đi đi. Anh Nhuận Sinh theo tôi.

- Vì khả năng quan sát của tôi tốt hơn anh ấy à?

- Vì anh Nhuận Sinh mà không ở cạnh tôi, tôi sợ mình gặp nguy hiểm.

- Vậy… vậy tôi cũng ở cạnh anh để bảo vệ anh.

Lý Truy Viễn biết mình hơi quá cẩn thận. Trong làng không xảy ra chuyện kỳ quái nào. Mấy người trông thấy xác trôi cũng đều bình an trở về, chứng tỏ cái xác kia phần lớn chỉ là một thi thể bình thường.

Nhưng thôn Tư Nguyên từng xuất hiện chuyện chôn người xuống nước từ thời Nam Lương. Bây giờ hắn thật sự không dám tự tin quá mức. Làm việc vẫn nên cẩn thận thì hơn.

Hắn cầm la bàn, men theo bờ sông đi chậm rãi. Đi khá lâu mà chẳng phát hiện điều gì khác thường trong thế đất, khí mạch. Dĩ nhiên, xác trôi cũng chẳng thấy đâu.

Đàm Văn Bân hỏi:

- Có khi nào nó đã trôi sang nhánh sông khác rồi không?

- Cũng có thể.

Lý Truy Viễn chỉ xuống mặt nước:

- Cũng có khả năng dưới lòng sông có một chỗ rò, hút cái xác xuống.

- Dưới sông còn có thứ như vậy à?

- Giống cái nút bịt dưới đáy bồn tắm trong nhà.

- Thế chẳng phải phải lặn xuống tìm sao? Tôi nói này, các cậu mang theo lắm đồ thế, sao không nghĩ đến chuyện kiếm luôn một bình dưỡng khí?

Nhuận Sinh giải thích:

- Những dụng cụ này chuyên dùng để đối phó với xác trôi biết cử động.

- À, đồ tốt đấy.

Đàm Văn Bân vỗ vỗ chiếc bao tải trên lưng.

Chẳng hay chẳng biết, họ đã đi đến chỗ khúc sông ngoặt. Phía trước là một cây cầu mới xây chưa lâu.

Lý Truy Viễn dừng bước. Bọn họ đã đi hết đoạn sông mà trưởng làng mô tả, nhưng vẫn chẳng thu được gì.

Đàm Văn Bân chọc vào cánh tay Nhuận Sinh, hỏi:

- Này, trước kia anh từng gặp chuyện đi vớt xác mà chẳng tìm thấy xác bao giờ chưa?

- Từng rồi. Tôi nhớ khi đó ông tôi với Thái gia thường dựng bàn thờ, làm lễ để “gọi người”, khiến cái xác tự nổi lên.

Nghe vậy, Đàm Văn Bân lập tức ghé đến bên cạnh Lý Truy Viễn:

- Anh Tiểu Viễn, anh biết làm việc đó không?

Lý Truy Viễn hơi cau mày.

Đàm Văn Bân vội nói:

- Không sao đâu. Không biết cũng chẳng sao. Trong lòng tôi, anh vẫn là người giỏi nhất, anh ạ.

Lý Truy Viễn lắc đầu. Hắn biết.

Trong sách của Ngụy Chính Đạo và hai nhà họ Tần, họ Ngụy quả thật có ghi chép rất nhiều cách “gọi người”.

Nhưng vấn đề là Thái gia và ông Sơn có lẽ chỉ học được cái hình thức. Làm thành công thì chứng tỏ bản lĩnh cao, thất bại thì đổ cho cái xác trôi không bình thường. Nói cho cùng, họ chỉ dựa vào may rủi.

Còn hắn thì thật sự biết cách chọn vị trí, bày lễ vật, dựa vào thế đất và khí mạch để dẫn động. Hắn thật sự biết làm.

Mà càng biết rõ, hắn càng không dám tùy tiện dùng. Biết đâu cái xác đã trôi đi nơi khác, vốn chẳng còn ở đoạn sông này? Hơn nữa, quanh đây không thiếu mồ mả, tình hình dưới sông lại chưa rõ. Nếu bày lễ mà không gọi được cái xác kia lên, trái lại rước phải thứ gì chẳng biết từ đâu tới thì sao?

- Qua cầu đi. Chúng ta vòng từ phía bên kia trở lại.

Lý Truy Viễn bước lên cầu. Đây là một cây cầu bê tông không có lan can, mặt cầu rộng đúng ba tấm bê tông ghép liền.

Đến giữa cầu, hắn chợt cảm thấy khí thế xung quanh thay đổi. Cúi xuống nhìn, kim la bàn cũng bắt đầu rung loạn.

Trong lòng thầm đọc bí quyết xem khí của họ Liễu, hắn xoay một vòng ngay tại chỗ rồi dừng lại. Mắt nhìn những chiếc kim trên các vòng lớn nhỏ của la bàn, hắn bắt đầu tính toán.

