Thiên Đức quân tuy yếu hơn các trấn ở miền bắc, nhưng đâu phải một bộ tộc Đảng Hạng lẻ loi muốn bắt nạt là bắt nạt được. Chuyện này, Tôn Bá nhất định phải báo lên trên, rồi trả đũa một phen cho chúng nhớ đời. Theo lời Lư Hoài Trung, phải “lột da chúng nó”.
Thiệu Thụ Đức tạm thời không rảnh bận tâm chuyện ấy. Ngày thứ hai sau khi được nghỉ, hắn dẫn tiểu tùy tùng Tam Lang và Lý Nhất Tiên đến thăm nhà mấy người lính tử trận. Đó là thói quen riêng của hắn, chứ không phải lệ thường của các tướng lĩnh thời này. Hắn đến từ đời sau, mãi vẫn không quen nổi dáng vẻ bề trên. Trong tiềm thức, hắn luôn nghĩ binh lính chẳng hề thấp kém hơn mình. Giữa thời loạn, mọi người chỉ là những kẻ nương tựa vào nhau mà sống.
Nhà Lưu Cẩu Nhi ở gần tường thành phía nam. Đó là hai gian nhà nhỏ, xây bằng gạch và gỗ, trông cũng tươm tất. Trước khi đến, Thiệu Thụ Đức đã hỏi thăm qua. Cả nhà Lưu Cẩu Nhi chuyển từ Hạ Châu tới. Cha mẹ hắn mắc bệnh rồi mất sau khi đến Tây Thành; anh cả từng đi lính, chết trận khi người Hồi Hột tràn vào. Giờ Lưu Cẩu Nhi lại chết dưới tay người Đảng Hạng, chỉ còn lại hai đứa em. Nhà này thật quá đỗi khốn khổ.
Lúc Thiệu Thụ Đức tới, hai anh em đang ngồi trong sân, mặt mày buồn rầu. Hắn thở dài. Xem ra hôm qua có đồng đội về nhà đã báo tin dữ cho chúng rồi. Cũng may, khỏi phải để hắn tự mở lời. Đứng trước hai đứa trẻ chưa trưởng thành, hắn thật chẳng biết nên nói sao.
- Các em… Thiệu Thụ Đức vừa ra hiệu cho Lý Nhất Tiên và Tam Lang vào nhà, vừa lựa lời.
Hai anh em hiển nhiên nhận ra người đã nhiều lần ghé thăm nhà mình. Vừa trông thấy hắn, mắt chúng lại đỏ hoe.
- Ông là kẻ nói dối! Cô bé vừa khóc vừa nói. Hồi đưa nhị ca đi, ông bảo huynh ấy sẽ trở về. Đồ nói dối!
- Tú Nương, đừng nói bậy! Cậu thiếu niên khẽ quát em, nhưng vành mắt cũng bất giác đỏ lên.
Thiệu Thụ Đức lặng im. Hắn nhớ mang máng ngày trước, thấy nhà Lưu Cẩu Nhi nghèo túng, bữa đói bữa no, hai đứa em gầy guộc vì thiếu ăn, hắn bèn chiêu mộ Cẩu Nhi vào quân ngũ. Tôn Thập Tướng vốn không đồng ý, nhưng sau khi Thiệu Thụ Đức hết lời khuyên can, ông ta cũng chấp thuận.
Giờ nghĩ lại, chẳng biết đó là chuyện tốt hay chuyện xấu. Nếu không có số lương thực, vải vóc Lưu Cẩu Nhi gửi về khi đi lính, có lẽ hai đứa em đã chết đói. Nhưng biết đâu Lưu Cẩu Nhi lại được sống thêm ít lâu.
Chỉ tiếc, giữa thời buổi này, làm gì cũng khó sống. Tây Thành nhỏ bé, dân cư thưa thớt, số hộ khai khẩn đất đai quanh thành chưa tới một nghìn. Trong thành cũng chẳng có nhà giàu nào, buôn bán vắng vẻ, có việc gì nuôi nổi bản thân và gia đình? Thời loạn, thứ dễ đem bán nhất chẳng phải cái mạng hèn của mình hay sao? Lưu Cẩu Nhi đem mạng mình đổi lấy ba năm sống tạm đủ cho hai đứa em. Xét cho cùng, đó là cuộc đổi chác sòng phẳng đến nghiệt ngã.
