Tư Cung Lệnh Tác giả: Mễ Lan Lady Nguồn: Truyện HH3D https://truyenhh3d.com/truyen/tu-cung-lenh ================================================ Chương 1 - Lời Dẫn- Cá Vược Tùng Giang Lưỡi d.a.o sáng lạnh tựa làn nước, nương theo cổ tay nhấp nhô của thiếu nữ mà lướt trên mặt thớt. Những âm thanh vang lên trong trẻo, nhanh nhẹn, nhịp điệu đều đặn tựa như một khúc nhạc. Trên thớt là con cá vược Tùng Giang đã được lọc sạch xương vảy. Thịt cá trắng ngần, mịn màng, dưới khúc nhạc của lưỡi d.a.o sắc bén dần biến thành từng lát mỏng như cánh ve. Từng lát cá rơi ra từ lưỡi d.a.o nhẹ nhàng như tuyết đổ, xếp chồng lên nhau tựa như những lớp lụa mỏng manh, tỏa ra thứ ánh sáng trong ngần dưới cái nhìn chăm chú của Bùi Thượng thực đang đứng trong góc tối. Ngô Chân Chân vẫn miệt mài với công việc thái cá. Nàng dùng khăn lụa buộc tóc gọn gàng, lớp trang điểm trên mặt và tóc mai không hề rối loạn. Đôi mắt nàng ngưng đọng, chỉ tập trung vào đĩa gỏi cá vược sắp hoàn thành, dường như hoàn toàn không nhận ra sự hiện diện của Bùi Thượng thực. Bùi Thượng thực đã đợi nàng trong bếp từ lâu, bà biết chắc chắn nàng sẽ đến. Chân Chân hiện là nữ quan Điển thiện, chịu trách nhiệm chính về việc ăn uống của Hoàng thái t.ử Triệu Tích tại Đông Cung. Hôm nay, Hoàng đế đặc biệt lệnh cho thầy dạy của mình năm xưa là Tham tri chính sự Thẩm Hãn vào Đông Cung giảng bài cho Thái t.ử cùng Nhị hoàng t.ử và Tam hoàng tử. Buổi trưa, Thái t.ử giữ Thẩm Hãn và các hoàng đệ ở lại dùng bữa. Quan gia* biết tin, liền sai Bùi Thượng thực mang thêm vài món ngự thiện đến ban thưởng. *Quan gia: cách gọi Hoàng thượng của thời Tống Ngự thiện vô cùng tinh xảo, nào là cật heo trắng trộn vải, lưỡi cừu cuốn, bao t.ử chiên uyên ương, canh mề ngỗng, canh bụng ếch nấu sữa, gỏi thạch chim cút... Thái t.ử ân cần mời Thẩm Hãn và các đệ đệ nâng đũa, nhưng bản thân ngài lại chẳng dùng bao nhiêu. Đối diện với sơn hào hải vị, ngài vẫn giữ nụ cười trên môi nhưng thực chất lại ăn chẳng thấy hương vị gì. Thấy vậy, Bùi Thượng thực bèn hỏi xem có phải món ăn không hợp khẩu vị hay không. Thái t.ử mỉm cười, đáp: "Không có gì, chỉ là ta ốm đau đã lâu, vừa mới khỏi nên miệng lưỡi nhạt nhẽo, ăn gì cũng không thấy mùi vị mà thôi." Lúc này thân hình ngài gầy gò ốm yếu, nước da trắng xanh như tuyết lạnh, ngồi ngay ngắn đó mà như núi ngọc sắp đổ. Thế nhưng giọng nói của ngài vẫn bình thản, ôn nhu, khiến người nghe cảm thấy như tắm mình trong gió xuân. Bùi Thượng thực nghe vậy thì im lặng, nhưng Ngô Chân Chân lại không chịu bỏ cuộc. Nàng kiên trì hỏi tiếp: "Vậy, có món gì mà Điện hạ đặc biệt muốn nếm thử không?" Thái t.ử trầm ngâm một chút rồi đáp: "Gần đây ta lại thường nhớ đến món gỏi cá vược Tùng Giang." Cá vược Tùng Giang miệng to vảy nhỏ, thịt tươi non béo ngậy, hoàn toàn không có mùi tanh. Người đời thường thái thành lát mỏng để ăn sống, gọi là gỏi cá vược. Mắt Chân Chân sáng lên: "Thật khéo, Ngự trù vừa nhập về một ít cá vược Tùng Giang, nô tỳ đi lấy một con để làm gỏi ngay." "Không được!" Thẩm Hãn nghe vậy liền lên tiếng phản đối: "Thái t.ử mấy hôm trước long thể bất an, nay mới vừa bình phục, tuyệt đối không được ăn đồ sống lạnh. Gỏi cá vược không tốt cho đường ruột, ăn nhiều lại dễ sinh hư hỏa*, càng không nên dùng." * Hư (Suy nhược):Các chức năng của tạng phủ bị suy giảm, chính khí (sức đề kháng) yếu đi, không đủ khả năng hoạt động bình thường.Hàn (Lạnh):Do phầnDương khí(nguồn năng lượng nhiệt) trong cơ thể bị thiếu hụt, không đủ để sưởi ấm cơ thể, dẫn đến các triệu chứng lạnh. Vì vậy, Hư hàn còn thường được gọi làDương hư(thiếu hụt phần dương). Không ngờ Chân Chân lại quay sang Thẩm Hãn, khẽ nhún mình hành lễ rồi nói: "Đồ sống lạnh ăn nhiều quả thực không tốt cho đường ruột, nhưng nếu chỉ nếm qua cho đỡ thèm thì chắc cũng không ngại gì. Huống hồ, nhiều khi chúng ta muốn ăn món gì đó, thực ra không phải do miệng lưỡi đòi hỏi, mà là do dạ dày cần, là cơ thể đang cần. Cơ thể thiếu thứ gì, thường sẽ thông qua khẩu vị để truyền tín hiệu. Ví như cơ thể thiếu nước, sẽ khiến người ta thấy khô miệng khát nước. Thái t.ử ăn gì cũng đều thấy vô vị, duy chỉ nhớ nhung món gỏi cá vược, có lẽ chính là vì trong cá vược có thứ mà cơ thể ngài đang cần." "Cái này..." Thẩm Hãn nhíu mày: "Ăn nói hồ đồ!"Ông đang định tìm lời bác bỏ lý lẽ của Chân Chân thì Nhị hoàng t.ử Triệu Ngai ngồi bên cạnh cười nói: "Lời của Chân Chân chưa chắc đã hoàn toàn vô lý. Đại ca quanh năm suốt tháng đều dùng đồ ôn bổ*, e là bổ quá hóa dư thừa. Nếu bây giờ dùng một chút đồ sống lạnh để cân bằng lại cái hại của việc tẩm bổ quá mức, chưa biết chừng lại tốt." * Ôn bổ : Ôn (温): Nghĩa là ấm áp. Trong y học, nó dùng để xua tan cái lạnh (khu hàn), làm ấm các cơ quan trong cơ thể.Bổ (补): Nghĩa là thêm vào, bồi dưỡng. Nó dùng để khắc phục tình trạng suy yếu, thiếu hụt (hư tổn) của khí, huyết, hoặc các tạng phủ. Thái t.ử lắc đầu nhìn Triệu Ái, ôn tồn bảo: "Nhị đệ không hiểu y lý thì chớ nên nói bừa, hãy nghe lời dạy bảo của Thẩm Tham chính. Gỏi cá vược ăn nhiều dễ sinh hư hỏa, quả thực không thích hợp ăn lúc này." Triệu Ngai vẫn giữ nụ cười trên môi, thong thả đáp: "Hôm nay Tham chính cùng chúng ta bàn luận điển cố, đệ cũng chợt nhớ ra một chuyện xưa. Đông Pha cư sĩ cực kỳ thích ăn gỏi cá vược. Một ngày nọ ông bị bệnh đau mắt đỏ, thầy t.h.u.ố.c dặn dò không được ăn gỏi cá kẻo bệnh nặng thêm. Đông Pha cư sĩ bèn nói: 'Ta cũng muốn nghe lời thầy thuốc, nhưng cái miệng lại không chịu. Miệng bảo: Ta làm miệng cho ngươi, hắn làm mắt cho ngươi, địa vị vốn ngang nhau. Tại sao ngươi lại bên trọng bên khinh, chỉ vì mắt bị bệnh mà cắt phần ăn của ta?'. Nay Đại ca trong lòng thì nhớ gỏi cá vược, nhưng tai lại nghe lời can gián mà định bỏ qua món ngon. Đại ca thuận theo ý của tai, chẳng phải cũng là bên trọng bên khinh, để cái tâm phải chịu ủy khuất sao?" Tam hoàng t.ử Triệu Hạo nghe vậy thì bật cười. Thẩm Hãn trừng mắt, ho khan một tiếng, Triệu Hạo lập tức im bặt, cúi đầu ngồi nghiêm chỉnh. Triệu Ngai lại nói tiếp: "Trương Quý Ưng thời nhà Tấn sinh ra ở Ngô Quận, làm quan đến chức Đại tư mã Đông tào huyện, sống lâu ở Lạc Dương. Một ngày kia gió thu nổi lên, Trương Quý Ưng nhớ đến rau cô, canh thuần, gỏi cá vược ở quê nhà, không kìm được mà cảm thán: 'Đời người quý ở chỗ được sống thoải mái theo ý mình, hà tất phải vì theo đuổi danh vọng mà rời xa quê nhà ngàn dặm, làm cái chức quan chẳng mấy vui vẻ này?” Thế là ông treo ấn từ quan về quê. Đại ca xem, vì món gỏi cá vược mà Đại tư mã còn sẵn sàng vứt bỏ tất cả để về quê cũ, huynh hôm nay chỉ cần thuận theo ý mình, nếm một hai lát cá do Chân Chân làm, thì có ngại gì đâu?" Thái t.ử chỉ cười mà không đáp. Thẩm Hãn thấy vậy, chắp tay vái Thái t.ử một cái, nói: "Thái t.ử khắc kỷ phục lễ, xưa nay luôn là tấm gương cho các hoàng tử, há lại vì vật ngoài thân mà mê muội!" Nói xong, ông quay sang Triệu Ngai: "T.ử viết: Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn (Không hợp lễ chớ nhìn, không hợp lễ chớ nghe, không hợp lễ chớ nói). Hôm nay Điển thiện của Đông Cung hầu yến Thái tử, Nhị Đại vương cứ liếc mắt nhìn, lại còn nghe lời Điển thiện nói rồi hùa theo, thậm chí gọi thẳng tên khuê danh của nàng, thực là hành vi phi lễ." Triệu Ngai nghe xong cười lấy tay che mặt: "Tham chính dạy chí phải, phi lễ chớ nhìn, phi lễ chớ nói." Hắn làm bộ lấy hai tay che mắt, nhưng ánh mắt lọt qua kẽ tay vẫn tràn đầy ý cười, lén lút bay về phía Ngô Chân Chân. Thẩm Hãn thở dài một tiếng: "Nhị Hoàng t.ử đã qua tuổi nhược quán, cũng nên hiểu lý lẽ mà lập chí rồi. Dù là vì món ngon hay vì mỹ sắc mà buông thả tùy hứng đều là điều không nên." Ông ngừng một chút rồi nói đầy thấm thía: "Vì tình cảm mà từ bỏ tất cả, đó là chuyện ta chỉ làm khi mười bảy, mười tám tuổi thôi." Bùi Thượng thực nãy giờ vẫn im lặng, nghe đến đây bỗng nhiên mở miệng, giọng nhàn nhạt: "Mấu chốt là lúc đó Tham chính vốn dĩ cũng chẳng có gì trong tay cả." Cả gian phòng phút chốc im phăng phắc. Mọi người đều phải nín cười, cố giữ vẻ mặt bình thản không thất lễ, dù trong lòng đang nhịn đến nội thương. Chòm râu hoa râm của Thẩm Hãn run lên bần bật, quay đầu lại thấy người nói là Bùi Thượng thực, bao nhiêu cảm xúc khó tả dồn nén trong lòng, cuối cùng muốn nói lại thôi. Cuộc tranh luận về món gỏi cá vược cứ thế kết thúc đột ngột theo một cách chẳng ai ngờ tới. Tại gian bếp Ngự trù, Ngô Chân Chân xếp từng lát cá vược mỏng tang lên đĩa bạc, tạo hình như những cánh hoa. Nàng lại lấy một chiếc hộp sơn mài đựng đầy đá vụn, rồi đặt đĩa bạc lên trên để giữ lạnh. Gia vị ăn kèm gỏi cá, mùa xuân dùng hành, mùa thu dùng mù tạt. Chân Chân đã mài sẵn mù tạt, thêm muối và chanh nghiền, lại lấy thêm một ít "Bát Hòa Tê" - loại gia vị tổng hợp làm từ gừng, tỏi, quýt, mơ trắng, hạt dẻ chín, cơm tẻ, muối và giấm - đặt chung vào hộp thực phẩm để người ăn tùy ý gia giảm. Chân Chân bưng hộp thực phẩm lên. Bùi Thượng thực tưởng nàng sẽ trực tiếp mang sang Đông Cung, nào ngờ nàng lại xoay người, đi thẳng về phía góc tối nơi bà đang đứng.Nàng quỳ xuống trước mặt Bùi Thượng thực, hai tay dâng đĩa gỏi cá lên, từ tốn nói: "Điển thiện Ngô Chân Chân muốn dâng gỏi cá vược cho Đông Cung, xin Thượng thực nương t.ử nếm thử trước." Trong cung, khi bậc bề trên dùng bữa, nữ quan Thượng thực Ti thiện buộc phải nếm trước để phân biệt mùi vị và thử độc. Bùi Thượng thực nhìn đĩa gỏi cá, nhưng không động đũa bạc. Một lát sau, Chân Chân khẽ hỏi: "Được không ạ?" Bùi Thượng thực gật đầu. Bao năm qua bà đã luyện được một đôi mắt tinh tường, chỉ cần nhìn qua quá trình chế biến là đoán được hương vị khi món ăn chạm vào đầu lưỡi sẽ ra sao. Chân Chân cảm tạ rồi cất gỏi cá vào hộp. Bùi Thượng thực bỗng nhiên hỏi: "Ba ngày nữa là sinh thần Thái tử, những thứ cần chuẩn bị đã xong chưa?" Chân Chân đáp mọi thứ đều đã ổn thỏa. Bùi Thượng thực lại hỏi: "Gần đây sức khỏe Thái t.ử thế nào?" "Đã đỡ hơn nhiều, chỉ là thi thoảng ngài ấy hay gọi tên An Thục Hoàng hậu rồi giật mình tỉnh giấc." An Thục Hoàng hậu Mục thị là nương đẻ của Thái t.ử và các vị hoàng tử, người đã qua đời nhiều năm trước. Bùi Thượng thực thở dài: "Thái t.ử là người hiếu thuận. Mỗi dịp sinh thần, người khác thì bận rộn ăn mừng, còn ngài ấy lại âm thầm đau lòng, nhớ thương mẫu thân." Chân Chân gật đầu: "Vâng, đó cũng chính là lý do ngài ấy nhớ đến món gỏi cá vược." An Thục Hoàng hậu lúc sinh thời rất thích ăn gỏi cá vược Tùng Giang. Hoàng thái t.ử không bao giờ quên điều đó. Huống chi ký ức thời niên thiếu của con người ta, luôn có một phần được viết nên bởi vị giác. Bùi Thượng thực im lặng. Đây mới là lý do thực sự khiến Chân Chân kiên quyết làm món gỏi cá cho Thái tử, và cũng là lý do bà không ngăn cản nàng. Bà phất tay, ra hiệu cho Chân Chân mang gỏi cá đi. Trong số các nữ quan của Thượng Thực Cục, Ngô Chân Chân là một sự tồn tại đặc biệt. Mười bảy tuổi nàng mới được tuyển từ dân gian vào cung, không giống đại đa số cung nữ khác vào từ lúc bảy, tám tuổi và được đào tạo từ nhỏ. Xuất thân ấy khiến nàng mang một nét "hoang dã", khác biệt hẳn với những người còn lại.Trong cung người cần phục dịch rất nhiều. Thượng Thực Cục sẽ chia nhóm các cung nữ, phái đến từng cung điện khác nhau. Nữ quan có phẩm cấp sẽ do bề trên hoặc Thượng thực chỉ định nơi nhậm chức, còn lại các cung nữ khác có thể tự đề đạt nguyện vọng, sau đó Thượng thực sẽ cân nhắc sắp xếp. Trong tất cả các nơi, điện của ba vị hoàng t.ử là nơi mà các cung nữ khao khát nhất. Dẫu sao các nàng cũng đang độ tuổi thanh xuân, những mộng tưởng vô hạn về tương lai rất dễ gửi gắm lên các vị hoàng t.ử cũng đang tuổi trẻ tài cao. Chân Chân sau khi nhập cung giống như một hạt giống được gió xuân thổi lên mái ngói hoàng cung, chỉ cần một chút bụi đất là bắt đầu sinh sôi nảy nở. Các cung nữ trong Thượng Thực Cục rất nhanh đã nhận ra nàng là một đối thủ đáng gờm, ai nấy đều ngấm ngầm quan sát, phán đoán mục tiêu của nàng. Lúc Chân Chân cần tự báo nơi muốn đến nhậm chức, đám cung nữ cùng lứa vô cùng căng thẳng. Mấy cô nương lớn lên trong cung bèn đi thẳng đến tìm nàng. Kẻ cầm đầu là Đường Ly, hùng hổ hỏi: "Nói mau! Hoàng thái tử, Nhị hoàng t.ử và Tam hoàng tử, ngươi chọn ai?" Chân Chân liếc nhìn đám người đang vây quanh mình, bình tĩnh hỏi ngược lại: "Ta chọn xong thì các người sẽ gói họ lại tặng cho ta chắc?" Đường Ly trợn mắt há mồm, còn những người khác sau một thoáng im lặng thì phá lên cười, tiếng cười vang động cả Thượng Thực Cục. Câu chuyện nhỏ này theo tiếng cười lan truyền khắp Lục Thượng, khiến rất nhiều người biết đến cái tên Ngô Chân Chân. Lần đó nàng chẳng hề xin đến chỗ vị hoàng t.ử nào cả, việc hầu hạ Hoàng thái t.ử là kết quả của cơ duyên đưa đẩy về sau. Chân Chân hầu hạ ở chỗ Hoàng thái t.ử rất tận tâm tận lực, biểu hiện không chê vào đâu được, sự cẩn trọng tỉ mỉ cũng chẳng thua kém gì những cung nữ được nuôi dạy từ bé trong cung. Bùi Thượng thực chưa từng nói cho nàng hay bất kỳ ai biết rằng, thực ra bà đã từng gặp nàng một lần ở ngoài cung trước khi nàng nhập cung. Chân Chân của khi đó và bây giờ khác nhau một trời một vực.Bên Tây Hồ tửu lầu san sát, món ngon vật lạ không thiếu. Có đôi khi Quan gia sẽ cho Bùi Thượng thực xuất cung, mua một ít món ăn dân gian mang về. Hôm ấy, Bùi Thượng thực đến Hạnh Vân Lâu bên hồ mua mấy loại điểm tâm. Chủ quán nhận ra bà là người từ trong cung, liền mời lên gác có nhã gian, dâng trà mời bà ngồi đợi. Tiếng đàn sáo từ mặt hồ vọng vào, Bùi Thượng thực tản bộ đến bên cửa sổ, ngắm nhìn cảnh hồ. Hôm ấy trời đẹp, mặt hồ sóng nước lăn tăn, liễu rủ trong gió, hương sen thoang thoảng. Giữa hồ có một chiếc thuyền hoa đang trôi, trên thuyền có mấy cô gái trang điểm đậm, ăn mặc hợp thời, rực rỡ như hoa gấm, trông giống như kỹ nữ đi du ngoạn. Ngồi ở mũi thuyền là một "thiếu niên", tay ôm ngang cây đàn nguyệt, cười ngâm nga, những ngón tay thon dài lướt trên dây tơ, đàn một khúc "Tây Giang Nguyệt" gửi vào trong gió xuân:"Hỏi thăm hồ cảnh xuân sang,Ba năm trở lại ngỡ ngàng cảnh xưa. Gió đông đưa đẩy thuyền đưa,Liễu xanh lả lướt như vừa v**t v*. Đường đời quen thói khen chê,Lòng này đi đến mọi bề thảnh thơi. Hàn Quang đình dưới nước trời,Cát âu vỗ cánh chơi vơi một mình." "Thiếu niên" vừa đàn vừa hát, mặc bộ đồ lụa hợp mốt, trông ra dáng một công t.ử bột ăn chơi trác táng. Thế nhưng giọng hát lại non nớt, trong trẻo, rõ ràng là giọng con gái. Bùi Thượng thực nghi ngờ đó là ca kỹ, nhưng khi khúc nhạc dứt, các cô gái trong khoang thuyền xúm lại khen ngợi: "thiếu niên" kia cười lớn dang tay đón chào, ôm ấp trái phải, lại còn gọi người hầu thưởng tiền, dáng vẻ hệt như khách làng chơi đi tìm hoa hỏi liễu. Vị "thiếu niên" ca hát tìm vui ấy chính là Ngô Chân Chân. Sau này khi Bùi Thượng thực lần đầu gặp nàng trong cung liền nhận ra ngay, nhưng bà không nói toạc ra. Cuộc sống cung đình bao năm đã dạy bà phải cẩn trọng lời nói việc làm, tôn thờ nguyên tắc "thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện", nên bà ngày càng trở nên trầm mặc. Những đêm khuya thanh vắng, Bùi Thượng thực thường nhớ lại dáng vẻ Chân Chân hát vang trên Tây Hồ. Rõ ràng đang ở độ tuổi non xanh như vậy, nàng lại có thể hát câu "Đường đời quen thói khen chê" một cách vô tư không chút u sầu. Chân Chân lúc đó, liệu có hiểu hết ý nghĩa trong lời ca ấy không? Đêm nay trời đổ mưa. Bùi Thượng thực nằm trên giường, lẳng lặng nhìn bóng trúc lay động trên song cửa sổ. Nghĩ đến mình năm nay đã sáu mươi, sống trong cung cấm này vẫn cảm thấy từng bước như ngàn cân treo sợi tóc, vạn phần cẩn trọng, trước mắt vẫn là một màn sương mù mịt, không nắm chắc được tiền đồ, chẳng biết lúc nào sẽ rơi xuống vực sâu tăm tối không lường trước được. Bà nguyện ý nhớ đi nhớ lại dáng vẻ năm xưa của Chân Chân, hình ảnh đó như một tia sáng chiếu rọi đáy lòng, khiến bà nhớ lại rất nhiều chuyện cũ.Ta của những năm tháng xa xưa ấy, liệu từng có chí khí hiên ngang như nàng không? Bùi Thượng thực sờ lên mái tóc mai đã điểm bạc, khẽ thở dài. Cơn mưa rào tạm ngớt, cửa sổ dần hắt lên ánh sáng, chắc hẳn lại sắp hiện ra cảnh tượng gió mát trăng thanh. Bùi Thượng thực mơ màng chìm vào giấc ngủ. Dưới mái hiên nước mưa trôi tuột, là tiếng tích tắc của thời gian, của năm tháng đang rơi. Rạng sáng, Bùi Thượng thực bị đ.á.n.h thức bởi những tiếng động ồn ào như nước sôi trào từ ngoài cửa sổ vọng vào. Có tiếng người chạy đi chạy lại, dường như đang truyền đi một tin tức cực kỳ quan trọng. Bà mở cửa bước ra, phát hiện trước thềm đã có mấy cung nữ đang quỳ, thấy bà đều cúi rạp đầu, có người bắt đầu nức nở. "Sao vậy?" - Bùi Thượng thực hỏi, trong lòng dâng lên một cảm giác lạnh lẽo khác thường so với cái lạnh buổi sớm mai. Ban đầu không ai trả lời. Đến khi bà hỏi lại lần nữa, cung nữ Lăng Phượng Tiên - người cùng nhập cung năm xưa với Ngô Chân Chân - mới ngẩng đầu lên, giọng khẽ khàng: "Thái tử... Thái t.ử không xong rồi..." Bùi Thượng thực giật mình kinh hãi, vội vã hỏi dồn: "Không xong rồi? Ý là sao?" Lăng Phượng Tiên toàn thân run rẩy, trên mặt lộ rõ vẻ hoảng sợ không giấu được: "Không qua khỏi... e là... đã không qua khỏi rồi..." Chương 2 - Thuyền Mỹ Nhân Ba năm trước, Ngô Chân Chân vẫn còn ở huyện Phố Giang, với thân phận là Thất công t.ử của Thích Trân Lâu.Thế là Chân Chân cứ thế lớn lên trong cuộc đời của một công t.ử bột. May mắn là nàng tuy tùy hứng nhưng không hồ đồ, đọc sách vài năm cũng hiểu được đôi phần đạo lý, chưa từng bị ai lừa, ngoài việc tiêu xài hoang phí thì cũng chưa làm chuyện gì quá đáng. Ở trường tư thục, Chân Chân kết giao với một người bạn đồng môn, là con trai lớn hơn nàng một tuổi, tên Dương Thịnh Lâm, con của Dương Dục - chủ quán Di Bối Lâu đối diện Thích Trân Lâu. Tên này thông minh, thi thư họa đều giỏi, tính tình cũng khá hợp với Chân Chân. Tuy cũng có lúc xích mích, nhưng nỗi vui buồn của trẻ con thay đổi rất nhanh, chẳng mấy chốc trời lại quang mây lại tạnh. Di Bối Lâu đã kinh doanh ở Phố Giang ba đời, gốc rễ sâu hơn Thích Trân Lâu nhiều, ngặt nỗi từ khi Ngô Thu Nương xuất hiện, việc buôn bán bị Thích Trân Lâu cướp mất mấy phần. Dương Dục thấy con trai lại chơi thân với con gái Ngô Thu Nương, vốn dĩ rất không vui, nhưng vợ ông là Trịnh thị khuyên: "Ngô Thu Nương chỉ có một mụn con gái, gia sản sớm muộn gì cũng để lại cho con. Con trai ta đã tâm đầu ý hợp với Ngô Chân Chân, chi bằng cưới nó về, như vậy Thích Trân Lâu sau này rốt cuộc cũng sẽ rơi vào tay con trai ta." Dương Dục nghĩ lại thấy rất có lý, bèn cười hớn hở mời bà mối đến cầu thân. Di Bối Lâu và Thích Trân Lâu đấu đá bao năm, Bồ bá vốn chướng mắt cái thói của Dương Dục, thấy lão dám sai bà mối đến hỏi cưới Chân Chân thì hận không thể đuổi thẳng cổ ra ngoài, nào ngờ lại bị Ngô Thu Nương ngăn lại. Ngô Thu Nương tiếp đãi bà mối nhà họ Dương rất khách khí, suy nghĩ chưa đến mấy ngày đã đồng ý mối hôn sự này. Bồ bá đau lòng nhức óc, nói: "Chân Chân là tôi nhìn nó lớn lên, chẳng khác nào con ruột. Tôi một lòng muốn tìm cho nó một tú tài, sau này con rể bảng vàng đề danh, phong thê ấm tử, để Chân Chân nhà ta cũng được làm cáo mệnh phu nhân. Cái tên Dương Thịnh Lâm kia tuy có chút của cải, nhưng nói cho cùng cũng chỉ là xuất thân nhà thương nhân bếp núc..." Ngô Thu Nương lẳng lặng liếc ông một cái: "Xuất thân thương nhân bếp núc? Chân Chân cũng là con nhà thương nhân bếp núc, thế này chẳng phải là môn đăng hộ đối sao?" Bồ bá cứng họng. Thu Nương lại nói: "Đúng như ông nghĩ, thương nhân bếp núc vốn bị người đời coi nhẹ, nhà t.ử tế chẳng ai muốn kết thân. Cho dù Chân Chân có lấy được tú tài, sau này con rể làm quan trong triều, khó bảo đảm hắn không lấy làm tiếc vì xuất thân của con bé, rồi lại có kẻ châm chọc gièm pha, từ đó vợ chồng sinh ra xa cách, thậm chí ruồng rẫy, cũng chẳng phải chuyện không thể xảy ra. Chi bằng bây giờ gả cho nhà môn đăng hộ đối, sau này vợ chồng có cãi nhau, nó cũng chẳng sợ thua kém gì chồng." Bồ bá không nói lại được, cũng biết ý Thu Nương đã quyết, không thể thuyết phục thêm, đành phải thôi. Thế là nhà họ Dương làm lễ vấn danh nạp cát, hạ sính theo đúng lễ nghi, định xong ngày cưới. Minh Châu thường có thuyền buôn từ Cao Ly*, Nhật Bản qua lại. Thu Nương mỗi năm đều đi một hai lần để mua d.ư.ợ.c liệu và nguyên liệu quý hiếm. Chuyện hôn nhân của con gái đã định, Thu Nương liền xếp chuyến đi Minh Châu vào lịch trình, liệt kê chi tiết danh sách những món cần mua, sắp xếp ổn thỏa mọi việc trong quán rồi cùng Bồ bá lên đường đi Minh Châu. *Hàn Quốc thời xưa Trong thời gian này, Dương Thịnh Lâm vâng lệnh cha đến kinh thành Lâm An thăm người thân, không ngờ tình cờ gặp Tương Diệp - đệ t.ử của Thu Nương đang được một phú hộ ở Lâm An mời đến chủ trì yến tiệc. Sau khi trở về Phố Giang, Tương Diệp kể lại sinh động cho Chân Chân nghe cảnh gặp Dương Thịnh Lâm: "Dương công t.ử mặc áo bào xanh, đi giày da đen, ăn diện như tân khoa tiến sĩ, nhưng tay lại phe phẩy cái quạt xếp Cao Ly, đầu bôi dầu hoa mộc hương đang thịnh hành ở Lâm An, bóng loáng mượt mà, trông không được đứng đắn cho lắm. Thấy ta cười chào hỏi, ta bèn hỏi hắn đi đâu về, hắn bảo: 'Vừa đi xem đá cầu ở Tề Vân Xã về.' Ta nhìn bộ dạng hắn chẳng giống đi từ sân cầu về chút nào, ngoài mùi dầu tóc, trên người hắn còn thơm phức, giống như mùi hương của phụ nữ dùng, bèn hỏi: 'Sao công t.ử đi xem đá cầu mà lại ám mùi son phấn thế này?'. Hắn không chút hoảng hốt, trả lời ta rằng: 'Ta đi xem nữ t.ử đá bóng.'" Các nữ đệ t.ử của Thích Trân Lâu nghe xong vừa cố nhịn cười, vừa liếc trộm xem phản ứng của Chân Chân. Nhưng Chân Chân nghe xong không vội không giận, chỉ khẽ mỉm cười: "Ừm, ta cũng phải đi xem cái trò nữ t.ử đá cầu này mới được." Chân Chân dẫn theo Ngọc Trâm cùng ba bốn người hầu, tiểu đồng đi Lâm An. Đến nơi hôm sau liền dò la được Dương Thịnh Lâm đã thuê một chiếc thuyền hoa, mời mấy kỹ nữ lầu xanh du ngoạn Tây Hồ. Chân Chân cùng Ngọc Trâm và mọi người ra bờ hồ, định thuê thuyền, nhưng hôm đó trời đẹp, du khách nhiều như mắc cửi, thuyền bè đã bị thuê hết sạch, chỉ còn một chiếc thuyền hoa nhỏ đang neo ở bờ. Chủ thuyền ngồi xổm ở mũi thuyền ngủ gật, chẳng có vẻ gì là đang đợi khách. Chân Chân thấy thuyền tuy không lớn, kiểu dáng cũng hơi cũ, nhưng vẫn còn sạch sẽ thanh nhã, bèn bước tới định đ.