Chương 9: Đông Hành - Mộng Phù Sinh Cuối Đời Đường

Trang chủ › Mộng Phù Sinh Cuối Đời Đường › Chương 9

Chương 9 - Đông Hành

☰ DS Chương 📖 2,895 chữ

Ngày hai mươi lăm tháng Sáu, sáng sớm, Khâu Duy Đạo đã nhờ gia nhân hầu hạ thay xong y phục.

Hắn không mặc giáp, có lẽ chịu không nổi sức nặng ấy. Nhưng chẳng biết kiếm đâu ra được bộ võ phục đựng cung tên màu đỏ thắm, mặc vào trông cũng ra dáng lắm. Chỉ tiếc bên mình không mang cung tên, phí mất bộ đồ oai vệ.

Hôm nay, Viện Giám quân đãi quân khá hào phóng. Nhà bếp chuẩn bị món bánh bột nhồi thịt cừu cho mọi người, thứ bánh về sau gọi là hoành thánh hay sủi cảo. Bánh được luộc nóng hổi trong nồi. Thiệu Thụ Đức bưng một bát, ngồi bên bàn ăn thong thả. Hắn còn có chỗ ngồi, đám lính thì chỉ được ngồi bệt xuống đất. Song trông vẻ mặt hớn hở của mọi người, có vẻ chẳng ai bận tâm. Được ăn ngon là hơn hết! Nhất là sáu người lính mới tuyển, ăn đến suýt nuốt cả lưỡi. Đủ biết ngày thường họ sống khốn khó đến mức nào. Giờ đây, ngoài cái mạng rẻ mạt, có lẽ họ chẳng còn gì.

Ăn bánh xong, nhà bếp lại khiêng ra hơn chục chiếc giỏ lớn. Mỗi giỏ có một trăm chiếc bánh hồ, cộng lại được một nghìn hai trăm chiếc. Theo lệ, mỗi chiếc dùng nửa thăng bột mì. Ngày thường, quân lính không tập trận thì mỗi người ăn hai chiếc vào bữa sáng, hai chiếc vào bữa trưa. Khi ra trận, mỗi người ăn hai chiếc vào ba bữa sáng, trưa, tối. Một nghìn hai trăm chiếc đủ cho hai đội, mỗi đội một trăm người, ăn trong hai ngày.

Phần ăn của các thuộc hạ, người hầu và gia nhân Khâu Duy Đạo thì được chở riêng trên một cỗ xe ngựa. Thiệu Thụ Đức liếc qua, thấy đại khái là bánh nhân thịt và bánh bột chiên viên. Món trước có nhân, món sau là viên bột chiên ngập dầu, đều ngon hơn phần ăn của quân lính. Nhưng thôi, phải biết tự an ủi mình. Bánh hồ cũng khá lắm, lại nhiều, còn rắc vừng. Hình dáng gần giống bánh naan ở Tân Cương ngày nay, ăn ngon hơn thứ bánh hấp mà quân lính nơi khác thường dùng. Đó là cái lợi khi đi theo giám quân. Hoạn quan vốn sợ chết, để giữ an toàn cho mình nên cũng đối đãi với quân lính tử tế hơn.

Ăn sáng xong, quân sĩ chỉnh tề hàng ngũ rồi hộ tống xe ngựa và giám quân ra khỏi thành. Chỉ hơn trăm người mà hành trang đã chất đầy sáu cỗ xe. Ra khỏi thành khi trời còn sớm, giám quân đến chào Đô tri binh mã sứ phủ Nha tiền và Đô áp nha Hác Chấn Uy. Thiệu Thụ Đức dẫn người trong đội đến vị trí được chỉ định, đứng vào hàng. Quan Khai Nhuận dặn dò viên thuộc hạ trông nom quân nhu vài câu rồi cũng đi tới. Hai người đứng hai bên, Khâu Duy Đạo ở giữa, lặng lẽ chờ Hác Chấn Uy ra lệnh.