Nhuận Sinh đứng bên cạnh, im lặng không nói.

Đàm Văn Bân tò mò rướn cổ nhìn trộm. Gã thấy dáng Tiểu Viễn vừa cầm la bàn vừa xoay người ban nãy thật oai phong. Tiếc rằng tuổi hắn còn nhỏ. Đợi lớn thêm vài tuổi, chỉ cần dựa vào phong thái ấy thôi, trước ngày khai trương, ông chủ xưởng nào chẳng muốn mời hắn đến xoay la bàn một vòng?

Lý Truy Viễn giậm chân.

Lúc còn đi bên bờ sông, hắn chưa nhận ra. Nhưng vừa bước lên cây cầu này, hắn mới thấy vị trí cây cầu nằm đúng vào thế khóa giao long. Dòng sông tuy nhỏ, con giao long trong thế đất này cũng nhỏ đến mức chẳng đáng kể, nhưng bố cục vẫn hoàn chỉnh.

Nhìn lại cảnh vật quanh đây, rất hiếm cây cầu nào được xây đúng chỗ khúc ngoặt của dòng sông. Thông thường, cầu phải bắc ở đoạn sông thẳng.

Có điều, dù đây là thế khóa giao long thì cũng chẳng có gì đặc biệt, càng chưa thể gọi là thế đất dữ.

Nhưng nếu có người cố ý sửa đổi nơi này, biến nó thành một thế đất dữ để lợi dụng…

Lý Truy Viễn cúi đầu nhìn tấm bê tông dưới chân, nói:

- Anh Nhuận Sinh, anh xuống bờ sông xem bên dưới cây cầu đi. Chính là chỗ tôi đang đứng.

- Để tôi đi!

Đàm Văn Bân đặt đồ xuống, chạy nhanh xuống cầu. Tới bờ sông, vì nhìn chưa rõ, hắn chẳng buồn nghĩ ngợi đã bước thẳng xuống nước.

Con sông này tuy nhỏ, nhưng lòng sông ở giữa cũng khá sâu. Nhỡ bên dưới có hốc rỗng hay chỗ bùn lún, một người lớn bị hút chìm cũng là chuyện dễ dàng.

Nhuận Sinh ngồi xổm bên cầu, nhắc hắn:

- Cẩn thận đấy. Lát nữa lại phải vớt anh lên thì khổ.

- Bùn dưới sông sâu thật! Tôi mới vừa tới mép nước thôi mà!

Đàm Văn Bân rón rén dò từng bước. Trong bụng hắn nghĩ, đã khó khăn lắm mới mua được vé vào công viên giải trí thì phải chủ động chơi cho đáng tiền, chứ đứng ngoài ngó mãi làm gì.

Cuối cùng, hắn không dám bước tiếp. Tuy còn cách cây cầu một quãng, hắn đã nhìn rõ mặt dưới cầu. Đàm Văn Bân ngẩng đầu nhìn lên, mắt chợt trợn lớn, rồi lùi liền mấy bước, ngửa cổ gọi:

- Anh Viễn, dưới cầu có mấy cây đinh sắt lớn, đóng vào mặt sau cầu, ngay dưới chân anh đấy!

- Có phải bảy cây không?

- Hả?

Đàm Văn Bân bước thêm hai bước, vừa giữ thăng bằng vừa ngẩng đầu đếm:

- Đúng, bảy cây.

- Chung quanh đinh có màu đỏ phải không?

- Đúng, màu đỏ, trông như được quét sơn đỏ.

Quả nhiên.

Vốn chỉ là thế khóa giao long bình thường, bị sửa đổi như vậy, nó đã biến thành thế giao long bị rút máu.

Lý Truy Viễn xoay người nhìn về khúc sông ngoặt phía trước. Sinh khí của cả đoạn sông chảy ra tới đây, còn khí dữ thì bị chặn lại. Kẻ nào đó đã mượn địa thế tự nhiên, bày thành một thế phong thủy ngay tại nơi này.

Nhưng vì sao lúc đi dọc theo sông, hắn lại không nhận ra điều bất thường?

Lý Truy Viễn lập tức nghĩ tới một khả năng. Khí dữ đã bị xác chết hút mất!

Một bên chặn lại, một bên hút vào, thế là hình thành vòng tuần hoàn liên tục.

Thảo nào có dân làng trông thấy xác chết trôi, rồi chẳng bao lâu sau xác lại biến mất. Khi hút khí dữ, nó nổi lên mặt nước. Hút xong, nó lại chìm xuống.

Vậy chuyện này không phải đơn giản là vớt xác chết trôi. Có kẻ đã bày thế đất ở đây để nuôi xác!

Lý Truy Viễn chợt nhận ra, đặt mình vào lập trường của kẻ tà ác rồi suy ngược từ kết quả, quả nhiên rất dễ tìm ra đáp án. Nhưng hắn chẳng vui vẻ gì, trái lại còn thấy phiền muộn.