á.n.h thức chủ thuyền. Có người qua đường ngăn lại, nhắc nhở: "Thuyền này không thuê được đâu. Trước đây ở Lâm An có một danh kỹ yêu một chàng thư sinh, cha nương chàng trai cấm cản, tú bà cũng không cho chuộc thân, thế là hai người hẹn nhau chèo thuyền ra giữa Tây Hồ, ôm nhau nhảy xuống tự vẫn... Hôm đó họ đi chính là chiếc thuyền này. Từ đó về sau chẳng ai dám ngồi nữa." Chân Chân suy nghĩ một chút, mỉm cười cảm tạ người qua đường, nhưng vẫn tiến đến đ.á.n.h thức chủ thuyền, hỏi thuê thuyền một ngày giá bao nhiêu. Chủ thuyền trạc hơn năm mươi tuổi, người đen đúa nhỏ thó, mơ màng nhìn nàng, uể oải báo giá bừa: "Hai trăm tiền." Chân Chân nói: "Ta trả ông một ngàn tiền, ông cho ta thuê năm ngày." Chủ thuyền giật nảy mình nhảy dựng lên, vạn lần không ngờ lại có người thực sự muốn thuê chiếc thuyền này, hơn nữa còn không mặc cả, lại thuê những năm ngày. Ông ta vui mừng hớn hở gật đầu lia lịa, chấp nhận giá, rồi chở nhóm Chân Chân ra hồ. Thuyền hoa lướt ra giữa hồ, đến gần Đoạn Kiều thì gặp thuyền của Dương Thịnh Lâm. Dương công t.ử đang đứng ở mũi thuyền ôm ấp mỹ nhân ngắm sóng hồ phẳng lặng, phía sau còn có mấy người đẹp khác đang chơi đàn sáo, tiếng nhạc du dương. Dương Thịnh Lâm vừa thấy Chân Chân thì nụ cười tắt ngấm, vội vàng buông mỹ nhân ra, sau đó lập tức đổi sắc mặt, làm bộ vui mừng khôn xiết bày tỏ sự ngạc nhiên, rồi nhiệt tình mời Chân Chân qua thuyền đàm đạo. Chân Chân cũng chẳng từ chối, yểu điệu bước qua thuyền bên kia, cười nói với các mỹ nhân: "Các vị tỷ tỷ đây chắc hẳn là nữ giáo đầu của Tề Vân Xã*rồi." *Tề Vân Xã là hội của những nghệ nhân đá cầu giỏi trong triều, trải khắp các nơi, thịnh nhất là ở Lâm An. Hội viên dựa vào kỹ thuật đá cầu mà phân cấp bậc, cấp cao nhất gọi là "Giáo đầu" (hoặc Hiệu úy). Các mỹ nhân nghe nàng nói vậy chỉ cười gượng gạo, không dám đáp lời. Dương Thịnh Lâm vội chen lên cười xòa: "Phải đấy, sáng nay vừa thi đấu xong một trận, ta thấy các nàng vất vả nên mời đi du ngoạn hồ một chút, lát nữa các nàng còn phải về luyện tập." "Đã là vừa đá xong, chắc hẳn phải mang cầu theo, cầu đâu rồi?" Chân Chân bình thản hỏi. Dương Thịnh Lâm làm bộ nhìn quanh: "Kìa, vừa nãy còn ở đây, sao lại không thấy đâu rồi..." "Đó, ở kia kìa." Chân Chân chỉ tay xuống mặt hồ. Dương Thịnh Lâm nhìn theo hướng tay nàng chỉ, nào ngờ Chân Chân từ phía sau bất ngờ nhấc chân, đạp mạnh một cái khiến hắn rơi tỏm xuống nước. Dương Thịnh Lâm ngã xuống nước, vừa vùng vẫy vừa kêu cứu thất thanh. Các mỹ nhân kinh hãi tột độ, nhao nhao chạy ra mạn thuyền nhìn xuống nhưng ai nấy đều luống cuống, chẳng biết làm sao, cũng không ai ra tay cứu giúp. Chân Chân ung dung đứng đợi một lát, rồi mới sai người hầu nhảy xuống hồ kéo Dương Thịnh Lâm lên thuyền. Đám mỹ nhân trên thuyền càng thêm sợ hãi, không dám nhúc nhích. Chân Chân mỉm cười liếc nhìn Dương Thịnh Lâm, nói: "Cái tên ướt như chuột lột này e là làm mất nhã hứng du ngoạn của các tỷ tỷ. Chi bằng sang thuyền của ta, chúng ta tiếp tục đàn hát, đừng để phụ lòng ngày vui hôm nay." Các mỹ nhân im lặng, không ai đáp lời. Chân Chân lại nói: "Ta tự nhiên sẽ không bạc đãi các tỷ tỷ. Dương lang cho các tỷ bao nhiêu tiền thưởng, ta sẽ trả gấp đôi." Có người khẽ động lòng, nhưng vẫn chưa lên tiếng. Chân Chân cười nhạt: "Gấp ba." Ngay lập tức có người mở lời: "Thuyền hoa của cô nương thật nhã nhặn, nô gia đang muốn sang chiêm ngưỡng đây." Những người còn lại lập tức hùa theo, tranh nhau ôm đàn ôm sáo chạy sang thuyền của Chân Chân. Thấy Chân Chân đối đãi với mình luôn ôn hòa vui vẻ, các mỹ nhân cũng dần yên tâm, thi nhau tấu lại khúc sênh cầm. Chân Chân nhất thời hứng khởi, cầm lấy cây đàn nguyệt, đối diện với muôn trùng sóng biếc, nghe tiếng hoàng oanh trong rặng liễu, bắt đầu đàn hát khúc "Tây Giang Nguyệt". Lời ca này nàng nghe lỏm được từ một vị khách tình cờ ghé qua Thích Trân Lâu. Người ấy vận đồ văn sĩ, mày ngài thanh tú, dáng người gầy gò tuấn dật, cử chỉ khoan thai, khi hát lên giọng điệu mang vẻ vân đạm phong khinh như người đã đi qua ngàn vạn sóng gió. Trong lời hát ấy, nàng đặc biệt thích câu: "Thế lộ như kim dĩ quán, thử tâm đáo xứ du nhiên" * *Đường đời nay đã quen rồi, lòng này đi đến đâu cũng thấy thảnh thơi. Nàng không hoàn toàn hiểu hết ý tứ của câu từ, nhưng mỗi khi tâm trạng vui vẻ, nàng lại nhớ đến nó. Lúc này, tâm trạng nàng tốt một cách lạ lùng, vừa trút được cơn giận lên người chồng chưa cưới trăng hoa, trong lòng chẳng còn chút oán hờn hay tức giận nào. Hoàng oanh vẫn ríu rít trên hàng liễu biếc, cò trắng vẫn sải cánh giữa trời xanh, trên bãi cỏ thơm mây vẫn lững lờ trôi, có lý do gì để không vui vẻ kia chứ? Nàng muốn chia sẻ niềm vui của mình với tất cả mọi người xung quanh, kể cả những cô nương lầu xanh mà lẽ ra nàng phải chán ghét. Trong mắt du khách trên Tây Hồ, đây là một cảnh tượng kỳ lạ mà tuyệt đẹp: Một thiếu nữ xinh xắn trong bộ nam trang, dùng chất giọng non nớt hát những lời ca hào sảng, trong thuyền mỹ nữ như mây, tiếng nhạc tiên bồng bềnh, con thuyền hoa rẽ lối đi sâu vào ngàn hoa, giữa tiếng sênh ca say sưa quay về. Cuộc vui tàn, Chân Chân xuống thuyền định về khách đ**m, lão lái thuyền laji lật đật chạy theo sau, khẩn khoản hỏi: "Vừa rồi có du khách hỏi lão, thuyền này có thể chở họ đi dạo được không. Lão bảo thuyền đã được quý khách đây bao trọn rồi, có dùng được hay không phải do cô nương định đoạt." "Có thể cho họ lên thuyền. Tính tiền theo đầu người, mỗi người đi một vòng ba trăm tiền." Chân Chân đầu cũng không ngoảnh lại, cứ thế bước đi, cười nói: "Ngọc Trâm, thu tiền." Mấy ngày sau đó, Chân Chân không tự mình lên thuyền nữa, nhưng thuê vài ca kỹ tiếp tục đàn hát trên thuyền hoa. Du khách đổ xô đến thuê thuyền như mây, hoàn toàn quên bẵng chuyện cô danh kỹ tự vẫn năm nào. Năm ngày sau, Chân Chân mang theo một khoản tiền lớn kiếm được từ chuyến đi này trở về Phố Giang. Lão lái thuyền đến tiễn đưa, Chân Chân thấy ông lão chất phác, bèn hào phóng trích thêm ba phần tiền lời kiếm được biếu ông, vỗ vai ông nói: "Ông cứ yên tâm, thuyền của ông từ nay sẽ đắt khách lắm đấy." Lão lái thuyền cảm tạ rối rít, chắp tay vái chào liên tục, dõi mắt nhìn theo Chân Chân cho đến khuất bóng. Chương 3 - Mâm Cao Cỗ Đầy Dương Thịnh Lâm ngã xuống nước nhiễm lạnh, chẳng bao lâu sau toàn thân phát sốt, đưa về Phố Giang rồi mà bệnh tình vẫn chẳng thuyên giảm. Vợ chồng Dương Dục vừa lo vừa giận, Dương Dục chỉ tay vào mặt Trịnh thị quát: "Bà nhìn xem mối hôn sự tốt đẹp mà bà chọn đấy! Chỉ vì chút lợi nhỏ nhoi mà suýt nữa làm đứt mạng con trai!" Trịnh thị gạt nước mắt, phân bua: "Thiếp nào đâu biết con bé Ngô Chân Chân kia lại là thứ đàn bà chua ngoa dữ dằn đến thế! Đàn ông năm thê bảy thiếp là chuyện thường, thỉnh thoảng ghé chốn lầu xanh thì đã làm sao! Vốn dĩ thấy Thịnh Lâm thích nó, thiếp mới mềm lòng muốn tác thành, ngờ đâu nó chẳng những không biết điều mà tâm địa còn độc ác, quả đúng là loại ti tiện do mụ già bán dưa muối nuôi dạy mà thành!" Ngô Thu Nương thuở đầu mở quán vốn kinh doanh các món dưa muối, mắm tôm, cá ép, đến nay các món ăn kèm của Thích Trân Lâu vẫn nức tiếng gần xa, thế nên Trịnh thị mới miệt thị bà là "mụ già bán dưa muối". Dương Dục đập bàn cái rầm: "Mối hôn sự này không thể kết nữa. Chưa qua cửa đã hung hãn thế này, nếu thực sự thành con dâu nhà ta, nhẹ thì gia đình gà ch.ó không yên, nặng thì cái mạng nhỏ của Thịnh Lâm cũng khó giữ. Bà mau sang nhà họ Ngô, báo cho họ biết chuyện hủy hôn." Hôm ấy, Chân Chân đang ngồi trò chuyện gẫu cùng Phượng Tiên, đại đệ t.ử của nương. Phượng Tiên ngoài việc tinh thông trù nghệ còn rất yêu thích nữ công và đọc sách. Tuy chưa từng chính thức đến trường, nhưng ngày thường nàng vẫn chăm chỉ học chữ nghĩa tính toán từ Bồ bá, lại hay mượn sách thơ của Chân Chân về đọc. Chân Chân trêu: "Tỷ tỷ hiếu học thế này, chẳng lẽ mai sau muốn gả cho tiến sĩ, làm một vị cáo mệnh phu nhân sao?" Phượng Tiên đỏ bừng đôi má, lí nhí chối: "Đừng nói bậy. Tỷ chỉ là không muốn làm kẻ mở mắt mà như mù chữ thôi, nào dám mơ tưởng những chuyện viển vông ấy." Hai người còn đang cười nói thì nghe tin Trịnh thị đến thăm. Phượng Tiên biết bà ta đến chẳng có ý tốt, liền ngăn Chân Chân lại, tự mình ra mặt tiếp đãi. Trịnh thị đi thẳng vào vấn đề, tỏ rõ ý định muốn hủy hôn. Phượng Tiên khéo léo đáp lời, đáp rằng chủ mẫu đã đi Minh Châu thu mua thực phẩm, do dạo gần đây biển động sóng to, thuyền buôn nước ngoài trễ hẹn chưa cập bến Minh Châu nên chủ mẫu chưa thể quay về. Việc hủy hôn là chuyện hệ trọng, hiện trong nhà không ai dám tự ý quyết định, mong bà đợi thêm ít hôm, khi chủ mẫu về sẽ cùng bàn bạc. Trịnh thị cười khẩy: "Ta đến đây không phải để thương lượng với các người. Con trai ta bị Ngô Chân Chân làm nhục đến nước này, quyết không đời nào cho nó bước chân vào cửa nhà họ Dương nữa, hôn sự này phải hủy ngay lập tức. Ngươi cứ lần lữa thoái thác, chẳng lẽ vẫn còn mong ép gả Ngô Chân Chân cho nhà ta, để ké chút hào quang mà bán thêm vài cân dưa muối?" Phượng Tiên nghe vậy tuy trong lòng không vui nhưng vẫn nhẫn nhịn khuyên giải, nói rằng nhà vắng chủ, cần đợi nương về. Trịnh thị lại càng lấn lướt, ép Chân Chân phải ra mặt đồng ý hủy hôn, lời lẽ đầy vẻ châm chọc xuất thân không rõ ràng của nhà họ Ngô, mỉa mai họ phất lên nhờ bán mấy món dưa muối rẻ tiền cho dân nghèo, còn khoe khoang nhà họ Dương giàu có ba đời, là hào phú đất Phố Giang, lại có cậu ruột của cô họ mở tửu lầu lớn ở kinh thành Lâm An, biết bao quan lại quyền quý đều lấy việc thưởng thức món ngon ở đó làm vinh dự... Cuối cùng, bà ta không quên khẳng định Dương Thịnh Lâm tương lai sẽ lên kinh ứng thí tiến sĩ, tuyệt đối không cưới con gái của một mụ bán dưa muối hung dữ làm vợ. Đúng lúc ấy, tấm rèm sau lưng Phượng Tiên đột ngột được vén lên, Chân Chân bước ra trước ánh mắt sững sờ của hai người. Nàng nhìn thẳng vào Trịnh thị, giọng kiên quyết: "Hôn sự này có thể hủy. Không cần đợi nương ta về, ngay bây giờ có thể viết giấy trắng mực đen kết thúc chuyện này." Trịnh thị hỏi: "Vậy còn sính lễ..." "Sẽ trả lại đầy đủ cho nhà bà." Trịnh thị cười hớn hở: "Được vậy thì mời cô nương mau chóng thu xếp, hai ngày nữa ta sẽ cho người đến nhận. Thấy cô nương sòng phẳng như vậy, ta cũng chẳng so đo nhiều. Cô chỉ cần trả lại sính lễ đã nhận, còn tiền tiệc tùng đình đám ngày đính hôn nhà ta đã bỏ ra, ta cũng không đòi lại nữa." Chân Chân nghe vậy khóe môi khẽ nhếch: "Đã là hủy hôn, dính dáng đến tiền bạc cứ nên tính toán rạch ròi từng khoản một. Hôm đính hôn là nhà bà mở tiệc, vậy hai ngày nữa tôi cũng sẽ mở một buổi 'Tiệc hủy hôn', mời lại đúng những thân hào bằng hữu hôm trước làm chứng đến dự, để mọi người đều biết, tôi và Thịnh Lâm gặp gỡ êm đẹp thì chia tay cũng êm đẹp, đường ai nấy đi, đôi bên nhẹ lòng." Trịnh thị thấy thái độ nàng cứng rắn bèn thuận nước đẩy thuyền đồng ý, hẹn rõ giờ giấc đến dự tiệc và nhận lại sính lễ, rồi quay về kể lại sự tình cho cha con Dương Dục. Dương Dục vốn chẳng muốn vác mặt đến cái tiệc hủy hôn gì đó, ngặt nỗi Dương Thịnh Lâm vừa nghe tin Chân Chân đồng ý hủy hôn liền khóc lóc ầm ĩ, một hai đòi sống c.h.ế.t không chịu huỷ, Dương Dục càng thêm giận dữ, dứt khoát nói: "Vậy bữa rượu hủy hôn này ta nhất định phải đi uống, tiện thể nói cho mọi người biết, cô con dâu này ta quyết không nhận!" Trịnh thị vừa đi khỏi, Chân Chân liền triệu tập tất cả nữ đệ tử, tỳ nữ, người hầu, sai vặt trong Thích Trân Lâu, phân công công việc, dốc sức chuẩn bị cho yến tiệc ngày mai. Riêng với sáu vị sư tỷ, nàng nói nhỏ: "Muội có vài thực đơn, cách làm tuy không khó nhưng khâu chuẩn bị nguyên liệu sẽ hơi phiền phức, mong các tỷ tỷ chịu khó giúp muội làm cho bằng được. Trận chiến ngày kia quan trọng vô cùng, chúng ta nhất định phải làm cho tốt, không thể để danh tiếng Thích Trân Lâu và nương bị tổn hại." Các sư tỷ đều gật đầu ưng thuận, chỉ có Phượng Tiên tỏ vẻ lo lắng, hỏi Chân Chân có nên đợi Thu Nương về rồi hãy tính hay không. "Lời đã nói ra như bát nước đổ đi, sao có thể thu lại được." Chân Chân đáp, rồi kéo Phượng Tiên ra một góc vắng, thì thầm dặn dò: "Có một món, nhất định phải nhờ người vừa giỏi nấu nướng vừa khéo nữ công như tỷ mới làm được. Nhờ tỷ tìm thêm vài người khéo tay giúp sức, bỏ chút tâm tư, làm suốt đêm nay cho xong. Việc thành, muội nhất định sẽ hậu tạ." Phượng Tiên cũng có chút tò mò, hỏi là món gì. Chân Chân ghé tai nói nhỏ, Phượng Tiên nghe xong chỉ thấy lạ lùng chưa từng thấy, không khỏi mở to đôi mắt đầy kinh ngạc. Hai ngày sau, các thân hào bằng hữu hai nhà nhận được thiệp mời lần lượt kéo đến Thích Trân Lâu, vợ chồng Dương Dục cũng mang bộ mặt lạnh tanh xuất hiện. Đôi bên soạn xong văn thư hủy hôn, mỗi người ký tên xác nhận. Chân Chân sai người mang sính lễ đã sắp xếp gọn gàng ra, nhà họ Dương kiểm kê rồi thu hồi. Mọi việc xong xuôi, Chân Chân mời tất cả an tọa, lập tức khai tiệc. Trên bàn tiệc đã bày sẵn một hàng quả khô: hạt sen, hạt dẻ, hạt phỉ, bạch quả, nhãn lồng, táo tàu hấp; một hàng mứt trạm trổ cầu kỳ: mứt mận tỉa hoa, măng tỉa hoa, mứt bí đao hình cá, cam tỉa hoa, quất vàng mơ xanh tỉa hình lá sen. Các tỳ nữ lại liên tục bưng lên một hàng các món ngâm chua mặn thơm lừng: mộc qua hương dược, mận tẩm tiêu, anh đào ướp hương, hoa hiên tẩm hương, mận gừng sợi, hoa cam thảo, bánh mận thái sợi; tiếp đến là một hàng thịt khô: thịt thái dây, tôm khô, thịt ngâm giấm rượu, cá ướp, váng sữa, bó thịt Vân Mộng; một hàng hoa quả cắt lát: ngó sen xuân, bánh lê ngỗng, mía, quýt xanh, lê sữa cắt hình trăng. Ngoài ra còn có một hàng bánh trái bọc đường: bánh cam lộ vải thiều, kẹo thạch hoa vải, kẹo vải "Hảo Lang Quân", mứt đào dây, hạt óc ch.ó tẩm bơ, táo vòng bọc đường, thịt lê bọc đường, nhộng ong ngào đường... Khách khứa nhìn đến hoa cả mắt, đang mải mê thưởng thức thì nghe gia nhân vào báo: Huyện lệnh Thôi Ngôn Chi cùng bằng hữu đi ngang qua, thấy Thích Trân Lâu tổ chức tiệc hủy hôn náo nhiệt, có ý muốn vào xem thử. Chân Chân đích thân ra nghênh đón, mời Thôi huyện lệnh cùng người bạn xưng họ Kỷ lên lầu ngồi ghế thượng khách. Đợi Huyện lệnh và tiên sinh họ Kỷ an tọa, Chân Chân phất tay, tiếng sênh ca trong lầu nổi lên, thị nữ dâng rượu ngon, bữa tiệc chính thức bắt đầu. Các món chính được dâng lên theo từng tuần rượu. Tuần thứ nhất là chim cút nấu hoa, cá vược giả nghêu; tuần thứ hai là canh tam thúy, dạ dày hầm mầm đậu. Trịnh thị và Dương Dục liếc nhìn nhau, thầm nhủ trong bụng:Trông thì cũng giống mấy món ở Lâm An đấy... Con ranh này đi Lâm An mấy ngày, chắc cũng ăn được vài bữa ở tửu lầu lớn nên học lỏm được chút vỏ ngoài mang về, ngặt nỗi công lực của đầu bếp nhà cậu họ của cô ta thì nó chắc chắn không có, chung quy cũng chỉ là Đông Thi bắt chước Tây Thi mà thôi. Rượu qua tuần thứ ba, món được bưng lên là "Dương đầu thiêm" (Nem đầu cừu) và một đĩa "Hành kê" (Dưa hành). Dương đầu thiêm là món thịt cuộn, dùng lớp mỡ chài mỏng tang ở bụng cừu bọc lấy thịt đầu cừu đã thái sợi rồi chiên giòn. Thịt cừu trước đó được ướp với hành sợi, gừng sợi, xì dầu, rượu, tiêu muối, lòng trắng trứng và nước dùng thượng hạng. Mọi người nếm thử chỉ thấy lớp vỏ ngoài giòn tan, mỡ cừu thơm ngậy tràn trề, còn phần thịt bên trong thì tươi mềm thấm vị, tuyệt nhiên không chút mùi hôi, ai nấy đều tấm tắc khen ngợi. Kỷ tiên sinh mỉm cười nói với Chân Chân: "Ta ở Lâm An cũng thường ăn món Dương đầu thiêm, nhưng chưa nơi nào dùng loại thịt tinh diệu nhường này. Thớ thịt đầu cừu này mịn màng, hương vị mềm mại, chẳng hay được chế biến thế nào?" Chân Chân đáp: "Món này quan trọng nhất ở khâu chọn nguyên liệu. Hai bên má cừu mỗi bên chỉ có một miếng thịt mềm nhất, món Dương đầu thiêm này của tôi chỉ dùng đúng miếng thịt ấy, nên mới có hương vị này." Kỷ tiên sinh kinh ngạc: "Cả cái đầu cừu chỉ lấy hai miếng thịt má? Vậy để làm ra đĩa nem hôm nay, cần đến bao nhiêu con cừu?" Chân Chân cười nhẹ: "Cũng tầm hai ba mươi con thôi ạ." Kỷ tiên sinh khẽ thở dài, lại chỉ vào đĩa dưa hành trước mặt, nói: "Món hành kê này cũng khác thường, thơm ngọt say lòng, tinh tế gọn gàng, sắc vàng mà không xanh, nếu không nghe người bưng bê giới thiệu, ta cũng chẳng nhận ra là làm từ hành. Chẳng hay lại chọn lọc thế nào?" Chân Chân ung dung giải thích: "Hành trước tiên chần sơ qua nước sôi, loại bỏ hết rễ lá bên ngoài, tùy theo kích thước đĩa mà cắt khúc cho vừa vặn, sau đó bóc đi mấy lớp vỏ ngoài, chỉ lấy đúng phần lõi trông như lá hẹ vàng ở giữa, đem ngâm với dấm rượu nhạt, thế là thành." Kỷ tiên sinh nhìn lướt qua đĩa hành trước mặt các vị khách, lại hỏi: "Vậy chỗ hành hôm nay, lại tốn bao nhiêu cân hành tươi?" Chân Chân lắc đầu: "Không phải tôi làm, cụ thể bao nhiêu tôi cũng không rõ, ước chừng cũng phải bảy tám mươi cân." Kỷ tiên sinh cạn lời, lẳng lặng uống cạn chén rượu. Rượu tuần thứ tư lại tiếp tục dâng món, lần này là cá bống măng xuân và hoành thánh cua xanh. Cá bống là loại cá bống đất, thịt trắng như bạc, béo mềm tựa đậu phụ, mà phần thịt ngon nhất nằm ở hai bên mang, chỗ ấy thịt hình như hạt đậu, do cá hô hấp cử động liên tục nên thịt ngọt nhất. Và món cá trong tiệc hôm nay, chính là dùng toàn những miếng thịt hạt đậu bé xíu ấy. Khách khứa nhìn đĩa thịt cá đầy ắp trước mặt mà than trời, đa phần đều cười khen Thích Trân Lâu ra tay hào phóng, các món Chân Chân chọn đều mang phong thái đại gia, đứng đầu Phố Giang. Chân Chân chắp tay cười tươi cảm tạ, đặc biệt mời vợ chồng Dương Dục đang mặt mày xám ngoét nếm thử món hoành thánh cua xanh. "Khâu mâu" tức là cua xanh (ghẹ). Dương Dục cũng là người sành ăn từ nhỏ, vừa c.ắ.n một miếng đã biết nhân hoành thánh toàn là thịt lấy từ hai cái càng lớn của con cua, thớ thịt ngắn, chắc và mịn hơn thịt thân cua, ăn vào tươi ngon vô cùng. Sắc mặt Dương Dục càng lúc càng trầm xuống, vốn định bụng chuẩn bị cả rổ lời lẽ để châm chọc Thích Trân Lâu, giờ chẳng biết phải mở miệng thế nào. Rượu qua tuần thứ chín, món lên là một lồng bánh bao. Mọi người nếm ra nhân là thịt lợn trộn hành, Trịnh thị cười khẩy một tiếng, thì thầm với người bên cạnh: "Món chính này xem ra cũng thường thôi, ở quán ta, cái bánh này bán có hai văn tiền một chiếc." Lời ấy lọt vào tai Chân Chân, nàng cười vang, quay sang Trịnh thị nói: "Bánh bao này của tôi nếu mang ra bán, e rằng phải bán một trăm tiền." Trịnh thị cười mỉa: "Chẳng lẽ bánh bao này làm bằng vàng, mà những một trăm tiền?" Chân Chân chưa vội đáp, chỉ dùng đũa tách đôi chiếc bánh bao, khều ra một sợi hành, rồi cầm một cây kim bạc khẽ khàng gỡ sợi hành đang cuộn tròn ấy ra, giơ lên trước ánh mặt trời, ra hiệu cho mọi người nhìn kỹ. Lập tức có mấy người hiếu kỳ xúm lại, nheo mắt ngắm nghía, chỉ thấy trên sợi hành mảnh mai ấy chi chít những hoa văn đục rỗng, nhìn kỹ hơn, có người thốt lên: "Là vân mây như ý!" Chân Chân liếc nhìn Trịnh thị đang há hốc mồm, thản nhiên cười nói: "Đắt là ở cái tay nghề." Chương 4 - Thiếu Niên Trong Hồ Buổi tiệc hủy hôn ấy làm chấn động cả huyện Phố Giang. Mấy ngày sau đó, Thích Trân Lâu khách khứa nườm nượp như đi hội, không ít người tỏ vẻ giàu sang vung tiền như nước, nhao nhao đòi nếm thử những sơn hào hải vị trong tiệc hủy hôn. Chân Chân nhìn sang Di Bối Lâu cửa đóng then cài vắng lặng như tờ ở đối diện, mỉm cười dặn dò Phượng Tiên và các sư tỷ đưa thực đơn tiệc hủy hôn vào danh sách món ăn, đồng thời nhận đặt tiệc theo đúng quy cách ấy. Khi Ngô Thu Nương và Bồ bá trở về, Chân Chân đang chỉ huy người trong quán chuẩn bị cho các đơn đặt hàng món mới. Thu Nương liếc nhìn đống thịt cừu, cua xanh, cá tôm chất cao như núi trong sân, rảo bước đến trước mặt Chân Chân, vung tay tát một cái thật mạnh. "Con lấy đâu ra những thực đơn này?" Thu Nương giũ tờ thực đơn mới soạn của Thích Trân Lâu ra trước mặt Chân Chân, gằn từng chữ, trong mắt hừng hực lửa giận. Chân Chân từ nhỏ đến lớn chưa từng bị nương đ.á.n.h đòn, lúc này hoàn toàn ngơ ngác, ôm lấy má nóng rát hồi lâu mới ấp úng: "Hồi nhỏ, nương không cho con ăn nhiều mận ngâm, giấu mận trong phòng. Con lén vào lục tìm, rồi thấy trong tủ có mấy cuốn thực đơn cũ, là nương ghi chép lại hồi còn trẻ phải không ạ?" Thu Nương sững người, nhất thời nghẹn lời. Hàng mi Chân Chân run lên, nước mắt thi nhau rơi xuống: "Nhà họ Dương h.i.ế.p người quá đáng, bảo nhà ta chỉ biết bán dưa muối, con nhớ đến những món này nên làm ra cho mọi người xem... Con không biết nương không thích con dùng, con sai rồi, xin nương cứ trách phạt." Thu Nương đưa tay áo lau nước mắt chực trào, ôm chầm Chân Chân vào lòng, đỏ hoe mắt thì thầm bên tai : "Xin lỗi con, nương không nên đ.á.n.h con... Con không sai, đều là lỗi của nương..." Bất ngờ, chuyện xưa ùa về trong ký ức, Thu Nương đau đớn khôn nguôi, ôm lấy Chân Chân khóc không thành tiếng. Đã lâu lắm rồi Chân Chân không thấy nương mình khóc, lúc này sự bàng hoàng đã lấn át cả nỗi đau và uất ức vì cái tát, nàng vừa xin lỗi vừa dỗ dành, mãi một lúc lâu sau Thu Nương mới ngừng rơi lệ. Sau đó, Thu Nương ra lệnh hủy bỏ các món mới, thà bồi thường tiền chứ nhất quyết từ chối mọi đơn đặt hàng vừa nhận, mọi việc quay trở lại kinh doanh theo nếp cũ, vì thế mà tổn thất một khoản tiền lớn. Chân Chân và các sư tỷ tuy không hiểu nguyên do nhưng cũng chẳng dám hỏi nhiều, những ngày tháng ở Thích Trân Lâu lại trôi qua bình lặng như trước khi có tiệc hủy hôn. Chuyện Chân Chân và Dương Thịnh Lâm hủy bỏ hôn ước, Bồ bá tuy trong lòng hả hê nhưng nghĩ đến tương lai của Chân Chân thì vẫn không khỏi lo lắng: "Chân Chân cũng là tuổi trẻ háo thắng, hủy hôn thì hủy hôn, việc gì phải làm cái tiệc rình rang cho cả huyện biết. Rơi vào miệng lưỡi thế gian lại càng khó nghe. Nếu tổn hại đến danh tiếng con gái nhà lành, muốn tìm mối hôn sự tốt e là càng thêm khó." Thu Nương thở dài: "Chuyện đã rồi, không quay đầu lại được, chỉ còn cách nhìn về phía trước. Sau này phu quân tốt xấu thế nào, đành trông vào phúc phận của con bé vậy." Chân Chân nghe được, tỏ vẻ chẳng hề bận tâm: "Con là muốn cho người ta biết, kẻ nào thích xem phụ nữ đá cầu thì đừng hòng tìm đến con." "Ừ," Thu Nương vừa khâu lại chiếc áo Chân Chân làm rách khi cưỡi ngựa hôm qua, vừa nói, "Cùng lắm thì nương kiếm nhiều tiền hơn chút, kén cho con chàng rể ở rể là được." Theo lệ nước nhà, sĩ t.