Nửa canh giờ sau, các Thập tướng và phó tướng lần lượt dẫn quân tới. Chỉnh đốn hàng ngũ xong, từng người tiến lên chào hỏi. Hác Chấn Uy bảo họ trở về đội ngũ, rồi dựa vào danh sách điểm quân. Kẻ nào gọi ba lượt không đến, lập tức chém đầu.

Phòng ngự sứ Lý Đang không lộ diện. Trong quân đồn rằng ông ta bệnh nặng, e chẳng còn sống được bao lâu. Thiệu Thụ Đức nghe tin, lòng đầy lo lắng.

Việc đổi ngôi nắm quyền ở các phiên trấn xưa nay đều là chuyện lớn. Quân Thiên Đức ít người, không đến nỗi rối ren, nhưng chẳng có nghĩa là nhất định sẽ yên ổn. Thiên hạ đang sôi sục, kẻ ôm dã tâm rục rịch khắp nơi. Chỉ cần sơ sẩy, Phong Châu vốn yên ổn nhiều năm có thể lập tức chìm trong cảnh lầm than. Không tin ư? Cứ nhìn quân Trấn Vũ bên cạnh mà xem. Đạo quân trung thành với triều đình đã bị Lý Quốc Xương đánh tan. Loạn binh tràn vào thôn quê, cướp bóc khắp nơi. Nay quân của Lý Quốc Xương đang trấn giữ vùng ấy lại thúc thuế, bắt phu rất gắt, chẳng đoái hoài đến sức dân. Người dân sống khốn khổ như trong nước sôi lửa bỏng. Phong Châu từ trên xuống dưới chẳng ai muốn kết cục ấy xảy ra.

Trong lịch sử Phong Châu, những cuộc binh biến lớn chỉ có hai lần. Một lần là giết Phòng ngự sứ Chu Hoài Nghĩa, vì ông ta không xin được lương tiền của triều đình để sửa thành phía tây bị nước Hoàng Hà cuốn hỏng. Khi ấy, thành phía tây còn là trị sở. Lần kia là lúc người Hồi Hột kéo xuống phía nam. Quân đội tan vỡ, loạn binh tràn đi cướp bóc.

Vốn dĩ Phong Châu có hai chỗ dựa lớn là quân Sóc Phương và quân Trấn Vũ. Một khi có biến, có thể điều quân vào dẹp loạn. Nhưng nay thiên hạ đại loạn, giặc giã nổi lên khắp nơi. Quân Sóc Phương đang chỉnh đốn, chuẩn bị kéo xuống nam đánh quân khởi nghĩa nông dân. Quân Trấn Vũ thì khỏi phải nói, phần lớn đã theo Lý Quốc Xương làm phản, chẳng còn trông cậy được.

Thế cục đã ở bên bờ nguy hiểm, không ai đoán được sắp xảy ra chuyện gì.

Phía xa bỗng vang lên tiếng tù và, rồi nhạc khí đồng loạt trỗi lên. Thiệu Thụ Đức biết đã điểm quân xong, chủ tướng sắp sửa huấn thị. Nghe xong sẽ xuất binh, tiến vào địa phận quân Trấn Vũ.

Tiếng Hác Chấn Uy vang rền bên tai:

- Các ngươi đều là tráng sĩ! Có người giương cung mạnh, bắn xuyên giáp dày; múa đao thương kiếm kích thuần thục như tay chân, xông pha bắt giặc, chém tướng đoạt cờ. Đó là những dũng sĩ gan góc. Có người đứng trên ngựa phi, tung hoành hai bên, vượt thành lũy, ra vào nhà cửa dễ như thò tay lấy đồ trong túi. Đó là những người nhanh nhẹn. Có người đi ba trăm dặm chưa hết một buổi, vác nặng hàng trăm cân vẫn bước liền năm mươi bước, tập kích cướp phá, phá thành hãm trận dễ như trở bàn tay. Ta có những tráng sĩ như thế, còn phải lo gì nữa? Xuất phát!

