Chương 49: Bách Vị Tiêu Dung Tiểu Phủ Trung?(Hạ) - Đại Đường Cẩm Tú

Trang chủ › Đại Đường Cẩm Tú › Chương 49

Chương 49 - Bách Vị Tiêu Dung Tiểu Phủ Trung?(Hạ)

☰ DS Chương 📖 1,822 chữ

Nhà họ Phòng thế này đã còn khá giả chán. Chứ nếu một ngày nào đó đến thăm nhà nghèo, hoặc gặp phải tay mê phục cổ, e rằng đến chiếc sập ngồi cũng chẳng có. Khi ấy, người ta chỉ trải mấy tấm chiếu xuống nền nhà rồi mời khách ngồi, thế thôi.

Quỳ ngồi, ngồi xếp bằng hay ngồi ngay ngắn giữ lễ đều là những tư thế trang trọng nhất.

Trong dịp long trọng, hễ có bậc trưởng thượng hoặc cấp trên ngồi trước mặt, người dưới chỉ còn cách tự hành xác như vậy. Nếu vị trưởng bối hay cấp trên kia có bụng muốn làm khó, y cứ vừa nhẩn nha răn dạy, vừa bắt ngươi phải giữ nguyên tư thế quỳ ngồi. Cứ nhìn bắp chân bị đè ép, máu huyết tắc nghẽn, lưng gối tê dại, đầu óc choáng váng. Một lát lại ngã vật ra, tỉnh dậy thì ngồi tiếp, rồi lát sau lại đổ xuống lần nữa. Cứ thế cho đến khi ngất hẳn mới thôi.

Muốn tránh cảnh khốn khổ ấy, tốt nhất là mau chóng tìm cách thân thiết với chủ nhà trước mặt. Lời tâng bốc đã nói đủ, trước khi ngươi quỳ đến ngất xỉu, chủ nhà sẽ thân tình lên tiếng: “Người quen với nhau, cần gì giữ lễ. Cứ ngồi cho thoải mái đi.”

Thế là đôi bên đổi tư thế. Hai chân rút ra khỏi dưới người, duỗi lên phía trước rồi xếp chéo lại. Cách ngồi ấy gọi là ngồi xếp bằng, cũng giống tư thế của các vị Bồ Tát trong tượng Phật.

Với phần lớn người xưa, ngồi xếp bằng đã là một tư thế khá nhẹ nhõm, dễ chịu. Cứ ngồi trên sập hoặc dưới đất vài canh giờ cũng chẳng đến nỗi nào.

Nhưng Phòng Tuấn là người hiện đại xuyên đến đây, từ nhỏ đã quen ngồi ghế. Bảo hắn chịu cảnh này sao nổi? Mới ngồi được một lúc, nói dăm ba câu, mông đã đau ê ẩm, lưng cũng mỏi nhừ. Cả người hắn cứ thế mềm oặt, trượt dần xuống.

May thay, Lý Khác vốn là người tinh ý. Vừa thấy dáng vẻ của Phòng Tuấn, hắn đã biết y không quen ngồi như vậy, bèn cười lớn, duỗi tay duỗi chân rồi đổi sang tư thế xếp bằng.

Phòng Tuấn lúc này mới thở phào. Hắn liếc sang Lý Tư Văn, thấy tên này dường như cũng đã được giải thoát, sắc mặt trông dễ chịu hơn hẳn.

Kiều Nhi bưng trà vào. Bốn người chỉ có ba chén. Trước mặt Lý Khác một chén, Sầm Văn Thúc một chén, Lý Tư Văn một chén. Còn thiếu gia nhà mình thì khỏi cần, Nhị lang vốn không uống thứ này.

Lý Khác cầm chén trà nhấp một ngụm, chợt “ồ” lên một tiếng rồi khen:

- Trà nấu khéo lắm. So với tay nấu trà trong phủ của bản vương cũng chẳng kém bao nhiêu. Là cô nương nấu sao?

Nụ cười tuấn tú của Lý Khác khiến Kiều Nhi hoa cả mắt. Tim nàng đập thình thịch, gương mặt đỏ bừng, e thẹn đáp:

- Dạ… dạ đúng là nô tỳ nấu.

- Khá lắm.

Kiều Nhi gần như muốn ngất đi. Trời ơi! Ngô vương điện hạ đang nói chuyện với mình sao? Đây chính là vị hiền vương được khắp triều đình ca tụng, văn tài phong nhã, đẹp như người bước ra từ tranh vẽ. Quả nhiên là đẹp trai thật!