ử muốn thi cử làm quan, mùa thu phải tham gia kỳ thi Giải (thi Hương) tại các châu phủ, người đỗ đạt mùa đông sẽ lên kinh sư chuẩn bị cho kỳ thi Tỉnh (thi Hội) của Bộ Lễ vào mùa xuân năm sau. Trước khi các cử nhân lên kinh, quan lại địa phương sẽ tổ chức yến tiệc tại Văn Miếu để tiễn đưa và chúc tụng, gọi là "Hương Ẩm" (Tiệc thiết đãi sĩ tử). Hương Ẩm là sự kiện trọng đại của địa phương, thường phải chuẩn bị trước vài tháng. Những năm gần đây, việc lo bếp núc cho Hương Ẩm ở Phố Giang do Di Bối Lâu và Thích Trân Lâu cùng đảm nhận. Nay hai nhà Dương - Ngô đã hủy hôn, đều từ chối hợp tác với đối phương. Huyện lệnh Phố Giang bèn quyết định Hương Ẩm năm nay sẽ chọn một trong hai nhà để giao quyền làm chủ bếp. Hai nhà cứ việc chuẩn bị, sau đó huyện lệnh sẽ chọn ngày mời một số cử nhân đến dự, để hai tửu lầu trổ tài, quyền quyết định ai làm chủ tiệc Hương Ẩm sẽ do chính các cử nhân lựa chọn. Dương Dục quyết tâm giành bằng được quyền tổ chức Hương Ẩm, chẳng bao lâu sau đã gióng trống mở cờ sửa sang lại Di Bối Lâu, dẹp bỏ hết những trang trí rườm rà lòe loẹt, thay vào đó là bày biện nhiều non bộ trúc xanh, tranh treo hoa cắm đều mời người am hiểu về làm, gu thẩm mỹ rất khá, khiến tửu lầu mang một diện mạo mới mẻ, thu hút được sự chú ý của giới sĩ tử. "Hơn nữa, Dương Dục còn mời được một cao nhân về soạn lại thực đơn, đặt cho mỗi món ăn một cái tên vừa có điển tích, nghe lại thanh tao lạ lẫm." Phượng Tiên kể lại tin tức nghe ngóng được cho Chân Chân, "Ví dụ như món canh Thái Thú, dùng điển tích về Thái thú Ngô Hưng đời Nam Lương là Thái Tuân. Thái Tuân làm quan thanh liêm chính trực, khi làm Thái thú đến nước giếng của quận phủ cũng không uống, ngày thường chỉ ăn rau dền trắng, cà tím tự trồng trước trai phòng. Di Bối Lâu bèn dùng rau dền và cà tím nấu thành canh, đặt tên là 'Canh Thái Thú'. Còn một món nữa, gọi là 'Canh Bích Giản', muội đoán xem làm từ gì?" Chân Chân ngẫm nghĩ rồi nói: "Chẳng lẽ là món gì quý hiếm mọc dưới nước?" Phượng Tiên lắc đầu: "Chính là rau cần bình thường thôi. Họ lấy phần non của rau cần, nấu với nước thành canh, bảo là thanh mát thơm tho, trông như nước suối xanh biếc trong khe núi, Đỗ Phủ từng làm thơ ca ngợi, gọi là 'Thanh cần bích giản canh', Di Bối Lâu bèn lấy tên đó." Chân Chân ngạc nhiên: "Mấy cái tên nghe thì hay đấy, nhưng món ăn lại quá đỗi bình thường, đám sĩ t.ử kia chịu ăn sao?" Phượng Tiên nói: "Đừng coi thường tác dụng của cái tên. Sĩ t.ử vốn ngưỡng mộ tài khí và danh vọng của các bậc danh sĩ, nghe thấy món ăn được người xưa yêu thích, tự nhiên sẽ muốn nếm thử. Hơn nữa họ sắp lên kinh ứng thí, cũng muốn hưởng chút lộc của người xưa, lấy cái điềm lành. Thế nên dạo này Di Bối Lâu khách khứa tứ phương tấp nập, làm ăn khấm khá lắm." Chân Chân trầm ngâm một lát, rồi nhướng mày nói: "Không sao, họ có Canh Thái Thú, chúng ta có Thịt Đông Pha." Phượng Tiên ngẩn người, rồi bật cười: "Không giống nhau đâu. Thịt Đông Pha làm từ thịt lợn, sĩ đại phu trong triều xưa nay vẫn chê thịt lợn th* t*c, sĩ t.ử bình thường cũng chịu ảnh hưởng, rất ít khi chọn ăn, chúng ta không nên dùng món này để tạo danh tiếng." Chân Chân nói: "Nếu bàn về việc đặt tên món ăn theo điển tích thì cũng chẳng khó, mời vài vị thầy đồ đọc nhiều sách thánh hiền nghĩ cho mấy cái tên là xong. Món ăn của Di Bối Lâu tên gọi tuy mới lạ, nhưng bản thân món ăn chưa đủ khiến người ta kinh ngạc. Nếu muốn thắng họ, chung quy vẫn phải bắt đầu từ nguyên liệu, chọn loại có hương vị lấn át được món của họ. Họ đã chủ đ.á.n.h món rau, chúng ta có thể làm nhiều món thịt. Nếu sĩ t.ử chê thịt lợn th* t*c, vậy chúng ta tìm loại thịt khác đặc biệt hơn làm món chính." Phượng Tiên thấy có lý, gợi ý: "Tỷ nghe nói ở ngoại ô phía Bắc mới mở một tiệm bán thịt hươu, chủ quán là người Lâm An, bán thịt hươu đã chế biến. Ở trung nguyên thịt hươu hiếm hoi, nếu chúng ta dùng làm món chính, ắt sẽ khiến người ta thấy mới mẻ." Chân Chân thấy khả thi, bèn đi bàn với Thu Nương. Thu Nương lại không mấy đồng tình: "Chuyện Hương Ẩm nên nhìn nhận bằng tâm thế bình thản, đừng quá đặt nặng lợi ích được mất. Phàm chuyện gì làm tốt bảy tám phần là được, không cần phải cố sức tranh giành, cũng không nhất thiết phải đứng đầu. Họ tranh phần họ, mình làm tốt việc của mình là đủ. Hào quang chớp nhoáng của danh lợi, thường chẳng bằng sự an nhàn điềm tĩnh của những ngày tháng bình yên." Chân Chân còn trẻ, chưa thể thấu hiểu hết thâm ý trong lời nương, vẫn lấy cớ muốn mở rộng thực đơn, nhất quyết đòi đi mua thịt hươu. Thu Nương bất lực, đành dặn dò: "Trung nguyên hiếm thấy thịt hươu, nếu vận chuyển từ nơi khác về, không biết có giữ được độ tươi hay không, nên con nhất định phải xem kỹ chất thịt trước khi ninh nấu, không hôi không thối mới được mua." Chân Chân được nương cho phép, hôm sau liền thẳng tiến ngoại ô phía Bắc tìm tiệm thịt hươu kia. Sáng hôm ấy trời đẹp nắng trong, Chân Chân cưỡi ngựa đi trên con đường mòn ngoại ô, chỉ thấy hương hoa phả vào mặt, gió mát rượi vờn quanh mắt, vó ngựa tung lên khiến bướm ong kinh động bay lượn dập dờn. Đi đến bên một dòng suối, bỗng nghe phía trước nơi bóng liễu rủ thướt tha có tiếng cười đùa của nam nhân hòa cùng tiếng suối chảy róc rách, vang vọng mãi không dứt. Chân Chân thúc ngựa đi tới, rẽ lối hoa vạch cành liễu đến bên bờ sông, chỉ thấy mặt suối nhỏ trước đó bỗng chốc mở rộng, tụ lại thành một hồ nước, in bóng dương liễu ngô đồng hai bên bờ, nước trong vắt, lộ ra một màu xanh ngọc bích. Hai gã nam t.ử tuổi chừng đôi mươi đang cưỡi ngựa vung roi, trong hồ nước làm động tác đ.á.n.h cầu, đ.á.n.h vào một quả cầu da đang nổi bập bềnh trên mặt nước. Thế nhưng không chỉ là đ.á.n.h cầu, ngựa của họ đã tháo hết yên cương, còn họ cũng chẳng mặc quần dài hay đi ủng, vạt áo bào phía dưới được buộc gọn ngang hông, dưới tà áo buông rủ lộ ra đôi chân trần dài, cứ thế cưỡi trên lưng ngựa trần, giật dây cương điều khiển ngựa, đạp vỡ mặt nước biếc, chốc chốc lại cười nói đ.á.n.h quả cầu qua lại, dường như chỉ là nhân lúc tắm ngựa thuận tiện chơi trò đ.á.n.h cầu cho vui. Trong đó, một người mặc áo xanh, cưỡi ngựa trắng, mày kiếm mắt sáng, dáng vẻ đầy anh khí. Còn người kia thì mũi cao môi mỏng, thanh tú dễ thương, ngửa mặt cười vang với ánh nắng ban mai, trong đôi mắt như có ngàn sao lấp lánh. Chàng ta mặc một bộ bạch y, con ngựa dưới thân lông màu vàng nhạt, dưới ánh mặt trời ánh lên sắc kim nhàn nhạt, cũng giống như chủ nhân của nó, toàn thân toát lên phong thái rạng ngời hào hoa. Roi ngựa vung lên làm bọt nước b.ắ.n tứ tung, khiến họ như đang tắm mình trong mưa bạc. Họ cứ thế vung roi cười đùa trong màn sương nước, làm kinh động cả đàn chim chìa vôi trong hồ, khiến chúng tung đôi cánh đen trắng, đạp lên tiếng cười của họ mà chao liệng trên mặt nước. Chân Chân chăm chú nhìn người nam t.ử áo trắng. Chàng có khuôn mặt nhỏ nhắn, dung mạo tú lệ như nam t.ử vùng Giang Nam, nước hồ đã làm ướt sũng hơn nửa phần áo trước ngực, lớp áo lụa mỏng dính sát vào cơ thể, để lộ vóc dáng cường tráng rắn rỏi chứ chẳng hề yếu ớt. Chàng ung dung cười, tay áo bay bay trong gió, vung roi dài vẽ nên một đường cong tuyệt đẹp. Giữa chốn rừng hoang cây cối in bóng nước này, vẻ đẹp chàng hiện ra cũng rực rỡ như ánh nắng sớm mai mùa hạ. Chân Chân xuống ngựa, đứng bên bờ hồ lặng lẽ ngắm nhìn, tạm thời quên bẵng mục đích chuyến đi. Hai người nam t.ử cuối cùng cũng chú ý đến nàng. Chàng trai áo trắng dùng mũi chân khều quả cầu da lên, tay đỡ lấy rồi vỗ một chưởng, quả cầu bay thẳng về phía Chân Chân. Chân Chân nhanh mắt nhanh tay nghiêng người đỡ lấy, đợi cầu rơi xuống lại đưa chân tâng vài cái, rồi tung cước đá mạnh, trả quả cầu lại cho chàng trai áo trắng. Chàng trai áo trắng đón lấy cầu, cười nói: "Huynh đài thân thủ tốt quá. Nếu rảnh rỗi, chi bằng xuống nước cùng tắm ngựa đ.á.n.h cầu với bọn ta." Vì để tiện đi lại, Chân Chân mặc nam trang nên người nọ mới gọi nàng là "huynh đài". Chân Chân liếc nhìn đôi chân trần của chàng, trên mặt thoáng ửng hồng, tránh đi ánh mắt dò xét của người nọ, đáp: "Không cần đâu." Nghe thấy giọng nàng, nụ cười của chàng trai áo trắng càng thêm sâu: "Hóa ra là một cô nương." Chàng trai áo xanh nghe vậy cười bảo: "Không phải là cô nương đấy chứ? Con gái nhà ai lại trơ mắt nhìn đàn ông c** tr*n như thế, không biết 'phi lễ chớ nhìn' hay sao?" Chân Chân bỗng thấy nóng mặt, vặn lại: "Các người giữa thanh thiên bạch nhật mà ăn mặc hở hang đ.á.n.h cầu, không sợ tổn hại thuần phong mỹ tục, kẻ thất lễ vốn là các người mới đúng. Ta đi ngang qua đây, tiện thể ngắm cảnh ven đường, vô tình nhìn thấy các người chứ đâu phải nhìn trộm, sao lại gọi là phi lễ?" Chàng trai áo trắng gật đầu, bảo với người áo xanh: "Cô nương này nói cũng có lý, chúng ta mau lên bờ thôi... Để cô nương bắt gặp, nếu đồn ra ngoài, suy cho cùng cũng tổn hại đến thanh danh." Dứt lời, quả nhiên thúc ngựa lên bờ. Chân Chân thấy họ dừng cuộc chơi, tự cảm thấy mình làm mất nhã hứng của người ta, trong lòng có vài phần áy náy, bèn nói: "Cũng không sao đâu, các ngươi cứ tiếp tục, ta đi ngay đây." Nghĩ đến chuyện mình hủy hôn gây xôn xao xóm giềng, nàng buột miệng than: "Dù sao ta cũng chẳng phải người có tiếng tăm tốt đẹp gì." "Cô nương nghĩ nhiều rồi." Chàng trai áo trắng vừa chậm rãi xỏ lại giày vừa mỉm cười nói. “Ta đang nói đến danh tiếng của ta.” Chương 5 - Tiệm Thịt Hươu Một chiếc ủng da đen bị ngọn roi ngựa hất tung, vẽ nên một đường cong hoàn mỹ giữa không trung, rồi dưới ánh mắt trân trối của hai người nam tử, rơi tỏm xuống hồ nước. Bọt nước b.ắ.n tung tóe, làm kinh động lũ cá đang tụ tập bơi lội dưới làn nước trong xanh. Chàng trai áo trắng vội vàng đứng dậy, chân trái đã xỏ ủng, chân phải vẫn trơ trọi. Ánh mắt chàng nhìn theo chiếc ủng đen đang chìm dần thoáng nét tuyệt vọng. Chân Chân cười tủm tỉm thu roi ngựa về, chắp tay chào họ: "Xin cáo từ tại đây." Dứt lời, nàng quay người rời đi, bỏ lại sau lưng ánh nhìn vừa kinh ngạc vừa bất lực của hai chàng trai. Chiếc ủng rơi xuống nước chẳng phải chuyện tày đình, hồ nước nông và trong, chàng ta có thể dễ dàng vớt lên, chẳng mất mát gì. Chỉ có điều, suốt buổi chiều hôm nay phải đi một chân ủng ướt sũng, chung quy cũng chẳng dễ chịu chút nào – hệt như cảm giác mà lời trêu chọc của họ mang lại cho nàng. Đi thêm chừng một tuần hương, tiệm thịt hươu đã hiện ra trong tầm mắt Chân Chân. Đó là một khoảng sân có cửa tiệm đàng hoàng, phía sau là xưởng chế biến, quy mô xem ra không nhỏ. Từ xa, Chân Chân đã ngửi thấy theo gió đưa lại một mùi vị kỳ lạ, tựa như mùi đậu xị thối, nhưng lại không hẳn là thế. Hít sâu thêm chút nữa, nàng nhận ra mùi lạ ấy đã bị hương đậu xị nồng nàn che lấp. Chân Chân xuống ngựa, tìm một gốc cây râm mát buộc dây cương, rồi một mình bước về phía tiệm thịt. Các sạp thịt ở Phố Giang thường treo nửa con lợn hay con cừu mới mổ ngay trước cửa để chào mời, nhưng tiệm này lại không thấy treo thịt hươu tươi, chỉ có cái đầu hươu phơi khô treo lủng lẳng trên biển hiệu. Chân Chân vừa đến gần, một gã đại hán trạc tuổi tứ tuần đã đon đả chào mời: "Khách quan muốn mua thịt hươu chăng? Ở đây loại nào cũng có, thịt khô, thịt giã, thịt nhồi, thịt ngũ vị, thịt sấy giòn ngọt, mắm thịt đều đủ cả." Chân Chân nhìn lên kệ hàng, quả nhiên thấy bày la liệt các loại thịt khô, thịt sấy, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng miếng thịt hươu tươi nào. Mùi hôi lạ lùng kia lại từng đợt xộc vào mũi, Chân Chân không kìm được đưa tay che mũi. Gã đại hán thấy vậy, vội chỉ tay về phía bên phải, giải thích: "Gần tiệm chúng tôi mới mở một xưởng làm đậu xị, nên ở đây hay ngửi thấy mùi ấy." Chân Chân đảo mắt, bày ra vẻ mặt đáng thương, ngập ngừng muốn nói lại thôi, đoạn lắp bắp: "Thực ra... ta không phải đến mua thịt... Hoàn cảnh nhà tôi không được tốt lắm... Huynh trưởng và chị dâu chê ta vô dụng, muốn đuổi ta ra khỏi nhà, nên... ta muốn tìm một công việc để làm." Nụ cười trên mặt gã đại hán tắt ngấm, gã nhíu mày nhìn nàng từ đầu đến chân. Chân Chân cụp mắt, cố gắng tỏ ra vẻ hiền lành vô hại. Cuối cùng gã đại hán cũng mở miệng, gọi với vào hậu viện một bà lão chừng năm sáu mươi tuổi, bảo bà ta đưa Chân Chân vào trong tra hỏi. Bà lão hỏi kỹ về thân thế, Chân Chân bịa ra một cái tên giả, thêu dệt nên một câu chuyện bi thảm. Bà lão truy hỏi chi tiết, Chân Chân đối đáp trôi chảy không để lộ sơ hở, thi thoảng có chỗ lấp l.i.ế.m nàng cũng khéo léo lấp l.i.ế.m. Cuối cùng bà lão hỏi nàng có biết nấu nướng không, nàng đáp: "Ngày thường có phụ chị dâu làm dưa muối, cũng biết chút ít." Bà lão hỏi tiếp về phương pháp muối dưa, Chân Chân kể lại các bước làm dưa ở Thích Trân Lâu. Bà lão gật gù bảo không tệ, rồi lấy ra một tờ văn tự, yêu cầu Chân Chân điểm chỉ. Chân Chân cầm lấy định xem kỹ, nàng bỗng sinh lòng cảnh giác, đưa trả lại cho bà lão, nói: "Ta không biết chữ, trên này viết những gì, mong bà bà giải thích giúp cho." Bà lão nói: "Đại ý là, cô vào đây làm công, mọi việc nhìn thấy trong xưởng tuyệt đối không được truyền ra ngoài. Nếu tiết lộ nửa lời, bất kể dùng công hình hay tư hình (tra tấn riêng), đều tùy chủ quán xử lý." Hợp đồng thuê mướn thông thường ở Phố Giang Chân Chân cũng biết sơ qua, hiểu rằng nhiều chủ quán yêu cầu người làm không được tiết lộ bí quyết, nhưng dùng những từ ngữ nghiêm trọng như "công hình, tư hình" để đe dọa thì hầu như chưa từng thấy. Chân Chân càng thêm tò mò, cân nhắc một chút rồi cũng điểm chỉ. Bà lão cất kỹ tờ khế ước, nói miệng mức tiền công cho Chân Chân. Con số đưa ra khiến Chân Chân bất ngờ, cao gấp đôi mức tiền công thông thường của người làm thuê trong thành. Bà lão dẫn Chân Chân vào xưởng. Trong sân chất đầy những sọt đậu xị và mấy thùng nước chứa thứ gì đó sền sệt như bùn. Chân Chân theo bà lão đi sâu vào trong, cảm thấy mùi hôi thối ngày càng nồng nặc, đặc biệt là trong gian phòng chế biến, mùi vị nồng đến mức muốn nôn mửa. Trong phòng kê mấy chiếc nồi lớn, nước sôi sùng sục, trong thứ nước sốt màu nâu đen nổi lên những tảng thịt lớn. Một người phụ nữ khoảng ba mươi tuổi, dáng người mập mạp đứng bên nồi, thi thoảng lại khuấy đáy nồi. Cạnh bếp có mấy chiếc thùng lớn đựng thịt sống đỏ tươi. Chân Chân nghĩ bụng chắc đây là thịt hươu, bèn lại gần cúi xuống nhìn kỹ, nào ngờ một mùi hôi thối xộc thẳng vào mặt, khiến nàng suýt ngất xỉu. Người phụ nữ đang khuấy nồi thấy sắc mặt nàng khác thường, cười bảo: "Làm vài ngày là quen thôi." Bà lão giới thiệu với Chân Chân: "Đây là thím Tôn." Rồi giao Chân Chân cho thím Tôn, dặn nàng chịu khó học hỏi, sau đó bỏ đi trước. Thím Tôn dẫn Chân Chân ra sân, chỉ vào mấy thùng bùn nhão cạnh vại nước, bảo: "Thịt ở trong đó, cô lấy ra rửa sạch rồi đưa vào cho ta." Chân Chân bịt mũi, nhặt một thanh gỗ bên cạnh thò vào thùng thăm dò, vớt lên một tảng thịt. Theo chỉ dẫn của thím Tôn, nàng xách nước đổ vào chậu gỗ, rửa sạch tảng thịt kia. Miếng thịt từ trong đống bùn nhão dần lộ ra màu đỏ tươi roi rói, trông vẫn như thịt tươi, nhưng mùi hôi thối bốc lên nồng nặc, rõ ràng là đã ôi thiu lắm rồi. Chân Chân đưa mắt nhìn quanh, trong sân này thùng gỗ đựng thịt nhiều vô kể, chất đầy cả một góc, trong lòng dấy lên nghi hoặc: Nhà này lấy đâu ra lắm thịt hươu thế? Trung nguyên vốn hiếm hươu, nếu vận chuyển từ xa về đường xá xa xôi, sao không làm thành thịt khô trước rồi vận chuyển, mà lại mang về đây để chế biến đống thịt thối rữa này? Nàng cố nén cơn buồn nôn, cau mày rửa từng tảng thịt thối. Thím Tôn thấy bộ dạng nàng như vậy thì cười: "Đừng thấy bây giờ nó hôi, lát nữa nấu với đậu xị xong, thơm đáo để đấy." Buổi trưa, mẻ thịt đầu tiên nấu xong, quả nhiên mùi thịt chín hòa quyện với mùi đậu xị mặn mòi, lại tạo nên một hương thơm béo ngậy đến ứa nước miếng, ngửi thấy tầng tầng lớp lớp hương vị, đủ biết là nấu rất thấm. Thím Tôn lấy ra một miếng thái lát, đưa cho Chân Chân nếm thử. Chân Chân vội vàng lắc đầu từ chối, nhưng lén quan sát miếng thịt, chỉ thấy thớ thịt giống hệt thịt bò, thịt ngựa, chẳng thấy dấu vết ôi thiu đâu, chắc hẳn ăn vào cũng chẳng nhận ra mùi vị lạ. Chân Chân lấy cớ khẩu vị không tốt, bữa trưa chỉ ăn chút cơm trắng với rau xanh. Thím Tôn ăn rất khỏe, mấy đĩa thức ăn và ba bát cơm bị bà ta quét sạch sành sanh, lại còn lấy ra một bầu rượu gạo, tự rót tự uống. Chân Chân thấy vậy, lập tức sà tới giúp bà ta rót rượu. Đợi bà ta uống xong, mắt lim dim buồn ngủ, nàng lại đ.ấ.m lưng bóp vai cho bà ta. Thím Tôn cười ha hả, khen Chân Chân hiểu chuyện. Chân Chân lân la bắt chuyện, than thở mình trước đây chịu nhiều khổ cực, không ngờ nay tìm được việc này, việc không nặng, gặp người lại tốt, tiền công lại cao, đúng là vớ được vận may. Thím Tôn bảo chủ nhà làm ăn phát đạt, tiệm thịt kiếm được nhiều tiền nên trả công hậu hĩnh. Chân Chân nói: "Tốt thì tốt thật, nhưng thịt hươu là món hiếm, lỡ có lúc đứt hàng, hay vận chuyển đường xa gặp trắc trở gì, chẳng phải ảnh hưởng đến việc buôn bán sao?" Thím Tôn phẩy tay: "Không đâu. Không phải chuyển từ xa tới, thịt này ngay đây cũng có. Cũng chẳng đứt hàng được, hai hôm nay hàng có ít đi một chút, nhưng chủ nhà đã nghĩ ra cách rồi, sắp tới lại nhiều ngay thôi." Chân Chân ngạc nhiên, gặng hỏi vùng này chỗ nào có hươu, thím Tôn lại không đáp, cứ thế mà lăn ra ngủ luôn. Nhân lúc bà ta ngủ say, Chân Chân đi xem xét tứ phía, thấy trong xưởng ngoài thịt ra thì không có đầu hươu hay da hươu gì cả. Cuối cùng, nàng trèo lên tường rào xưởng nhìn ra xung quanh, phát hiện trong sân xưởng làm đậu xị bên cạnh, ngoài đậu xị ra còn phơi từng tấm da ngựa, và trong góc sân còn có một con ngựa c.h.ế.t. Chân Chân kinh hãi, tức khắc hiểu ra chân tướng của "thịt hươu": Chủ quán thu mua ngựa c.h.ế.t, lột da rồi chôn thịt vào bùn nhão để giữ màu đỏ tươi, sau đó hầm nấu, quay nướng giả làm thịt hươu bán. Vì thớ thịt ngựa gần giống thịt hươu, lại được nấu với đậu xị nồng nàn át đi mùi vị gốc, nên người mua không phân biệt được. Chủ quán thuê người nghèo làm công, dùng tiền công cao dụ dỗ, lại dùng tư hình đe dọa, người biết chuyện cũng không dám tố cáo, nên quán mới tồn tại đến bây giờ. Mặt trời sắp lặn, lượng thịt cần hầm hôm nay đã xong, thím Tôn bảo Chân Chân ngủ lại xưởng. Chân Chân viện cớ nhà còn hành lý cần thu dọn, mai sẽ quay lại, rồi cáo từ ra về, vội vã đi đến chỗ buộc ngựa. Thế nhưng ngựa đã không cánh mà bay. Chân Chân đoán chừng là bị chủ quán thịt trộm mất, tạm thời không dám so đo, nhanh chóng rời khỏi nơi này. Đi được hơn ba dặm, từ xa nàng nhìn thấy phía trước có một con ngựa nằm trên bãi cỏ. Một nam t.ử mặc áo dài ngồi bên cạnh xác ngựa, tay cầm roi gõ nhịp vào chiếc vò sành vỡ dưới chân, miệng hát một khúc ca bi ai thê thiết. Lúc ấy, vầng thái dương đỏ rực đang từ từ chìm xuống nơi tận cùng của bãi cỏ, ánh tà dương vàng óm rọi lên tà áo rộng bay trong gió của người nam tử, khiến chàng trông như một hình bóng cắt ra từ vầng sáng. Sau lưng chàng là ánh hoàng hôn sáng rực, gõ vò hát rằng:"Hao Ly là đất nhà ai, Hồn phách tụ lại, dại khôn cũng vầy. Quỷ Bá sao nỡ giục ngay, Mạng người chẳng được chút giây chần chừ..." Chân Chân chậm rãi bước lại gần, nhận ra chàng chính là người mặc áo trắng gặp lúc sáng. Lúc này y phục chàng chỉnh tề, khăn chít đầu mềm mại kiểu Đường được đội ngay ngắn, vẻ mặt nghiêm trang thoáng nét u sầu, khác hẳn vẻ cười nói vui vẻ ban sáng. Còn người bạn áo xanh không hiểu sao lại không có mặt ở đây. Nằm trên cỏ chính là con ngựa có bộ lông ánh kim mà Chân Chân thấy ban ngày, giờ đã tắt thở từ lâu, m.á.u tươi còn rỉ ra từ mũi miệng. Chân Chân nhớ lại lời thím Tôn, đoán chắc là chủ quán đã lén bỏ t.h.u.ố.c ở những nơi cỏ non nước ngọt gần đó khiến ngựa đi qua ăn phải mà c.h.ế.t. Nàng thầm thở dài, đợi chàng trai hát xong một đoạn, bèn lấy tiền trong người ra, ném "leng keng" vào chiếc vò vỡ. Tiếng động làm chàng giật mình, ngẩng đầu nhìn nàng, rồi lại nhìn những đồng tiền trong vò, có chút ngỡ ngàng: "Ta đang hát khúc tiễn biệt cho con ngựa của ta." "Lần trước người ngồi đây gõ vò là một ông lão mù, hát khúc Liên Hoa Lạc cho con ch.ó vừa c.h.ế.t của ông ấy." Chân Chân hờ hững đáp. Chàng trai áo trắng nở nụ cười rạng rỡ, thế mà lại cúi xuống nhặt từng đồng tiền trong vò lên, rồi đứng dậy, vái dài trước Chân Chân: "Vậy thì, đa tạ cô nương." Chân Chân liếc nhìn chân chàng: "Ủng khô rồi à?" Chàng trai đáp: "Chưa, nhưng đi từ sáng đến tối, cũng quen rồi." Chân Chân cười nhạt, dặn dò thêm: "Mau tìm người đốt con ngựa của huynh đi... Nếu có ai đòi mua ngựa, hay khuyên huynh chôn cất nó, tuyệt đối đừng đồng ý." Chàng trai ngạc nhiên: "Tại sao?" Chân Chân quay đầu bỏ đi, buông lại một câu: "Nhớ kỹ lời ta là được, không có hại cho huynh và ngựa của huynh đâu." Vì không còn ngựa, Chân Chân lủi thủi đi bộ gần nửa canh giờ vẫn chưa tới cổng thành. Bóng tối dần bao phủ, cảnh vật xung quanh trở nên mờ ảo, Chân Chân bắt đầu thấy lo lắng. Bỗng sau lưng có tiếng gọi: "Cô nương dừng bước!" Quay đầu lại, thấy chàng trai áo trắng đang hổn hển chạy tới. Chân Chân đợi chàng chạy đến nơi, hỏi: " Lo liệu cho con ngựa xong rồi?" Chàng đáp: "Xong rồi. Cô đi rồi có hai kẻ đến khuyên giải hết lời, nằng nặc đòi mua con ngựa c.h.