Sao mình lại dễ dàng nhập vai kẻ đối nghịch đến vậy?

Hơn nữa, cái thế phong thủy này cũng quá keo kiệt.

Đúng như câu cụ thường nói trên bàn rượu: “Có mỗi ngần ấy thôi à? Đổ nước nuôi cá chắc?”

Nếu để hắn bày, hắn sẽ sửa thêm vài chỗ, ít nhất cũng phải dẫn khí dữ bên ngoài vào, tạo thành thế đối đầu. Như thế mới thật sự là thúc đẩy việc nuôi xác. Còn thủ đoạn hiện tại chỉ đủ gọi là giữ xác khỏi phân hủy.

- Xem ra sách anh đọc chất lượng chẳng ra sao.

Lý Truy Viễn đưa tay vỗ trán.

Không đúng. Rốt cuộc mình đang nghĩ gì vậy?

Không phải lỗi của mình, là tại Ngụy Chính Đạo.

Trước kia chỉ đọc những khái niệm trong sách, hắn chưa cảm nhận được gì sâu sắc. Đến khi thật sự bắt tay vào làm, cảm giác sai sai lập tức xuất hiện.

Trong sách của Ngụy Chính Đạo toàn là những điều thuộc chính đạo. Gã chỉ dạy người ta làm thế nào nhân danh chính đạo để trấn áp, tiêu diệt xác chết trôi.

Nhưng cách kể chuyện và sắp xếp nội dung của gã lại để lộ rất nhiều chỗ có thể suy ngược. Những điều cấm kỵ, những sai lầm được gã nói bằng giọng lẽ phải, chỉ cần làm ngược lại là thành một thái cực khác.

Tên này rõ ràng khoác cờ chính đạo để chống lại chính đạo.

- Anh Viễn, anh không sao chứ?

Nhuận Sinh lo lắng hỏi.

- Anh Nhuận Sinh, tôi không sao. Nơi này đã bị người ta bày…

- Chờ tôi với! Đợi tôi tới rồi hãy nói!

Đàm Văn Bân vừa gào vừa giơ tay chạy như bay tới, sợ bỏ lỡ đoạn hay.

Chẳng ngờ giày với quần hắn đều đã ướt. Chạy nhanh quá, chân nọ vướng chân kia. Khi lao tới trước mặt Lý Truy Viễn và Nhuận Sinh, hắn mất thăng bằng, suýt nữa đâm cả ba người xuống sông. May mà Nhuận Sinh khỏe, kịp vươn tay túm hắn lại.

- Hì hì, xin lỗi, xin lỗi.

Đàm Văn Bân ngồi xổm xuống, vừa vắt quần vừa nói:

- Giờ nói được chưa?

- Cây cầu này đã bị người ta bày thành một thế phong thủy. Cái xác kia hẳn không phải người đi đường chết đuối, mà là do kẻ đó cố ý ném xuống. Hắn mượn đoạn sông này để nuôi xác.

- Nuôi xác?

Đàm Văn Bân há hốc miệng.

- Ghê thật đấy!

Nhuận Sinh hỏi:

- Vậy chúng ta phải làm sao, anh Viễn?

- Có hai cách. Một là phá thế phong thủy này, xác chết sẽ nổi lên. Hai là tìm thẳng tới nhà kẻ đó.

Nhuận Sinh vừa định hỏi tìm bằng cách nào, nhưng đã kịp nín lại.

Đàm Văn Bân thì không nhịn được:

- Tìm thế nào?

Lý Truy Viễn chỉ tấm bia bên chân cầu:

- Trên đó có khắc tên người bỏ tiền sửa cầu.

Đàm Văn Bân gãi đầu:

- Đúng nhỉ. Mẹ kiếp, sao tôi thấy mình ngốc thế không biết.

Nhuận Sinh khẽ “ừ” một tiếng.

Từ xưa đến nay, sửa cầu làm đường đều được xem là việc tích đức. Nhất là ở nông thôn, tiền công quỹ không đủ, nhiều khi dân làng phải tự góp tiền làm đường, làm cầu. Nếu cả làng chia đều thì không nói, còn nếu phần lớn tiền do một người bỏ ra, tên người ấy thường sẽ được khắc lên bia.

Lý Truy Viễn bước tới trước tấm bia. Trên đó chỉ khắc một cái tên, đủ biết cây cầu này do một mình người ấy bỏ tiền xây nên.

Chu Dung.

- Chúng ta tới hỏi trưởng thôn trước. Người này hẳn vẫn sống trong làng, không thể ném xác ở đây rồi tự mình bỏ đi nơi khác.

- Tôi biết nhà hắn ở đâu.

Nhuận Sinh chỉ về một hướng.

- Nhà hắn ở góc phía bắc làng.

Đàm Văn Bân hỏi:

- Nhà hắn chắc giàu lắm nhỉ?

