Đến lúc này, Huân tước Barron mới thấm thía việc nâng đỡ lớp trẻ, bổ sung nhân lực mới cho bộ máy công chức của Đế quốc Anh quan trọng đến nhường nào. Đó cũng là cách củng cố nền chính trị.
Alan Wilson lại nhìn sự việc theo cách riêng. Xét về bất cứ mặt nào, Ấn Độ thuộc Anh cũng là viên ngọc quý trên vương miện đế quốc. Canada, Australia, kể cả mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ thuở trước, hay bất kỳ thuộc địa nào khác của Anh, đều không thể sánh bằng.
Những thuộc địa Anh hiện còn nằm dưới quyền cai quản, dù nhìn từ góc độ nào, cũng không thể đặt ngang hàng với Ấn Độ thuộc Anh. Nói thế chẳng qua là người Anh tự an ủi mình sau khi mất nơi này mà thôi.
Sở dĩ Ấn Độ thuộc Anh có vị thế ấy là vì lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên dồi dào, dân số đông. Nhờ những lợi thế đó, tổng sản lượng kinh tế cùng nhiều chỉ số quan trọng của vùng này còn vượt cả Nhật Bản thời cận đại. Nó đứng đầu châu Á, bỏ xa mọi thực thể thuộc địa khác của đế quốc.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ngân khố chính quyền Ấn Độ thuộc Anh thu được một tỷ rupee, tương đương khoảng một trăm triệu bảng Anh, bằng chừng một nửa nguồn thu của chính quốc và gần ngang với Nhật Bản. Con số ấy còn cao hơn hẳn Canada, Australia, Nam Phi cùng những vùng khác.
Ấy là còn tính đến cuộc chạy đua hải quân Anh Đức, khiến người dân ở chính quốc phải cắn răng chịu tăng thuế. Nếu vào thời bình, nguồn thu của Ấn Độ thuộc Anh lại càng là một phần không thể thiếu đối với Đế quốc Anh.
Bởi vậy, nơi này có địa vị vô cùng quan trọng. Trừ quãng thời gian ngắn dưới thời Napoleon, Anh dồn sức vào châu Âu; còn trong gần như suốt thế kỷ mười chín, mọi chính sách của họ đều nhằm bảo vệ an toàn cho Ấn Độ thuộc Anh. Tấn công Miến Điện hay tiến lên Afghanistan, rốt cuộc cũng vì mục tiêu ấy.
Nếu không phải lúc này đã là năm 1945, Alan Wilson tin rằng công chức ở chính quốc hẳn sẽ chẳng quản đường xa, vượt biển sang Ấn Độ làm việc. Dù sao đây cũng là thuộc địa, chẳng phải chịu đủ thứ ràng buộc như ở Anh. Làm việc tại thuộc địa, họ còn được hưởng địa vị hơn người.
Thế nên, Huân tước Barron quả đã giúp Alan Wilson rất nhiều. Nếu lùi lại vài chục năm, ông thậm chí có thể nói mình đã đưa hắn một bước lên mây, giúp hắn khỏi phải mất hai mươi năm phấn đấu.
Nhưng thời thế lúc này đã khác. Alan Wilson hiểu rõ viên ngọc trên vương miện đế quốc kia sắp thoát khỏi quyền kiểm soát của Anh. Hắn phải tận dụng quãng thời gian ít ỏi còn lại để tích lũy kinh nghiệm và của cải. Chuyện đó chẳng dễ dàng gì.
Hắn lặng lẽ nhận lời đến Hyderabad. Nơi ấy tuy là một tiểu quốc do Anh cai trị gián tiếp, nhưng cũng có không ít lợi thế. Chẳng hạn như người đứng đầu Hyderabad, Mir Osman Ali Khan.
Tên tuổi ông ta nổi khắp thế giới. Năm 1937, Mỹ từng nhận định ông là người giàu nhất thế giới. Hyderabad sẽ là bước khởi đầu cho con đường làm quan sau này của Alan Wilson, vì vậy hắn mong mọi việc được suôn sẻ.
Alan Wilson rời dinh toàn quyền. Huân tước Barron đã nói có thể để hắn tự chọn vài trợ lý đáng tin cậy. Có người giúp sức, công việc dĩ nhiên sẽ nhẹ nhàng hơn.
Trước khi đi, Alan Wilson còn mang theo một túi hồ sơ. Huân tước Barron bảo trong đó có đề thi tuyển công chức Ấn Độ thuộc Anh. Wilson không khỏi thở dài. Xem ra rốt cuộc vẫn chẳng tránh được thi cử.
Nhưng nghĩ lại, tâm trạng hắn cũng nhẹ nhõm hơn. Mọi việc đã thuận lợi hơn hắn tưởng. Có được chức vụ chuyên viên tại Hyderabad đã là món quà ngoài dự liệu, chẳng thể đòi hỏi thêm.
Hắn đi xe công cộng về nhà rồi mở đề thi ra. Chỉ đọc mấy dòng trên giấy, hắn đã phần nào hình dung được tình hình thực tế ở Ấn Độ thuộc Anh. Quan hệ giữa Liên đoàn Hồi giáo, Đảng Quốc đại, các tỉnh thuộc Anh và những tiểu quốc bản địa đều là vấn đề mà dinh toàn quyền cần giải quyết.