ế.t của ta, ta không chịu, họ lại bảo giúp ta đào hố chôn, ta cũng không chịu. Đợi họ đi khuất, ta gọi mấy đứa trẻ chăn trâu đến, cho tiền nhờ chúng ôm củi khô tới, châm lửa thiêu ngựa rồi." Chân Chân gật đầu, cũng chẳng buồn để ý đến chàng, tiếp tục bước đi. Chàng trai kia cứ bám gót, truy hỏi sao nàng biết sẽ có người đến mua hoặc đòi chôn ngựa. Chân Chân nhất quyết không đáp, chàng bèn cười bảo: "Chẳng lẽ cô nương là đồng nghiệp của ta, cũng biết tiên tri?" Chân Chân dừng bước, nhìn chàng từ đầu đến chân, ngạc nhiên hỏi: "Huynh làm nghề thầy bói à?" Chàng gật đầu: "Kỳ môn độn giáp, lục hào bát quái đều biết chút ít." Chân Chân bèn hỏi: "Huynh có nhìn ra hôm nay ta gặp chuyện gì không?" Chàng quan sát sắc mặt nàng, trầm ngâm một lát rồi phán: "Hôm nay cô nương đi làm công cho một tiệm thịt." "Ồ?" Chân Chân nhướng mày, "Còn gì nữa?" "Tiệm thịt này không bán thịt tươi, mà bán thịt đã ninh nấu." Chàng tiếp tục giải thích. "Vậy huynh có nhìn ra mục đích chuyến đi này của ta không?" Chân Chân lại hỏi. Chàng trai suy tư một chút, rồi nói: "Hơi khó. Việc này liên quan đến xuất thân gia thế, phải xem tướng tay mới biết được." Chân Chân nghĩ ngợi, cuối cùng không thắng nổi tò mò, bèn đưa tay phải ra trước mặt chàng. Chàng trai nhẹ nhàng đỡ lấy tay nàng, đưa ra chỗ có chút ánh sáng để nhìn kỹ: "Gia cảnh cô nương khá giả, tuy không phải đại phú đại quý, nhưng cơm no áo ấm, trong nhà của nả có dư." "Có nhìn ra nhà ta làm nghề gì không?" Chân Chân bình thản hỏi. Chàng trai lại nhìn tướng tay nàng, cau mày quan sát một hồi, rồi dùng ngón cái lướt qua lòng bàn tay nàng, dường như muốn vuốt phẳng những đường chỉ tay để nhìn rõ hơn. Hành động ấy khiến Chân Chân có cảm giác là lạ, bất giác rụt tay lại. "Ừm," chàng trai dường như không nhận ra sự khác thường của nàng, nghiêm túc nói, "Nếu ta đoán không lầm, phụ mẫu cô nương hẳn là làm nghề buôn bán, xem tướng tay thì có liên quan đến ăn uống, là chủ tửu lầu phải không? Vậy nên chuyến đi này, vốn dĩ ý định của cô nương là đi mua thịt." Chân Chân thực sự kinh ngạc: "Công lực của huynh cũng khá đấy, làm nghề này bao lâu rồi?" Chàng đáp: "Một ngày." Chân Chân sững sờ, ngẫm nghĩ rồi bảo: "Trông huynh giống người đọc sách, chẳng lẽ lộ phí cạn kiệt nên hôm nay mới tạm thời đổi nghề xem tướng tay kiếm sống?" "Không phải," chàng cười, "Nếu không đổi nghề, làm sao chạm được vào tay cô." Mặt Chân Chân nóng bừng như lửa đốt. Đôi mắt chàng sáng lấp lánh, ung dung nhìn nàng, một nụ cười lan từ đáy mắt ra đến khóe môi. Chân Chân vừa thẹn vừa giận, định giật tay ra ngay, nhưng chàng lại càng nắm chặt lấy tay nàng, ghé sát tai nàng nói nhỏ: "Nếu không chạm vào tay cô, làm sao dắt cô chạy được." Chân Chân ngẩn người, nương theo ánh mắt chàng nhìn về phía sau, chỉ thấy một đám đại hán tay lăm lăm gậy gộc đang lao về phía họ. Kẻ dẫn đầu cưỡi con ngựa cao lớn, tuy còn cách khá xa nhưng nhìn y phục lờ mờ cũng nhận ra, chính là gã đại hán canh cửa tiệm thịt hươu. Chàng trai áo trắng không nói thêm lời nào, nắm c.h.ặ.t t.a.y Chân Chân, kéo nàng chạy thục mạng về phía cổng thành. Chương 6 - Cùng Chung Một Ngựa Đúng lúc ấy, bỗng thấy chàng trai áo xanh gặp ban sáng đang phi ngựa từ trong thành ra, phía sau còn dắt theo một con ngựa màu đỏ thẫm, cũng đang phi nước đại theo chàng. "Nhị ca!" Chàng trai áo xanh thấy người áo trắng, phấn khích vẫy tay hét lớn. Chàng trai áo trắng tăng tốc, kéo Chân Chân chạy đến trước mặt người nọ, nhanh chóng cởi dây cương con ngựa đỏ, đỡ Chân Chân lên ngựa, rồi chính mình cũng nhảy phắt lên, ngồi ngay sau lưng nàng, vươn tay nắm lấy dây cương, thúc ngựa phi nước đại. Thế là, Chân Chân cảm giác như mình đang nằm trọn trong vòng tay chàng, vô cùng gượng gạo. Khuỷu tay nàng bất giác huých ra sau, muốn đẩy chàng ra xa một chút. Chàng trai cảm nhận được sự kháng cự của nàng, nghiêm giọng nói: "Tình thế nguy cấp, mong cô nương lượng thứ." Chân Chân nghe tiếng vó ngựa truy đuổi dồn dập phía sau, cũng chẳng dám so đo nhiều, đành chấp nhận cảnh chung ngựa với chàng mà chạy tiếp. Sắp đến cổng thành, đám người tiệm thịt hươu sợ họ vào thành sẽ khó bắt, càng ra sức quất ngựa đuổi theo, khoảng cách với nhóm Chân Chân ngày càng thu hẹp. Chân Chân ngoái lại nhìn, trong lòng lo lắng khôn nguôi. Chợt quay đầu sang phải, nàng thấy một nhóm người khác đang cưỡi ngựa đi tới, người đeo cung tên, kẻ dắt binh khí, có vẻ như đi săn trở về, đang nhập vào đường lớn trước mặt để vào thành. Người dẫn đầu mặc áo xanh lục, dáng người Chân Chân quen thuộc vô cùng, chính là vị hôn phu vừa hủy hôn – Dương Thịnh Lâm. Nhanh trí, Chân Chân lập tức chỉ tay về phía Dương Thịnh Lâm, quay lại hét lớn với đám người đuổi theo: "Quan nhân đến rồi!" "Quan nhân" là cách dân chúng Phố Giang gọi các vị quan lại như huyện lệnh, huyện úy. Quan phục của họ màu xanh lục. Dương Thịnh Lâm lúc này mặc áo màu lục hơi ngả vàng như màu lá non đầu xuân, không giống hẳn màu áo quan lại, nhưng trời đã chạng vạng tối, nhìn từ xa sự khác biệt màu sắc cũng không rõ rệt. Dương Thịnh Lâm nghe tiếng gọi quay đầu lại, mừng rỡ ra mặt: "Chân Chân!" Người của tiệm thịt hươu thấy tùy tùng của người áo lục đều mang theo vũ khí, mà chức trách thường ngày của Huyện úy là quản lý cung thủ, bắt trộm cướp, trừng trị gian ác. Trong lòng có tật giật mình, bọn chúng chưa kịp nhìn kỹ đã đinh ninh đó là Huyện úy, lại nghe Chân Chân gọi "Quan nhân", mà vị "Huyện úy" kia có vẻ cũng quen biết Chân Chân. Gã đại hán không dám nán lại, lập tức ghìm cương quay đầu, ra hiệu cho đám tay chân tẩu thoát. Chân Chân thấy kẻ truy đuổi đã bỏ chạy mới thở phào nhẹ nhõm. Vào đến cổng thành, nàng bảo chàng trai áo trắng xuống ngựa. Chàng cũng không phản đối, mỉm cười nhảy xuống. Chàng trai áo xanh kia cũng xuống ngựa, nhường con bạch mã của mình cho chàng áo trắng cưỡi. Chàng trai áo trắng cảm tạ chàng áo xanh, rồi giới thiệu với Chân Chân: "Đây là biểu đệ của ta. Hôm nay ngựa của ta trúng độc c.h.ế.t, đệ ấy vào thành trước giúp ta mua ngựa." Chân Chân gật đầu, vái chào biểu đệ một cái. Dương Thịnh Lâm thúc ngựa lại gần Chân Chân, cười cầu tài bắt chuyện. Hắn hỏi Chân Chân sao lại ra nông nỗi này, Chân Chân cũng chẳng buồn trả lời, chỉ gắt gỏng hỏi lại: "Bệnh khỏi rồi hả?" Dương Thịnh Lâm đáp: "Bệnh vặt thôi, không có gì đáng ngại, khỏi lâu rồi." Chân Chân liếc nhìn đám người đi cùng hắn, nói: "Chắc là khỏi hẳn rồi, nếu không làm gì có tâm trí đi chơi bời." "Haizz, chuyện trước đây là ta sai, phụ mẫu ta suy nghĩ cũng chưa thấu đáo, gây phiền lòng cho Chân Chân và thím." Dương Thịnh Lâm dè dặt xin lỗi, lại nói, "Đợi ít lâu nữa, khi phụ mẫu ta nguôi giận, ta sẽ lại nhờ họ sang cầu thân." "Thôi xin đừng." Chân Chân cười lạnh, tự mình điều khiển ngựa đi trước, "Ta không muốn tổ chức thêm một bữa tiệc hủy hôn nào nữa đâu." Dương Thịnh Lâm sấn tới đi song song với nàng: "Chân Chân, chuyện này nàng cũng nên nghĩ thoáng ra một chút. Đối với đàn ông, đó chỉ là cách giải khuây thôi, giống như đọc sách lâu ngày, chắc chắn sẽ muốn đi đá cầu, đá vài trận cho giãn gân cốt." Hắn quay sang thấy chàng trai áo trắng cưỡi ngựa theo sát phía sau, đang thích thú nghe họ nói chuyện, bèn thuận miệng hỏi: "Huynh đài, huynh nói xem có phải không? Là đàn ông, chắc chắn sẽ hiểu mà." "Không hiểu." Chàng trai áo trắng chẳng hề nể nang hùa theo hắn, "Ta mỗi ngày chỉ biết cần cù dùi mài kinh sử, đâu biết đá cầu là gì." Dương Thịnh Lâm ngớ người, chợt nhớ ra lúc nãy tên này còn ngồi chung ngựa với Chân Chân, trong lòng dấy lên nghi hoặc, trừng mắt hỏi: "Xin hỏi cao danh quý tánh của huynh đài, tại sao lại đi cùng Chân Chân?" "Ta họ Tống, tên Khải." Chàng trai áo trắng nhướng mày đón lấy ánh mắt dò xét của hắn, mỉm cười đầy ẩn ý, "Chữ 'Khải' trong câu'Khải như sơn thượng tuyết, Hạo nhược vân gian nguyệt. Văn quân hữu lưỡng ý, Cố lai tương quyết tuyệt'(Trắng như tuyết trên núi, sáng tựa trăng trong mây. Nghe chàng có hai lòng, nên đến để đoạn tuyệt)." Chân Chân cắt ngang cuộc đối thoại của họ, yêu cầu mau chóng đến nha môn báo án. Tống Ái lập tức tán thành, không thèm để ý đến Dương Thịnh Lâm nữa, thúc ngựa cùng Chân Chân phi về phía huyện nha. Đến trước cửa nha môn, trời đã tối hẳn, cổng lớn đóng chặt, dưới mái hiên chỉ có hai chiếc đèn lồng cô đơn tỏa ánh sáng nhàn nhạt xuống con đường vắng tanh, không một bóng người. Chân Chân bước lên gõ cửa, hồi lâu mới có một tên lính ra mở, thò đầu nhìn họ, hỏi có việc gì. Chân Chân kể vắn tắt chuyện thịt hươu giả, xin được gặp Huyện lệnh. Tên lính nghe xong chẳng mấy hứng thú, bảo: "Cũng chẳng phải chuyện tày đình gì, nha môn đã đóng cửa, Huyện lệnh không tiếp khách ban đêm đâu. Sáng mai hãy đến." Nói xong định đóng cửa, Chân Chân ngăn lại, đưa mắt nhìn Tống Khải, nói: "Lúc nãy bọn ta bị người của tiệm thịt truy đuổi, chắc hẳn chúng đã đoán ra ta nằm vùng thám thính và báo cho công t.ử này biết. Bọn chúng quay về nhất định sẽ tiêu hủy xác ngựa trong đêm, xóa sạch dấu vết làm giả thịt hươu, nếu để sáng mai mới đến thì chẳng còn bằng chứng đâu." Tên lính chẳng kiên nhẫn nghe nàng giải thích, ngáp một cái dài, nhất quyết đòi đóng cửa. Tống Khải ra hiệu cho biểu đệ tiến lên giữ cửa, tự mình lấy từ trong túi gấm đeo bên hông ra một miếng ngọc bội đưa cho tên lính, ôn tồn nói: "Phiền quan nhân trình vật này cho Huyện lệnh xem qua, nói rằng Tống Khải đến thăm." Miếng ngọc bội hình con cá, chất ngọc sáng trong, chạm khắc vô cùng tinh xảo. Mặt sau dường như có khắc chữ gì đó, tên lính uể oải cầm lấy, vốn định xem cho có lệ, nhưng khi nhìn rõ chữ khắc trên đó thì sững người, giọng điệu bỗng chốc nhẹ nhàng hơn hẳn: "Xin đợi một lát, tiểu nhân đi rồi sẽ quay lại ngay." Tên lính cầm ngọc cá chạy biến vào trong. Khi quay lại không chỉ có một mình, cổng nha môn mở toang, hàng loạt nha lại xách đèn lồng đứng hai bên, còn Huyện lệnh Thôi Ngôn Chi mũ áo chỉnh tề, rảo bước ra nghênh đón. Vừa thấy Tống Khải, ông ta đã vái chào thật sâu: "Không biết khách quý ghé thăm, chưa kịp nghênh đón từ xa, thất kính thất kính! Xin mời Đại..." Tống Khải giơ tay đỡ hờ, ngăn ông ta nói tiếp, mỉm cười: "Tống Khải tình cờ đi ngang qua đây, vốn không muốn làm phiền Huyện lệnh, nhưng ngờ đâu gặp phải một vụ án liên quan đến an nguy ăn uống của dân chúng, nên đành mạo muội đến thăm, mong Huyện lệnh sớm xử lý." Thôi Huyện lệnh mời Tống Khải và nhóm Chân Chân vào nha môn, hỏi rõ ngọn ngành, rồi lập tức phái nha lại trong đêm đến ngoại ô niêm phong tiệm thịt hươu và bắt giữ những kẻ liên quan. Sau đó, Thôi Huyện lệnh mời Tống Khải và biểu đệ nghỉ lại nha môn, lại sai người đưa Chân Chân và Dương Thịnh Lâm về nhà. Nhưng Tống Khải ngỏ ý muốn đích thân đưa Chân Chân về, Dương Thịnh Lâm thấy vậy cũng đòi hộ tống. Chân Chân lườm hắn: "Ngươi mau mau về đi! Cha nương ngươi mà biết ngươi lại gặp ta, chắc chắn sợ ta ám hại ngươi,không biết đang lo lắng thế nào đâu." Với Tống Khải, Chân Chân lại không mấy từ chối, lặng lẽ để hắn đi cùng mình. Ra khỏi nha môn, Chân Chân không nhịn được hỏi Tống Khải: "Huynh làm quan chức gì thế? Tại sao Thôi Huyện lệnh vừa thấy ngọc bội của huynh đã cung kính đến vậy?" Tống Khải xua tay cười: "Quan nhỏ thôi, không đáng nhắc tới." Chân Chân nhớ tới chuyện xem tướng tay, lại hỏi: "Vậy chuyện huynh xem tay bói toán cũng là giả chứ gì? Nhưng làm sao huynh biết được gia thế và mục đích chuyến đi của ta?" "Nửa suy luận nửa đoán mò," Tống Khải đáp, "Da tay cô nương nhìn chung mềm mại mịn màng, thi thoảng có vết chai cũng là do cầm dây cương cưỡi ngựa mà thành, không có dấu vết làm việc nhà vất vả, tính tình lại thẳng thắn mạnh mẽ, chứng tỏ gia cảnh sung túc, không phải người quen cúi đầu khúm núm. Hơn nữa cô nương hành xử khá tùy hứng, một mình cưỡi ngựa ra ngoài, không phải tác phong của tiểu thư khuê các, nên ta đoán cô xuất thân từ gia đình thương nhân giàu có. Chiều tối gặp lại cô, trên người cô vừa thơm lại vừa thối..." Chân Chân nghe đến đây trừng mắt lườm chàng, mắng: "Huynh mới vừa thơm vừa thối!" Tống Khải cười ha hả: "Nói thế này nhé: Y phục cô nương vương mùi thịt rất nồng, chắc chắn là từ nơi chế biến thịt đi ra. Cô lại dặn ta đừng bán ngựa, cũng đừng chôn cất, chắc chắn là sợ ngựa của ta bị người ta lột da xẻ thịt, nên ta đoán chuyến này cô đi thám thính tiệm hầm thịt ngựa. Đã lui tới những nơi như thế, việc buôn bán trong nhà hẳn phải liên quan đến ăn uống rồi. Thế nên ta mới mạnh dạn nói bừa với cô nương một phen." Chân Chân ngẫm nghĩ, lại hỏi: "Thế huynh không sợ ta là người của tiệm thịt ngựa à? Sau đó thấy người đuổi theo, sao huynh biết họ chủ yếu muốn bắt ta chứ không phải huynh?" "Cô đã nhắc ta đừng bán ngựa, rõ ràng không cùng một giuộc với bọn tiệm thịt." Tống nói, "Ta thấy trong đám người đuổi theo có kẻ từng hỏi mua ngựa của ta. Ta tuy không bán ngựa cho họ, nhưng lời lẽ cũng chưa từng đắc tội, ngựa cũng đốt rồi, họ chẳng có lý do gì đuổi bắt ta để chuốc thêm rắc rối. Đa phần là do thấy cô nói chuyện với ta, biết cô đã tiết lộ bí mật của tiệm thịt, nên đuổi theo bắt cô về." Chân Chân nhìn Tống Khải chăm chú, không khỏi cảm thán: "Huynh quả thực rất không ngốc." Tống Khải vái nàng một cái, cười nói: "Cô nương quá khen, hổ thẹn, hổ thẹn." Thấy Chân Chân im lặng, Tống Khải ôn tồn hỏi: "Vậy ta có thể hỏi cô nương vài câu không?" Chân Chân gật đầu, Tống Khải bèn hỏi về gia cảnh nàng, tại sao nhất định phải đi mua thịt hươu. Chân Chân kể hết sự tình, từ ân oán với Di Bối Lâu đến chuyện Hương Ẩm, cuối cùng thở dài: "Vốn tưởng mua được thịt hươu làm món chính sẽ khiến các sĩ t.ử kinh ngạc, ai ngờ thịt hươu lại là đồ giả, cũng chẳng biết tìm đâu ra nguyên liệu quý hiếm để thắng Di Bối Lâu trận này nữa." Tống Khải hỏi: "Tại sao cô nương nhất định phải tìm nguyên liệu quý hiếm?" Chân Chân đáp: "Nguyên liệu quý hiếm mới gây ấn tượng sâu sắc chứ, giống như các món trong tiệc hủy hôn của ta, tuyển chọn kỹ lưỡng, chấn động cả Phố Giang. Tiếc là nương không cho ta dùng thực đơn đó nữa... Dùng nguyên liệu quý, còn thể hiện được chữ 'Trân' trong tên Thích Trân Lâu nhà ta." "Cái tên Thích Trân Lâu rất hay, ai đặt vậy?" Tống Khải hỏi. "Chắc là nương ta." Chân Chân nói, "Ta cũng không chắc, từ khi ta hiểu chuyện thì tửu lâu đã có tên này rồi." Tống Khải lại hỏi: "Vậy cô có biết ý nghĩa của cái tên này không?" Chân Chân lắc đầu. Tống Khải nói: "Nếu ta đoán không lầm, trong đó ẩn chứa một điển cố: Thái Tông hoàng đế triều ta từng hỏi Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tô Dịch Giản lúc bấy giờ: 'Trong các món ăn, thứ gì là trân quý nhất?' Tô Dịch Giản đáp: 'Thực vô định vị, thích khẩu giả trân' (Ăn uống không có vị cố định, món nào vừa miệng thì là trân quý). Đối với thần, nước dưa muối là ngon nhất.' Thái Tông cười lớn, hỏi nguyên do. Tô Dịch Giản tâu: 'Có một đêm trời rất lạnh, thần ôm lò sưởi uống rượu, say quá ngủ vùi trong chăn dày. Nửa đêm tỉnh dậy, khát nước vô cùng. Nương theo ánh trăng ra giữa sân, thấy trong đống tuyết tàn có một vò nước dưa, cũng chẳng kịp gọi thư đồng, vốc tuyết rửa tay rồi uống liền mấy bát. Nước dưa mát lạnh thanh ngọt, vừa hay giải được cái nóng trong người, lúc đó chỉ cảm thấy dù là gan rồng mỡ phượng của bếp trời cũng chẳng ngon bằng.' Sau này có người hỏi gia nhân của Tô Dịch Giản nước dưa ấy làm thế nào, gia nhân đáp: 'Chẳng qua là nước luộc rau ngâm rau thôi.' Cho nên, người đặt tên Thích Trân Lâu, chắc chắn tán đồng đạo lý 'Thực vô định vị, thích khẩu giả trân' này. Món ăn sở dĩ trân quý, không hẳn vì nguyên liệu hiếm có, mà là vì nó hợp khẩu vị thực khách lúc đó." Chân Chân trầm ngâm suy nghĩ. Hai người chẳng hay biết đã đi qua mấy con phố, Tống Khải thấy biển hiệu Thích Trân Lâu hiện ra không xa, bèn ghìm cương dừng ngựa, mỉm cười nói với Chân Chân: "Ta có việc công vụ trong người, ngày mai phải rời Phố Giang rồi. Còn một câu hỏi cuối, mong cô nương giải đáp." Chân Chân nói: "Huynh nói đi." Ánh mắt Tống Khải mang theo ý cười lướt qua mặt Chân Chân: "Vừa nãy cùng ta cưỡi chung một ngựa, cảm giác thế nào?" Mặt Chân Chân ửng hồng, lườm chàng một cái: "Cảm giác rất chật chội. Ta chưa từng cùng ai cưỡi chung một ngựa, sau này cũng sẽ không như thế nữa." "Thật khéo, ta cũng chưa từng cùng ai cưỡi chung một ngựa." Tống Khải cười đáp, "Vậy cả đời này chúng ta đừng làm thế với người khác nữa nhé." Chương 7 - Nương Thật Đẹp Có lẽ sau một ngày vất vả lại bị truy đuổi, toát mồ hôi rồi trúng gió đêm, hôm sau Chân Chân thấy toàn thân khó chịu, đầu đau như búa bổ. Nàng nằm bẹp dí trên giường, chẳng thiết ăn uống, bữa sáng bữa trưa Phượng Tiên và mọi người làm cho đều không động đũa, cứ để trong phòng suốt cả buổi. Quá trưa, Thu Nương lo xong việc trong quán liền vào thăm Chân Chân. Thấy con gái chưa ăn gì, bà xót xa vô cùng, sờ trán con nóng hầm hập, hỏi con muốn ăn gì, "Dù là thịt rồng gan phượng, nương cũng đi tìm về cho con." Chân Chân nghĩ ngợi rồi nói: "Nương, con muốn ăn cháo trắng nương nấu, ăn kèm với phật thủ, thanh yên và lê ngâm tương của nương làm." Thu Nương nấu cháo xong, lấy từ vại dưa ra mấy món ăn kèm thái nhỏ, rất nhanh đã bưng đến trước mặt Chân Chân. Chân Chân ăn hết dưới ánh mắt trìu mến của nương mình, thở dài thỏa mãn: "Vẫn là cơm nương nấu ngon nhất. Đều là những món đơn giản, nhưng cháo nương nấu sánh mịn dẻo thơm hơn người khác, dưa muối cũng mặn ngọt vừa vặn, không như người khác làm, không mặn thì nhạt, hoặc có mùi lạ. Mấy ngày ở Lâm An, con đi ăn ở các tửu lầu lớn, mới đầu thấy lạ miệng, nhưng ăn mấy ngày liền lại nhớ quay quắt hương vị cơm nương nấu, sơn hào hải vị bao nhiêu cũng thấy nhạt nhẽo, chỉ hận không thể bay ngay về bên nương, húp vội bát nước canh hoành thánh cũng thấy thơm." Thu Nương cười: "Đó là vì con đã quen với hương vị cơm nhà. Lưỡi người ta có ký ức, từ nhỏ ăn quen món gì, hương vị đó sẽ khắc sâu vào vị giác, khó mà xóa nhòa. Những lúc không biết ăn gì, hương vị mà lưỡi ghi nhớ sẽ ùa về, khiến con nhớ nhung da diết." Chân Chân gật đầu: "Hương vị mà lưỡi ghi nhớ từ bé, chính là hương vị hợp với con nhất... Thực vô định vị, thích khẩu giả trân." Dòng suy nghĩ miên man, nàng chợt nhớ đến câu nói của Tống Khải, buột miệng nói ra. Thu Nương sững người, vội hỏi: "Con vừa nói gì?" Chân Chân nhắc lại một lần, giải thích: "Câu này là một công t.ử con mới quen hôm qua nói cho con biết." Rồi nàng kể lại chuyện gặp gỡ Tống Khải và giai thoại về Tô Dịch Giản cho nương mình nghe, hỏi tiếp: "Vậy nên tên quán Thích Trân Lâu nhà mình là từ điển cố này mà ra đúng không nương? Tên này là nương đặt ạ? Xem ra nương cũng là người uyên bác lắm nhé." "Không phải," trái với dự đoán của Chân Chân, Thu Nương phủ nhận, "Nương chỉ là một mụ bếp, biết gì mấy điển cố văn chương ấy. Sở dĩ đặt tên 'Thích Trân' là vì nương coi con như trân bảo của nương, hồi đó nấu ăn cũng chỉ cốt sao cho vừa miệng con, nên mới đặt tên như vậy." "Ồ," Chân Chân bỗng thấy hơi hụt hẫng, "Vậy lần sau gặp lại Tống Ái, con sẽ bảo huynh ấy." "Không cần đâu." Thu Nương dường như chẳng có thiện cảm gì với Tống Ái, "Công t.ử bột kia đã không chịu nói rõ lai lịch với con, chứng tỏ hắn đối với con cũng chỉ là vui chơi qua đường, chẳng thật tâm đâu. Huống hồ nương con là đầu bếp, bị người đời coi nhẹ, địa vị còn không bằng thợ may, người diễn trò, thợ giặt, con cũng đừng nuôi mộng trèo cao vào cửa nhà quyền quý. Tên Tống Ái kia sau này nếu có đến tìm con, con cũng đừng gặp nữa, kẻo sau này lại tổn thương chính mình." Chân Chân xua tay lia lịa: "Con với huynh ấy chỉ là bèo nước gặp nhau, thấy huynh ấy thú vị nên nói chuyện vài câu thôi, không có ý gì khác đâu. Chuyện gặp lại con cũng chỉ thuận miệng nói thế, chứ không mong chờ gì đâu." Thu Nương gật đầu, bảo nàng đừng nói nhiều nữa, lo nghỉ ngơi cho khỏe. Chân Chân ngoan ngoãn nằm xuống, kéo chăn trùm kín người, chỉ thò cái đầu ra, đôi mắt long lanh nhìn nương, lại nói: "Nương ơi, con xin nương đồng ý với con một chuyện được không?" Thu Nương hỏi chuyện gì, Chân Chân đáp: "Con khỏi bệnh nương dạy con nấu ăn nhé. Con nghĩ kỹ rồi, Hương Ẩm tức là tiệc rượu quê hương, sơn hào hải vị không quan trọng, quan trọng là hương vị quê nhà. Con muốn bày ra một bàn tiệc mang đậm hương vị Phố Giang." Bao năm nay Thu Nương dốc lòng dạy dỗ các nữ đệ tử, nhưng lại không muốn Chân Chân bước vào bếp, chẳng mong con trở thành một đầu bếp. Lần này chuẩn bị Hương Ẩm, bà cũng dặn Chân Chân chỉ cần sai bảo các sư tỷ làm là được, bản thân không cần động tay. Nhưng Chân Chân chủ động xin đứng ra lo liệu tiệc Hương Ẩm, nói rằng mình phải hiểu rõ quy trình chế biến món ăn thì mới có thể trình bày ý nghĩa món ăn cho thực khách, mà không có cách tìm hiểu nào tốt hơn là tự tay làm. Chân Chân tỏ ra kiên quyết chưa từng thấy, sau khi khỏi bệnh liền lẽo đẽo theo chân Thu Nương. Thu Nương muối dưa, nàng canh vại đưa rau; Thu Nương ướp tôm, nàng ôm bình chờ trét bùn niêm phong; Thu Nương phơi cá, nàng tranh phần rửa cá trắm, cá chép. Ban đầu Thu Nương im lặng, mặc kệ Chân Chân giương mắt nhìn, nhất định không mở miệng dạy, cuối cùng thấy Chân Chân rửa cá cứ tuột tay mãi vì cá trơn, bà thở dài: "Con nhỏ vài giọt dầu sống vào rồi hãy rửa, cá sẽ hết nhớt." Chân Chân làm theo, quả nhiên hiệu nghiệm, mừng rỡ rối rít cảm ơn nương. Thu Nương bắt đầu dạy nàng vài kỹ thuật: Rửa dạ dày lợn dùng bột mì, rửa ruột dùng đường cát; luộc ngỗng thả vài lá anh đào vào nước thì thịt ngỗng mau mềm; ướp cua ngâm rượu thấy rượu hơi chua thì lấy một đấu đậu đỏ rang cháy, cho vào túi vải thả vào vò rượu để khôi phục vị rượu... Buổi tối Thu Nương hấp cá cháy (cá Thiều), Chân Chân thấy bà làm cá bỏ ruột nhưng không đ.á.n.h vảy, dùng vải lau sạch máu, giã nhỏ hoa tiêu, sa nhân, thêm tương, nước, rượu và hành, trộn đều với cá trong nồi, rồi cứ thế để cả vảy mà hấp, bèn hỏi tại sao không đ.á.n.h vảy. Thu Nương đáp: "Mỡ cá cháy đọng ở trong vảy, nếu đ.á.n.h vảy rồi mới hấp thì mỡ chảy mất, ảnh hưởng vị ngon. Để vảy hấp, mỡ sẽ thấm vào thịt cá, khi ăn gỡ bỏ vảy đi, nếm miếng thịt cá sẽ thấy béo ngậy, thơm ngon vô cùng." Chân Chân thán phục: "Tay nghề nương tinh diệu, biết bao nhiêu bí quyết, chắc hẳn nương học nấu nướng từ nhỏ phải không ạ?" Thu Nương lắc đầu: "Nương gặp cha con rồi mới bắt đầu học nấu ăn đấy chứ. Vị giác ông ấy tinh tường lắm, nhận ra được những thay đổi nhỏ nhất của món ăn, chẳng dễ lừa đâu... Có con rồi lại càng cả ngày lo nghĩ, phải làm món gì hai cha con mới chịu ăn..." Vừa nói, bà vừa chìm đắm trong hồi ức năm xưa, bất giác nở nụ cười dịu dàng. Bà rất ít khi chủ động nhắc đến cha của Chân Chân. Chân Chân tò mò, hỏi tới: "Phụ thân là người thế nào ạ? Làm nghề gì? Trông có đẹp không nương?" Thu Nương giật mình, nụ cười tắt ngấm, khôi phục vẻ điềm tĩnh thường ngày, nhìn về phía chõ hấp, lảng sang chuyện khác: "Cá sắp chín rồi, để nương đi xem." Chân Chân nhìn bóng dáng tất bật của nương bên bếp lửa, cảm thấy dù suốt ngày quanh quẩn trong khói bếp, khói lửa thế gian vẫn chẳng thể che lấp được vẻ đẹp kinh người của bà. Thu Nương đã ngoài bốn mươi, nhưng vóc dáng vẫn thon thả, cổ cao thanh tú, eo nhỏ nhắn, nhìn từ phía sau vẫn như thiếu nữ. Dung mạo bà cho đến giờ ở Phố Giang cũng ít ai sánh kịp, ngày thường bà cũng biết cách ăn vận, dù đứng bếp cũng quần áo chỉnh tề, trang điểm nhã nhặn, tóc búi gọn gàng, dùng khăn lụa buộc tóc thắt nút tinh xảo. Khác hẳn những mụ bếp sần sùi thô kệch, khí chất bà cao sang, cử chỉ ung dung, tựa như một con hạc tao nhã. Chân Chân soi mặt mình vào vại nước, buồn bã nhận thấy sự khác biệt về nhan sắc với nương. Tuy ở Phố Giang nàng cũng được coi là mỹ nhân, nhưng đứng cạnh nương chỉ thấy mình như món hàng khuyến mãi khi nương mua trăm cân hành vậy. Thế nên nàng rất muốn biết mặt cha.