Nhuận Sinh lắc đầu:

- Trong làng, số nhà sống còn chật vật hơn nhà tôi không nhiều. Nhà hắn là một trong số đó.

Lý Truy Viễn nghĩ ngợi rồi nói:

- Vậy tới nhà hắn đi. Nói rõ mọi chuyện luôn, kẻo chúng ta vớt xác lên rồi, hắn lại ném xuống lần nữa.

Đàm Văn Bân chớp mắt, lẩm bẩm:

- Xác chết chứ có phải cá giống đâu.

Nhuận Sinh nói:

- Ý anh Viễn là chỉ xử lý cái xác mà không đụng tới người sống, sau này rất có thể sẽ còn rắc rối.

Dưới sự dẫn đường của Nhuận Sinh, ba người đi về phía góc bắc làng.

Trên đường, Đàm Văn Bân hỏi:

- Có cần gọi cha tôi tới không?

- Anh muốn cha mình biết anh ở nhờ nhà cụ, nói là học hành nhưng thật ra lại chạy đi vớt xác chết à?

Giọng Đàm Văn Bân lập tức nhỏ hẳn:

- Đây chẳng phải án mạng sao? Chuyện này phải để cảnh sát lo chứ?

- Anh Bân, chưa chắc đã là án mạng. Hắn đang nuôi xác. Có thể hiểu là lợi dụng thế phong thủy để giữ cho xác không phân hủy. Nếu thật sự giết người, chẳng có lý do gì phải tốn công làm chuyện này.

- À, ra là vậy. Hiểu rồi.

Lý Truy Viễn dặn:

- Anh Nhuận Sinh, lát nữa anh chuẩn bị sẵn. Nếu có chuyện bất thường thì cứ ra tay ngay, trước hết phải bảo đảm an toàn cho chúng ta.

- Ừ, anh Viễn cứ yên tâm. Tôi biết rồi.

Liễu Ngọc Mai, chú Tần và những người khác đều được xem là người nhà. Vì thế, đây là lần đầu Lý Truy Viễn gặp người cùng nghề ở bên ngoài. Trong lòng hắn vẫn không khỏi căng thẳng.

Nhà Chu Dung còn tồi tàn hơn nhà ông Sơn. Nhà ông Sơn ít ra còn có một cái sân rách nát, còn nhà Chu Dung đến hàng rào sơ sài cũng không có. Nơi hắn ở thậm chí chỉ là một căn nhà đất.

Bấy giờ, dân làng đều đang chắt chiu dành dụm để xây nhà hai tầng. Nhà nào chưa có được căn nhà gạch lợp ngói, vẫn phải sống trong nhà đất, thì đúng là thuộc tầng đáy của cả làng.

Đàm Văn Bân không hiểu nổi:

- Người như thế mà lại bỏ hết tiền xây cả một cây cầu sao?

Nhuận Sinh đáp:

- Trước kia hắn là công nhân ở xưởng máy nông nghiệp Hưng Nhân. Sau này vợ con đều mắc bệnh, hắn không thể đi làm nữa, đành ở nhà làm ruộng và chăm sóc họ.

- Vợ con hắn còn sống chứ?

- Còn. Lần trước tôi đạp xe ngang qua nhà hắn, vẫn thấy vợ con hắn ngồi ngoài cửa phơi nắng.

Nói tới đó, Nhuận Sinh còn quay sang nhìn Lý Truy Viễn:

- Chính là lần trước anh Viễn ở nhà chờ tôi. Hôm ấy tôi lên chợ huyện mua gạo, bột cho cụ, lúc đi ngang qua nhà hắn đã trông thấy họ.

Lý Truy Viễn gật đầu.

Ba người bước lên một khoảng sân đất nhỏ. Trên sân có một cái giếng, bên trên đậy chiếc nón lá rộng vành. Sân được quét dọn khá sạch sẽ, dĩ nhiên cũng bởi nơi này chẳng có mấy thứ để mà bẩn.

Cửa nhà đóng kín.

Đàm Văn Bân liếm môi, bước tới đẩy thử. Cửa không nhúc nhích. Hắn lại đẩy lần nữa, bên trong lập tức vang lên tiếng khóa va vào nhau leng keng.

Đàm Văn Bân quay đầu nhìn Lý Truy Viễn và Nhuận Sinh, nhún vai:

- Xem ra chúng ta tới không đúng lúc. Người chắc đã ra ngoài, cửa lại bị khóa từ bên trong.

Lý Truy Viễn nhìn hắn:

- Cửa bị khóa từ bên trong mà anh không thấy lạ sao?

- Có gì lạ? Cửa nhà tôi cũng khóa từ bên trong mà… Ờ nhỉ, sao lại thế được?

Khóa cửa gỗ trong làng không giống loại ổ khóa dùng chìa ở những khu nhà tập thể. Cửa đã khóa từ bên trong thì người ngoài không thể mở được.