Trong khi đó, Huân tước Barron đang thuyết phục Toàn quyền Wavell về việc bổ nhiệm chuyên viên tại Hyderabad.
- Cậu ta có thể nói là một thiên tài. Nếu chiến tranh không nổ ra, chưa biết chừng cậu ta đã trở thành sinh viên trẻ tuổi nhất Oxford trong những năm gần đây. Nhưng cậu ta vẫn còn quá trẻ. Để cậu ta làm chuyên viên ở Hyderabad, có phải mọi việc đã thuận lợi quá mức không?
Toàn quyền Wavell cau mày hỏi.
- Trái lại, thưa ngài, Hyderabad mới là nơi thích hợp nhất. Làm việc ở một tỉnh khác hẳn làm việc tại tiểu quốc. Quân chủ Hyderabad là khách quý của London. Theo thỏa thuận giữa chúng ta và các tiểu quốc, lực lượng đặt tại Hyderabad không thể quá đông, mà hiện nay chúng ta cũng chẳng làm được thế. Mười vạn công chức ở Ấn Độ thuộc Anh đã bận tối mắt tối mũi. Với một tiểu quốc mạnh như Hyderabad, chúng ta cần giữ chức chuyên viên, nhưng không thể đưa quá nhiều người đến đó. Can thiệp quá sâu sẽ khiến quân chủ Hyderabad bất mãn. Vì vậy, Alan đến đó là vừa khéo.
Huân tước Barron nói một hồi dài, vòng vo đủ điều, rốt cuộc chỉ để nhấn mạnh một điểm: Alan Wilson là người thích hợp nhất cho chức chuyên viên Hyderabad, không ai khác bằng.
Cục diện chiến tranh đã quá rõ. Phe Trục đang trên đường thất bại. Nhưng xét từ góc độ Ấn Độ thuộc Anh, tương lai vẫn mờ mịt: nơi này sẽ tiếp tục nằm dưới quyền cai trị của Anh, hay sẽ giành độc lập?
Toàn quyền Wavell và Huân tước Barron hiểu rằng ở London xa xôi, người ta cũng đang tranh cãi gay gắt về vấn đề Ấn Độ thuộc Anh. Trong chuyện này, Anh không chỉ phải đề phòng Liên Xô mà còn phải dè chừng cả Mỹ, đồng minh sát cánh trong chiến tranh. Xét ở một khía cạnh nào đó, Mỹ còn nguy hiểm hơn Liên Xô.
Với mười vạn công chức ở Ấn Độ thuộc Anh, tương lai vẫn chưa định đoạt. Ngay cả Toàn quyền Wavell và Huân tước Barron, một người đứng đầu chính quyền thuộc địa, một người lãnh đạo bộ máy công chức, cũng chẳng thể bảo đảm họ sẽ có tiếng nói quyết định trong chuyện này.
Giữa tình thế bất định ấy, chính Huân tước Barron cũng chẳng nhìn ra tương lai. Một cách sắp xếp hơi thiếu hợp lý chẳng còn là chuyện lớn.
Đêm khuya, Alan Wilson vẫn cắm cúi làm bài. Câu cuối trong đề thi của Huân tước Barron hỏi những ai ủng hộ việc cai trị Ấn Độ thuộc Anh. Suy nghĩ hồi lâu, hắn viết:
“Những người thuộc tầng lớp bị coi là tiện dân và quân chủ của hơn năm trăm tiểu quốc. Còn Đảng Quốc đại và Liên đoàn Hồi giáo là hai bên phản đối. Nehru và Ali Jinnah chẳng qua chỉ chọn hai con đường khác nhau.
“Đảng Quốc đại do Nehru đứng đầu muốn tiếp quản toàn bộ quyền lực ở Ấn Độ thuộc Anh. Liên đoàn Hồi giáo dưới sự lãnh đạo của Ali Jinnah lại không muốn sống chung một nước với người theo Ấn Độ giáo. Xét từ góc độ chính quyền Ấn Độ thuộc Anh, hai bên chẳng khác nhau là mấy. Nhưng với người theo Hồi giáo và người theo Ấn Độ giáo, sự khác biệt ấy lại rất lớn. Đó chính là mâu thuẫn giữa Liên đoàn Hồi giáo và Đảng Quốc đại.
“Dưới sự cai trị của Anh, chỉ những người thuộc tầng lớp bị coi là tiện dân mới có được đôi chút quyền lợi. Còn quân chủ của hơn năm trăm tiểu quốc đều muốn giữ nguyên địa vị hiện nay, trái lại, họ rất dè chừng cả Đảng Quốc đại lẫn Liên đoàn Hồi giáo. Nhiệm vụ của tôi khi đến tiểu quốc Hyderabad là khiến quân chủ nơi đó trở thành chỗ dựa cho chính quyền Ấn Độ thuộc Anh.
“Mir Osman Ali Khan là người có thế lực mạnh nhất trong số các quân chủ tiểu quốc ở Ấn Độ. Ông còn theo đạo Hồi, một tín ngưỡng của số ít người trong toàn Ấn Độ, ngay cả tại Hyderabad cũng vậy. Tôi tin ông rất muốn giữ mối quan hệ hòa hảo với London.”
Ai là địch, ai là bạn, xưa nay vẫn luôn là câu hỏi hệ trọng.