Người khác có thể nghĩ như vậy, nhưng Thiệu Thụ Đức thì không. Hắn đến từ đời sau, có giới hạn đạo đức của riêng mình. Đồng đội sớm tối bên nhau vừa chết, hắn không thể bình chân như vại mà nói đó chỉ là một cuộc đổi chác. Dẫu là thời loạn, con người vẫn có giá trị, vẫn phải giữ lấy tình người. Thời thế này sai rồi, sai quá đỗi!
Chưa bao giờ hắn tha thiết muốn đổi thay thời cuộc như lúc này, khi nhìn vào ánh mắt đau buồn, trách móc, lại phảng phất vẻ hoang mang của hai đứa trẻ. Không phải ai sinh ra cũng đã là tham quan ô lại, cũng chẳng phải ai cũng thích giết chóc. Chính cái thời thế khốn kiếp này ép người ta sống chẳng ra người, chẳng ra ngợm. Những kẻ chỉ muốn yên ổn sống hết một đời lại bị buộc phải cầm đao cầm giáo, chém giết lẫn nhau. Thời thế méo mó ấy nhất định phải được sửa đổi!
- Các em chưa ăn gì phải không? Ta có mang bánh hồ đến đây. Nói rồi, Thiệu Thụ Đức nhận chiếc giỏ mây từ tay Lý Nhất Tiên, lấy ra mấy chiếc bánh hồ, gượng cười nói: - Ăn đi, bánh còn nóng đấy.
Cậu thiếu niên nhận bánh, đưa em gái một chiếc trước rồi mới cầm phần mình, dè dặt ăn.
- Đừng vội, chỗ bánh này đều là của các em. Thiệu Thụ Đức đặt giỏ bánh lên bàn nhỏ, cười nói: - Ở đây còn ít lương thực và vải vóc, hai em cất kỹ đi, đừng để người ngoài trông thấy.
Hắn vừa dứt lời, Tam Lang đang mang lỉnh kỉnh đồ đạc liền đặt một chiếc túi lớn xuống. Lý Nhất Tiên cũng đem vải vóc vào đặt trên chiếc giường cỏ trong nhà.
- Trong này có năm đấu bột mì, các em cất giữ cho cẩn thận. Chỗ vải lụa này là tiền thưởng và tiền tuất của anh cả các em. Sau này có thể đem đổi lấy tiền hoặc lương thực, nhưng nhớ giấu kỹ.
Từ xưa Phong Châu đã trồng lúa mì. Mì ở đây thơm ngon, phẩm chất tốt, trước giữa đời Đường còn là vật phẩm tiến cống cho triều đình. Tiếc rằng từ loạn An Sử, Phong Châu liên tiếp gặp binh tai, ruộng đất bị bỏ hoang nghiêm trọng. Đến nay, vì thiếu nhân lực tu sửa công trình dẫn nước, Phong Châu tuy đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào, khí hậu ấm áp và ẩm ướt, vẫn không thể phát triển nền nông nghiệp quy mô lớn. Đất đai khắp nơi mọc đầy cỏ, thành đồng cỏ cho trâu bò ngựa dê.
Năm đấu bột mì trắng có thể làm được một trăm chiếc bánh hồ. Ăn dè sẻn thì cũng đủ cầm cự một thời gian. Vốn dĩ số vải lụa có hai mươi hai tấm. Tiền tuất còn chưa phát xuống, Thiệu Thụ Đức đã ứng tiền túi ra trước, rồi bỏ thêm vài tấm, gom đủ ba mươi. Nói công bằng, đây không phải món tiền nhỏ, đủ cho hai anh em sống mấy năm. Đến lúc ấy, cậu thiếu niên cũng lớn khôn, có thể tự nuôi thân. Lưu Cẩu Nhi nơi chín suối hẳn cũng yên lòng.
Nhưng hai đứa trẻ bỗng dưng có trong tay món tiền lớn như vậy, khó tránh khỏi bị kẻ khác nhòm ngó. Vì thế Thiệu Thụ Đức mới dặn chúng cất cho kỹ, đừng để ai lấy mất. Dĩ nhiên, nếu không phải xuất chinh, cách vài hôm hắn sẽ ghé thăm hai anh em một lần. Lũ du thủ du thực quanh vùng mà biết điều, hẳn sẽ không dại gì đến thử xem đao của hắn có bén không.