- Anh Bân, gọi thêm lần nữa đi.

- Được thôi.

Đàm Văn Bân vừa đập cửa vừa gọi lớn:

- Có ai ở nhà không? Có ai ở nhà không?

Bên trong không có tiếng đáp.

Nhuận Sinh bỗng hít hít mũi, rồi giơ tay ra hiệu:

- Bân, im một lát.

Thấy vậy, Lý Truy Viễn lập tức lùi lại mấy bước. Hắn biết mũi Nhuận Sinh rất thính, ngửi thứ gì cũng chuẩn.

- Anh Viễn, có mùi xác chết, rất nhạt.

Đàm Văn Bân vội hỏi:

- Là xác chết trôi à?

Nhuận Sinh lắc đầu:

- Khó nói. Mùi quá nhạt, cũng có thể là thứ gì khác bốc ra.

Đàm Văn Bân đoán:

- Chẳng lẽ sau khi khóa cửa từ bên trong, người trong nhà tự sát rồi?

Hai người cùng quay sang nhìn Lý Truy Viễn.

Hắn chỉ cửa sổ bên cạnh:

- Vào xem thử đi. Nếu phát hiện xác chết thì báo cảnh sát. Nếu không có gì, chúng ta xin lỗi rồi đền tiền.

Đàm Văn Bân bước tới cửa sổ gỗ, kéo thử:

- Cửa sổ cũng khóa rồi.

Nhuận Sinh tiến tới, đẩy hắn sang bên, nắm lấy mép cửa sổ rồi dùng sức. Cả khung cửa lập tức bị tháo rời.

Sau đó, Nhuận Sinh luồn người chui vào trong.

Đàm Văn Bân cắn răng, cũng trèo theo.

“kẽo kẹt!”

Bên trong vang lên tiếng then cửa được mở. Cánh cửa bật ra, Nhuận Sinh đứng sau cửa nói:

- Anh Viễn, chìa khóa để trên bàn. Tôi tiện tay mở cửa luôn.

Lý Truy Viễn bước vào bằng cửa chính:

- Anh Nhuận Sinh, anh làm gì vậy? Nếu trong này thật sự có xác chết thì anh đã phá hỏng hiện trường rồi. Sau này chúng ta biết giải thích thế nào?

- Không sao. Cha anh Bân sẽ giúp chúng ta giải thích.

- Nhưng đây đâu phải địa bàn của cha tôi.

- Thì nói cha anh đang đi bắt anh. Anh trốn trong làng đánh bài, ông ấy xin nghỉ, mặc thường phục tới bắt. Sau đó tình cờ phát hiện căn nhà này. Ông ấy là người đầu tiên nhìn thấy hiện trường.

Đàm Văn Bân nuốt nước bọt:

- Nghe cũng hợp lý.

Căn nhà khá rộng, nhưng nền đất lỗ chỗ những vũng bùn nhỏ, chưa lát gạch hay láng nền. Nhiều xà gỗ rất thấp, người lớn bước vào đều phải cẩn thận, kẻo va đầu.

Bố cục căn nhà rất điển hình. Phía đông là bếp, có bệ đất đặt bếp lò. Chính giữa là gian ngoài, sát tường kê một chiếc tủ dài. Trên tủ đặt bàn thờ và tượng thần. Phía tây cùng là buồng ngủ.

Trong nhà chất đầy đồ đạc. Nhiều thứ đã cũ nát nhưng vẫn không nỡ vứt đi. Dù vậy, mọi thứ được sắp xếp ngay ngắn, đâu ra đấy.

Đàm Văn Bân và Nhuận Sinh chia nhau, một người đi về phía đông, một người đi về phía tây. Lý Truy Viễn đứng giữa gian nhà, nhìn những pho tượng treo trên bàn thờ.

Ngoài cùng bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát, ngoài cùng bên phải là Ngọc Hoàng Đại Đế, còn chính giữa lại là Chúa Giê-su.

Người làng thờ vị thần nào cũng có thể hiểu được. Phật giáo và Đạo giáo đặt chung một bàn thờ vốn chẳng hiếm, thậm chí có nhà còn thờ cả Khổng Tử. Cụ ở nhà cũng treo tượng Khổng Tử.

Nhưng treo Chúa Giê-su ở giữa hai pho tượng kia thì trông thật chẳng ăn nhập. Kiểu dáng, thần thái của pho tượng ấy hoàn toàn khác hẳn, người tinh mắt nhìn qua đã thấy không ổn.

Lý Truy Viễn bước tới trước chiếc tủ dài. Hắn nhận ra lư hương trước Quan Thế Âm Bồ Tát và Ngọc Hoàng Đại Đế đã lâu không dùng, bên trong phủ dày bụi chứ chẳng còn mấy tàn nhang.