Ừm, nhan sắc của mình chắc là bị phụ thân kéo xuống rồi.Nàng bĩu môi thầm nghĩ. Nghe nói phụ thân Chân Chân qua đời vì bệnh khi nàng mới lên ba. Sau đó Thu Nương mới đưa Chân Chân đến Phố Giang, nên ở đây chẳng ai biết phụ thân nàng là ai. Ấn tượng của Chân Chân về cha chỉ là một bóng hình mờ nhạt, biết cầm bút viết chữ, người vương mùi thuốc, còn mặt mũi ra sao thì chịu c.h.ế.t không nhớ nổi. Tình cảm giống như tình cha, Chân Chân lại cảm nhận được từ Bồ bá. Bồ bá bá lớn hơn Thu Nương sáu bảy tuổi, vốn là thầy đồ ở Phố Giang, góa vợ nhiều năm không đi bước nữa. Thu Nương đến Phố Giang mở quán, là hàng xóm với Bồ bá bá. Bá thường ngày hay giúp đỡ hai nương con, thấy Thu Nương không thạo sổ sách bèn chủ động giúp, thấm thoát đã hơn mười năm. Bồ bá bá trầm ổn hiền lành, tướng mạo cũng không tệ, có người mai mối cho Thu Nương, nhưng bà nói muốn thủ tiết, khéo léo từ chối. Bà từ chối không chỉ Bồ bá bá mà còn rất nhiều người đến cầu thân, trong đó có cả những phú thương muốn nạp bà làm thiếp. Bồ bá tuy bị từ chối nhưng vẫn đối tốt với Thu Nương, thương yêu Chân Chân như con đẻ. Thu Nương ban đầu tưởng ông có ý đồ gì, nhưng thấy ông chăm sóc nương con bà bao năm như một mà chẳng cầu báo đáp, dần dần cũng yên tâm, chuyện gì cũng bàn bạc với ông. Hai người cư xử như anh em, cũng có lời ra tiếng vào, nhưng họ cây ngay không sợ c.h.ế.t đứng, quang minh chính đại nên tin đồn tự khắc tan biến. "Nhưng muội thấy Bồ bá bá vẫn yêu sư nương đấy." Tương Diệp đang làm tương đậu nước ở sân, khuấy nước muối và đậu nành đã ngâm rượu ngọt Kim Hoa bốn mươi chín ngày, phân tích với các chị em, "Mười mấy năm nay, bao nhiêu lần sư nương muốn tăng lương, bá ấy đều gạt đi, bảo một mình dùng không hết. Sư nương mua căn nhà lớn tặng bá, bá chối không được đành nhận, nhưng lại lén sang tên cho Chân Chân. Các tỷ nói xem, nếu không phải bá ấy vẫn muốn làm cha Chân Chân thì là vì cái gì?" Phù Cừ vừa nhặt tiểu hồi hương, thảo quả, quan quế, mộc hương, trần bì, hoa tiêu, gừng khô và hạnh nhân, vừa hỏi Tương Diệp: "Muội nói xem, sư nương có động lòng không?" "Nếu động lòng thì mười năm trước đã động lòng rồi." Tương Diệp nhận lấy hương liệu Phù Cừ đã nhặt từ tay Sơ Anh, lần lượt cho vào vại, tiếp tục khuấy, "Họ đều là người tốt, nhưng không hợp nhau. Sư nương giống như con cá cháy trắng bạc, cần nước giếng trong để hấp, còn Bồ bá bá như tương đậu ủ lâu năm, tuy ngửi thì nồng nhưng ăn thì thơm, hợp với rau dưa thịt thà, duy chỉ không hợp với cá cháy." Các chị em nghe xong đều cười rộ lên. "Các cô, các cô mới là tương đậu thối!" Bồ bá bá không biết từ đâu chui ra, tức đến mức ngón tay run rẩy chỉ vào Tương Diệp, muốn mắng mà lưỡi líu lại không nói nên lời. Sơ Anh, Ngọc Trâm thấy cảnh đó lại được một trận cười vỡ bụng. "Các cô, các cô đều là tương đậu cả!" Bồ bá giậm chân phất tay áo, hậm hực quay người bỏ đi, bàn tay kia vẫn nắm chặt tập vở tập viết chuẩn bị cho Chân Chân. Chương 8 - Hương Yến (Thượng) Huyện lệnh quyết định tổ chức tiệc bình phẩm món ăn của Di Bối Lâu và Thích Trân Lâu ngay tại nha môn, yêu cầu họ chọn nguyên liệu sẵn có, chủ yếu phô diễn trù nghệ, không nhất thiết phải theo thực đơn mùa đông. Hôm ấy, Thôi Huyện lệnh mời chín vị cử nhân đến dự tiệc tham gia bình phẩm, và trao quyền quyết định cho họ. Mỗi tuần rượu sẽ dâng hai món, hai tửu lầu luân phiên trình bày, cuối tiệc các cử nhân sẽ bày tỏ ý kiến, chọn ra tửu lầu mình ưng ý, bên nào nhiều phiếu hơn sẽ thắng. Khi dâng món, mỗi bên đều có người thuyết trình về cách chế biến và ý tưởng sáng tạo. Chân Chân nghe nói Di Bối Lâu để Dương Thịnh Lâm đảm nhận vai trò này, bèn xin nương cho mình xuất trận. Thu Nương không lay chuyển được con gái, đành miễn cưỡng đồng ý. Trước khi nhập tiệc, hai nhà dâng đĩa khai vị gồm hoa quả và mứt theo mùa. Tuần rượu thứ nhất do Di Bối Lâu dâng món, gồm một món tên là "Xuân Lan Thu Cúc" làm từ hạt tía tô và hoa quả, cùng một món nấm ngọc nấu rượu. Món "Xuân Lan Thu Cúc" dùng lê, cam và hạt lựu trắng gọi là "ngọc lựu". "Hạt tía tô trước tiên ngâm nước mơ muối, trộn với đường cát trắng, rồi trộn cùng lê thái sợi, tép cam, hạt lựu trắng. Lê và lựu màu trắng tựa hoa lan, tép cam vàng óm như hoa cúc, nên gọi là Xuân Lan Thu Cúc." Dương Thịnh Lâm giải thích, mời Huyện lệnh và các cử nhân nếm thử. Nước mơ muối có vị mặn chua, trộn với rau quả mới cắt giúp giữ màu và tăng hương vị. Hạt tía tô nhỏ li ti rắc lên hoa quả trông như hạt vừng. Món Xuân Lan Thu Cúc vàng vàng trắng trắng mọng nước rất đẹp mắt, bên trên phủ lớp đường phấn. Mọi người nếm thử, khi nhai hạt tía tô vỡ ra, hương tía tô thơm lừng lan tỏa trong khoang miệng, nước quả hòa quyện với vị mặn chua của nước mơ, thanh mát mà lại cảm nhận được vị béo bùi của dầu tía tô. So với ăn hoa quả tươi còn k*ch th*ch vị giác hơn, thực khách gật đầu tấm tắc, cảm thấy đầu lưỡi như được đ.á.n.h thức. Thấy mọi người khen ngợi, Dương Thịnh Lâm hớn hở nói tiếp: " Thạch Quán thời Đường có thơ rằng:'Giảng trướng thanh khâm đồng nhật quý, Xuân lan thu cúc dị thời vinh'(Màn đỏ áo xanh cùng ngày quý, Xuân lan thu cúc khác giờ tươi). Màn đỏ ví với sư môn, áo xanh chỉ học trò, hôm nay các vị cống sinh cùng Huyện lệnh tề tựu một đường, xuân lan thu cúc mỗi loài một vẻ đẹp, lại hợp với câu nói màn đỏ áo xanh, thưởng thức món này chẳng phải rất hợp cảnh sao?" Các cống sinh rõ ràng rất thích cách giải thích này, khen lấy khen để, Thôi Huyện lệnh cũng vuốt râu cười gật đầu. Món nấm ngọc nấu rượu dùng nấm tươi đúng mùa, dài chừng ba tấc, màu trắng xám, sạch sẽ đáng yêu, đựng trong đĩa bạc, bên cạnh bày măng trúc xanh Lâm Chương, trình bày tinh xảo. "Nấm ngọc này mọc trên gỗ mục, mang hơi thở núi rừng. Trước tiên luộc qua nước, chín năm phần thì đổi sang nấu bằng rượu ngon." Dương Thịnh Lâm giải thích, "Nghe nói trong cung cũng hay dùng nấm ngọc, nướng bằng bơ, hương vị tất nhiên không tồi, nhưng lén nghĩ không bằng dùng rượu khử tính hàn, càng làm dậy lên vị nguyên bản." Mọi người nếm thử nấm, cũng khen thanh hương sảng khoái. Dương Thịnh Lâm bồi thêm: "Nam Phong tiên sinh Tăng Củng có thơ:'Hương soạn vũ dư thu bạch khuân, Khách tôn thu hậu đối hồng anh'(Món quê mưa tạnh thu nấm trắng, Rượu khách thu về đối hoa đỏ). Đủ thấy dùng nấm vào tiệc Hương Ẩm là rất thích hợp." Tăng Củng văn tài xuất chúng, lại là danh thần một thời. Các cống sinh nghe Dương Thịnh Lâm dẫn thơ ông, nhìn món nấm ngọc càng thấy thanh tao, hương vị dường như cũng ngon hơn vài phần. Thưởng thức xong hai món, mọi người nâng ly chúc tụng, chuyển sang tuần rượu thứ hai. Dương Thịnh Lâm lui sang một bên, cười mỉm nhìn Chân Chân ở đối diện, chờ xem nàng đối phó thế nào. Chân Chân ung dung gật đầu ra hiệu, người hầu bưng lên hai món của Thích Trân Lâu. Khác với đĩa bạc của Di Bối Lâu, hai món này đựng trong hộp sơn mài, hình thức bình thường, một món là gỏi cua sống, một món trông như dưa chuột muối thái lát. Chân Chân chưa vội giải thích, mời mọi người nếm gỏi cua trước. Gỏi cua dùng cua sông phổ biến ở Giang Nam, hình thoi, được băm nhỏ, mỗi miếng chỉ bằng nửa đốt ngón tay, miếng nào cũng dính thịt cua sống trong veo như cùi nhãn hoặc gạch cua đỏ cam, trộn với nhiều loại gia vị, mắt thường thấy được gừng hành băm. Gỏi cua là món thường thấy ở địa phương, tửu lầu nào cũng có, bà nội trợ nào cũng biết làm. Các cống sinh chẳng thấy lạ lẫm, gắp đại một miếng bỏ vào miệng, dần dần mới nhận ra hương vị đặc biệt. Gỏi cua mềm mại mát lạnh, thịt giấu trong vỏ, ngậm vào miệng khẽ m*t một cái, phần thịt bán lỏng liền thoát xác trôi tuột trên đầu lưỡi. Gỏi cua thường dùng cam, giấm, xì dầu, gừng hành ướp, nhưng món của Thích Trân Lâu lại nhiều hơn vài tầng hương vị, vị mặn chua cùng các loại hương liệu lướt qua khoang miệng, sau đó là vị ngọt thanh đặc trưng của thủy sản đọng lại nơi cuống lưỡi. Thực khách nếm xong nhìn nhau, ánh mắt lộ vẻ ngạc nhiên vui sướng. Chân Chân lúc này mới nói: "Món gỏi cua này nương tôi đã cải biến, dựa trên khẩu vị Phố Giang nhưng gia vị không hoàn toàn giống. Cua sống ướp đá khoảng nửa canh giờ, lấy ra băm nhỏ, đem thảo quả, hồi hương, sa nhân, hoa tiêu, hồ tiêu, thủy khương (gừng nước) nghiền thành bột, trước đó nấu dầu vừng để nguội, sau đó thêm hành, muối, giấm cùng gia vị đã nghiền trộn với cua, ăn được ngay." Các cử nhân vỡ lẽ, Chân Chân nói tiếp: "Mười vị gia vị này bổ trợ cho nhau, khử mùi tanh của cua sống, lại làm tăng hương thơm gấp bội, thời gian ướp không lâu nên thịt cua vừa thấm đẫm hương liệu, lại không bị ướp quá kỹ khiến vị gia vị quá mặn quá nồng át mất vị tươi ngon của cua sông." Thôi Huyện lệnh cũng cười: "Gỏi cua là món nhà quê, cách làm của Thích Trân Lâu vừa giữ được phong vị quê hương, lại có sự biến tấu, tăng hương dậy vị, xứng gọi là món ngon." Chân Chân mỉm cười cảm tạ. Huyện lệnh lại hỏi: "Vừa rồi hai món của Di Bối Lâu đều có thơ ca tô điểm, món gỏi cua này có câu nào ngâm vịnh chăng?" Chân Chân trầm ngâm, nhất thời không đáp được. Trong tiệc bỗng có người lên tiếng thay nàng: "Cách làm gỏi cua này giống món 'Cua Rửa Tay' ở Biện Kinh, đều là rửa tay xong ăn ngay. Xưa kia danh thần triều Thái Tông là Tô Dịch Giản sau khi nếm Cua Rửa Tay từng làm thơ:'T.ử nhiêm sương giải xác như chỉ, Bạc đào tác nhục hổ phách tủy'(Cua sương râu tía vỏ như giấy, Thịt tựa nho tươi tủy phách vàng). Nay ta thấy món gỏi cua này vỏ cũng mỏng như giấy, thịt cua như nho như hổ phách, rất hợp với ý thơ của Tô Tham chính." Chân Chân quay sang nhìn, thấy người nọ chừng hơn hai mươi tuổi, mặc y phục giống các cống sinh, da hơi ngăm đen, trán vuông cằm rộng, khí vũ hiên ngang. Thấy nàng nhìn mình, chàng khẽ mỉm cười, gật đầu chào nàng. Tô Dịch Giản là Trạng nguyên triều Thái Tông, làm quan đến chức Tham tri chính sự, các cử nhân nghe tên ông đều rất thích thú, lập tức cho rằng ăn gỏi cua cũng là điềm lành, nhao nhao hùa theo, hết lời khen ngợi món ăn. Lúc này chỉ có Dương Thịnh Lâm là không cười. Hắn nhìn chằm chằm vị sĩ t.ử kia, trong mắt thoáng vẻ nghi hoặc. Chân Chân mời mọi người nếm món tiếp theo: "Đây là dưa nhồi bí truyền của Thích Trân Lâu. Chọn dưa chuột già tự nhiên trên giàn, bổ đôi, bỏ ruột, ướp muối sơ cho ra nước, rồi dùng gừng, trần bì, bạc hà, tía tô thái sợi, thêm hồi hương, sa nhân rang, đường cát trộn đều, nhồi vào trong dưa, dùng chỉ buộc chặt, thả vào vại nước tương ngâm năm sáu ngày, lấy ra phơi khô, khi ăn thái lát." Mọi người nếm thử, thấy thịt dưa chắc, dẻo mà vẫn giòn, mặn ngọt đan xen, lại có vị thanh mát cay nồng của trần bì, bạc hà, gừng... cảm giác giống như món gỏi cua, vừa quen thuộc lại vừa mới lạ. "Trong bữa cơm thường ngày của các vị cống sinh chắc hẳn đều có vài món dưa muối nhỉ?" Chân Chân nói, "Thích Trân Lâu chúng tôi khởi nghiệp từ bán dưa muối, có được ngày hôm nay cũng là nhờ bà con lối xóm quen dùng dưa muối ăn cơm ủng hộ. Tôi từng xa nhà nhiều ngày, đối diện với sơn hào hải vị nơi đất khách lại thấy nhạt miệng, cứ nhớ mãi món ăn quê nhà, trong đó có món dưa nhồi này. Dưa muối giúp khai vị, lại để được lâu. Sau này các vị bảng vàng đề danh, rời quê làm quan, chi bằng mang theo một ít, trong đó chứa đựng hương vị quê hương, khi nhớ nhà lấy ra nếm thử, sẽ thấy cố hương hồn kề mộng mị chẳng hề xa xôi." Chương 9 - Hương Yến (Trung) Tuần rượu tiếp theo, Di Bối Lâu dâng lên món Đậu phụ Đông Pha và một món tên là "Vịt Chay Hấp". "Tả Truyện có câu:'Nhục thực giả bỉ, vị năng viễn mưu'(Kẻ ăn thịt thì thô thiển, không thể mưu tính chuyện xa). Từ xưa người hiền thường ăn chay, vừa để sáng đức tẩy trần, vừa tịnh tâm dưỡng sinh. Nghe nói Quan gia và Hoàng Thái hậu hiện nay cũng chuộng đồ chay, ngự thiện ít dùng mặn, đặc biệt kiêng thịt lợn. Vì thế lần này chúng tôi chuẩn bị thực đơn chủ yếu là món chay, không dùng thịt đỏ, chỉ có một món mặn là cá." Dương Thịnh Lâm ra hiệu cho mọi người nhìn Đậu phụ Đông Pha, "Đông Pha tiên sinh từng làm ca từ nhắc đến đậu phụ:'Chử đậu tác nhũ chi vi tô, cao thiêu du chúc châm mật tửu'(Nấu đậu làm sữa béo như bơ, thắp đèn dầu cao rót rượu mật). Món Đậu phụ Đông Pha này được chế biến theo bí phương của Đông Pha tiên sinh." Đậu phụ được chiên qua dầu hành, lớp vỏ vàng nhạt, xắn ra bên trong trắng ngần mịn màng. Bên cạnh có đĩa nước chấm màu nâu, mọi người chấm ăn thử, thấy nước chấm khác lạ, có mùi thơm hạt khô đặc biệt. Dương Thịnh Lâm giải thích: "Chúng tôi chọn hạt hương phi thượng hạng, nghiền nhỏ nấu cùng nước tương nên có hương vị này." Mọi người khen ngợi sự sáng tạo này. Lại nhìn món Vịt Chay Hấp, hóa ra là bầu hấp chín. Dương Thịnh Lâm mỉm cười kể điển tích món này, quả nhiên lại liên quan đến sĩ đại phu: "Hàn lâm học sĩ đời Đường là Trịnh Dư Khánh có lần đãi tiệc thân hữu, trước mặt khách dặn dò gia nhân: 'Hầm nhừ bỏ lông, đừng bẻ gãy cổ.' Khách nghe cứ tưởng là ngỗng vịt, đợi mãi, không ngờ gia nhân bưng lên mỗi người một quả bầu hấp." Cả bàn tiệc cười ồ. Dương Thịnh Lâm nói tiếp: "Nhưng xin chớ coi thường món bầu hấp này. Bầu vỏ xanh ruột trắng, giống như sĩ đại phu thanh liêm, một đời trong sạch. Bầu này tiêu thũng, nhuận da. Hấp thanh đạm, thịt bầu mềm mịn, hơi ngọt, giữa bàn tiệc thịnh soạn ăn vào thấy thanh mát vô cùng. Nghe nói các thế gia vọng tộc ở kinh thành cũng thường dùng món Vịt Chay Hấp này." Các cống sinh lại gật gù tán thưởng. Hết tuần rượu, có người tò mò hỏi Chân Chân tiếp theo Thích Trân Lâu sẽ dâng món gì đối lại, Chân Chân cười nhạt: "Di Bối Lâu món nào cũng thanh đạm, vậy chúng tôi xin dâng vài món không thanh đạm lắm." Lát sau, hai món được bưng lên, là thịt lợn thái mỏng chấm nước đậu xị, và một đĩa rau trộn thập cẩm rõ ràng đã qua dầu mỡ mắm muối. Chân Chân nhìn các cống sinh có vẻ ngỡ ngàng khi thấy thịt lợn, nói: "Vừa rồi Dương công t.ử bảo kẻ ăn thịt thì thô thiển. Nhưng Khổng T.ử từng dạy:'Thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế'(Gạo không chê trắng, thịt thái không chê mỏng). Xem ra đến Thánh nhân Khổng phu t.ử cũng ăn thịt, chẳng những ăn mà còn phải ăn thịt ngon, chế biến tinh tế. Dương công t.ử chê thịt lợn th* t*c, bỏ không dùng, nhưng Đông Pha tiên sinh mà huynh ấy sùng bái lại rất thích thịt lợn, thích đến mức viết hẳn bài'Trư nhục tụng'(Bài ca thịt lợn):'Rửa sạch nồi, ít đổ nước, củi hun khói, lửa đừng bốc. Đợi nó tự chín chớ vội vàng, đủ lửa đủ giờ nó tự ngon. Thịt lợn Hoàng Châu tốt, giá rẻ như đất bùn. Kẻ giàu không chịu ăn, kẻ nghèo không biết nấu. Sáng sớm dậy làm hai bát, no nê lòng mình mặc kệ ai.'" Chân Chân mời mọi người nhìn đĩa thịt lợn, là thịt ba chỉ luộc chín thái lát. Nàng gắp một miếng, chỉ thấy miếng thịt dài mỏng tang, nếp nạc nếp mỡ xen kẽ, phần mỡ trong veo bóng lưỡng có thể nhìn xuyên qua, d.a.o pháp tinh tế, miếng nào miếng nấy đều tăm tắp. "Thịt này nấu nhỏ lửa theo cách Đông Pha tiên sinh dạy, do nữ đệ t.ử d.a.o pháp giỏi nhất Thích Trân Lâu thái mỏng, đặt lên trang giấy, phần mỡ có thể nhìn thấu chữ bên dưới." Chân Chân đặt miếng thịt vào đĩa, dùng đũa cuộn thành hình hoa, chấm vào bát nước đậu xị, để nước chấm như mật thấm vào nh h. Thực khách bắt chước làm theo, ăn vào thấy béo ngậy đầy khoang miệng, thịt mềm mịn, lát thịt mỏng tang tan ngay đầu lưỡi như tuyết. Nước đậu xị mặn thơm lại có vị rượu, nhấm nháp kỹ nhận ra vị hồi hương, mộc hương, trần bì... nhưng không chỉ có thế, hậu vị sâu lắng, dư âm kéo dài. Chân Chân giải thích: "Nước đậu xị này dùng rượu ngọt Kim Hoa thượng hạng, ủ với nhiều loại hương liệu bí truyền, lại chôn xuống đất qua mùa đông, hương thơm phong phú cộng với sự lắng đọng của thời gian mới tạo nên hương vị nồng nàn này. Phối với thịt thái lát càng làm dậy mùi thịt, tăng thêm hương sắc." Thực khách tắc lưỡi khen ngon, đều bảo nước đậu xị này tuy dân dã nhưng chế biến cực khéo, quả thực nâng tầm món ăn. Có người cười hỏi: "Các món ngon trước đều có thơ ca ngâm vịnh, không biết nước đậu xị này có ai làm thơ khen chưa?" Chân Chân lắc đầu: "Không có, cũng chẳng cần. Nước đậu xị là vai phụ, không phải món chính, chẳng ai nghĩ đến việc làm thơ cho nó, ngày thường nhắc đến, cùng lắm chỉ khen một câu 'ngon', hoặc 'thơm'. Nó là vai phụ thầm lặng, không tranh không giành, nhưng ôn hòa vô cùng, có thể phối với hầu hết các loại rau thịt, làm tăng hương vị cho món ăn... Các vị chắc chắn từng gặp những người như thế, bình phàm chất phác, ngày thường ít nói, nhưng bản tính lương thiện, tốt với mọi người, ai gặp nạn dốc lòng giúp đỡ, làm việc chung không bao giờ tranh công. Nhưng vì không có hào quang, mạo không kinh người, nên không ai chú ý, các vị sẽ chẳng nghĩ đến việc làm thơ cho họ, cùng lắm khi nhớ đến, khen một câu: 'Người tốt.'... Nước đậu xị, chính là như những người ấy." Các cống sinh nghe xong dường như có chút xúc động. Một lúc sau, có người vỗ tay tán thưởng: "Hay! Nước đậu xị quả thực không cần thơ từ tô vẽ, cô nương nói một lời đã lột tả hết sự đôn hậu hiền lương của nó. Nước đậu xị có được tri âm như cô nương, cũng đủ thấy an ủi rồi." Chân Chân nhìn sang, thấy người nói chính là vị sĩ t.ử da ngăm lúc nãy giúp nàng, bèn mỉm cười vái chào. Các cống sinh khác cũng hùa theo, khen ngợi Chân Chân hết lời, ăn đến món rau trộn thập cẩm cũng không ai đòi hỏi thơ ca điển cố nữa. Món rau trộn dùng dầu vừng phi hoa tiêu, thêm xì dầu, giấm, đường trắng trộn với cải trắng, giá đỗ, cần nước, gọi là "Tát ban hòa thái". Rau trần qua nước sôi rồi ngâm nước lạnh, khi trộn mới vớt ra nên giữ màu xanh mướt, giòn non, ăn kèm với thịt lợn, hương vị cơm nhà này khiến cả chủ và khách đều hài lòng. Đến tuần rượu quan trọng nhất, Di Bối Lâu dâng lên món chủ đạo: "Liên Phòng Ngư Bao" (Cá gói đài sen), dùng loại thịt duy nhất trong thực đơn của họ, kèm món canh "Ngư Phụ Tam Tiên" nấu từ hoa sen, hoa cúc và củ ấu. Đài sen dùng loại đài non, cắt bằng đáy, khoét bỏ hạt, nhồi thịt cá quế tươi ướp rượu, tương, hương liệu vào lỗ hạt sen, cho vào chõ hấp chín, lấy ra phết mật ong cho bóng đẹp. Mọi người dùng thìa bạc múc cá, nếm thử thấy thịt cá thoang thoảng hương sen, một cống sinh than: "Thịt cá ngậm hương sen, thanh tao lạ thường, lại uống canh Ngư Phụ Tam Tiên, cứ như đang ngồi thuyền nhẹ hái sen vậy." Dương Thịnh Lâm cười: "Món này ngụ ý không chỉ có thế. Chúng tôi học món này từ một vị tiến sĩ triều ta, ông từng làm thơ:'Cẩm biện kim thoa chức kỷ trùng, Vấn ngư hà sự đắc tương dung. Dũng thân ký nhập liên phòng khứ, Hảo độ hoa trì độc hóa long.'(Cánh gấm áo vàng dệt mấy trùng, Hỏi cá cớ sao được dung nạp. Một khi thân đã vào đài sen, Vượt qua ao hoa hóa thành rồng). Cá hóa rồng là ví von tuyệt diệu cho việc bảng vàng đề danh. Di Bối Lâu dâng món này, cũng là mượn đó chúc các vị tú tài tiến sĩ bảng vàng đề tên, một bước lên mây." Các cống sinh cả mừng, rối rít cảm tạ, nâng ly chúc tụng với Dương Thịnh Lâm, không khí vô cùng hòa hợp. Xong tuần rượu này, mọi người đã no bảy phần, hơi có chút mệt mỏi, cho đến khi Chân Chân sai người bưng món chính của Thích Trân Lâu lên, ai nấy mới lại ngồi thẳng dậy, trố mắt nhìn món ăn đựng trong đồ bạc sang trọng. Thích Trân Lâu từ đầu đều dùng đồ sơn mài, duy món này dùng đồ bạc, lại có nắp đậy, nhất thời chưa thấy rõ hình dáng. Chân Chân thấy mọi người im lặng chờ đợi, mới từ từ mở nắp bạc. Hơi nước bốc lên, tan đi để lộ nhân vật chính trong đĩa bạc: Cá cháy hấp. Cá cháy được mổ bụng, chỉ dính liền ở sống lưng, trải rộng trên đĩa bạc đối xứng, vảy cá hấp chín hơi cong lên, trông như những bào gỗ mịn bán trong suốt nổi trên mình cá, nhìn kỹ mới thấy giữa các lớp vảy có một sợi chỉ mảnh liên kết. Thôi Huyện lệnh chau mày nhìn sợi chỉ, ánh mắt đầy thắc mắc: "Cái này là?" Chân Chân mỉm cười dùng đũa bạc kẹp lấy đầu chỉ, nhẹ nhàng nhấc lên. Vảy cá lập tức rời khỏi mình cá, theo sợi chỉ bay lên không trung, từng mảnh vảy lấp lánh ánh bạc như vỏ sò, xâu chuỗi trên sợi chỉ hệt như một chiếc vòng cổ. Chương 10 - Hương Yến (Hạ) Món cá cháy hấp cách làm không quá lạ lẫm, ở Giang Nam khá phổ biến, nhưng chiêu "rút chỉ lột vảy" này thì cả bàn tiệc chưa ai từng thấy qua, ai nấy đều tròn mắt nhìn con rồng bạc xoay tròn dưới đũa của Chân Chân, nhất thời lặng ngắt như tờ. Một lúc sau mới có người vỗ tay khen hay: "Nhìn chuỗi vảy cá này, đủ thấy nữ đệ t.ử của Thích Trân Lâu không chỉ d.a.o pháp tinh diệu mà nữ công cũng thuộc hàng tuyệt kỹ." Chân Chân lặng lẽ quay đầu, nhìn Phượng Tiên đang đứng hầu một góc phòng, hai người nhìn nhau mỉm cười. Trước đó khi quyết định đưa cá cháy vào thực đơn, Chân Chân từng bàn với các sư tỷ xem nên để nguyên vảy hấp hay lột vảy trước rồi khi hấp đắp lại lên mình cá, như thế vừa giữ được mỡ trong vảy thấm vào cá, lại tiện cho khách bỏ vảy. Năm sư tỷ trừ Phượng Tiên mỗi người một ý, người bảo giữ nguyên mới đúng vị, người bảo tiệc làng toàn người nho nhã, bỏ vảy trước hợp hơn. Tranh cãi mãi không xong, cuối cùng Phượng Tiên vốn im lặng mới từ từ lên tiếng: "Tỷ nghĩ ra một cách, có lẽ tốt hơn..." Cách lột vảy độc đáo này đã làm tăng thêm phần đặc sắc cho món cá cháy, tất nhiên bản thân con cá cũng tươi ngon béo ngậy, hấp rất thấm vị. Các cống sinh gắp lia lịa, ăn rất ngon lành, chỉ có một người hơi phàn nàn: "Cá ngon thì ngon thật, mỗi tội lắm xương quá." Cá cháy quả thực toàn thân đầy xương dăm, ăn miếng nào cũng phải lựa xương. Chân Chân nghe vậy liền nói với người nọ: "Cá cháy tuy có xương, nhưng đa phần đều mảnh và mềm hơn râu tôm, lỡ nuốt phải cũng không đến nỗi hóc xương. Chuyện đời không có gì hoàn hảo, cá này vị đã cực phẩm, nếu lại không xương, e rằng đắt hơn vàng, hoặc lại như cá nóc mang kịch độc khiến người ta phải đề phòng. Cho nên chút khiếm khuyết nhỏ này, mong các vị bao dung. Cũng như một giai nhân tuyệt sắc, chỉ là hay dở chút tính khí tiểu thư, đôi khi khiến người ta bực mình, nhưng mà, giai nhân tuy có chút kiêu kỳ nhưng đâu phải người xấu, nể tình nàng đẹp như thế, nghĩ lại thì bỏ qua thôi." Mọi người nghe xong đều cười xòa, Dương Thịnh Lâm vỗ tay cười lớn: "Ví von hay lắm!" Cho đến khi bị cha lườm cháy mắt mới giật mình im bặt, nhưng vẫn tủm tỉm cười trộm nhìn Chân Chân. Ăn kèm với cá cháy là món Củ Niễng Muối Xổi (Giao bạch tra). Củ niễng tươi thái lát trần qua, trộn với hành sợi, thì là, hồi hương, hoa tiêu, men gạo đỏ và muối, ướp chốc lát là ăn được. Cá cháy béo ngậy, ăn xong nếm món củ niễng muối này càng thấy thanh sảng. Hai món ăn đều để lại ấn tượng tốt, có người hỏi: "Món ngon thế này, liệu có điển cố danh nhân nào liên quan không?" Trước đó Chân Chân không cố ý tìm kiếm điển cố, lúc này cũng không hoảng hốt, ung dung đáp: "Có chứ. Nhưng các vị tài cao học rộng, đọc đủ thứ sách, chắc chắn cũng biết. Nếu các vị nhớ ra, chi bằng nói trước, xem có giống những gì tôi biết không." Các cống sinh hào hứng hẳn lên, tranh nhau phát biểu. Có người nói: "Danh sĩ đời Hán là Nghiêm T.