Hàn huyên thêm một lúc, thấy hai anh em đã bình tĩnh hơn đôi chút, Thiệu Thụ Đức đứng dậy cáo từ. Đến cửa, hắn sờ vào ngực áo, lấy ra một bọc nhỏ. Bên trong còn hơn hai mươi đồng tiền, hắn dúi vào tay cậu thiếu niên.
- Bảo trọng. Ta sẽ thường xuyên ghé thăm.
- Sau này em có thể theo anh đi lính không? Cậu thiếu niên bỗng lớn tiếng hỏi.
- Tốt nhất là đừng. Thiệu Thụ Đức vừa bước ra khỏi cổng thì khựng lại, đáp. Nói rồi, hắn không ngoảnh đầu, cứ thế đi xa. Tam Lang và Lý Nhất Tiên nhìn nhau, cũng vội vã chạy theo.
Trước khi tới đây, hắn đã nhờ một lão binh tàn tật sống trên phố để mắt giúp hai anh em. Tang lễ của Lưu Cẩu Nhi, hắn cũng dặn ông lo liệu. Lão binh là người tốt, lại thương hoàn cảnh hai đứa trẻ, nên nhận lời ngay. Thiệu Thụ Đức cũng trút được một nỗi lo trong lòng.
Rời nhà Lưu Cẩu Nhi, Thiệu Thụ Đức lần lượt đến thăm nhà năm người lính tử trận còn lại. Hắn an ủi thân nhân từng nhà, rồi biếu mỗi nhà vài tấm lụa. Mãi tới tối, hắn mới về doanh trại ở bến Hà Tân.
Sau một ngày nặng nề, Thiệu Thụ Đức chẳng còn tâm trí làm việc gì khác. Hắn ăn qua loa hai chiếc bánh rồi định đi ngủ. Nào ngờ Lý Diên Linh lại bước tới. Thấy Thiệu Thụ Đức đã sửa soạn nghỉ ngơi, ông ngập ngừng hồi lâu mới dè dặt lên tiếng:
- Đội đầu…
- Anh em cùng một đội cả, khách sáo làm gì? Vào ngồi đi. Có chuyện gì?
- Đội đầu, hôm nay cấp tiền tuất cho binh sĩ là việc nên làm. Nhưng… Lý Diên Linh nghĩ một lát rồi vẫn nói: - Khoản chi ấy hơi lớn. Hai năm nay không yên ổn, khách buôn giảm đi nhiều, tiền thu ở bến sông cũng ngày một ít. Đội đầu vừa xuất tiền, vải vóc và lương thực trong sổ giờ chỉ còn mười hai tấm lụa, ba quan tiền. Đội đầu còn trẻ, chưa có gia đình nên có thể không để tâm, nhưng cũng phải nghĩ cho sau này. Sống ở đời chẳng dễ dàng gì!
Tiền thu ở bến sông, như đã nói, là khoản tiền các thương nhân qua lại bến đò Hoàng Hà biếu cho quân lính trông coi bến. Đó là lệ ngầm, mấy chục người ở bến Hà Tân đều được chia phần. Vài năm trước, khi việc buôn bán còn thịnh, nhiều thương nhân vùng Linh Vũ, Hạ Tuy và trong trấn thường qua sông ở đây, men theo Lang Sơn, cửa ải Kê Minh ra thảo nguyên để buôn bán với người nơi đó.
Chẳng hạn, đoàn xe nhà Lý Chính Nghĩa, một thương nhân lớn ở Phong Châu, thường qua đây. Mỗi lần đi, xe lớn xe nhỏ nối nhau, hàng hóa chất thành đống, kiếm lời không ít. Đương nhiên, quân sĩ coi bến cũng nhận được nhiều quà biếu. Thiệu Thụ Đức là đội đầu, phần của hắn nhiều hơn lính thường rất nhiều. Bởi vậy, đây quả là một vị trí béo bở. Tôn Thập Tướng giao cho hắn nơi quan trọng này, đủ thấy ông quý trọng hắn đến đâu.
Thiệu Thụ Đức chưa có gia đình, cũng chẳng mấy coi trọng tiền bạc. Ngoài khoản biếu Tôn Thập Tướng thường ngày, hắn ăn ở trong doanh trại, hầu như không phải tiêu gì. Vì thế, số tiền ấy vẫn được để trong sổ, giao cho Lý Diên Linh, người lớn tuổi nhất và chín chắn nhất đội, trông nom.