Riêng lư hương trước Chúa Giê-su lại đầy ắp tro nhang, nhìn là biết thường xuyên được thắp.

Nhưng Chúa Giê-su cũng nhận nhang sao?

Lý Truy Viễn đưa tay định mở chiếc tủ dài.

Kiểu tủ này có thiết kế rất giống quan tài. Muốn nhìn vào bên trong phải nhấc từng tấm nắp lên. Mỗi tấm đều có rãnh lõm, ghép nối với nhau như những miếng ghép hình. Thường phải mở lần lượt từng ngăn. Tủ có thể dùng để cất đồ lặt vặt, cũng có thể chứa lương thực.

Bàn tay đang giơ lên của Lý Truy Viễn cuối cùng lại hạ xuống. Để chắc chắn, vẫn nên chờ Nhuận Sinh tới rồi hãy mở.

Chẳng bao lâu, Nhuận Sinh và Đàm Văn Bân quay lại.

- Trong buồng ngủ không có ai.

- Bếp cũng chẳng có ai.

Lý Truy Viễn hỏi:

- Anh Nhuận Sinh, anh có ngửi ra mùi xác chết phát ra từ đâu không?

Nhuận Sinh lắc đầu:

- Vào trong này rồi thì không phân biệt được nữa. Chỗ nào cũng phảng phất thứ mùi ấy.

Đàm Văn Bân nghe vậy liền châm chọc:

- Ý anh là có một cái xác sống đi lại trong nhà, nên khắp nơi đều lưu mùi của nó à? Nghe vô lý quá đấy!

- Anh Bân, anh đúng là kiểu miệng nói thích rồng mà thấy rồng thì sợ.

- Hả?

Đàm Văn Bân lập tức nhớ ra mục đích mình tới đây. Trong đầu hắn hiện lên cảnh một cái xác đi lại, ăn ở trong căn nhà này. Toàn thân hắn lạnh toát, lập tức rùng mình.

- Anh Nhuận Sinh, mở nắp ra xem thử bên trong.

- Được!

Nhuận Sinh biết cách mở loại nắp cài này. Hắn nắm một bên, đẩy vào trong trước, rồi mới nhấc lên.

Lý Truy Viễn kiễng chân nhìn vào. Bên trong chất toàn những bao gạo, tỏa ra mùi hơi hắc, hẳn là đã được xông để chống mốc.

Xem ra gian ngoài chẳng có gì. Cả căn nhà chỉ có mỗi chiếc tủ dài này là chỗ có thể giấu đồ.

Lý Truy Viễn bước về phía bếp, Nhuận Sinh và Đàm Văn Bân cũng đi theo.

Bếp là kiểu bếp đất rất điển hình ở nông thôn. Sau bệ bếp chất đầy cỏ khô và củi.

Đàm Văn Bân chỉ về phía ấy:

- Lúc nãy tôi đã kiểm tra rồi, trong đống củi không có gì.

Lý Truy Viễn lần lượt mở nắp chum nước và chum gạo. Chum nước đầy tràn, chum gạo cũng đầy ắp.

Đàm Văn Bân lại nói:

- Chỗ này tôi cũng mở ra xem rồi, không thấy gì cả. Nhưng nhà này dù nghèo đến đâu thì chum gạo vẫn đầy hơn nhà anh Nhuận Sinh.

Lý Truy Viễn lại lùi về sau mấy bước, đứng sau Nhuận Sinh và Đàm Văn Bân.

Hắn đưa tay chỉ vào chum gạo:

- Nhà có ba người mà dùng chiếc chum lớn thế này, lại còn đổ đầy gạo.

Nhà thành phố hết gạo thì chạy ra ngoài mua. Còn ở quê, nhà nào cũng có lương thực dự trữ, nhưng phần lớn được cất riêng. Người ta chỉ xúc một ít đổ vào chum trong bếp cho tiện dùng hằng ngày. Đợi khi chum gần cạn mới lấy thêm gạo dự trữ đổ vào.

Nhuận Sinh nhìn Đàm Văn Bân, rồi lại nhìn chum gạo, như muốn hỏi: anh làm hay để tôi làm?

Người Đàm Văn Bân run bần bật, song vẫn cắn răng gật đầu. Hắn bước đến bên chum, thò tay vào giữa đống gạo rồi bới ra từng chút một.

Bới được vài lượt, Đàm Văn Bân bỗng rú lên:

- A!

Rồi hắn ngã phịch xuống đất, tay chân quờ quạng bò giật lùi về sau.

Lý Truy Viễn và Nhuận Sinh bước tới nhìn vào. Giữa chỗ gạo bị bới lõm xuống, một búi tóc đen lộ ra.

Trong chum gạo có người!

Chẳng trách Đàm Văn Bân sợ đến thế. Cảnh tượng ấy, đổi lại là ai cũng phải kinh hãi. Nhất là khi chỉ cần tưởng tượng thôi cũng đủ hình dung ra người kia đang co quắp ngồi bên dưới lớp gạo.