Thiệu Thụ Đức nghiêm mặt, biết đã đến lúc lên đường. Khâu Duy Đạo cũng sửa lại võ phục, chẳng cần ai giúp, thoăn thoắt trèo lên ngựa. Hừm, trước kia đã coi thường hắn. Xem ra vị giám quân này không phải hạng chẳng biết việc binh, yếu đuối đến mức không nhấc nổi thanh kiếm. Hạng người ấy có lẽ đã chết sạch từ lâu rồi.

Từ thành quân Thiên Đức men theo Hoàng Hà đi về phía trước hai trăm dặm là đến Trung Thụ Hàng thành, thuộc địa phận quân Trấn Vũ. Thành Trung không nhỏ, dù sao cũng có thể chứa mấy nghìn quân. Phía bắc thành còn có đồn An Lạc, cũng đủ sức đóng quân. Nhưng nhìn tình hình hiện nay, Lý Quốc Xương chưa chắc để lại nhiều quân ở đây, thậm chí có thể đã bỏ thành.

Hai trăm dặm đường chẳng gần chút nào. Tuy nhiều quân nhu cản trở tốc độ hành quân đã được chở bằng thuyền đi trước, mỗi ngày họ vẫn không đi nổi ba mươi dặm. Đó còn là đội quân chưa đến năm nghìn người. Thành quân đã gọi thêm một số người Đảng Hạng, Hồi Hột và Đột Quyết làm quân phụ trợ, thật ra chỉ là phu khuân vác. Nếu là năm vạn quân, mỗi ngày đi được hai mươi dặm đã coi như đạt yêu cầu.

Chiều nào đến giờ Thân, toàn quân cũng phải dựng trại nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, giờ Mão, họ lại nhóm bếp nấu ăn, thu xếp binh khí rồi nhổ trại lên đường.

Khô khan, tẻ nhạt, nặng nhọc và nguy hiểm, đó là những điều xoay vần quanh cuộc sống trong quân ngũ. Thiệu Thụ Đức nhập ngũ đã nhiều năm, trải qua không ít chuyện, trên người sớm hằn dấu vết của tháng ngày chinh chiến. Da rám nắng, bị gió cát mài đến sần sùi. Hai bàn tay đầy chai, khớp ngón thô to. Cởi giáp ra còn thấy năm sáu vết sẹo lớn nhỏ. Đi lính chẳng phải nghề tốt đẹp gì. Có quá nhiều thứ đã mất đi.

Cuộc sống đơn điệu ấy kéo dài đến mồng ba tháng Bảy. Toàn quân tới nơi, cách phía tây Trung Thụ Hàng thành vài dặm. Dọc đường, họ đi khá thuận lợi. Con đường lớn từ Linh Châu qua Phong Châu đến quân Trấn Vũ tuy lâu năm không được sửa sang, nhưng cũng chưa đến nỗi tệ. Năm nghìn quân cứ thế thong thả đến thành Trung.

Nói đến hai chữ “thong thả”, trong đó cũng có cái lý. Đánh trận là chết người, là hao tiền tốn lương. Quân Trấn Vũ chẳng phải đội quân yếu, lại đông hơn. Nếu vội vã xông tới, lỡ thu hút hỏa lực của họ rồi bị đánh cho một trận nhừ tử, biết tìm ai mà kêu? Đô đầu Hác Chấn Uy cũng không cố ý kéo dài hành trình, chỉ hành quân như thường lệ, chẳng ai bắt bẻ được. Trên dưới trong quân đều tán thành.

Thành Trung có quân Trấn Vũ trấn thủ. Một Thập tướng tên Lý Nhân Quân dẫn vài trăm quân giữ thành. Nghe tin quân Thiên Đức tiến về phía đông, hắn bày kế giết một toán kỵ binh Sa Đà còn ở lại trong thành, rồi mở cổng đầu hàng. Đô tướng Hác Chấn Uy và Giám quân sứ Khâu Duy Đạo rất hài lòng, dọc đường đã sai người đến khen thưởng hắn. Nhưng khi đại quân đến nơi, toàn quân Thiên Đức tiến vào thành, còn quân của Lý Nhân Quân bị đuổi ra đồn An Lạc phía bắc. Rõ ràng mọi người vẫn chưa tin hắn.