ử Lăng câu cá bên sông Phú Xuân, than rằng cá cháy béo ngon, lấy đó làm cớ từ chối lời mời ra làm quan của Quang Vũ Đế." Người khác nói: "Đông Pha cư sĩ cũng thích cá cháy. Cá cháy quý cái vảy của mình, nếu bị người hay lưới chạm vào mình thì không giãy giụa nữa để tránh hỏng vảy. Đông Pha cư sĩ gọi nó là 'Tích lân ngư' (Cá tiếc vảy), từng làm thơ:'Nha khương t.ử thố cứu ngân ngư, Tuyết oản kình lai nhị xích dư. Thượng hữu đào hoa xuân khí tại, Thử trung phong vị thắng thuần lư.'" Lại có người bổ sung: "Vương Giới Phủ Vương Tướng công cũng làm thơ nhắc đến cá cháy:'Thiều ngư xuất võng tế châu chử, Địch duẩn phì cam thắng ngưu nhũ.'" Người khác nhắc nhở đồng môn: "Đừng quên củ niễng! Củ niễng chính là rau cô (cô thái), Trương Hàn thời Tấn mượn cớ gió thu nổi lên, nhớ món rau cô, canh rau thuần, gỏi cá vược quê nhà mà từ quan về quê..." Hắn xúc động chỉ vào đĩa củ niễng muối, "Thứ khiến ông ấy đòi về quê chính là củ niễng này đây!" Cả sảnh đường cười vang. Bữa tiệc làng này vốn do quan lại chiêu đãi, các cống sinh không tránh khỏi câu nệ, ban đầu ai nấy ngồi nghiêm chỉnh, sợ thất thố, không ngờ đến giờ lại có hứng nói cười, mọi người tiếp tục bàn luận điển cố, tiếng cười nói rộn rã. Chân Chân mỉm cười lắng nghe, đợi tiếng ồn lắng xuống mới mở lời: "Cho nên, hễ là món ngon, ắt sẽ có danh nhân yêu thích để lại thơ ca điển cố tô điểm cho nó. Chúng ta thưởng thức món ăn bằng lưỡi, bằng tim, chứ không phải bằng tai. Món ăn ngon, tự nhiên sẽ có người ngâm vịnh, lưu truyền ngàn đời. Nếu chúng ta nhất định phải nghe điển cố thơ ca mới thấy ngon, thì chẳng phải đã giao quyền phán xét hương vị cho đôi tai rồi sao." Nhiều người trong tiệc gật đầu, Thôi Huyện lệnh cũng mỉm cười: "Có lý, có lý." Chân Chân nói tiếp: "Hương yến này, tôi không cố ý chuẩn bị thơ từ điển cố đi kèm, một là sợ múa rìu qua mắt thợ, hai là tôi tin hương vị là quan trọng nhất. Đã là Hương Yến, tôi hy vọng dâng lên các vị món ăn quê nhà, gợi nhớ hương vị cơm nương nấu. Thứ hương vị thân thuộc ấy liên quan đến nương, đến quê hương, chứ không nhất thiết phải liên quan đến điển cố." Sau thoáng im lặng, trong sảnh vang lên tiếng vỗ tay, từng nhịp từng nhịp, là tiếng vỗ tay của một người. Chân Chân nhìn về phía phát ra tiếng động, lại là vị sĩ t.ử da ngăm đen nọ. Thôi Huyện lệnh cũng vỗ tay theo, thế là người hưởng ứng tăng lên vùn vụt, tiếng vỗ tay vang dội cả sảnh đường. Sau đó hai tuần rượu nữa, phong cách canh và điểm tâm của hai bên vẫn như cũ, Di Bối Lâu phong nhã, Thích Trân Lâu dân dã. Cuối tiệc, các cống sinh biểu quyết chọn người làm chủ bếp Hương Ẩm. Chọn Di Bối Lâu có bốn người, chọn Thích Trân Lâu có năm người, bao gồm cả vị sĩ t.ử nhiều lần lên tiếng ủng hộ Chân Chân. Thôi Huyện lệnh đang định tuyên bố kết quả thì Ngô Thu Nương, người nãy giờ vẫn ngồi im lặng quan sát, bỗng bước ra, vái chào Thôi Huyện lệnh: "Bẩm Thôi Huyện lệnh, nhìn vào sự lựa chọn của các vị tú tài, Thích Trân Lâu chúng tôi không phải thắng tuyệt đối, vẫn có gần một nửa số người ưng ý món ngon của Di Bối Lâu hơn. Nếu Hương Ẩm chỉ do Thích Trân Lâu lo liệu, những vị tú tài muốn thưởng thức món ăn văn nhân kia khó tránh khỏi nuối tiếc. Vậy nên, tôi mạo muội đề nghị với Huyện lệnh, nếu Di Bối Lâu đồng ý, xin hãy để hai nhà chúng tôi cùng trù bị Hương Ẩm như cũ, dâng lên các vị cống sinh sắp xa quê một bữa tiệc thập toàn thập mỹ." Lời này vừa thốt ra, cả sảnh đường kinh ngạc. Thôi Huyện lệnh, Dương Dục, hay cả Chân Chân đều bất ngờ, không ngờ bà lại dễ dàng từ bỏ chiến thắng khó khăn lắm mới giành được. Thôi Huyện lệnh hỏi đi hỏi lại xem có phải bà khiêm tốn từ chối hay thật tâm muốn vậy, Thu Nương ánh mắt kiên định, vẻ mặt nghiêm túc, khẳng định đã suy nghĩ kỹ càng. Thôi Huyện lệnh bèn hỏi ý kiến Dương Dục. Dương Dục sau khi thấy các cống sinh biểu quyết thì mặt mày đen sì, thi thoảng trừng mắt nhìn vị sĩ t.ử giúp Chân Chân đầy giận dữ, sau nghe đề nghị của Thu Nương thì ngẩn cả người, Huyện lệnh hỏi đến lần thứ hai mới hoàn hồn, ấp úng đáp mọi việc do Huyện lệnh định đoạt, bản thân không có ý kiến gì. Thôi Huyện lệnh tuyên bố Hương Ẩm năm nay do Di Bối Lâu và Thích Trân Lâu đồng tổ chức. Các cống sinh rất vui mừng, nhao nhao chúc mừng hai nhà. Thu Nương và Dương Dục đều mỉm cười cảm tạ, chỉ có điều khi vị sĩ t.ử da ngăm đến chúc mừng Dương Dục, ông ta ngậm miệng không đáp, lạnh lùng quay mặt đi chỗ khác. Tương Diệp ghé tai nói nhỏ cho Chân Chân bí mật vừa nghe ngóng được: "Vị cống sinh ra mặt giúp đỡ thực ra chính là cao nhân mà Di Bối Lâu mời về, mấy món của Di Bối Lâu đều do huynh ấy chỉ điểm đấy. Không hiểu sao huynh ấy lại giúp tỷ." Chân Chân cũng trăm mối tơ vò. Sau khi vị sĩ t.ử cáo từ ra về, Chân Chân đuổi theo ra ngoài cửa, trịnh trọng cảm tạ và hỏi nguyên do giúp đỡ. Vị sĩ t.ử mỉm cười: "Vì ta cũng thích món ăn của cô nương, nó làm ta nhớ đến hương vị cơm nương nấu." Chân Chân hỏi danh tính, chàng đáp: "Ta họ Triệu, tên Hoài Ngọc." Chân Chân nói: "Là Hoài Ngọc trong câu'Bị hạt hoài ngọc'(Mặc áo vải thô mà trong lòng giấu ngọc) sao?" Triệu Hoài Ngọc khẽ nghiêng người: "Hổ thẹn." Ngừng một lát, chàng cười nhẹ: "Quý quán biết dùng chỉ rút vảy cá cháy, mới thực sự là Bị hạt hoài ngọc." Chân Chân ngẩn người, định hỏi câu đó có ý gì thì Triệu Hoài Ngọc đã vái chào, quay lưng bước đi. Về đến Thích Trân Lâu, Chân Chân nghĩ đến công sức bỏ ra bấy lâu cuối cùng đổ sông đổ bể, không khỏi nản lòng, hỏi nương tại sao lại từ bỏ quyền độc chiếm Hương Ẩm. Thu Nương nói: "Nương đã nói rồi, Thích Trân Lâu không thắng tuyệt đối, tội gì vì tranh nhất thời khí phách mà làm phật lòng gần một nửa số cử nhân. Hương vị quê nhà cố nhiên đáng nhớ, nhưng miếu đường cao xa, ngọc đường phong nhã lại không đáng để ngưỡng vọng sao? Họ mang theo niềm khao khát tương lai để thưởng thức món ăn của Di Bối Lâu, cũng là dùng tâm để nếm, chứ không chỉ dùng tai. Những đạo lý này họ không nói ra phản bác con ngay, chẳng qua nể mặt Thôi Huyện lệnh mà không so đo thôi. Hơn nữa..." bà nhìn Chân Chân, đôi mắt sâu thẳm như hồ thu, "Cây cao đón gió lớn. Chúng ta không cần thiết phải một mình ôm đồm Hương Ẩm, gây chú ý quá mức làm gì." Về phần Triệu Hoài Ngọc, Tương Diệp lại dò la được thêm tin tức, nói chàng là dòng dõi tông thất xa đời, tính ra đã ra khỏi năm đời, cũng chẳng được ai coi trọng. Đến đời cha nương lưu lạc tới Phố Giang, gia cảnh ngày càng sa sút, chỉ còn trông chờ vào khoa cử để làm quan. Vì chàng có học thức, thân là tông thất cũng có chút tiếng tăm, nên Dương Dục mời chàng làm quân sư cho tửu lầu, trả thù lao hậu hĩnh. Sau tiệc bình phẩm, Dương Dục chất vấn sao chàng lại giúp Thích Trân Lâu, chàng đáp: "Ta chỉ hứa làm tham mưu cho Di Bối Lâu, chứ không hứa nhất định sẽ chọn Di Bối Lâu trong tiệc bình phẩm. Huyện lệnh mời ta đại diện cho cử nhân lựa chọn, ta tự nhiên phải công tâm, dùng thân phận cử nhân để phán đoán. Lúc đó món ăn của Thích Trân Lâu làm ta động lòng hơn, nên ta làm vậy, không thẹn với lòng." "Sau đó, huynh ấy trả lại toàn bộ số tiền Di Bối Lâu đưa trước đó cho Dương Dục." Tương Diệp kể với Chân Chân. Nàng nói ra một con số rất lớn, lớn đến mức lông mày đang nhảy múa của nàng cũng hiện lên hai chữ: Tiếc đứt ruột. Chân Chân nhìn lên trời, dường như thấy khuôn mặt đen nhẻm công chính vô tư của Triệu Hoài Ngọc. Chàng lạnh lùng ném gói bạc lớn trước mặt Dương Dục, rồi phất tay áo nhẹ nhàng rời đi, bỏ lại Dương Dục một mình ôm đống tiền, gục xuống đất khóc rống... Chân Chân chép miệng, thật lòng khen ngợi: "Đúng là hảo hán." Câu nói "Bị hạt hoài ngọc" của Triệu Hoài Ngọc về Thích Trân Lâu Chân Chân vẫn nhớ mãi. Có lần kể lại cho Phượng Tiên nghe, nàng bảo: "Huynh ấy dựa vào việc rút chỉ lột vảy mà đoán quán ta tàng long ngọa hổ, ý là có cao nhân nhỉ? Cách này là tỷ nghĩ ra, vậy là tỷ tự nghĩ hay ai dạy tỷ thế?" Phượng Tiên đang thái rau, nghe vậy sững lại, rất nhanh đáp: "Là tỷ tự nghĩ ra thôi." "Ồ, tỷ tỷ đúng là băng tuyết thông minh." Chân Chân cười, "Muội thấy Triệu Hoài Ngọc có vẻ cũng biết cách này, cứ tưởng tỷ học lỏm của ai. Nhưng nghĩ lại, tỷ đến nhà muội từ bé tí, nếu có ai dạy tỷ, muội chẳng lẽ không biết, trừ phi tỷ học được trước khi đến nhà muội." Phượng Tiên cười gượng, tiếp tục cúi đầu thái rau. Chân Chân đi rồi, động tác tay của Phượng Tiên chậm lại, ngẩng đầu lên, ánh mắt vượt qua song cửa, thẫn thờ nhìn vào cảnh thu lá rụng tiêu điều trong sân. Dường như cảm nhận được cái lạnh lẽo, nàng thấy hơi chóng mặt, sắc mặt trắng bệch, nhắm mắt lại. Thế nhưng những mảnh ký ức vụn vỡ như tranh vẽ cứ thế không kìm được mà trồi lên: Hoa đường khách khứa chật ních, rượu ngon món lạ, sênh ca túy mộng. Một nữ t.ử y phục gấm vóc lộng lẫy đứng trước đĩa vàng đựng cá cháy, dùng đũa ngọc khều sợi chỉ, con rồng bạc do vảy cá hóa thành bay lên, uốn lượn trong ý cười tràn ngập đôi mắt đẹp của nàng... Đêm tối không đèn đuốc, nàng khi ấy còn bé nằm trên chiếc giường rộng lớn, bỗng cảm thấy một giọt nước rơi lên mặt. Nàng mở mắt, nương theo ánh trăng trắng bệch lọt qua khe cửa sổ, nhìn thấy khuôn mặt tiều tụy của người phụ nữ tóc xõa dài. Bà nhìn Phượng Tiên vừa tỉnh giấc mỉm cười, nụ cười thê lương khiến Phượng Tiên cảm thấy bi thương vô hạn. Đêm mưa thu lạnh lẽo, xe ngựa lao vun vút. Nàng nép vào lòng nương, mơ màng, toàn thân đau nhức, thứ duy nhất khiến nàng an lòng là hơi ấm và mùi hương của nương. Thế nhưng, một đôi bàn tay to lớn thô bạo lôi nàng ra khỏi lòng nương, mở cửa xe ngựa, đạp nàng ngã lăn xuống nền đất bùn lầy lội trong màn mưa... Cảm giác rơi xuống vực thẳm không đáy ấy khiến cơ thể và bàn tay cầm d.a.o của Phượng Tiên run rẩy, ngón cái, ngón áp út và ngón út tay phải càng nắm chặt cán dao, còn ngón giữa thì bất giác duỗi thẳng, cùng ngón trỏ giữ lấy sống d.a.o bên ngoài. "Phượng Tiên." Thu Nương bất ngờ bước vào gọi một tiếng. Phượng Tiên giật mình, tay đang thái rau theo quán tính dùng sức mạnh hơn, c.h.é.m xuống một nhát, nhưng d.a.o không cầm chắc, tuột khỏi tay bay vèo ra ngoài, rơi xuống đất phát ra tiếng "xoảng" chói tai. Cả Thu Nương và Phượng Tiên đều giật mình. Thu Nương lùi lại hai bước, đợi nhìn rõ con d.a.o dưới đất, bà chau mày nói với Phượng Tiên: "Bao nhiêu năm rồi, lại quên thế tay cầm d.a.o ta dạy con sao?" Phượng Tiên cúi đầu, xấu hổ đáp: "Con nhớ ạ, chỉ là đôi khi lơ đễnh, ngón giữa cứ vô thức duỗi thẳng ra." Thu Nương dịu giọng: "Dao thớt không có mắt, dùng phải hết sức cẩn thận, chú ý tư thế, đừng để sai sót mà đứt tay." Phượng Tiên vâng dạ, chuyển sang hỏi Thu Nương có việc gì dặn dò. Thu Nương nói: "Vừa nãy Thôi Huyện lệnh sai người đến báo, Hương Ẩm sẽ có quý khách từ kinh thành về, bảo chúng ta làm món gỏi cua trong thực đơn theo đúng kiểu Cua Rửa Tay của Biện Kinh." Chương 11 - Liễu Tiệp Dư Yến tiệc Trùng Cửu trong cung năm nay vẫn được tổ chức tại điện Khánh Thụy để thưởng cúc. Trong điện bày biện đủ các loài cúc vàng quý hiếm như Ngự Y Hoàng, Hoàng Tân La, Hoàng Phật Đầu, Kim Trản Kim Đài, Tiêu Kim Cúc… Đèn cung đình treo trong điện cũng ứng theo thời lệnh, hoặc vẽ hình hoa cúc, hoặc kết thành hình đóa hoa. Hàng vạn ngọn đèn hoa hình cúc tỏa ánh sáng rực rỡ, lộng lẫy đến lóa mắt. Thế nhưng, ánh mắt dịu dàng của hoàng đế Triệu Vỹ lại chỉ quyến luyến dừng lại nơi Liễu Tiệp Dư đang quỳ gối trước mặt mình, đầu cúi thấp, đôi tay khéo léo chế biến món Cua Rửa Tay. Trong mâm bạc vun một ngọn núi nhỏ bằng băng vụn, trên đỉnh núi đặt một chiếc đĩa lưu ly trong suốt tựa băng tuyết. Trong đĩa là thịt cua sống đã được băm nhỏ, gạch cua nửa vàng ươm, hai càng trắng như tuyết, thớ thịt trong veo như ngọc, dưới sự phản chiếu của đĩa lưu ly và vụn băng càng thêm phần trong trẻo, mát lạnh. Liễu Tiệp Dư cầm thìa bạc, lần lượt rưới rượu, muối, nước mơ, gừng băm, mứt cam và tiêu bột lên thịt cua, rồi dùng đũa bạc trộn đều. Trên búi tóc mây của Tiệp Dư có cài một đóa cúc Bích Thiền màu xanh biếc, mỗi cử động của nàng khiến bóng hoa lay động trên núi băng, tựa như áng mây nhẹ lướt qua đỉnh tuyết. Hoàng đế mỉm cười ngắm nhìn, chỉ thấy tình này cảnh này đẹp đẽ vô cùng, khiến cho ngàn vạn đóa hoa vàng trong điện bỗng trở nên ồn ào dung tục. Liễu Tiệp Dư gác đũa bạc, rửa tay trong chậu nước thơm do thị nữ dâng lên, rồi mời nội nhân Ti Thủy dâng món Cua Rửa Tay này lên cho Hoàng đế. Bùi Thượng thực – người chịu trách nhiệm nếm thử món ăn trước khi dâng lên vua – cung kính bước ra, định lấy một ít nếm trước. Hoàng đế lại lắc đầu ngăn cản: "Bùi Thượng thực tuổi đã gần lục tuần, không nên ăn vật có tính hàn như thế này. Món Cua Rửa Tay này, cứ để Tiệp Dư nếm trước đi." Bùi Thượng thực sững người, rồi vội cúi đầu vâng dạ, lặng lẽ lui về. Liễu Tiệp Dư vâng mệnh, đón lấy đĩa bạc đựng thịt cua từ tay nội nhân, dùng đũa bạc gắp cua đưa lên miệng, nếm xong đợi một lát, mới khẽ cười, nghiêng người bẩm báo: "Mặn nhạt vừa vặn." Nội nhân Ti Thủy thu lại đĩa đũa, kiểm tra không có gì khác thường, mới cung kính mời Hoàng đế thưởng thức gỏi cua. Hoàng đế gật đầu. Liễu Tiệp Dư cáo lui. Một lát sau nàng trở lại điện, đã thay vũ y, chải tóc búi cao, đeo chuỗi ngọc anh lạc, tà áo thướt tha, tay ôm đàn tỳ bà, đẹp tựa tiên nữ bước ra từ bích họa Đôn Hoàng. Ngón tay thon dài vừa gảy, tiếng nhạc cất lên, chính là khúc "Lương Châu". Sắc mặt Hoàng đế thoáng đổi, bàn tay đang cầm chén rượu khựng lại. Liễu Tiệp Dư hoàn toàn không hay biết, ôm đàn tỳ bà duỗi tay uốn eo, hòa theo tiếng nhạc mà chuyển động. Khúc nhạc này khác hẳn những điệu nhạc êm dịu thường thấy trong cung, khi thì dồn dập như mưa rào, khi thì rầm rì như lời tỏ tình, trong tiếng tỳ bà thánh thót như châu rơi vào mâm ngọc lại ẩn chứa âm hưởng kim loại va chạm leng keng. Liễu Tiệp Dư dáng múa uyển chuyển, chốc chốc lại xoay tròn bay bổng. Khúc nhạc càng cao trào, nàng múa càng nhanh, hoa bay ảnh lướt, khiến không gian ngập tràn ánh đèn hoa cúc càng trở nên huyền ảo như cõi mộng. Múa xong một điệp khúc, Liễu Tiệp Dư buông đàn tỳ bà, vừa múa vừa di chuyển đến trước mặt Hoàng đế, bất ngờ vươn tay, nhấc chén rượu trước mặt ngài lên. Hoàng đế đã khôi phục thần thái ban đầu, mỉm cười mặc nàng tùy ý hành động. Nàng nâng chén rượu trên tay, tiếp tục xoay tròn, dù nâng tay hay phất tay áo thế nào, rượu trong chén cũng không sánh ra một giọt. Mọi người trong điện đưa mắt nhìn nhau, thầm lấy làm lạ. Tiếng nhạc dần chậm lại, Liễu Tiệp Dư múa quay về trước mặt Hoàng đế, xoay lưng về phía ngài rồi ngửa đầu uốn cong thắt lưng ra sau, đặt chén rượu lên trán, hai tay dang rộng, eo tiếp tục uốn cong thành một độ cong kinh người rồi mới tĩnh lại. Chén rượu nằm vững vàng trên trán nàng, không hề lay chuyển. Hoàng đế đích thân lấy chén rượu trên trán Tiệp Dư, từ từ uống cạn. Tiệp Dư mỉm cười xoay người, vái chào hành lễ. Dường như men rượu đã thấm vào lòng, đôi má Hoàng đế ửng hồng, mỉm cười nhìn nàng, trong mắt ánh lên nét nhu tình kín đáo. "Nghe nói, hôm qua Liễu Tiệp Dư múa điệu 'Lương Châu'?" Tại Tĩnh Nhạc Đường trong cung Từ Phúc, Hoàng Thái hậu Ân thị ngồi ngay ngắn, khóe mắt liếc qua Lệ Quý phi đang đến thỉnh an, nhàn nhạt hỏi. Lệ Quý phi len lén nhìn Thái hậu. Làn khói xanh từ miệng con lân vàng bay lên lững lờ như dải lụa lướt qua ấn đường của Thái hậu. Bà vẫn giữ thần thái như mọi ngày, ánh mắt không chút gợn sóng, chẳng vui cũng chẳng buồn. "Vâng ạ." Lệ Quý phi đáp, "Ngày thường cô ta chỉ tập luyện trong cung của mình, cửa đóng then cài, người ngoài không biết, thần thiếp cũng mới biết hôm qua." "Là muốn tạo bất ngờ cho Quan gia đây mà." Thái hậu nói. Một lát sau lại hỏi: "Ta còn nghe nói, món Cua Rửa Tay cô ta làm, Quan gia lại không cho Bùi Thượng thực nếm thử, mà bắt Liễu Tiệp Dư tự mình nếm?" Lệ Quý phi gật đầu xác nhận, không dám nói thêm lời nào. Thái hậu hỏi tiếp: "Ngoài Cua Rửa Tay, gần đây cô ta còn làm món gì cho Quan gia ăn nữa?" "Một vài món điểm tâm thôi ạ." Lệ Quý phi khẽ đáp, "Những món Quan gia thích, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy món ấy: Bánh Ấn Nhi, Bánh Phù Dung, Bánh Bao Cua, Quả Mật Đường, Bánh Viên Hoan Hỷ..." Thái hậu dường như có chút mệt mỏi, dựa người vào chiếc gối tựa sau lưng, nhắm mắt lại. Một lúc sau, bà mở mắt, ánh mắt lười biếng ném về phía bình hoa cúc Ngọc Âu màu tím trắng xen kẽ trên kệ, lộ ra một nụ cười lạnh lẽo: "Khá thật đấy, vừa biết múa 'Lương Châu', lại vừa biết làm điểm tâm." Nụ cười lạnh thoáng qua ấy không chỉ khiến Lệ Quý phi, mà ngay cả vị hoạn quan già đứng hầu bên cạnh là Trình Uyên – một cánh tay đắc lực của cung Từ Phúc – cũng cảm thấy sống lưng lạnh toát. Hoàng Thái hậu xưa nay vui giận không lộ ra mặt, nụ cười lạnh ấy gần như là cách biểu đạt sự phẫn nộ kịch liệt nhất của bà rồi. Trình Uyên trong lòng bất an, nhưng ngoài mặt không để lộ chút gì, vẫn im lặng đứng hầu, mắt nhìn xuống mũi giày, cùng Lệ Quý phi đợi Thái hậu tìm chủ đề khác. Sau khi Lệ Quý phi đi khỏi, Hoàng Thái hậu gọi Trình Uyên đến, hỏi tại sao Quan gia dạo này thường xuyên để Liễu Tiệp Dư làm ngự thiện, mà Bùi Thượng thực lại khoanh tay đứng nhìn. Trình Uyên đáp: "Có lẽ cơm nước trong cung Quan gia dùng nhiều năm, đã không còn thấy mới lạ. Liễu Tiệp Dư xuất thân dân gian, cách nấu nướng khác biệt với trong cung, khiến Quan gia cảm thấy tươi mới. Quan gia đã mở miệng bảo Liễu Tiệp Dư nấu, Bùi Thượng thực cũng không dám trái lệnh." Hoàng Thái hậu nói: "Tuy nói lời Quan gia là thánh chỉ, nhưng chuyện ăn uống không phải chuyện nhỏ, liên quan đến long thể an nguy, sao có thể không làm theo quy tắc? Ngươi gặp Quan gia, nhất định phải chuyển lời của lão thân cho ngài biết." Trình Uyên vâng dạ lĩnh mệnh. Hoàng Thái hậu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Thôi, hà tất phải tốn lời chi cho mệt. Ngươi đừng nhắc đến chuyện Liễu Tiệp Dư, cứ bàn với Bùi Thượng thực, bảo rằng các cung nữ trẻ ở Thượng Thực Cục tay nghề còn non, không đủ đảm đương trọng trách, kiến nghị Quan gia ban lệnh xuống các châu phủ, tuyển chọn những nữ t.ử dân gian có trù nghệ tinh diệu vào cung, bổ sung cho Thượng Thực Cục." Trình Uyên nhận lệnh. Thái hậu dừng một chút, rồi bổ sung: "Những nữ t.ử này, tuổi không được quá hai mươi, dung mạo phẩm hạnh đều không được kém." Trình Uyên rời khỏi Tĩnh Nhạc Đường, chuẩn bị đến Đại Nội. Cung Từ Phúc vốn là cung viện do Tiên đế hạ lệnh xây dựng. Tiên đế yêu thích cảnh đẹp non nước, nên cho đào ao làm hồ, đắp đá làm núi trong vườn, mô phỏng cảnh sắc Tây Hồ. Lại trồng nhiều hoa cỏ bốn mùa, hậu viên sâu thẳm quanh co, mỗi bước đi là một cảnh đẹp. Con đường Trình Uyên đang đi trồng đầy tùng dài trúc cao, xanh mướt che khuất mặt trời, bóng râm mát rượi như mây. Đi giữa lối này, ánh nắng xuyên qua kẽ lá rơi xuống y phục giống như mảnh vụn của vàng của ngọc. Vòng qua hang đá sau rừng tùng, cảnh vật trước mắt bỗng nhiên thoáng đãng, thác nước từ nguồn Tiểu Tây Hồ đổ xuống từ trên không, rót vào hồ nước xanh biếc rộng hơn mười mẫu, trong hồ trồng đầy hoa sen chủng loại đa dạng. Trình Uyên vừa đến bên hồ, liền thấy trên tảng đá lớn bên bờ hồ, dưới chân thác nước, có một nữ t.ử dáng người yểu điệu đang đứng đón gió, tà áo bay bay, tưởng chừng như sắp cưỡi gió bay lên. Trình Uyên sững sờ, cảm thấy khí huyết dâng trào, khóe mắt nóng lên, trái tim cũng đập loạn nhịp không sao kìm nén được. Ông rảo bước nhanh hơn, đến gần nhìn kỹ, trái tim đang nhảy nhót mới dần bình ổn trở lại. Chỉnh lại y quan, ông vái dài chào người nữ t.ử kia: "Liễu nương t.ử vạn an." Liễu Tiệp Dư thế mà lại khẽ nhún mình đáp lễ ông: "Trình tiên sinh vạn phúc." Trình Uyên vội vàng đáp lễ lại, miệng nói: "Nương t.ử làm vậy tổn thọ lão thần mất." Liễu Tiệp Dư mỉm cười: "Trình tiên sinh là lương thần hai triều, ta vốn là phận con cháu, thi lễ là việc nên làm." Trình Uyên lại khiêm tốn tạ ơn, rồi hỏi Liễu Tiệp Dư: "Nương t.ử đến cung Từ Phúc lần này là để thỉnh an Thái hậu sao?" "Thái hậu nói dạo này thường cảm thấy mệt mỏi do tiết thu, không tiện gặp người ngoài nhiều, nên đã miễn cho ta lễ thỉnh an." Liễu Tiệp Dư buồn bã nói, rồi lại mỉm cười với Trình Uyên, "Là ta cố ý ở đây đợi Trình tiên sinh. Có một việc ta rất băn khoăn, mong tiên sinh chỉ giáo." Trình Uyên mời Tiệp Dư cứ nói. Liễu Tiệp Dư bảo: "Hôm qua ta múa khúc 'Lương Châu' tại tiệc Trùng Cửu, Quan gia lúc đó xem xong, khi về tẩm điện lại dặn dò ta không được múa điệu này nữa, nói rằng... Thái hậu không thích." Trình Uyên gật đầu: "Đúng vậy, sau khi Tiên đế băng hà, khúc này đã tuyệt tích trong cung." Liễu Tiệp Dư dè dặt hỏi: "Ta có thể hỏi nguyên do không?" Trình Uyên trầm ngâm không nói. Liễu Tiệp Dư tháo chiếc vòng ngọc mỡ cừu trên cổ tay, định dúi vào tay ông. Trình Uyên vội lùi lại hai bước, cúi người từ chối: "Nương t.ử vạn lần không thể làm thế. Thần không phải kẻ tham tài trục lợi, hơn nữa hành động này của nương t.ử nếu để Thái hậu biết được, e rằng..." Liễu Tiệp Dư hiểu ra, thu lại vòng ngọc, gượng cười: "Là ta suy nghĩ chưa chu toàn, suýt nữa làm liên lụy đến tiên sinh." Trình Uyên cúi đầu nhìn bóng dáng nhu mì của nàng in xuống mặt nước, khẽ thở dài, giữ vẻ mặt cung kính, chậm rãi nói: "Trong cung Tiên đế, từng có một nữ t.