Lý Truy Viễn nhắm mắt lại, rồi nhanh chóng mở ra để trấn tĩnh. Hắn nói:

- Anh Nhuận Sinh, kiểm tra thêm lần nữa đi.

- Được.

Nhuận Sinh không nói gì thêm, đưa tay tiếp tục bới gạo. Sau cùng, phần trán dưới mái tóc cũng lộ ra. Quả nhiên là một người, hơn nữa còn là một cô gái.

Bới tiếp xuống, khuôn mặt cô gái dần hiện ra. Đôi mắt nàng vẫn mở.

Hai hốc mắt đã bị từng hạt gạo lấp kín.

Đàm Văn Bân vừa đứng dậy, mon men lại gần nhìn thử. Vừa trông thấy cảnh ấy, hắn lập tức lùi liền mấy bước. Lý Truy Viễn cũng dời mắt đi. Lần này hắn chẳng trách Bân Bân nhát gan, bởi chính hắn cũng thấy khó lòng chịu nổi đôi mắt kia.

- Tiểu Viễn, không bới tiếp được nữa. Muốn xem rõ thì phải múc gạo ra, hoặc thử kéo cô ta lên.

- Thôi, cứ để vậy đã.

- Ừ.

Lý Truy Viễn hít hít mũi. Hắn ngửi thấy một thứ mùi ngầy ngậy.

- Anh Nhuận Sinh, anh có ngửi thấy gì không?

- Không. Vẫn chỉ là mùi xác chết nhè nhẹ thôi. Tiểu Viễn, cậu ngửi thấy gì à?

- Sao tôi lại ngửi thấy mùi thơm.

- Mùi thơm?

Lý Truy Viễn lắc đầu, quay sang nhìn chum nước. Nước trong chum hẳn đã lâu ngày chưa thay. Căn nhà lại tối tăm ẩm thấp, khiến nước chẳng còn trong mà đã ngả màu đen đục.

- Anh Bân Bân.

Đàm Văn Bân lập tức lắc đầu nguầy nguậy, quay sang gọi:

- Anh Nhuận Sinh.

Nhuận Sinh chẳng chần chừ. Hắn mặc áo ba lỗ, chẳng cần xắn tay áo, cứ thế thò cả cánh tay vào chum nước, khuấy lên rồi mò mẫm bên trong. Một lát sau, hắn rút cánh tay ướt sũng ra, giũ giũ mấy cái:

- Trong này không có gì.

Đàm Văn Bân đề nghị:

- Hay là chúng ta ra ngoài trước?

Nhuận Sinh liếc hắn:

- Người đòi vào đây là anh. Đến lúc nhìn thấy thì cũng là anh sợ gần chết.

Đàm Văn Bân cãi:

- Tôi như vậy mới là phản ứng bình thường của người sống chứ?

Lý Truy Viễn đi về phía buồng ngủ. Nhuận Sinh theo sau. Đàm Văn Bân ngoái nhìn đôi mắt trong chum gạo lần nữa, rồi lập tức quay người, nhấc chân chạy theo hai người.

Trong buồng có hai chiếc giường, một lớn một nhỏ. Cả hai đều mắc màn xanh, trên giường trải chiếu cói. Giường lớn đặt một chiếc chăn dày gấp ngay ngắn, giường nhỏ phủ một tấm mền.

Bên dưới hai tấm chiếu đều lót mấy lớp chăn bông dày làm đệm, nằm lên sẽ mềm mại và dễ chịu hơn.

Nhuận Sinh chỉ xuống gầm giường cùng mấy chiếc tủ quần áo, tủ gỗ kê xung quanh:

- Tiểu Viễn, những chỗ này tôi đã kiểm tra hết rồi, không có gì lạ.

Đàm Văn Bân chỉ vào chiếc chăn trên giường lớn, kêu lên:

- Chăn kìa, chăn kìa! Trời nóng thế này, sao lại đắp chăn dày như vậy?

Nhuận Sinh bước tới, vén màn rồi kéo chăn ra trải. Quả nhiên chỉ là một chiếc chăn dày.

Đàm Văn Bân nghẹn lời:

- Ờ…

- Anh Nhuận Sinh, lật cả hai tấm chiếu lên xem.

- Được.

Nhuận Sinh trước hết lật tấm chiếu trên giường nhỏ. Bên dưới là mấy lớp bông dày.

Đến khi hắn định lật tấm chiếu trên giường lớn, Đàm Văn Bân đã giành làm trước. Hắn nắm một góc chiếu bằng một tay, nhón cả hai chân lên rồi run rẩy xoay vòng tại chỗ.

Hắn sợ đến mức co giật.

Dưới tấm chiếu của giường lớn cũng là những lớp bông dày.

Nhưng giữa đống bông lại kẹp một người. Đó là một phụ nữ trưởng thành, thân hình gầy quắt.