Mặt Phòng Tuấn sa sầm. Nhìn Kiều Nhi đang ngẩn ngơ vì mê trai, trong bụng hắn chua lè chua lét, bực bội phẩy tay:

- Mau lui xuống đi. Đứng đực ra đó làm gì?

- Dạ…

Kiều Nhi đáp một tiếng, ấm ức liếc thiếu gia nhà mình. Người ta còn muốn được nói thêm vài câu với điện hạ mà! Thật là…

Nàng quay người bước đi, cứ vài bước lại ngoái đầu nhìn một lần.

Phòng Tuấn nhìn Lý Khác, phân bua:

- Con bé còn ít tuổi, chưa từng va chạm việc đời. Điện hạ chớ trách nó.

Lý Khác mỉm cười:

- Con bé hồn nhiên trong sáng, chẳng khác nào nụ hoa mới hé. Bản vương thích còn chưa hết, trách cứ làm gì?

Nhìn nụ cười đẹp đến mức khiến người ta tức mắt trên mặt tên kia, tim Phòng Tuấn bỗng nảy lên một cái. Chẳng lẽ vị Ngô vương được người người yêu mến, hoa gặp cũng nở này đã để mắt đến Kiều Nhi? Nếu hắn mở miệng đòi người, mình biết phải làm sao?

Thời buổi này, quý tộc trao đổi, thậm chí xin hoặc tặng nhau vài cô hầu gái, vốn chẳng phải chuyện gì to tát. Nhưng Phòng Tuấn không sao chấp nhận nổi quan niệm coi một con người như món hàng.

Hắn lập tức lớn tiếng gọi:

- Nồi lẩu chuẩn bị xong chưa?

Câu hỏi ấy vừa hay chặn ngang lời Lý Khác.

Một gia nhân chạy tới cửa, bẩm:

- Đã chuẩn bị xong rồi. Xin hỏi Nhị lang, có cần dọn lên ngay không?

Phòng Tuấn gật đầu:

- Đương nhiên là dọn lên.

Gia nhân vâng một tiếng rồi quay người chạy vào bếp báo tin.

Phòng Tuấn đứng dậy, bê chiếc bàn thấp trước mặt đến giữa phòng, sau đó kéo cả chiếc sập ngồi lại gần. Hắn nói với mấy người kia:

- Nào nào, mọi người chuyển sang đây hết đi.

Mấy người kia chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, nhưng cũng không hỏi, cứ làm theo hắn.

Chẳng bao lâu sau, hai đầu bếp nhà họ Phòng khiêng một chiếc lò vào phòng. Phòng Tuấn bảo họ đặt trước một khay nước lên chiếc bàn giữa phòng, rồi đặt chiếc lò vào chính giữa khay.

Lý Khác và những người còn lại chưa từng thấy thứ lò kỳ quái như vậy, ai nấy đều chăm chú quan sát.

Chiếc lò có phần trên nhọn nhọn, bên dưới là một ống tròn. Đoạn giữa phình rộng như cái bụng, hai bên gắn hai quai kéo chạm hình thú. Phía dưới là một bệ đỡ chạm hoa văn rỗng ruột, qua đó có thể nhìn thấy than hồng đang cháy rực. Lửa từ dưới đáy xuyên qua lòng lò, thỉnh thoảng lại có vài đốm lửa nhỏ phụt lên khỏi ống tròn bên trên.

Toàn bộ chiếc lò được đúc bằng đồng thau, ánh vàng rực rỡ. Trên thân còn chạm mây lành và hoa văn thú vật tinh xảo, trông vừa đẹp mắt vừa toát lên vẻ giàu sang.

Ngay sau đó, đầu bếp lần lượt bưng từng đĩa thức ăn vào. Rau cải xanh mướt, hẹ, rau đông quỳ, giá đỗ non vàng óng, nấm rừng đen nhánh, rồi thịt dê đỏ trắng xen nhau. Đặc biệt là mấy đĩa thịt dê, lát nào lát nấy mỏng như cánh ve, trong veo đến mức nhìn thôi đã thấy bụng réo.

Tiếc rằng tất cả đều còn sống.

