Lần này theo Phòng Tuấn về trang viên có khá đông người. Ai nấy đều phải thu xếp chỗ ở, đồ đạc mang theo cũng chẳng ít. Trong trang, người gọi ngựa hí, náo nhiệt om sòm. Mãi đến lúc chạng vạng lên đèn, mọi việc mới tạm yên.
Đám nha hoàn và gia nhân đang quét dọn sân trước, hành lang thì có khách tìm đến.
Lý Tư Văn khoác chiếc áo choàng bằng da thú, quấn mình tròn vo như quả bóng, nghênh ngang bước vào sân rồi lớn tiếng gọi:
- Nhị gia nhà các ngươi đâu? Mau mau bảo hắn ra đây tiếp khách!
Đám nha hoàn đỏ bừng mặt. Gia nhân thì người nọ nhìn người kia, câm nín chẳng biết nói gì. Câu ấy nghe cứ như nhị gia nhà mình đã biến thành cô đầu trong lầu xanh vậy.
Có điều, mọi người đều biết Nhị lang nhà Anh quốc công giao tình với nhị gia nhà mình rất sâu. Huống hồ sau lưng Lý Tư Văn còn có một thiếu nữ xinh xắn, dung mạo thanh tú, hẳn là người nhà của y. Bởi vậy chẳng ai dám chậm trễ. Một người dẫn Lý Tư Văn vào đại sảnh, người khác chạy đi báo tin.
Lý Tư Văn thấy gia nhân đi báo tin không về phía hậu viện, mà lại rẽ vào gian bếp ở góc nhà, bèn hỏi:
- Nhị lang nhà các ngươi đang làm gì vậy?
Tên gia nhân nghe hỏi, mặt giật giật, nhưng chẳng dám đáp.
Lý Tư Văn vẫn chưa hiểu ra. Lý Ngọc Lung đứng sau y nhìn tên gia nhân, rồi lại nhìn vào gian bếp, tò mò hỏi:
- Chẳng lẽ Phòng nhị ca đang ở trong bếp?
Tên gia nhân thấy chẳng thể tìm cách lấp liếm nữa, đành cúi đầu đáp:
- Vâng…
Vẻ mặt ấy chẳng khác nào Phòng Tuấn chui vào bếp đã khiến cả phủ họ Phòng mất sạch thể diện.
Thật ra cũng chẳng trách y làm ra vẻ nghiêm trọng. Khi ấy tuy thời đại đề cao đạo lý nhà nho còn chưa thật hưng thịnh, nhưng từng lời nói, cử chỉ của mỗi người đều bị lễ nghi cổ xưa ràng buộc. Cách ăn ở hằng ngày còn là thước đo xem người ấy có xứng đáng mang danh quân tử hay không.
Người xưa có câu: quân tử nên tránh xa bếp núc. Đặt vào thời này, ý nghĩa cũng chẳng khó hiểu. Đã là quân tử thì phải tránh xa nhà bếp. Một người đàn ông đường đường mà chui vào bếp, còn ra thể thống gì? Hễ bén mảng đến bếp núc, tự nhiên chẳng thể xem là quân tử nữa.
Bởi vậy, suốt cả thời phong kiến, đàn ông xuống bếp luôn bị coi là chuyện mất mặt. Địa vị người đầu bếp thấp kém cũng từ đó mà ra, ai nấy đều xem thường.
Lý Tư Văn vốn tính tình xuề xòa, chẳng hề để tâm chuyện ấy.
Trái lại, mắt Lý Ngọc Lung sáng long lanh. Nàng phấn khởi hỏi:
- Phòng nhị ca biết nấu ăn ư?
Tên gia nhân khổ sở ra mặt, chẳng biết phải trả lời thế nào.
Đúng lúc ấy, trong bếp vọng ra giọng một người, nghe như đang bực bội:
- Tài nghệ của ngươi thế kia mà cũng dám khoác lác rằng tổ tiên từng làm ngự trù, từng nấu cơm cho Tùy Dạng Đế ư? Mau tránh sang một bên đi!
Ngay sau đó, trong bếp vang lên một tràng âm thanh kỳ lạ:
“Cộc cộc cộc cộc…”
Nhịp dao nặng nhẹ, nhanh chậm đều đặn như nhau, nghe mãi khiến người ta thấy khoan khoái lạ thường.
Lòng hiếu kỳ nổi lên, Lý Ngọc Lung khẽ nhấc vạt váy bông để khỏi vướng chân, bước nhanh đến bên cửa bếp. Nàng nghiêng cái đầu nhỏ, rướn người nhìn vào trong.
