Chương 176: Điều chế ma dược mật ong gấu
Đoạn thu thập xong số liệu thực chiến của con mắt Perseus, Locke liền dành ra trọn vẹn tám tiếng để viết liền một mạch bốn bài luận.
Một bài gửi về bộ phận chiến đấu của Nhà Gỗ Lilith, dùng làm báo cáo số liệu về ma thực để tham gia cuộc thi; một bài nghiên cứu về loại ma thực có khả năng phòng thủ một dạng ma pháp cụ thể là ma pháp nguyền rủa; bài thứ ba bàn về phương pháp thao tác thực tế dùng dây leo ma pháp kết hợp kỹ thuật ghép cành để tạo ra loại ma thực vừa có khả năng phòng thủ lại vừa phản đòn ma pháp, kèm theo vô số mẹo nhỏ nâng cao tỷ lệ thành công.
Bài cuối cùng phân tích năng lực tịnh hóa khi con mắt Perseus phản đòn ma pháp nguyền rủa, cùng cơ chế gây sát thương cụ thể lên loài ma cà rồng.
Nói chung, chỉ một lần thí nghiệm, một sản phẩm duy nhất là đã có thể đẻ ra một đống bài luận có giá trị cao. Thậm chí Locke còn có thể chia bớt một số phần không quá quan trọng cho ba học sinh do hắn đứng tên dạy thay, để bọn chúng cũng được ké chút điểm từ mấy bài luận điểm thấp.
Locke đã kiểm tra tình trạng của Howard lúc đó vẫn đang bất tỉnh, xác nhận rằng năng lượng tịnh hóa từ loại ma pháp hệ thực vật này gây tổn thương cho ma cà rồng dựa trên hai hình thức cấu trúc tồn tại song song.
Một loại có cấu trúc tương tự như ma pháp thánh quang, loại còn lại mang cấu trúc giống ma pháp xua tan.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng từng câu từng chữ, ở cuối bài luận, hắn viết: ‘Năng lượng tịnh hóa của con mắt Perseus mang nhiều nét tương đồng với ma pháp sinh mệnh ở điểm khắc chế loài sinh vật vong linh như ma cà rồng. Đó là thứ sức mạnh tự nhiên sinh ra sau khi sự sống trải qua quá trình thích ứng với khái niệm nguyền rủa của ma cà rồng.’
‘Năng lượng tịnh hóa này vừa có khả năng gây ra các tổn thương như bỏng rát lên ma cà rồng hệt như ma pháp thánh quang, nhưng lại dịu êm hơn nhiều; đồng thời nó còn sở hữu đặc tính xua tan mà ma pháp thánh quang không có, đó là đánh tan dòng huyết chú đang bện chặt trong dòng máu ma cà rồng, đưa máu của chúng trở về trạng thái ban đầu.’
‘Tức là trở về trạng thái tiệm cận với dòng máu của con người.’
‘Ta cho rằng, sự xuất hiện của con mắt Perseus đã chứng minh được rằng, một khi môi trường tự nhiên phải hứng chịu sự tàn phá kéo dài từ ma pháp hắc ám, nó sẽ tự động thích ứng với loại ma pháp đó và sinh ra cơ chế khắc chế tương ứng. Đây chính là một phần của chuỗi sinh thái tự nhiên. Bản thân địa y con mắt Perseus chính là minh chứng sống cho khả năng này.’
Đoạn cuối cùng này của Locke nhằm nêu lên một hướng phát triển trong tương lai ngay trong bài luận của mình. Dựa trên nền tảng địa y con mắt Perseus, nếu tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, rất có thể sẽ phát triển thành công một hệ thống ma thực chuyên khắc chế ma pháp nguyền rủa, thậm chí là cả một hệ sinh thái, từ đó sinh ra hàng loạt ma pháp thực vật chuyên dùng để khắc chế nguyền rủa.
Đương nhiên, hướng đi này quá lớn, dựa vào năng lực hiện tại của hắn thì một mình làm sao kham nổi.
Locke cũng chẳng hề tính toán sẽ làm ngay lập tức, hắn chỉ mượn đoạn kết của bài luận để nâng tầm vị thế của loài địa y con mắt Perseus lên mà thôi.
Vẽ vời dăm ba ý tưởng ấy mà, thứ này thì làm gì có giới hạn.
Nhưng làm vậy sẽ giúp nâng cao giá trị của địa y con mắt Perseus trong mắt các học giả thông thái và những kẻ đọc được bài luận này.
Hơn nữa còn có thể cố gắng đẩy điểm số đánh giá bài luận của mình lên cao nhất có thể.
Khoảng cách giữa điểm B và điểm A lớn lắm.
Rất nhiều người viết được vô số bài điểm B, nhưng trong tay lại chẳng có nổi lấy một bài điểm A.
Hơn nữa, ý tưởng này hiện tại mới chỉ là một tia cảm hứng đơn thuần. Biết đâu sau này có ai đó đọc được bài luận của hắn, lại vô tình có sẵn sở thích hoặc nền tảng liên quan, liền có thể triệt để thực hiện hóa ý tưởng ấy.
Đó cũng chính là ý nghĩa của hệ thống bài luận trong thế giới bạch vu sư.
Viết xong bốn bài luận, Locke đứng dậy vươn vai giãn gân cốt. Hắn toan đi ngủ thì ngước lên nhìn, bỗng nhận ra ngoài cửa sổ trời đã sáng bạch từ lúc nào, văng vẳng tiếng gà gáy.