ử am hiểu âm luật, giỏi ca múa, nhan sắc đứng đầu Tiên Thiều Viện, người ta gọi là Cúc Bộ Đầu." "Điệu múa 'Lương Châu' kia có liên quan đến bà ấy?" Liễu Tiệp Dư hỏi. Trình Uyên gật đầu: "Bà ấy nhiều lần hiến vũ trong các yến tiệc cung đình, một khúc 'Lương Châu' nhẹ nhàng như chim hồng kinh sợ, uyển chuyển như rồng lượn, vẻ đẹp của điệu múa ấy không ai sánh kịp, đến nỗi sau này bà ấy không còn ở trong cung nữa, Tiên đế vẫn nhớ mãi không quên." Liễu Tiệp Dư trong phút chốc đã hiểu nguyên nhân Hoàng Thái hậu chán ghét điệu múa "Lương Châu", lại vái chào Trình Uyên: "Đa tạ tiên sinh đã cho biết." Trình Uyên vẫn không quên đáp lễ: "Nương t.ử quá khách khí rồi." Liễu Tiệp Dư ngẫm nghĩ, lại hỏi: "Vị Cúc Bộ Đầu này, năm xưa tại sao lại xuất cung? Hiện giờ bà ấy ở đâu?" Trình Uyên khẽ lắc đầu, vẻ mặt bí hiểm: "Chuyện này, nương t.ử đừng nên hỏi nữa." Liễu Tiệp Dư không truy hỏi thêm, cảm tạ lần nữa rồi định cáo từ rời đi. Trình Uyên lại mời nàng dừng bước, dặn dò: "Ngoài Cúc Bộ Đầu ra, còn một vị cung nhân triều Tiên đế nữa cũng tuyệt đối không được nhắc đến trước mặt Thái hậu." "Ồ, là ai vậy?" Liễu Tiệp Dư cúi đầu xin chỉ giáo. Trình Uyên từ tốn thốt ra ba chữ: "Lưu Thượng thực." Chương 12 - Cúc Phu Nhân Đề nghị tuyển chọn nữ t.ử dân gian bổ sung vào Thượng Thực Cục tuy do Bùi Thượng thực đưa ra, nhưng lòng Hoàng đế sáng như gương, biết thừa là do Thái hậu sai khiến. Ngài lấy cớ cung nhân đang thừa, đang muốn cắt giảm để từ chối thẳng thừng. Thái hậu không chịu bỏ qua, sai Thượng Thư Nội Tỉnh lập danh sách những cung nhân già yếu và không làm được việc, xin Hoàng đế sang xuân cho xuất cung. Hoàng đế thấy yêu cầu này hợp tình hợp lý, đành phải chấp nhận. Thế là, số lượng cung nhân giảm mạnh. Khi Bùi Thượng thực nhắc lại chuyện tuyển nữ t.ử dân gian nhập cung, Hoàng đế không còn phản đối nữa, chỉ triệu Trình Uyên đến, phán: "Trẫm đối với chuyện ăn uống không cầu kỳ, Thượng thực nội nhân hầu hạ trong điện hiện giờ đã đủ. Nhưng Thái hậu tuổi đã cao, cơm nước càng cần cẩn trọng dâng nạp, cung Từ Phúc quả thật nên thêm người. Phạm vi tuyển chọn không nên quá rộng, cứ định ở vùng Lưỡng Chiết đi. Tân quan Đề cử Lưỡng Chiết Đông Lộ Thường Bình Trà Diêm Công Sự là Kỷ Cảnh Lan sắp đi tuần tra các châu huyện, chi bằng ngươi đi cùng hắn, truyền ý chỉ của Thái hậu xuống các châu huyện, cuối xuân sang năm tuyển nữ t.ử giỏi nấu nướng vào Thượng Thực Cục, đến lúc đó tuyển được ai thì hoàn toàn nghe Thái hậu sai khiến." Trình Uyên bẩm lại thánh ý với Thái hậu. Thái hậu cân nhắc rồi nói: "Cũng được, nó bảo ngươi đi thì ngươi cứ đi, cứ tuyển người vào trước đã, giao cho ai dùng thì tính sau." Khi Trình Uyên và Kỷ Cảnh Lan đến Phố Giang thì đã vào đông, lễ Hương Ẩm (Tiệc làng thết đãi sĩ tử) diễn ra đúng kỳ hạn tại Văn Miếu. Huyện lệnh Thôi Ngôn Chi nhận được tin sớm, đích thân duyệt thực đơn, điều chỉnh món ăn để đón tiếp hai vị quý khách này. Hôm ấy Thu Nương than mệt mỏi do lao lực nhiều ngày, không tiện dự tiệc, bèn xin phép Thôi Huyện lệnh cáo lỗi xin vắng mặt, để Chân Chân dẫn dắt các nữ đệ t.ử thay bà lo liệu mọi việc. Khi khai tiệc, Chân Chân vừa nhìn thấy Kỷ Cảnh Lan, đôi mắt liền sáng lên, cười nói: "Kỷ tiên sinh, là ngài!" Kỷ Cảnh Lan này chính là người đã cùng Thôi Huyện lệnh vào Thích Trân Lâu thưởng thức món ngon hôm tiệc hủy hôn. Khi ấy ông ta mãn hạn chức quan ở nơi khác, về kinh diện thánh, đi ngang qua Phố Giang, nghe bạn đồng niên là Thôi Ngôn Chi kể chuyện Thích Trân Lâu, tò mò nên đi cùng. Lúc này gặp lại Chân Chân, ông cũng mỉm cười: "Đã lâu không gặp, phong thái Thất công t.ử vẫn như xưa." Chân Chân như gặp lại cố nhân, vui vẻ vô cùng, tự tay rót một chén rượu mời Kỷ Cảnh Lan. Kỷ Cảnh Lan nâng chén uống cạn, nếm thử rồi hỏi: "Đây là rượu Cao Dương (Rượu thịt cừu)?" Chân Chân đáp: "Vâng ạ. Bây giờ đã vào đông, nên chúng ta đổi sang dùng rượu Cao Dương, ấm nóng trừ hàn, hợp với thời tiết." Đôi mắt cười của Kỷ Cảnh Lan nhìn Chân Chân chăm chú: "Rượu này vị cực kỳ ngọt dịu, trơn mượt, không kém gì rượu của Phong Lạc Lâu ở kinh thành, là tửu lầu các cô tự ủ sao?" "Là chúng ta tự ủ đấy." Chân Chân nghe Kỷ Cảnh Lan khen ngợi thì rất vui, hào hứng kể luôn cách làm, "Dùng thịt cừu béo thượng hạng, thái miếng vuông, ninh nhừ với hạnh nhân, lọc lấy nước cốt, trộn với men cơm rượu, rồi dùng mộc hương ủ cùng, mười ngày sau là uống được rồi." "Khá lắm, khá lắm." Kỷ Cảnh Lan khen ngợi, lại hỏi: "Mấy năm nay, quý quán đều tự mình ủ rượu sao?" "Đúng vậy," Chân Chân cười nói, "Chúng ta ngoài rượu Cao Dương còn có rượu nếp và các loại rượu quả như thanh mai, dương mai, tang thầm, hoa quế... Nếu Kỷ tiên sinh rảnh rỗi mời ghé Thích Trân Lâu, ta mời ngài uống thỏa thích." Kỷ Cảnh Lan cười lớn, liên tục nói "Đa tạ". Hương Ẩm lần này, món ăn đã được điều chỉnh theo mùa, thêm nhiều nguyên liệu ôn bổ mùa đông, khác nhiều so với thực đơn hôm tiệc bình phẩm. Tuy nhiên theo ý Thôi Huyện lệnh, món gỏi cua vẫn được giữ lại, chỉ là đổi sang cách nêm nếm của món Cua Rửa Tay Biện Kinh. Trình Uyên nếm thử gật đầu khen ngợi, nói hương vị tươi ngon, lại cực kỳ giống với phong vị truyền thống ở Đông Kinh. Kỷ Cảnh Lan nghe vậy bảo với Trình Uyên: "Thích Trân Lâu làm được món Cua Rửa Tay này xem ra là tàng long ngọa hổ, kiến thức của bếp trưởng không tầm thường. Chẳng những Cua Rửa Tay làm ra được hương vị Đông Kinh, mà một số món ngon quý hiếm bày ra đây cũng mang phong thái của bậc vương hầu." Trình Uyên hỏi món nào khiến Kỷ Cảnh Lan cảm thán như vậy, Kỷ Cảnh Lan bèn kể lại vài món trong tiệc hủy hôn của Chân Chân, rồi than: "Chỉ tiếc cô nương này vì tranh chút khí phách mà phung phí đến thế, không phải người biết tiếc phúc." Trình Uyên mỉm cười nhạt nhìn về phía Chân Chân, ngắm nghía một hồi rồi gọi nàng lại, ôn tồn hỏi: "Nghe nói quý quán tên là 'Thích Trân', không biết có điển cố gì chăng?" Chân Chân định nói lý do nương từng bảo, nhưng nghĩ lại thấy lý do đó bình thường quá, chi bằng dùng điển cố Tống Khải nói để giải thích. Vị trung quý nhân trước mặt trông nho nhã, chắc hẳn cũng đọc nhiều sách, kể giai thoại danh sĩ này chắc ông ta sẽ càng thêm coi trọng Thích Trân Lâu. Nàng bèn đáp: "Tên của Thích Trân Lâu bắt nguồn từ danh ngôn của Tô Tham chính Tô Dịch Giản: 'Thực vô định vị, thích khẩu giả trân'." Thấy Trình Uyên cười mà không nói, nàng nghĩ bụng chắc ông không biết, bèn kể tỉ mỉ lại giai thoại về Tô Dịch Giản và Thái Tông hoàng đế bàn về món nước dưa. Trình Uyên lẳng lặng nghe xong, từ từ vỗ tay khen: "Tuyệt lắm. Món ăn quý tửu lâu ngon miệng, Thất công t.ử lại hiểu lễ nghĩa sách vở, xem ra chủ quán ắt hẳn là một tài sĩ học rộng hiểu nhiều." Thôi Huyện lệnh nghe vậy nói: "Chủ quán Thích Trân Lâu là mẫu thân của Thất công tử, tài mạo song toàn, trù nghệ thượng thừa, tấm lòng và kiến thức lại chẳng thua đấng nam nhi, là kỳ nữ hiếm thấy ở Phố Giang." Trình Uyên hỏi sao chủ quán không dự tiệc, Thôi Huyện lệnh báo việc bà xin nghỉ, Trình Uyên than: "Tiếc thay, không có duyên gặp mặt." Đến tuần rượu thứ năm, có một món tên là "Thỏ Cuộn Mỡ Chài" (Thiêm bàn thố), dùng mỡ chài bọc thịt thỏ đã thái sợi ướp hành, giấm rồi chiên dầu. Thôi Huyện lệnh thấy ngon, mời các cử nhân cùng nếm, mọi người đều động đũa, duy chỉ có Triệu Hoài Ngọc ngồi ngay ngắn, nhìn đĩa thịt thỏ trước mặt mình mà không hề động đũa. Thôi Huyện lệnh thấy thế, liên tục khuyên mời, Triệu Hoài Ngọc có vẻ lúng túng đáp rằng dạo này dạ dày không tốt, không nên ăn nhiều đồ dầu mỡ. Thôi Huyện lệnh nói: "Chỉ nếm một miếng thôi, không ngại gì đâu, đừng phụ tấm lòng người đầu bếp." Thấy Triệu Hoài Ngọc cứ lần lữa mãi không ăn, Chân Chân cũng lại gần khẽ khuyên: "Thịt thỏ là món ngon mùa đông, nhưng tính mát vị ngọt, bổ trung ích khí, lương huyết giải độc, được xưng là 'món chay trong các loại thịt', chắc sẽ không hại dạ dày đâu." Triệu Hoài Ngọc gật đầu, nhưng vẫn không có ý định cầm đũa. Thôi Huyện lệnh nhìn, mày hơi chau lại. Phượng Tiên thấy tình thế đó, tay cầm bình rượu đi từ phía sau tới, làm bộ rót rượu cho Triệu Hoài Ngọc, nhưng dường như va phải góc bàn, khẽ kêu lên một tiếng, bình rượu tuột tay, cả bình lẫn rượu đổ ụp vào đĩa thịt thỏ trước mặt Triệu Hoài Ngọc. Phượng Tiên vội vàng quỳ xuống, liên tục xin lỗi, Chân Chân cũng lập tức xúm vào cùng nàng dọn dẹp. Trình Uyên lạnh lùng quan sát, lúc quay đầu đi, cười nói chúc rượu Thôi Huyện lệnh. Thôi Huyện lệnh vội nâng chén đáp lễ, không còn chú ý đến Triệu Hoài Ngọc nữa. Phượng Tiên nhân cơ hội dọn đĩa thịt thỏ đi, rất nhanh sau đó đổi một đĩa món chay của Di Bối Lâu đặt trước mặt Triệu Hoài Ngọc. Triệu Hoài Ngọc khẽ nói lời cảm ơn, ánh mắt chứa chan nhìn Phượng Tiên đầy lòng biết ơn. Tiệc Hương Ẩm bắt đầu từ trưa, kéo dài suốt bốn canh giờ mới kết thúc. Ra khỏi Văn Miếu, Chân Chân nói riêng với Phượng Tiên: "Cái huynh Triệu Hoài Ngọc kia không biết tại sao, sống c.h.ế.t không chịu ăn thịt thỏ. Thôi Huyện lệnh khuyên đến thế rồi, muội nhìn mà cũng thấy ngại thay. May mà tỷ tỷ thông minh, nghĩ ra cách giải vây kịp thời." Phượng Tiên nói: "Huynh ấy không ăn tự có lý do của huynh ấy. Chúng ta mời khách dùng món, mời một lần khách từ chối, có thể là khách sáo, hoặc vì lý do vặt vãnh nào đó. Nhưng mời đi mời lại mà khách vẫn không ăn, tức là có lý do huynh ấy không thể ăn được, chúng ta đừng nên ép nữa. Mật ngọt trong mắt muội, có khi lại là thạch tín trong mắt người ta, chưa chắc thứ mình thấy tốt thì người khác cũng phải thích." Chân Chân khen: "Vẫn là tỷ tỷ biết suy bụng ta ra bụng người, suy nghĩ chu đáo." Phượng Tiên cười nhẹ: "Lớn lên nhờ nhìn sắc mặt thực khách mà sống, chút đạo lý cỏn con này, chẳng lẽ còn không hiểu sao?" Bỗng nghe sau lưng có người gọi, hai cô nương quay lại, thấy người rảo bước đuổi theo chính là Triệu Hoài Ngọc. Chàng chạy đến trước mặt hai người, vái chào liên tục, chân thành cảm tạ. Chân Chân nhìn Phượng Tiên cười nói: "Huynh cảm ơn Phượng Tiên tỷ tỷ là được rồi, là tỷ ấy giúp huynh... Đúng rồi, lần trước cách dùng chỉ rút vảy cá cũng là tỷ ấy nghĩ ra, tỷ ấy chính là người 'bị hạt hoài ngọc' mà huynh nói đấy." Triệu Hoài Ngọc nghe vậy nhìn Phượng Tiên, trong mắt càng thêm phần khâm phục, lại trịnh trọng cảm ơn lần nữa. Phượng Tiên cũng nhún mình đáp lễ, một lát sau ngẩng đầu lên, ánh mắt chạm phải ánh mắt Triệu Hoài Ngọc, phát hiện chàng vẫn luôn chăm chú nhìn mình, đôi má Phượng Tiên ửng hồng, lặng lẽ cụp mắt, không dám nhìn chàng nữa. "Có thể cho chúng ta biết tại sao huynh không chịu ăn thịt thỏ không?" Chân Chân không nén được tò mò, hỏi Triệu Hoài Ngọc, "Chuyện dạ dày chắc không phải là nguyên nhân chính đâu nhỉ?" Thấy Triệu Hoài Ngọc im lặng, Chân Chân vội nói: "Là ta mạo muội rồi, xin đừng để bụng, huynh không trả lời cũng được." "Không sao, ta có thể nói cho cô nương biết." Triệu Hoài Ngọc lúc này mới lên tiếng, đưa ra đáp án, "Vì mẫu thân ta sinh năm Mão, cầm tinh con Thỏ, cho nên cả đời này ta sẽ không bao giờ ăn thịt thỏ." Chân Chân và Phượng Tiên về đến Thích Trân Lâu chưa được bao lâu, người của nha môn lại đến, báo rằng quý nhân từ kinh thành rất thưởng thức món ngon của Thích Trân Lâu, thán phục tài năng của chủ quán, muốn mời chủ quán đến nha môn đàm đạo. Thu Nương nghe xong hồi lâu không đáp. Chân Chân thấy nương sắc mặt trắng bệch, bèn nói với người nọ: "Nương ta sức khỏe không tốt, hôm nay không tiện ra ngoài, mong quý nhân thư thả cho một ngày, ngày mai ta cùng nương sẽ đến bái phỏng." Người nọ đáp: "Quý nhân đã nghĩ đến việc này, sớm đã mời danh y đến, đang ở ngay nha môn, vừa khéo có thể chẩn trị cho Ngô nương tử." Người nọ năm lần bảy lượt mời mọc, Chân Chân bất lực nhìn nương. Thu Nương từ từ đứng dậy, nói: "Ta tuân mệnh là được chứ gì." Bà chậm rãi bước đến trước mặt Chân Chân, dịu dàng nhìn con gái, trong mắt thoáng qua nét u sầu. Chân Chân ngơ ngác gọi một tiếng "Nương". Thu Nương đưa tay ôm lấy con, bàn tay phải khẽ v**t v* khuôn mặt Chân Chân, nhẹ nhàng nói: "Nương đi một lát rồi về, con ở nhà ngoan nhé." Chân Chân cảm thấy ngón tay nương lạnh ngắt, bèn nói: "Nương ơi, trời lạnh, nương mặc thêm áo rồi hãy đi." Thu Nương cười nhạt, cũng chẳng đáp lời, nhìn Chân Chân thật sâu, rồi đưa mắt nhìn quanh mọi người trong Thích Trân Lâu một lượt, sau đó đưa tay vuốt tóc mai, chỉnh lại trâm cài, rồi theo người của nha môn đi xa dần. Đến nha môn, nha lại nói quý nhân đang đợi ở Mai Đường hậu viện, dẫn Thu Nương vòng qua lối hoa lạp mai đang nở rộ mà đi vào. Đến Mai Đường, nha lại dẫn Thu Nương vào trong cửa, Thu Nương thấy giữa đường có một người mặc y phục hoạn quan đang đứng chắp tay sau lưng quay mặt về phía bà. Nha lại bẩm báo Thu Nương đã đến, người nọ ra lệnh cho nha lại lui xuống, mới từ từ quay người lại. Ánh mắt ông ta trước tiên rơi xuống cái bóng thon dài của Thu Nương do ánh tà dương hắt xuống, cảm nhận hương hoa lạp mai theo bà đưa tới, dường như suy tư hồi lâu, mới ngẩng đầu lên. Nhìn rõ mặt mày Thu Nương, ông ta nở nụ cười mỏng manh, vái chào Thu Nương thật sâu, rồi chậm rãi nói: "Lâm An từ biệt, đến nay đã mười chín thu. May mắn thay phu nhân tóc vẫn xanh, má vẫn hồng, chưa từng bị năm tháng vùi dập." Giọng ông ta êm ái, cử chỉ nho nhã, nhưng Thu Nương nghe mà sống lưng lạnh toát, góc tay áo buông thõng khẽ run lên. Bà nhìn ông ta chằm chằm một lúc, chút hy vọng mong manh còn sót lại trong lòng như ngọn nến trước gió lần lượt tắt lịm. Mặt bà xám ngoét như tro tàn, cuối cùng chỉ thốt ra một câu: "Ta chỉ có một thỉnh cầu... đừng làm hại con ta." Trình Uyên nhìn bà, đáy mắt không nhìn ra chút buồn vui nào. Dường như trong lòng cân nhắc rất lâu, ông ta chậm chạp mới đưa ra lời hồi đáp: "Ta hứa với bà, Cúc phu nhân." Chương 13 - Kinh Biến Chân Chân đợi mãi đến tối mịt vẫn không thấy nương về, vội chạy đến nha môn nghe ngóng. Thôi Huyện lệnh đích thân ra gặp, vẻ mặt nghiêm trọng báo cho nàng biết, Thu Nương là cung nhân bỏ trốn khỏi Đại Nội nhiều năm trước, Trình Uyên đã đưa bà ra khỏi thành, áp giải về cung, giao cho Hoàng Thái hậu xử lý. Chân Chân như bị sét đ.á.n.h ngang tai, lập tức muốn đuổi theo tìm nương, nhưng chạy đến cổng thành thì thấy cửa lớn đóng chặt, lính canh nghiêm ngặt, không sao ra được. Chân Chân định bụng đợi đến sáng, hễ mở cổng thành là đuổi theo ngay, bỗng thấy Tương Diệp hốt hoảng chạy tới, vừa thấy nàng đã kêu thất thanh: "Xảy ra chuyện rồi! Tửu lâu xảy ra chuyện rồi!" Kỷ Cảnh Lan sai người ngay trong đêm phong tỏa phòng kế toán của Thích Trân Lâu, tịch thu toàn bộ sổ sách, kiểm kê số rượu Thích Trân Lâu tự ủ, và bắt giam Bồ bá. Kỷ Cảnh Lan hiện giữ chức "Đề cử Lưỡng Chiết Đông Lộ Thường Bình Trà Diêm Công Sự", quản lý chính là việc thuế má tài chính các châu huyện vùng Lưỡng Chiết. Trong các khoản thu thuế của triều đình hiện nay, thu nhập từ độc quyền rượu chỉ đứng sau hai khoản thuế Hạ, Thu và thuế muối, xếp vị trí thứ ba. Tổng thu nhập thuế rượu chiếm hai phần mười ngân sách cả năm, trong đó thuế rượu vùng Lưỡng Chiết lại cao nhất, vượt xa các lộ khác. Triều đình quản lý nghiêm ngặt việc đ.á.n.h thuế và độc quyền rượu, hạn chế các tửu lầu tự ủ rượu. Tửu lầu trong kinh thành chia làm "Chính đm" quy mô lớn và các "Cước đm" còn lại. Men rượu do quan phủ bán, và chỉ bán cho Chính đm, giá men đã bao gồm thuế. Cước đm không được tự ý ủ rượu, rượu bán ra chỉ được nhập từ kho rượu quan hoặc từ Chính đ**m. Trong thành các châu đều đặt Quan Tửu Vụ (Cơ quan rượu nhà nước), ủ rượu bán cho các tửu lầu. Còn ở huyện trấn hương thôn, để nâng đỡ các tửu lầu nhỏ, cho phép họ tự ủ rượu, thu thuế rượu theo định mức, nhưng nếu lợi nhuận từ rượu tự ủ vượt quá một mức nhất định, quyền ủ rượu sẽ bị thu hồi, chuyển về chế độ Quan cô, tức là Quan Tửu Vụ độc quyền bán. Kỷ Cảnh Lan vừa đến Phố Giang, yến tiệc xa hoa của Chân Chân đã để lại ấn tượng sâu sắc cho ông ta. Nay tại tiệc Hương Ẩm lại thấy Thích Trân Lâu toàn dùng rượu tự ủ, ước tính quy mô, ông ta phán đoán lợi nhuận rượu của Thích Trân Lâu chắc chắn vượt quá phạm vi cho phép dân tự ủ. Thế là lập tức phái người phong tỏa Thích Trân Lâu, tra kỹ sổ sách, phát hiện tính theo lợi nhuận rượu, quyền tự ủ rượu của Thích Trân Lâu lẽ ra phải bị thu hồi từ ba năm trước, chuyển sang chế độ Quan cô. Là Bồ bá đã "phù phép", chuyển một phần lợi nhuận rượu của ba năm nay sang các khoản thu nhập thực phẩm khác để báo cáo thuế, mà huyện nha không phát hiện ra, nên mới được tự ủ rượu đến nay. Thích Trân Lâu vì thế mà bị niêm phong. Bồ bá bị bắt giam trước sau như một khăng khăng Thu Nương và Chân Chân không hay biết gì, nương con họ người thì chỉ biết nấu ăn, kẻ thì mải mê chơi bời, đều không quản sổ sách. Việc sửa đổi sổ sách hoàn toàn do ông tự quyết định, vì sợ mất quyền ủ rượu sẽ làm mất đi một điểm đặc sắc lớn của Thích Trân Lâu, bị các đối thủ như Di Bối Lâu đ.á.n.h bại. Kỷ Cảnh Lan cũng tin là nương con họ Ngô không biết, nói: "Với sự khôn ngoan của Ngô Thu Nương, không thể nào biết rõ lợi nhuận rượu vượt mức mà còn dám mang rượu tự ủ vào tiệc Hương Ẩm. Còn Ngô Chân Chân nếu biết, cũng sẽ chẳng vô tư vô lo mời ta uống rượu nhà mình ủ như thế." Kỷ Cảnh Lan báo cáo tình hình lên châu phủ, phạt Thích Trân Lâu một khoản tiền khổng lồ, còn hình phạt dành cho Bồ bá được định là ba năm tù khổ sai. Huyện lệnh Thôi Ngôn Chi cũng bị Kỷ Cảnh Lan định tội giám sát không nghiêm, lơ là chức vụ, bị giáng chức, điều đi nơi khác. Chân Chân cầu kiến Kỷ Cảnh Lan xin tha cho Bồ bá, nói Bồ bá làm vậy tuy hồ đồ nhưng không có tư tâm, thấy nương con nàng cô quả, bao năm nay dốc lòng giúp đỡ mọi việc, tiền công cũng chỉ nhận đủ sống, tuyệt đối không phải kẻ tham tài. Mong Kỷ tiên sinh khoan dung, nếu muốn phạt, hãy phạt Chân Chân, chỉ xin tha cho Bồ bá. Kỷ Cảnh Lan từ chối ngay lập tức: "Ta đã điều tra rõ, trước tiệc hủy hôn cô chưa từng nhúng tay vào việc của Thích Trân Lâu, tội danh này không đến lượt cô gánh. Việc cô cần làm bây giờ là gom tiền nộp phạt cho nhanh." Chân Chân khẩn cầu hết lời, Kỷ Cảnh Lan vẫn sắt đá không lay chuyển. Chân Chân hết cách, trừng mắt nhìn ông ta, nhớ lại cảnh ông ta moi tin từ mình trong tiệc Hương Ẩm, trong mắt bùng lên ngọn lửa giận dữ không thể che giấu. Kỷ Cảnh Lan thấy vậy hỏi: "Cô có phải rất hận ta không?" Chân Chân im lặng một lát, hỏi ngược lại: "Đáp án có hai, một cái nghe lọt tai, một cái hơi khó nghe, ông muốn nghe cái nào?" Kỷ Cảnh Lan cười: "Nói cái lọt tai trước đi." Chân Chân đáp: "Ông ở cương vị đó, chấp pháp công bằng, không có gì đáng trách." "Không tồi, Thất công t.ử không phải người không hiểu chuyện." Kỷ Cảnh Lan nói, lại hỏi: "Thế còn cái khó nghe?" Chân Chân nghiến răng: "Ta thật muốn đem ông chiên lên làm món Đầu cừu cuốn mỡ chài." Kỷ Cảnh Lan cười lớn, đứng dậy chắp tay sau lưng bước đến trước mặt Chân Chân, hỏi tiếp: "Cô có phải cảm thấy ta là kẻ bạc tình bạc nghĩa, chẳng những không thể cảm thông cho tấm lòng trung thành của Bồ bá đối với nương con cô, mà ngay cả người bạn đồng niên cùng ta lên kinh ứng thí năm xưa là Thôi Huyện lệnh cũng bị ta hạch tội?" Chân Chân im lặng không đáp. Kỷ Cảnh Lan chậm rãi nói: "Tội phạm nào cũng có thể đưa ra cả đống lý do đáng thương, nhưng phán quyết là dựa vào kết quả vụ án, chứ không phải nhân tình. Trong lòng tất cả những người cầm cân nảy mực đều phải khắc ghi bốn chữ: Pháp bất dung tình." Tuy nhiên, lời cầu xin của Chân Chân dường như cũng có chút tác dụng. Hình phạt tù khổ sai của triều đại này nặng nhất là ba năm. Khi thi hành án phạt cho Bồ bá, Kỷ Cảnh Lan đã viện dẫn "Chiết Trượng Pháp" (Luật đổi sang đ.á.n.h gậy), xin châu phủ đổi thành đ.á.n.h hai mươi trượng vào lưng thay cho ba năm tù. Thế là Bồ bá chịu hai mươi gậy, tuy chịu nỗi đau da thịt, nhưng tránh được tai kiếp mất tự do ba năm. Bồ bá chịu đòn xong được đón về nhà, nằm sấp trên giường không cử động được, ngày nào cũng phải thay t.h.u.ố.c trên lưng. Khi ấy Chân Chân đã chạy đi Lâm An nghe ngóng tin tức của nương, những cô gái còn lại trong Thích Trân Lâu ngại chuyện nam nữ thụ thụ bất thân, nhìn nhau ái ngại, không tiện thay t.h.u.ố.c cho Bồ bá. Cuối cùng Tương Diệp đứng ra: "Có gì khó đâu? Cũng giống như ướp thịt khô hong gió thôi mà!" Tương Diệp vào phòng Bồ bá, thoăn thoắt thay t.h.u.ố.c cho ông, hỏi Bồ bá có đau không. Bồ bá nói: "Đau thì tự nhiên là đau rồi, nhưng trận đòn này nhẹ hơn ta tưởng, ít nhất không đ.á.n.h gãy bộ xương già này của ta." "Đương nhiên là nhẹ rồi," Tương Diệp vừa dọn dẹp t.h.u.ố.c thừa vừa bâng quơ nói, "Ta cũng chỉ tốn tiền để dành một hai năm nay mua rượu mời mấy vị lính hành hình uống thôi mà." Chân Chân ở Lâm An hoàn toàn không nghe ngóng được chút tin tức nào của nương, phủ Lâm An căn bản không thèm để ý đến yêu cầu tìm nương của nàng, Đại Nội lại càng không thể đến gần, từ xa đã bị cấm vệ quát đuổi. Dương Thịnh Lâm nghe tin chạy tới, cũng nhờ vả thân hữu ở Lâm An hỏi thăm tung tích Ngô Thu Nương, đều không có kết quả, Thu Nương cứ như bốc hơi khỏi thế gian. Chân Chân hết kế khả thi, khóc ròng mấy ngày, mắt thấy ngày nộp phạt đã cận kề, đành phải quay về Phố Giang giải quyết. Phượng Tiên giúp Chân Chân kiểm kê tài sản Thích Trân Lâu, Chân Chân mới phát hiện những năm qua tuy tửu lầu làm ăn phát đạt, nhưng tiền mặt trong quán không nhiều. Thu nhập ngoài phần lớn dùng cho chi tiêu cần thiết và nhập hàng, phần còn lại đã bị nàng tiêu xài hoang phí quá nửa. Muốn gom đủ tiền phạt, chỉ còn cách bán tửu lầu. Chân Chân nghĩ đến nguyên nhân hậu quả, chợt nhận ra hoàn cảnh bi đát hôm nay đều do thói phô trương khoe khoang của mình mà ra, không khỏi khóc lớn một trận, cả ngày trà cơm không thiết, chỉ trong mấy ngày ngắn ngủi đã tiều tụy xác xơ. Phượng Tiên khuyên nàng: "Khóc lóc không giải quyết được khó khăn. Việc cấp bách bây giờ là gom đủ tiền phạt. Tửu lầu không giữ được thì tạm thời bán đi cũng không sao, miễn người bình an là được. Sư nương năm xưa cũng từ hai bàn tay trắng dựng nghiệp, chỉ cần chị em chúng ta đồng lòng, Thích Trân Lâu ắt có ngày Đông Sơn tái khởi." Được lời khuyên giải, Chân Chân xốc lại tinh thần, chuẩn bị rao bán tửu lầu. Tuy nhiên tửu lầu này không nhỏ, người có thể trả đủ tiền một lần theo yêu cầu của nàng không nhiều, dù có người muốn mua cũng nhân cơ hội ép giá, cái giá rẻ mạt đưa ra khiến người ta tức muốn thổ huyết. Đúng lúc này Dương Thịnh Lâm tìm nàng nói chuyện, nguyện ý mua lại tửu lầu với giá thị trường, nói: "Chuyện mang kỹ nữ đi chơi là ta sai, ta luôn cảm thấy có lỗi với nàng. Nay ta muốn mua lại tửu lầu cho nhà nàng, không phải muốn nhân lúc cháy nhà mà hôi của nuốt trọn Thích Trân Lâu. Nàng cứ coi như ta tạm thời tiếp quản, đợi nàng vượt qua cơn khủng hoảng này, khi nào muốn chuộc lại, ta sẵn sàng trả lại cho nàng bất cứ lúc nào." Chân Chân thấy thái độ hắn chân thành, bản thân cũng không còn cách nào tốt hơn, đành phải đồng ý, nhận tiền nhà họ Dương nộp phạt, rồi giao Thích Trân Lâu cho Di Bối Lâu kinh doanh. Người của Thích Trân Lâu cũ, có người ở lại tiếp tục làm việc dưới sự quản lý của cha con họ Dương, có người được nhà giàu khác thuê, vì sinh kế cũng đi nơi khác. Các tỷ muội cũng tan đàn xẻ nghé, chỉ có Tương Diệp và Phượng Tiên ở lại. Tương Diệp chủ yếu chăm sóc Bồ bá, còn Phượng Tiên quyết ý cùng Chân Chân gây dựng lại từ đầu, mở một quán nhỏ chờ Thu Nương trở về. Trong thời gian này Triệu Hoài Ngọc thường xuyên đến thăm họ. Thấy cuộc sống của họ khó khăn, Chân Chân lại càng thêm sầu khổ, chàng gợi ý: "Gần đây châu huyện đã truyền tin xuống, cuối xuân sang năm sẽ tuyển nữ t.