Chỉ thấy Phòng Tuấn đang đứng trước thớt. Một tay hắn cầm dao, tay kia đè lên miếng thịt dê. Con dao bếp nhẹ nhàng như cánh bướm, thoăn thoắt bay lên hạ xuống. Lưỡi dao lướt qua miếng thịt, chạm vào mặt thớt, phát ra tiếng cộc cộc khe khẽ, nhanh đến mức khiến người ta hoa cả mắt.
Theo nhịp dao vung xuống, miếng thịt dê lần lượt được xắt thành từng lát mỏng. Lát nào lát nấy mỏng như cánh ve, nhẹ như tờ giấy.
Lý Ngọc Lung nhìn đến ngẩn người. Đẹp trai quá đi mất!
Có điều, một vị công tử áo gấm lại đứng sâu trong bếp, vung dao xắt thịt dê, cảnh tượng ấy quá đỗi trái khoáy. Trong đầu óc còn đơn thuần của cô bé, hình ảnh kia thật sự khiến nàng chẳng biết nên đặt mắt vào đâu.
Lý Tư Văn cũng ghé lại xem. Vừa trông thấy cảnh ấy, y đã trợn mắt há miệng, lắp bắp:
- Phòng nhị, ngươi… ngươi đang làm trò gì vậy?
Xuống bếp vốn là chuyện đàn ông tuyệt đối không nên làm. Không chỉ mất mặt, đó còn là nỗi nhục. Vì thế người đầu bếp mới bị xem là hạng thấp kém, đi đến đâu cũng bị người ta khinh rẻ.
Phòng Tuấn quay đầu lại. Thứ đầu tiên hắn nhìn thấy là gương mặt xinh xắn của Lý Ngọc Lung.
Cô bé rõ ràng đã thay một bộ quần áo khác. Chiếc váy bông màu xanh non ôm lấy thân hình thanh mảnh, thắt lưng ngọc siết gọn vòng eo, bên hông buộc hai miếng ngọc bội. Mái tóc đen nhánh được búi theo kiểu nam nhân. Môi hồng, răng trắng, dung mạo thanh tú. Nàng mặc nam trang, thoắt cái đã hóa thành một vị công tử tuấn tú, phong nhã sáng sủa.
Quả nhiên, người đẹp cũng đủ khiến món ăn thêm ngon mắt.
Phòng Tuấn sáng bừng mắt, lòng chợt xao động, suýt nữa thì xắt nhầm vào ngón tay. Hắn vội nở nụ cười, vui vẻ hỏi:
- Lung nhi muội tử đến rồi à? Đợi một lát, nhị ca làm món ngon cho muội.
Lý Ngọc Lung cười tươi như hoa, lững thững bước vào bếp. Nàng sán đến bên Phòng Tuấn, rướn cái đầu nhỏ nhìn những lát thịt dê trên thớt, tò mò hỏi:
- Chẳng phải chỉ là thịt dê thôi sao? Ai mà chưa từng ăn chứ?
Một làn hương thơm nhè nhẹ, tựa hương lan quyện với mùi xạ, len thẳng vào mũi Phòng Tuấn. Hắn suýt bị mùi hương ấy làm cho choáng váng, vội trấn tĩnh lại rồi nói:
- Không tin à? Đến lúc ăn, muội nhớ cẩn thận, kẻo cắn phải lưỡi đấy!
Lý Ngọc Lung ngây thơ thè đầu lưỡi hồng hồng ra, hỏi:
- Ngon đến thế thật sao?
Phòng Tuấn ngạo nghễ đáp:
- Đảm bảo ngon tuyệt!
Lý Ngọc Lung gật đầu:
- Vậy muội chờ xem. Nhị ca của muội thông minh thật đấy. Chưa ăn tối đã chạy sang đây, nói là muốn ăn ké. Huynh bảo xem, mũi huynh ấy sao mà thính thế không biết?
Phòng Tuấn nhướng mày, nháy mắt trêu cô bé:
- Muội còn chưa biết à? Nhị ca của muội tuổi Tuất đấy!
Lý Tư Văn đứng ngoài cửa, nhất quyết không bước chân vào bếp. Nghe vậy, y lập tức bất mãn, lớn tiếng quát:
- Phòng nhị, ngươi đủ rồi đấy! Dám lấy ta ra làm trò cười à? Cẩn thận ta đánh ngươi!
Chẳng hiểu vì sao, thấy em gái nhà mình cứ sán đến bên Phòng Tuấn, trong lòng Lý Tư Văn lại bứt rứt từng cơn.
Y vừa ghen tị, vừa khó chịu, lại thêm phần nóng ruột.
Em gái y đã được hứa gả cho người ta. Em rể tương lai còn là con trai đích của nhà họ Đỗ. Nếu để xảy ra lời đồn đại gì thì còn ra thể thống gì nữa?