Giờ Mùi, Hác Chấn Uy triệu tập Giám quân sứ và các tướng để bàn việc quân. Đội của Quan Khai Nhuận khi ấy đang canh giữ Viện Giám quân tạm thời. Thiệu Thụ Đức chọn một hỏa trong đội, mặc giáp mang binh khí, đích thân hộ tống Khâu Duy Đạo đến nơi ở của Đô tướng.

Đến phủ tướng, trước cổng có hơn chục quân sĩ đứng canh. Họ chỉ cho Giám quân sứ và các phó tướng trở lên vào trong. Thân binh, người hầu đều phải chờ bên ngoài.

Đó là lệ quân. Khâu Duy Đạo không lấy làm phật ý, phất tay rồi đi vào. Thiệu Thụ Đức dẫn người chờ ngoài cửa. Thấy quanh đó đã có khá đông quân sĩ, mấy người đang trò chuyện, hắn bèn lặng lẽ bước lại gần, muốn nghe xem họ bàn chuyện gì.

Thành phía tây cách thành quân hơn hai trăm dặm, tin tức không mấy thông suốt. Họ hiểu biết về nguyên do chuyến xuất quân này còn xa mới bằng thân binh của các tướng ở thành phía bắc, tức tên thường gọi của thành quân Thiên Đức.

- Tên Lý Quốc Xương đi qua Thắng Châu, vượt sông ở Quan Hà Bân rồi tiến vào đất Sóc Châu. Lý Khắc Dụng tự xưng là Tiết độ sứ quân Đại Đồng, nhưng ngoài Vân Châu ra vẫn chưa khuất phục được Sóc Châu và Úy Châu. Bởi thế, dạo trước hắn đánh quân Kha Lam và thành quân Già Lỗ. Ta đoán bọn chúng hiện đang hoạt động trong địa phận Vân Châu hoặc Sóc Châu, rình mò Tấn Dương.

Người vừa nói là một gã lính râu ria rậm rạp. Hắn đã cố nói nhỏ, nhưng giọng vẫn oang oang.

Một quân sĩ khác xen vào:

- Tấn Dương loạn lắm. Quân trấn thủ và dân binh địa phương cướp bóc khắp nơi, phủ tiết độ chẳng quản nổi. Phía bắc còn có đại quân của cha con Lý Quốc Xương. Quân sĩ các nơi oán trách đã nhiều, chưa biết chừng cả đám sẽ theo Lý Quốc Xương để được cướp một phen cho sướng tay.

- Đúng, đúng! Tiết soái, tướng lĩnh thì ăn ngon mặc đẹp, còn được vui đùa với mỹ nhân. Cớ sao quân lính chúng ta lại ăn không no, mặc không ấm? Cướp quách đi!

Mọi người nhao nhao tán thành. Họ chẳng mấy hứng thú với chuyện dẹp cha con Lý Quốc Xương, trái lại rất muốn đi cướp phá nơi khác.

Thiệu Thụ Đức hiểu tâm tính quân lính thường dân hơn ai hết. Họ ham tiền, mê sắc, lời ăn tiếng nói cũng chẳng tử tế gì. Ban đầu hắn chỉ định lặng lẽ nghe. Nhưng thấy câu chuyện càng lúc càng đi xa, hết nhắc tiền của lại đến đàn bà, hắn bèn kéo gã râu ria ban nãy lại hỏi:

- Người anh em, xin hỏi Đô tướng Hác có định dẫn chúng ta sang Hà Đông không? Chẳng lẽ không đánh quân Trấn Vũ nữa?

Gã râu ria nghe vậy thì bật cười:

- Còn quân Trấn Vũ nào mà đánh? Lý Quốc Xương đã dẫn đi hết số quân có thể mang theo, bỏ lại toàn những tên cứng đầu chẳng nghe lệnh. Thành phía đông với thành quân đều chẳng còn mấy người. Thắng Châu cũng vắng tanh. Bên Lân Châu thì không theo Lý Quốc Xương làm phản, chỉ lo giữ đất yên dân. Sao, ngươi còn muốn đánh trận à?