Lý Khác và Sầm Văn Thúc tuy lấy làm lạ nhưng ngại không tiện hỏi. Lý Tư Văn thì ngẩn cả người, bèn lên tiếng:

- Phòng Nhị, món này ăn thế nào?

Phòng Tuấn chỉ cười, không đáp. Hắn bước tới, hai tay nắm lấy đôi quai chạm hình thú ở phần bụng lò, hơi nhấc lên rồi mở ra. Hóa ra đó là một cái nắp.

Bên dưới nắp là một rãnh nồi hình vòng tròn, bao quanh phần ruột lò. Nước trong đó đã sôi ùng ục, hơi nóng bốc trắng. Phòng Tuấn liền trút luôn mấy đĩa rau vào nồi, đậy nắp lại rồi nói:

- Nước sôi là ăn được.

Hắn lấy hũ nước chấm đã pha sẵn, rót ra từng bát, chia cho mỗi người một phần.

Ăn lẩu sao có thể thiếu vị cay? Tiếc thay, vào thời Đường, ớt vẫn còn nằm đâu đó trong một khe núi ở tận Nam Mỹ. Phải đến thời nhà Minh, thứ gia vị ấy mới theo đường biển truyền vào Trung Nguyên. Với một kẻ mê cay như Phòng Tuấn, chuyện ấy thật khó lòng chấp nhận.

Hắn thậm chí từng nghĩ đến chuyện đóng một đội thuyền, vượt biển về phía đông, mở đường hàng hải mới rồi chiếm luôn Nam Mỹ.

May mà thời Đường vẫn có thù du.

Thật ra, thù du không phải thứ người ta thường dùng để tạo vị cay. Người đời khi ấy chủ yếu dùng gừng và mù tạt. Chỉ là sau khi nếm thử, Phòng Tuấn nhận ra vị thù du gần với ớt hơn cả.

Thù du còn được gọi là tiêu Việt. Sách thuốc có chép rằng quả thù du vị cay pha đắng, người miền quê thường hái vào tháng tám, giã ra rồi lọc lấy nước, trộn với vôi nung thành thứ dầu gọi là dầu ngải, cũng có nơi gọi là dầu gạo cay. Vị cay nồng, thường dùng để nêm thức ăn.

Ngay cả Lý Khác cũng chưa từng thấy loại đồ ăn và cách ăn kỳ lạ như vậy. Hắn chỉ vào chiếc nồi, hỏi:

- Đây là vật gì?

Phòng Tuấn vừa chia nước chấm vừa đáp:

- Nồi lẩu.

Sầm Văn Thúc khen:

- Trong nồi có lửa, gọi như vậy quả là đúng ý. Sầm mỗ kiến thức nông cạn, trước nay chưa từng thấy thứ này. Không biết Nhị lang kiếm đâu ra?

Phòng Tuấn thầm nghĩ: “Ngươi mà từng thấy mới là chuyện lạ.”

Ngoài miệng, hắn lại nói tỉnh bơ:

- Đây là thứ do ta tự nghĩ ra.

Thế là Phòng Tuấn chẳng chút ngượng ngùng nhận luôn công lao sáng chế nồi lẩu về mình.

Sầm Văn Thúc nghiêm mặt, kính phục nói:

- Nhị lang quả nhiên tài trí hơn người.

Y không phải hạng thư sinh cổ hủ. Trái lại, Sầm Văn Thúc rất thích những điều mới lạ, khả năng tiếp nhận cũng rộng rãi. Y chẳng thấy việc nghiên cứu những thứ khéo léo vụn vặt này có gì đáng chê trách.

Bụng Lý Tư Văn đã đói đến réo vang. Hắn chẳng buồn xen lời, chỉ chăm chăm nhìn nồi lẩu.

Đang lúc nói chuyện, nước trong nồi lại sôi ùng ục.

Phòng Tuấn mở nắp, đổ cả đĩa thịt dê thái sẵn vào nồi, rồi hô lớn:

- Ăn thôi!

Hắn cũng đói lả từ lâu, chẳng còn nhớ trước mặt mình là Ngô vương điện hạ, lập tức gắp một đũa thịt dê, nhúng qua nhúng lại mấy lượt trong nồi nước đang sôi rồi vớt ra. Hắn đặt thịt vào bát, lăn qua nước chấm, sau đó bỏ ngay vào miệng.

Nóng đến mức phải hít hà liên hồi, nhưng trong lòng Phòng Tuấn lại sướng rơn.

Mùi vị thân quen biết bao!