Nhưng rồi y lập tức lắc đầu, tự nhủ mình đã nghĩ quá nhiều.
Nếu đổi thành người khác, nỗi lo ấy còn có lý. Nhưng Phòng nhị là ai chứ? Cả thành Trường An đều biết hắn chẳng mê nữ sắc, chỉ thích múa đao vung kiếm. Người ta vào lầu xanh là để uống rượu nghe hát, còn hắn vào đó thì chỉ cốt tìm người đánh nhau.
Một gã thô kệch như thế, làm sao hiểu được chuyện nam nữ?
Có lẽ hắn chỉ thấy Lung nhi muội tử đáng yêu, nên muốn thân thiết với nàng mà thôi.
Y đang lẩm bẩm trong bụng thì chợt nghe tiếng bước chân vọng lại từ cổng chính phía sau. Một người cao giọng bẩm báo:
- Ngô vương điện hạ cùng huyện lệnh huyện Xf là Sầm đại nhân đến phủ họ Phòng bái phỏng!
Phòng Tuấn đang ở trong bếp nghe thấy, vội rửa tay trong chậu nước bên cạnh, lấy khăn lau qua loa rồi bước ra ngoài.
Hắn chẳng phải sợ hãi vì danh tiếng của người đến. Dù Lý Nhị bệ hạ đích thân tới đây thì có gì đáng sợ?
Thứ khiến hắn chú ý là danh hiệu Ngô vương.
Vì sao ư?
Những ai quen thuộc với lịch sử thời Trinh Quán, hoặc từng tìm hiểu về buổi đầu nhà Đường, đều biết khi ấy có một người được sử quan ghi lại rằng: cả thiên hạ đều thương cho nỗi oan của y. Người ấy chính là con trai thứ ba của Lý Nhị bệ hạ, Ngô vương Lý Khác.
Lý Nhị bệ hạ có mười bốn người con trai. Trong số đó, người nổi bật nhất không phải trưởng tử Lý Thừa Càn, kẻ thông minh nhanh nhạy, dám quyết đoán; cũng chẳng phải người con thứ tư Lý Thái, tài văn chương xuất chúng, viết lách hơn người; càng không phải Bát tử Lý Trinh dũng mãnh khác thường hay Thập tử Lý Thận nổi tiếng làm quan thanh liêm. Dĩ nhiên, người ấy lại càng không thể là Cửu tử Lý Trị, một kẻ nhút nhát yếu đuối.
Người xuất sắc nhất chính là Tam tử Lý Khác.
Lý Khác giỏi cưỡi ngựa bắn cung, am hiểu văn sử, lại “xưa nay danh vọng rất cao, được lòng người hướng về”. Nói gọn lại, y là người văn võ song toàn, danh tiếng lẫy lừng, bản thân cũng có sức cuốn hút rất lớn.
Có một người con như thế, Thái Tông làm sao không yêu thích, không coi trọng? Ông từng nhiều lần khen Lý Khác trước mặt quần thần:
- Khí phách và tài cán của nó rất giống trẫm.
Thế nhưng một vị hoàng tử tài giỏi hơn người như vậy, cuối cùng lại phải chịu oan khuất, nhục nhã, chết trong cuộc đấu đá chốn cung đình.
Ngày Lý Khác qua đời, triều đình và dân chúng đều chấn động. Sử sách chỉ ghi vỏn vẹn mấy chữ: “Cả thiên hạ đều thương cho nỗi oan ấy”. Người trong thiên hạ đều bất bình thay cho y.
Xét cho công bằng, cuộc đời Lý Khác quả thật đầy bi kịch. Tài năng hơn người, được Thái Tông hết lòng yêu quý, nhưng vì xuất thân quá cao quý nên lại không thể kế vị. Bản thân chuyện ấy đã là một nghịch lý khó lòng hóa giải.
Hơn nữa, căn cứ vào sử liệu, Lý Khác cũng chẳng phải kẻ đầy dã tâm, bất chấp thủ đoạn như vài bộ phim sau này miêu tả. Lý Khắc luôn ghi nhớ lời dạy của phụ thân, làm người hết sức thận trọng. Vậy mà dù cẩn thận đến thế, y vẫn chẳng thể thoát khỏi những mưu mô hãm hại.
Lý Nhị là vị quân chủ một đời sáng suốt, nhưng khi chọn người nối nghiệp lại phạm phải sai lầm chí mạng. Vì sai lầm ấy, sau khi ông qua đời, cơ nghiệp Đại Đường từng lâm vào cơn nguy biến suýt đứt đoạn, mất cả giang sơn.
Nếu Lý Nhị bệ hạ dưới suối vàng có biết, chẳng rõ ông sẽ nghĩ gì?