Một năm trước, Thiệu Thụ Đức bàn với mấy hỏa trưởng trong đội, đề nghị mỗi người góp một phần tiền thu ở bến, mua lương thực và thịt cho binh sĩ, tăng cường luyện tập. Trước kia năm ngày tập một lần, nay đổi thành ba ngày một lần. Mọi người đều đồng ý, Thiệu Thụ Đức góp phần lớn nhất rồi bắt tay thực hiện. Đến nay đã được một năm, hiệu quả rõ rệt.
Lần thao luyện chung toàn quân trước đây, đội của Thiệu Thụ Đức tiến lui có trật tự, hiệu lệnh thống nhất, được Lý Đang, viên quan coi việc phòng thủ, khen ngợi. Còn Thiệu Thụ Đức trong cuộc thi bắn bộ đã mặc giáp, giương cung ở khoảng cách sáu mươi bước, bắn trúng bảy trên tám mũi tên. Hắn khiến mọi người kinh ngạc, đoạt hạng nhất. Theo lời đồn, Lý Lương, viên coi việc quân ở Tây Thành, thấy đội của Thiệu Thụ Đức làm rạng danh mình, đã định cất nhắc hắn làm phó tướng, để khuyến khích các tướng sĩ rèn luyện bản lĩnh.
Không kể Thiệu Thụ Đức là kẻ quái lạ được trời cho ưu thế nhờ xuyên không, người khác muốn nâng cao bản lĩnh chỉ có thể ngày ngày khổ luyện. Luyện tập nhiều thì dinh dưỡng cũng phải theo kịp. Đó chính là dự tính ban đầu của Thiệu Thụ Đức và những người khác. Mọi người cùng góp tiền rèn quân, sau này binh sĩ chẳng phải đều thành vốn liếng của chính mình hay sao?
- Đội đầu, nói gì đi chứ. Thấy Thiệu Thụ Đức lơ đãng, Lý Diên Linh lập tức sốt ruột. Ông vốn chẳng ham đánh trận. Năm xưa đi lính cũng là chuyện bất đắc dĩ, chỉ mong kiếm miếng ăn. Trái lại, ông rất rành chuyện tiền nong, lương thực. Bởi vậy, Thiệu Thụ Đức giao cho ông nhiều việc vặt, để mình khỏi sa vào những công việc quản lý rườm rà mà chuyên tâm luyện quân.
- Trong sổ chẳng phải vẫn còn tiền sao? Thiệu Thụ Đức cười xòa, rồi nghiêm giọng nói: - Cấp tiền tuất cho binh sĩ là lẽ phải. Tiền bạc, lương thực triều đình phát xuống đủ cho gia đình họ ăn dùng được bao lâu? Từ xưa, danh tướng đều coi trọng lòng quân. Ngày thường chẳng quan tâm, chỉ biết qua loa với binh sĩ, không giúp họ giải quyết chuyện thiết thân, đến khi ra trận, họ cũng sẽ đối phó với anh. Năm mươi người trong đội, ta đều coi như anh em ruột thịt. Nhà ai gặp khó, cứ mở miệng, ta quyết không từ chối. Mấy năm nay, lớn nhỏ cũng đánh bảy tám trận rồi. Lão Lý, ông nói xem, có người anh em nào bỏ chạy giữa trận không?
- Chuyện ấy đâu thể đánh đồng… Lý Diên Linh còn định khuyên tiếp, chợt ngoài cửa vang lên tiếng người ồn ào.
- Chết tiệt, không đánh được nhà Khất Đảng nữa rồi. Cha con Lý Quốc Xương muốn chiếm cả hai trấn, triều đình đã xuống chiếu đánh dẹp, Thiên Đức quân chúng ta cũng phải xuất quân. Đúng là xui xẻo! Giọng oang oang của Lư Hoài Trung vọng vào, khiến lòng mọi người chợt chùng xuống.
Lại phải đánh trận ư?
Ghi chú 1: Theo lệ nhà Đường, bến đò và cầu đường trên cả nước đều có người phụ trách. Bến đò Hoàng Hà cũng là một “tân”, đứng đầu có viên quan coi việc bến, phẩm trật từ chánh cửu phẩm thượng. Bến Hoàng Hà ở Phong Châu không nằm trong danh sách do triều đình lập, nhưng thời cuộc rối ren, các tiết độ sứ ở các trấn tự đặt thêm chức quan là chuyện thường tình.