Phần lớn cơ thể người đàn bà bị bông phủ kín, chỉ còn mặt, bụng và bàn chân lộ ra. Bà ta cũng mở mắt. Hai hốc mắt đã bị bông nhồi chặt, căng phồng lên như sắp lồi ra. Đám bông ở quanh mắt còn nhô hẳn lên phía trên, trông chẳng khác nào trên người bà ta vừa mọc thêm hai búi bông mới.

- Bỏ xuống đi, anh Bân Bân.

- Được.

Đàm Văn Bân buông tay. Tấm chiếu rơi xuống, phủ kín đống bông và người đàn bà bên dưới.

Sau đó, hắn đi về phía Lý Truy Viễn. Lý Truy Viễn lập tức tránh sang bên. Đàm Văn Bân đành quay sang ôm chặt lấy Nhuận Sinh. Lúc này hắn cần một cái ôm để trấn tĩnh. Hắn gần như sắp khóc, đuôi mắt cũng đã rơm rớm nước.

Đàm Văn Bân run giọng hỏi:

- Tiểu Viễn, tiếp theo phải làm sao?

- Anh Bân Bân, đừng sợ.

- Tôi không sợ.

Đàm Văn Bân bướng bỉnh hít sâu một hơi. Nhưng ngay sau đó, Nhuận Sinh đẩy hắn ra. Hắn đứng không vững, lảo đảo lùi lại rồi ngã ngửa xuống tấm chiếu trên giường lớn.

Vừa nghĩ đến thứ nằm bên dưới, Đàm Văn Bân đã bật dậy như lò xo:

- Tôi sợ, tôi sợ!

Lý Truy Viễn vỗ lên cánh tay hắn:

- Đừng sợ nữa, anh Bân Bân. Chúng ta đi gọi điện cho bố anh.

- Bố…

Nói cũng lạ, vừa nghĩ đến hình ảnh cha mình là Đàm Vân Long, nỗi sợ trong lòng Đàm Văn Bân đã dịu đi hẳn. Cho dù lúc này cha hắn có đứng trước mặt tháo thắt lưng ra đánh, hắn vẫn thấy đó là hơi ấm thân thuộc rát bỏng.

Lý Truy Viễn đi ra khỏi căn nhà đất trước. Nhuận Sinh cầm khung cửa sổ vừa tháo xuống, định lắp lại, chợt nghe Đàm Văn Bân ở bên trong gọi với bảo chờ một chút.

Ngay sau đó vang lên tiếng lách cách. Hắn đã tự khóa cửa gỗ từ bên trong.

Rồi Đàm Văn Bân trèo qua cửa sổ ra ngoài, nhờ Nhuận Sinh lắp khung cửa trở lại.

Hắn cười hì hì:

- Anh Tiểu Viễn, tôi đã khóa cửa, còn lau cả chìa khóa với ổ khóa rồi. Như vậy trên đó sẽ không còn dấu vân tay của anh Nhuận Sinh, chúng ta cũng đỡ thêm một chuyện.

Đàm Văn Bân tưởng mình xử lý rất chuyên nghiệp.

Lý Truy Viễn nói:

- Lúc bố anh đến, anh Nhuận Sinh vẫn có thể mở khóa. Với lại anh đâu chỉ lau dấu vân tay của anh Nhuận Sinh, mà đã lau sạch dấu tay của tất cả mọi người rồi.

- Cái này…

Đàm Văn Bân nhận ra mình vừa làm một chuyện ngu ngốc vô ích.

- Đi thôi, chúng ta gọi điện cho bố anh.

Theo lẽ ra, nơi này phải để lại một người trông chừng. Nhưng để ai ở lại cũng không thích hợp. Cuối cùng, cả ba vẫn cùng nhau đi ra ngoài.

Đi được một quãng khá xa, phía sau bỗng vọng đến tiếng gọi:

- Này, Nhuận Sinh Hầu! Nhuận Sinh Hầu!

Cả ba quay đầu lại. Trưởng thôn đang đạp xe trên con đường họ vừa đi qua, cách rất xa đã vẫy tay gọi:

- Nhuận Sinh Hầu, các cậu vớt được chưa? Có tìm thấy gì không?

Nhuận Sinh giơ tay đáp lớn:

- Chưa!

Đúng lúc ấy, trong tầm mắt cả ba người, trưởng thôn đang đạp xe tới bỗng xoay người sang trái, giơ tay chào ai đó, miệng còn nói gì đó rồi bật cười. Trên đường làng, người ta thường làm vậy khi chào hỏi người đang đứng bên một căn nhà ven đường.

Mà hướng ấy, chính là nhà Chu Dung.

Cả ba cùng quay đầu nhìn sang.

Dù cách khá xa, họ vẫn lờ mờ trông thấy trên khoảng sân đất nhỏ, một người phụ nữ và một bé gái đang ngồi cạnh nhau.