- Đâu có. Trên chiến trường, đao thương không có mắt, ai biết mình có sống nổi không. Tôi chỉ nghĩ, nếu sang Hà Đông thì còn kiếm được ít của cải, dù sao cũng hơn sang Thắng Châu một chuyến tay không.

- Ồ, ngươi gan đấy! Ta chưa thấy ngươi ở thành phía bắc. Ngươi từ thành phía tây đến hay từ thành trong châu?

- Tôi từ thành phía tây đến.

- Thảo nào! Thành phía tây chỉ có một đội, là quân của Thập tướng Tôn. Quả nhiên người nào người nấy đều ngông nghênh như nhau! Đừng mơ nữa. Sang Hà Đông chẳng khác nào đẩy cả mấy nghìn quân chúng ta vào hố lửa. Quân Thiên Đức có được bao nhiêu người đâu, lỡ đánh đến tan tác thì lấy gì làm vốn? Nay Lý sứ quân còn nằm liệt giường…

Nói đến đây, gã lính thô lỗ cuối cùng cũng biết điều, liền đổi đề tài:

- Quân Trấn Vũ thì có thể vẫn đánh thử, chứ sang Hà Đông chắc là không. Đô tướng Hác đâu có ngu. Huống hồ xuất binh bao lâu rồi, một cọng lông của quân Hạ Châu cũng chưa thấy. Hồ Thường thị e rằng chẳng muốn gây chuyện đâu. Đảng Hạng ở Bình Hạ đã đủ khiến hắn đau đầu rồi, còn đòi đem quân đánh Lý Quốc Xương ư? Ta khinh!

Cuối cùng, hắn quả quyết như tổng kết:

- Chuyến này chẳng có chuyện gì lớn đâu. Mọi người đều có thể bình an trở về!

Chú thích 3: Quan ải Hà Tân nằm ở bến đò phía đông huyện Hà Tân. Huyện này thuộc vùng phía tây huyện Phiên Quan và phía đông bắc huyện Hà Khúc, tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Năm Trinh Quán thứ bảy, nhà Đường lập quan ải bên sông, cách thành huyện chừng nửa dặm về phía đông. Bến đò ấy đã có từ thời Bắc Ngụy, khi đó gọi là bến Quân Tử. Đến đời Bắc Tống, gần đó lại dựng bến Cửu Lãng. Vì nằm sát biên giới, nơi đây dần trở thành chốn buôn bán giữa Liêu và Hạ.

Chú thích 4: Ba châu Vân, Úy, Sóc đều thuộc quyền cai quản của quân Đại Đồng.

Chú thích 5: Thành quân Kha Lam nằm tại huyện Kha Lam, tỉnh Sơn Tây ngày nay, thuộc châu Lam, do Tiết độ sứ Hà Đông cai quản.

Chú thích 6: Hồ Thường thị là Hồ mỗ, từng giữ các chức Tiết độ sứ Hạ, Tuy, Ngân, Hựu; quan coi việc tuần sát và xử trí; sứ áp chế các bộ lạc vùng biên; sứ vỗ về người Đảng Hạng ở Bình Hạ; quan coi trại ngựa Ngân Xuyên, kiêm Thứ sử Hạ Châu. Ông tại vị từ năm 870 đến năm 879. Sử sách không ghi tên ông, chỉ có một bài thơ của La Ẩn gián tiếp nhắc đến đôi điều.

Bài thơ “Hồ Thường thị ở Hạ Châu” của La Ẩn viết:

Đài cao trăm thước, Hạ Châu ngất ngưỡng,
Đao dài kích lớn, chư hầu đất Hán.
Chim nhạn bay qua, mây biên thăm thẳm,
Ngựa chiến nhàn chân, cỏ ải vào thu.
Việc nước đã đem gan ruột gửi trao,
Gia tài chẳng tính đường truyền con cháu.
Lại nghe Lũng, Thục bao phen rối ren,
Mừng thay tướng vẫn chưa pha tóc sương.

‹ ☰ ›