- Không ngờ lại kéo dài đến tận muộn thế này, đã là sáng ngày hôm sau rồi cơ à.
Locke xoa xoa thái dương. Dù tinh thần lực của các vu sư vốn cực kỳ cường đại, dẫu có không ngủ vài tháng trời cũng vẫn chống đỡ nổi.
Nhưng trong sách minh tưởng đã cảnh báo rất nghiêm ngặt: trong thời gian tu luyện minh tưởng, tốt nhất mỗi tháng phải ngủ đủ mười ngày.
Bằng không sẽ đối mặt với nguy cơ biến dị mang tên quỷ ngủ.
Kết quả là mải viết liền bốn bài luận, hắn thức trắng sang tận ngày hôm sau. Đã thế này thì Locke cũng chẳng muốn ngủ nữa.
Dù sao, thỉnh thoảng có một tháng ngủ ít đi một ngày, chỉ ngủ chín ngày thì cũng chẳng ảnh hưởng gì to tát.
Làm người thì không nên quá câu nệ mấy chuyện chi li ấy.
- Dù vậy, ngủ nghỉ vẫn là việc rất quan trọng.
Locke day trán, lẩm bẩm:
- Đã vậy, trước tiên cứ hoàn thành việc điều chế ma dược mật ong gấu đã.
- Loại ma dược này, tính ra ngoài dược tề lục bảo thứ cấp ra thì chính là thứ phức tạp nhất mà ta từng điều chế.
- Lại sắp có thêm mấy bài luận ra lò rồi đây.
Locke lúc này đã bước vào giai đoạn phát triển tốc độ cao, liên tục cho ra lò các bài luận. Nửa năm nghiên cứu tích lũy trước đó sẽ bùng nổ hàng loạt thành quả trong khoảng thời gian này, và những thành quả ấy lại được quy đổi thành vô số bài luận điểm cao.
Locke đi thẳng đến khu vườn trồng trọt, thu hoạch một khỏa địa y mống mắt phỉ thúy cùng một khỏa địa y con mắt Perseus, đoạn quay trở về phòng thí nghiệm đơn sơ của mình.
Trong phòng thí nghiệm có sẵn một bộ trang thiết bị điều chế ma dược cơ bản do học viện cấp cho học đồ một ngàn. Dùng tuy không được thuận tay cho lắm, nhưng nếu chỉ để làm thí nghiệm thì chừng đó là đủ dùng.
Tại phòng thí nghiệm, Locke thành thạo cắt nhỏ hai khỏa địa y mống mắt phỉ thúy (trong đó có một khỏa biến chủng) rồi đem đi ép lấy nước, sau đó dùng thiết bị tách đơn chất dạng cột để tách các thành phần cấu trúc ma lực có tác dụng chủ đạo của hai khỏa địa y ra khỏi dung dịch hỗn hợp, qua đó nâng cao hơn nữa chất lượng chiết xuất.
Thực ra bước này vốn không cần thiết lắm.
Việc điều chế ma dược mật ong gấu chẳng đến mức phải lọc tách riêng thành phần hiệu quả chủ đạo từ dịch chiết địa y mống mắt phỉ thúy làm gì.
Nhưng vì gia tộc Reives từng tặng hắn một bộ thiết bị tách đơn chất dạng cột, nên Locke tiện tay lôi ra dùng luôn.
Làm vậy có thể nâng cao thêm chút ít chất lượng của ma dược mật ong gấu, coi như tối ưu hóa quy trình.
Thao tác này cũng giống hệt kiểu mà Robert từng làm trước đây: tối ưu hóa quy trình điều chế ma dược trùng tái sinh để nâng cao chất lượng dược tề.
Locke bắc nồi luyện kim lên, đồng thời búng tay một cái, một ngọn lửa nguyên tố mộc màu xanh biếc liền bùng lên bên dưới nồi.
Hắn bình tĩnh tuần tự cho các loại nguyên liệu điều chế ma dược mật ong gấu vào trong.
Đồng thời, trong đầu hắn lẩm nhẩm nhẩm lại những điểm mấu chốt khi điều chế loại dược tề này.
Đầu tiên, loại ma dược này đòi hỏi phải luân phiên sử dụng ba loại ma pháp hỏa diễm mà các trợ lý đều phải nắm vững: ma pháp hỏa diễm nguyên tố mộc, ma pháp hỏa diễm nguyên tố hỏa và ma pháp hỏa diễm nguyên tố thổ, bên cạnh đó còn phải dùng thêm một loại ma pháp hỏa diễm ít khi đụng đến, ma pháp hỏa diễm nguyên tố phong.
Ma pháp hỏa diễm nguyên tố mộc là loại lửa được dùng thường xuyên nhất; ma pháp hỏa diễm nguyên tố hỏa dùng để ép kiệt các thành phần cấu trúc ma lực bên trong đủ loại nguyên liệu; còn ma pháp hỏa diễm nguyên tố thổ dùng để triệt tiêu tối đa độc tính vốn có của các nguyên liệu ma dược.
Thế nhưng, điểm độc đáo nhất của ma dược mật ong gấu nằm ở chỗ nó đòi hỏi phải dung hòa hai loại nguyên liệu chính là dịch chiết địa y phỉ thúy và mật gấu, hòa quyện các thành phần của cả hai lại với nhau để tạo ra một loại thành phần mới hoàn toàn. Đây mới chính là thành phần tác dụng chính của chai ma dược này.
Và để làm được điều đó, bắt buộc phải nhờ đến ma pháp hỏa diễm nguyên tố phong.