ử dưới hai mươi tuổi giỏi trù nghệ vào Thượng Thực Cục. Thất công t.ử đã muốn tìm nương, chi bằng nhân cơ hội này tham gia ứng tuyển, tương lai nếu được vào cung, chắc chắn sẽ có cách gặp lại lệnh đường." Chân Chân thấy khả thi, chỉ lo trù nghệ mình không tinh, sợ không được chọn. Phượng Tiên nói: "Tỷ có thể dạy muội. Muội lớn lên ở Thích Trân Lâu, người lại thông minh, ắt có thiên phú. Chỉ cần khổ luyện vài tháng, sẽ có cơ hội được chọn." Thế là Chân Chân đi theo Phượng Tiên, học từ cách cầm dao, bắt đầu khổ luyện tay nghề. Tuy nhiên, những ngày tháng ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Một hôm, có mấy người hầu lớn tuổi ăn mặc sang trọng, trông như người của nhà quan lại quyền quý đến Phố Giang. Sau vài lần dò hỏi, họ tìm được Phượng Tiên, vây quanh nàng cười nói vái chào liên tục: "Tìm thấy Nhị cô nương rồi. Bao năm nay, phu nhân không ngày đêm nào không mong nhớ cô nương, Tướng quân tìm kiếm bao năm, cuối cùng cũng biết tung tích cô nương, sai chúng ta đến đón cô nương về nhà." Theo lời họ, cha của Phượng Tiên là Tri Tinh Nam Phủ Lăng Đào hiện nay, nhiều năm qua luôn cầm quân trấn thủ biên cương, nên họ gọi là Tướng quân. Phượng Tiên bị lạc năm sáu tuổi trên đường Lăng Đào đưa gia quyến đi nhậm chức, nay tìm được rồi, muốn đón Phượng Tiên về Tinh Nam Phủ đoàn tụ với gia đình. Thấy Phượng Tiên có thể đoàn tụ với người thân, Chân Chân cũng mừng cho nàng, khuyên nàng theo người hầu về nhà. Phượng Tiên lại chẳng hề vui vẻ, nói riêng với Chân Chân: "Tỷ không muốn về. Họ nói tỷ không cẩn thận bị lạc, nhưng tỷ nhớ rất rõ, lúc đó tỷ đang ốm, là cha tỷ giằng tỷ từ tay nương, vứt bỏ bên đường ngoài thành Phố Giang. Nếu không gặp được sư nương, tỷ còn không biết sẽ ra sao." Chân Chân cảm thấy khó tin: "Đã là cha ruột, sao có thể vì con ốm mà vứt bỏ con mình? E là có hiểu lầm gì chăng?" Phượng Tiên thở dài: "Ông ấy cho rằng tỷ là người không mang lại may mắn, xưa nay vẫn đối xử không tốt với tỷ." Dù trong lòng muôn vàn không nguyện ý, cuối cùng Phượng Tiên vẫn theo người hầu đi Tinh Nam, bởi vì họ báo cho nàng một tin: "Phu nhân bệnh nặng, đang mong cô nương về." Phượng Tiên đi rồi, việc học nghề của Chân Chân không còn người chỉ dạy. Tuy Tương Diệp thỉnh thoảng có ghé qua, nhưng Bồ bá nằm liệt giường lâu ngày, nàng ấy cũng không thể ở lại lâu. Chân Chân nhớ Triệu Hoài Ngọc từng chỉ điểm cho Di Bối Lâu nấu ăn, bèn hỏi chàng có thể dạy mình không. Triệu Hoài Ngọc nói: "Thực ra về chuyện bếp núc, hiểu biết của tại hạ có hạn, mấy món dạy cho Di Bối Lâu hồi đó là học được từ một người bạn. Vị bạn hữu này mới là người học vấn uyên bác, có kiến giải độc đáo về món ăn của văn nhân. Cô nương nếu có thể theo người ấy học nghề, chắc chắn sẽ thu hoạch không nhỏ. Chỉ ngại là người ấy không ở Phố Giang, hiện đang sống ở núi Vũ Di, cô nương đi đến đó, không biết có tiện hay không." Chân Chân nghĩ người bạn này chỉ dạy vài chiêu đã khiến Di Bối Lâu tỏa sáng, chứng tỏ đúng là có tài thực học. Lại thấy Triệu Hoài Ngọc hết lời khen ngợi người này, lòng hiếu kỳ càng lớn, bèn quyết định lên núi Vũ Di. Triệu Hoài Ngọc viết một bức thư giao cho Chân Chân, dùng để tiến cử. Trên phong bì viết mấy chữ: Kính gửi Vấn Tiều tiên sinh. Vấn Tiều tiên sinh (Tiên sinh Hỏi Tiều Phu), cái tên nghe già khú đế. Chân Chân thầm nghĩ trong bụng, chắc là một ông lão râu tóc bạc phơ đây. Chương 14 - Hạc Công Tử Núi Vũ Di cách Phố Giang ngàn dặm xa xôi, Chân Chân cưỡi ngựa đi cả ngày lẫn đêm, cũng phải mất nhiều ngày mới đến được chân núi. Lúc ấy ngựa đã sức cùng lực kiệt, trong núi lại gió tuyết tơi bời, Chân Chân thấy đường núi trơn trượt, ngựa không thể đi tiếp, bèn gửi ngựa ở nhà nông dân dưới chân núi, tự mình khoác hành lý lên vai đi bộ vào núi. Triệu Hoài Ngọc nói Vấn Tiều tiên sinh sống ở Vấn Tiều Dịch trên đỉnh Ẩn Bình. Chân Chân hỏi thăm hướng đi đại khái ở chân núi rồi cứ thế tiến vào. Núi Vũ Di non xanh nước biếc, dòng suối uốn lượn, phong cảnh vốn dĩ vô cùng tú lệ. Nhưng đang độ giữa đông, gió tuyết mịt mù, đường núi gập ghềnh khó đi, Chân Chân cũng chẳng còn tâm trí đâu mà thưởng ngoạn cảnh sắc. Nàng men theo suối Cửu Khúc mà đi, thấy một ngọn núi cao vút dựng đứng ngàn trượng, vuông vức như bức bình phong, đoán đó chính là đỉnh Ẩn Bình, bèn dốc sức leo lên. Dọc đường chỉ thấy núi non hiểm trở, rừng rậm âm u, chẳng biết ngã bao nhiêu lần, lăn lóc bao nhiêu bận mới leo được đến lưng chừng núi. Phóng mắt nhìn ra xa, bốn bề chỉ thấy mây nước mênh mang, tuyệt nhiên không một bóng người. Chân Chân đã độc hành quá nửa ngày, lương khô và nước mang theo đã cạn kiệt, lúc này vừa đói vừa rét, tuyết trước mặt ngập sâu cả thước, đường phía trước mờ mịt, chẳng thấy bóng dáng nhà cửa đâu. Chân Chân nhìn quanh, thấy cách đó không xa dường như có một hang đá, bèn cố lê bước tới, định vào hang tránh gió tuyết một lát. Nào ngờ vừa đi được vài bước đã thấy hoa mắt chóng mặt, hai đầu gối mềm nhũn, ngã gục xuống thế giới lưu ly khói lạnh giăng đầy này. Ý thức mơ hồ, sắp sửa ngất lịm, bỗng nghe một tiếng hạc kêu lảnh lót, cảm giác như có loài chim từ trên không lượn vòng xuống, đáp ngay trước mặt nàng. Chân Chân từ từ mở mắt, trong tầm nhìn dần dần rõ nét bỗng hiện ra một con hạc lông trắng như tuyết, đỉnh đầu đỏ thắm. Con hạc có chiếc cổ thon dài thanh tú, lông vũ tinh khiết sáng ngời, chỉ có cổ, đuôi và chân là màu đen. Trong chiếc mỏ dài của nó ngậm một cành hồng mai, đóa hoa đỏ rực, màu sắc gần giống đỉnh đầu nó, trên cánh hoa còn đọng vài bông tuyết trắng, tôn nhau lên càng thêm trong trẻo lấp lánh. Hạc ngậm hồng mai, mở to đôi mắt nâu đen sâu thẳm lẳng lặng nhìn Chân Chân, ánh mắt thâm trầm hệt như mắt người. Chân Chân nhìn nó chằm chằm một lúc, con hạc chẳng quay đầu đi cũng chẳng lùi bước, bốn mắt cứ nhìn nhau hồi lâu. Cuối cùng Chân Chân không nhịn được thở dài: "Ngươi là đực hay cái thế? Nếu là đực, cứ nhìn chằm chằm con gái nhà người ta thế này, không thấy xấu hổ sao?" Con hạc vẫn im lặng, nhưng bước lên một bước, cúi đầu, rũ tuyết trên đóa hoa mai xuống môi Chân Chân. Vài điểm mát lạnh nhẹ nhàng rơi xuống đôi môi khô nẻ vì lạnh của Chân Chân. Nàng vô thức mím môi, cảm giác như vừa được tuyết hôn một cái. Chân Chân còn đang ngẩn ngơ, con hạc đã nhả cành mai xuống, vỗ cánh kêu vang, tựa như đang múa. Một lát sau, nó vươn cổ ngẩng đầu, sải rộng đôi cánh, bay vút lên không trung. Chân Chân ngước mắt nhìn theo bóng hạc, nhưng rồi lại thấy đầu nặng trĩu, trước mắt tối sầm, gục xuống đất. Trước khi hôn mê, nàng mơ hồ nghe thấy tiếng bước chân từ phía trước vọng lại. Là tiếng giày giẫm lên tuyết phát ra tiếng lạo xạo rất khẽ, thi thoảng lẫn tiếng cành khô gãy vụn dưới chân, từng bước từng bước, nhịp điệu ung dung, từ xa đến gần. Khi người đó đến gần nàng, Chân Chân dùng hết chút sức lực cuối cùng mở mắt nhìn, nhưng ngặt nỗi không sao ngẩng đầu lên được. Nàng chỉ nhìn thấy đôi giày gỗ đế đen mũi cong hình mây của người đến, cùng với vạt dưới của chiếc áo choàng lông hạc rộng thùng thình, trắng muốt như lông hạc. Người khoác áo choàng lông hạc lẳng lặng đứng trước mặt nàng, nhưng không cúi xuống nói với nàng lời nào. Chân Chân lúc này đến cả sức để thốt lên tiếng cũng không còn, đôi mắt nhắm nghiền, chìm vào cơn hôn mê dài đằng đẵng. Trước khi Chân Chân tỉnh lại, nàng ngửi thấy một mùi hương hoa mai thanh khiết thoang thoảng. Mở đôi mắt còn đang mơ màng, nàng phát hiện mình vẫn mặc nguyên quần áo nằm trên một chiếc giường có bốn cột sơn đen. Trên bốn cột dùng những thanh gỗ nhỏ cùng màu ghép dọc ngang làm nóc, chia thành những ô vuông lớn hình chữ nhật. Khung gỗ được phủ giấy dó trắng mịn, giấy dó nhẹ xốp trắng tinh, khiến nóc màn trông như mây khói lững lờ. Nhìn sang trái phải, thấy ba mặt giường cũng được vây quanh bởi bình phong giấy dó, chỉ chừa lại một mặt để lên xuống giường là không che kín, mà buông một tấm rèm cuốn cùng màu. Bên trong rèm có cốt tre, mặt ngoài vẫn là giấy dó. Rèm cuốn chia làm hai bức, có thể cuộn lên hạ xuống riêng biệt. Bên ngoài màn trướng trắng này có ánh nến hắt vào, như nắng ấm soi rọi màn sương xuân lưng chừng núi. Trên mỗi cột sơn đen treo một chiếc bình thiếc màu bạc, trong bình cắm vài cành mai, bóng hoa thưa thớt nghiêng nghiêng, hương thơm thoang thoảng lan tỏa, tụ lại trong không gian mờ ảo sương khói này, mãi không tan. Trên giường trải ga vải và chăn giấy dó, đều nhã nhặn sạch sẽ vô cùng, mềm mại nhẹ ấm, trở mình êm ái như ôm mây vào lòng, tuyệt nhiên không phát ra tiếng động. Còn gối thì chắc là nhồi bằng hoa cúc, ngửi thấy mùi thảo mộc tươi mát. Chân Chân vén rèm cuốn, bước xuống chiếc bục gỗ nhỏ trước giường, ra khỏi trướng giấy hoa mai, chỉ thấy trước giường đặt một chiếc bàn kỷ nhỏ cao, chạm hình lá sen, sơn màu xanh lục, dáng vẻ yểu điệu mọc lên từ chân đế, nâng đỡ một chiếc lư hương đồng xanh nhỏ xíu. Trong lư hương đang cách lửa xông hương t.ử đằng. Chân Chân cảm thán nơi này thật phong nhã, hồi lâu mới dời mắt khỏi bên giường, nhìn về phía cửa sổ đối diện. Bên cửa sổ có một chiếc ghế mây, một nam t.ử trẻ tuổi đang nửa nằm nửa ngồi trên ghế, tóc buộc bằng khăn mềm, mặc đạo y màu trắng, viền đen làm điểm nhấn. Một chiếc áo choàng lông hạc một nửa đắp trên gối chàng, một nửa rủ xuống đất như dòng nước chảy. Chàng chống tay phải lên trán nhắm mắt ngủ, tay trái cầm một cuốn sách, đặt trên áo choàng. Chân Chân lặng lẽ bước đến bên chàng, nương theo ánh sáng từ chân nến hình hoa sen cách đó không xa nhìn rõ đường nét khuôn mặt chàng. Nhất thời gió yên bụi lắng. Bóng mai nghiêng nghiêng, sương xuân lãng đãng, hương thơm và lá sen đều lặng lẽ lùi xa, ngoài cửa sổ trăng lạnh như mày ngài, trong mắt Chân Chân lúc này chỉ in bóng người nam t.ử đẹp tựa ánh trăng kia. Nàng từ từ ngồi xuống đất bên trái ghế mây, nghiêng người dựa vào ghế, chống cằm, mím môi kìm nén tiếng thở dài sắp bật ra, lẳng lặng ngắm nhìn chàng. Từ đôi lông mày sắc nét như d.a.o cắt, hàng mi rợp bóng như cánh ve, đôi môi cong cong như dây cung, đến những ngón tay thon dài đang giữ cuốn sách, chỉ thấy chỗ nào cũng đẹp. Nhưng không chỉ là đẹp đơn thuần, trên người chàng còn toát ra một luồng khí chất thanh linh không thuộc về chốn hồng trần. Chân Chân không kìm được nghĩ, liệu ghé sát chàng thêm chút nữa, có ngửi thấy mùi hương cỏ cây dưới làn da chàng không. Lúc mới tỉnh dậy, Chân Chân rất tò mò về nơi mình đang ở, rất muốn tìm người hỏi xem tại sao mình ở đây, đây là đâu. Nhưng giờ nhìn thấy người này, nàng lại chẳng vội đ.á.n.h thức chàng để hỏi nữa. "Không dám nói to, sợ kinh động người trong tranh." Chàng ngủ yên là một bức tranh, đ.á.n.h thức chàng là một tội lỗi. Trong căn phòng yên tĩnh bỗng vang lên một tiếng bụng réo òng ọc đường đột, nàng mới nhớ ra mình chưa ăn gì. Nàng ấn bụng, chợt nghĩ tiếng bụng kêu này e là người trong tranh kia nghe thấy mất, bèn hoảng hốt nhìn chàng. May mà chàng vẫn nhắm mắt ngủ say, không hề nhúc nhích. Nàng tiếp tục quan sát xung quanh, thấy cạnh ghế mây có một chiếc bàn "hạc tất trạo" nhỏ (bàn chân hạc), là loại bàn kỷ nhỏ cao ngang tầm ghế, chân bàn thanh mảnh, ở giữa gồ lên như đốt trúc. Trên bàn hạc đặt vài cái chén, trong đó có một liễn sứ trắng có nắp. Cạnh bàn hạc đặt một lò gió, than hạt táo trong lò cháy đỏ hồng lúc mờ lúc tỏ, siêu nước trên lò vẫn đang sôi liu riu. Chân Chân rón rén bước tới, mở nắp liễn sứ ra xem, thấy bên trong đựng nước canh màu vàng nhạt. Nàng ngửi qua, nhận ra là canh gà, trong veo, vẫn còn hơi ấm. Trong canh có những miếng bột mì nặn hình hoa mai năm cánh, lắng dưới đáy liễn. Chân Chân cầm cái thìa bên cạnh khuấy nhẹ, những cánh hoa mai bằng bột lập tức nổi lên rồi lại chìm xuống, tựa như mưa hoa rơi xuống vực sâu, vô cùng đẹp mắt. Chân Chân nhìn nam t.ử vẫn đang ngủ say, nghĩ bụng đây chắc là bữa khuya của chàng, buồn bực đặt thìa xuống. Chợt nghĩ lại, rõ ràng là mình được chàng cứu, mà chàng nhìn từ đầu đến chân đều toát lên bốn chữ "người đẹp tâm thiện", vậy thì bát canh gà hoa mai này chắc chắn là chàng nấu để chuẩn bị cho nàng ăn rồi. Thế là nàng vui vẻ cầm thìa lên, nhanh chóng ăn sạch bát canh gà. Dọn dẹp xong liễn canh, Chân Chân lại nhìn chén trà trên bàn hạc, thấy chén trà trong suốt, tựa như làm bằng pha lê, đáy chén có vài nụ hoa tẩm mật. Lúc này nước suối trong siêu reo như tiếng gió tùng suối chảy, Chân Chân đợi nước sôi sục lên, nhấc siêu rót một ít vào bình trà, đợi một lát, lại nhấc bình trà rót nước vào chén. Nụ hoa dưới đáy chén gặp nước nóng xoay tròn bung nở, cánh hoa lần lượt xòe ra, hóa ra là hoa lạp mai "Khánh khẩu" nhụy ngọc lòng đàn, cánh hoa bên ngoài màu vàng sáp ong, nhụy ở giữa màu tím, dáng hoa hàm tiếu, vô cùng tao nhã, lại ngát hương thơm, theo hơi nóng bốc lên, từng làn hơi nước bay qua đều đượm mùi hoa nồng nàn. Chân Chân uống chén trà hoa lạp mai này, trong lòng thấy ấm áp lạ thường. Cất dọn bộ trà cụ, nàng ngồi lại xuống bên ghế mây, lúc này mới phát hiện nền nhà ở đây ấm áp, dưới gạch dường như có lò sưởi, hơi nóng tỏa ra không dứt, khiến căn phòng ấm áp như mùa xuân, cũng khiến nàng quên bẵng bên ngoài là rừng lạnh mù sương thế nào. Cảm giác ấm áp này khiến mi mắt nàng trĩu nặng, nàng dựa vào ghế mây, giống như người nam t.ử trên ghế, chìm vào giấc ngủ say. Nàng bị cái lạnh đ.á.n.h thức. Trước khi tỉnh dậy vì lạnh, nàng hắt hơi một cái, tự mình làm mình giật mình, bật dậy, phát hiện mình đang nằm trong một hang động, một người đàn bà nhà quê đang vơ cỏ khô đắp lên người nàng. Người đàn bà đó trạc ngoài tứ tuần, người ngợm tuy sạch sẽ nhưng mặt dài thườn thượt lạnh tanh, thấy Chân Chân tỉnh lại cũng không dừng tay, tiếp tục phủ cỏ khô lên người nàng, rồi ngồi xuống bên đống lửa gần đó, mới nói: "Đừng ngủ nữa, nếu không được ta phát hiện, cô đã c.h.ế.t cóng từ lâu rồi." Chân Chân ngơ ngác nhìn quanh, hồi lâu mới hỏi: "Sao ta lại ở đây?" Người đàn bà đáp: "Cô còn không biết sao cô ở đây, ta làm sao biết được?" Giọng bà ta lạnh lùng cứng nhắc, còn ẩn ý châm chọc. Chân Chân không vui, bực bội nói: "Rõ ràng ta ngủ trong một căn phòng vừa thơm vừa đẹp, bên cạnh còn có một vị công t.ử rất tuấn tú." Lời vừa thốt ra mới thấy có vẻ không ổn, ánh mắt khinh bỉ của người đàn bà kia đã quất thẳng vào mặt nàng: "Sao con gái bây giờ kể chuyện mộng xuân mà thản nhiên thế nhỉ?" Chương 15 - Vấn Tiều Tiên Sinh Chân Chân cảm thấy hai má nóng bừng, lập tức nhận ra muốn phản bác người đàn bà này chỉ có cách làm rõ sự thật, bèn kể lại tường tận sự việc từ lúc ngất xỉu hôm qua đến khi tỉnh dậy ban đêm nhìn thấy những gì, kể cả đồ đạc trong phòng, hình dáng vật dụng, đến bát canh gà hoa mai và trà hoa lạp mai. Người đàn bà nghe xong dường như tin hai phần, nhưng lại nói: "Quanh đây làm gì có nhà cửa công t.ử nào như cô nói, ngược lại trong núi thường có yêu tinh tác quái, hoa cỏ chim muông, thậm chí đá núi bùn đất đều có thể hấp thụ linh khí đất trời hóa thành hình người. Năm ngoái Tứ cô nương nhà hàng xóm ta hôm Thất Tịch mua một con búp bê đất nung dưới núi, là một bé trai đeo vòng vàng, trông trắng trẻo bụ bẫm đáng yêu lắm. Tứ cô nương rất thích, tối ngủ đặt con búp bê này ở đầu giường. Kết quả đêm hôm ấy, có một vị công t.ử đến gõ cửa phòng cô ấy, nói ngưỡng mộ cô ấy đã lâu, muốn gặp mặt. Tứ cô nương nhìn qua khe cửa sổ, thấy công t.ử đó tướng mạo vô cùng tuấn tú, bèn mở cửa..." Chân Chân nghe say sưa, thấy bà ta dừng lại, vội hỏi dồn: "Rồi sao nữa?" Người đàn bà lườm một cái: "Rồi sao nữa? Cô cứ coi như họ trùm chăn tâm sự suốt đêm đi." Chân Chân mới hiểu ra trong đó có những chuyện không tiện kể chi tiết, hai tay ôm lấy đôi má ửng hồng cười thầm không ra tiếng. "Vị công t.ử đó trời chưa sáng đã đi rồi, trước khi đi tặng Tứ cô nương một chiếc vòng vàng. Hôm sau, Tứ cô nương lấy vòng vàng ra xem, cô đoán xem thế nào?" Người đàn bà kể chuyện sinh động, không quên đặt câu hỏi dẫn dắt suy nghĩ của Chân Chân, hệt như người kể chuyện rong. Chân Chân cười nói: "Cô ấy chắc chắn phát hiện vòng vàng là đồ đất nung." Thấy nàng đoán trúng ngay, người đàn bà có chút thất vọng, rũ đôi mắt vừa nãy còn mở to hết cỡ xuống, tiếp tục: "Phải đấy, cô ấy vội vàng xem con búp bê đầu giường, phát hiện chiếc vòng trên tay con búp bê biến mất, lúc ấy mới hiểu vị công t.ử kia chính là do con búp bê đất nung này biến thành." "Rồi sao nữa?" Chân Chân lại hỏi. Người đàn bà nói: "Tứ cô nương bèn đập nát con búp bê đất nung đó, vị công t.ử đó không bao giờ xuất hiện nữa." "Hả?" Chân Chân rất bất ngờ, "Cứ thế đập nát à?" "Chứ sao nữa," người đàn bà cau mày nhìn nàng, cảm thấy cô gái này thật mặt dày, "Không đập, cô còn định đợi hắn đêm nào cũng đến tìm cô chắc?" Chân Chân thấy buồn cười, lại có vài phần ngượng ngùng, gạt cỏ khô ra, ngồi bó gối, vùi mặt vào giữa hai ống tay áo để che giấu nụ cười khó kìm nén. Hành động này khiến nàng ngửi thấy rõ ràng mùi hương t.ử đằng vương trên tay áo. Nàng nhớ đến chiếc lư hương trên lá sen xanh, lại nhớ đến ánh mắt con hạc nhìn nàng trước khi ngất đi, có chút hoảng hốt, thầm nghĩ: Những gì nhìn thấy đêm qua, chẳng lẽ là ảo cảnh do hạc tinh biến hóa ra? Người đêm qua, áo trắng viền đen, cũng thật giống màu lông hạc. Nhưng nếu là ảo cảnh, hương t.ử đằng này lẽ ra cũng phải tan biến rồi chứ, sao lại vương vấn trên áo mãi không phai? Người đàn bà kia dường như rất không ưa Chân Chân. Chân Chân hỏi bà xưng hô thế nào bà cũng không đáp, hỏi Vấn Tiều Dịch đi đường nào cũng bảo không biết. Ngồi một lát, bà bới trong tro bếp ra hai củ khoai sọ nướng chín ném cho Chân Chân, dặn dò trên núi lạnh lẽo, thường có thú dữ lui tới, rất nguy hiểm, tốt nhất nên xuống núi sớm, rồi bỏ đi thẳng. Chân Chân đứng dậy nhìn quanh, nhận ra cái hang này chính là nơi nàng nhìn thấy trước khi ngất xỉu. Nghỉ ngơi một lát, nàng xách hành lý và hai củ khoai sọ, tiếp tục lên đường, đi về phía đỉnh núi. Lúc này đang là buổi sớm, tuyết vừa tạnh trời hửng nắng, giữa các ngọn núi mây mù lãng đãng, ánh bình minh rực rỡ chiếu rọi trên biển mây, đẹp tựa tiên cảnh. Chân Chân không có tâm trí ngắm kỹ, tiếp tục leo lên. Đi được một lúc thấy đói, bèn lấy ra một củ khoai sọ người đàn bà cho, bóc vỏ ăn. Thấy sơn cốc u tĩnh lạ thường, nhớ lời người đàn bà dọa, thầm lo lắng lùm cây nào đó bỗng nhảy ra con thú dữ, nên cũng không dám dừng bước, vừa đi vừa ăn. Vòng qua một vách núi dựng đứng, bỗng nghe phía trước có tiếng đàn vọng lại. Chẳng biết là khúc gì, chỉ nghe tiếng nhạc du dương thanh thoát, hòa vào tiếng gió ngàn thông, tựa như âm thanh của cõi trời cõi phật khiến người ta tĩnh tâm an thần. Cảm nhận được sự hiện diện của con người, Chân Chân đang ngậm một miếng khoai sọ trong miệng, lúc này cũng chẳng kịp nuốt, rảo bước chạy về phía tiếng đàn. Phía trước, hướng ra thung lũng có một đình nhỏ, dựng trên tảng đá nhô ra khỏi vách núi. Trong đình có bàn hương án, khói hương lờ lững bay lên từ chiếc lư Bác Sơn bằng đồng xanh nhỏ. Một văn sĩ khoác áo choàng điểm lông chồn tuyết trắng, đối diện với biển mây thung lũng, đang gảy đàn. Phía sau có một thư đồng chừng mười mấy tuổi đứng hầu im lặng. Chân Chân nhẹ nhàng tiến lại gần đình, vòng sang phía sườn, muốn nhìn mặt vị văn sĩ. Vị văn sĩ đang gảy đàn hơi nghiêng đầu, đúng lúc ấy ánh nắng vàng hồng chiếu lên bóng hình trắng muốt của chàng. Chàng nửa khép đôi mắt, tay lướt trên dây đàn, chỉ một bóng nghiêng cũng toát lên phong thái thanh tao thoát tục, sáng ngời như thần tiên. Nhận ra người này chính là "Hạc thần" gặp tối qua, Chân Chân suýt nữa kêu lên, vừa mở miệng mới nhớ ra trong miệng còn miếng khoai sọ, bèn cố nuốt xuống. Do vội vàng quá, khí huyết trong n.g.ự.c nhất thời nghẹn lại, một luồng khí không tên chạy loạn trong lồng ngực, cuối cùng thoát khỏi sự kiểm soát của nàng, trào ra khỏi cổ họng... Kết quả là nàng nấc lên một tiếng rõ to. Tiếng đàn im bặt. Nàng bịt miệng, tay kia vẫn cầm nửa củ khoai sọ, trong ánh mắt hờ hững quay lại nhìn của vị Hạc thần tuấn tú kia, nàng chỉ muốn độn thổ cho xong. Nàng và "Hạc thần" bốn mắt nhìn nhau, còn đang ngẩn ngơ thì nghe phía sau có tiếng quát giận dữ: "Sao cô lại ở đây? Chẳng lẽ theo dõi ta để tìm công t.ử nhà ta?" Chân Chân quay đầu lại, phát hiện người xuất hiện sau lưng chính là người đàn bà gặp lúc nãy. Bà ta giờ tay xách một miếng thịt thỏ, đang trừng mắt nhìn nàng đầy giận dữ. Ngẫm nghĩ lời bà ta nói, Chân Chân đoán người đàn bà này hẳn là người hầu trong nhà "Hạc thần", lập tức nhận ra bà ta chắc chắn không hài lòng việc nàng ngủ trong phòng công t.ử nhà mình tối qua, nên mới có ác ý với nàng, bịa chuyện yêu tinh biến hóa để tung hỏa mù, muốn nàng đừng tìm vị công t.ử này nữa. Chân Chân bình tĩnh lại, cười lạnh nói: "Bà đừng suy bụng ta ra bụng người, tưởng ai cũng coi trọng công t.ử nhà bà như bà. Bà coi chàng ta như châu như ngọc, nhưng trong mắt ta, chàng ta chưa chắc quan trọng bằng củ khoai sọ này đâu." Nàng cố ý giơ củ khoai sọ trong tay lên, nói với người đàn bà, "Thượng vô tình tự thu hàn thế, Na đắc công phu bạn tục nhân(Còn chưa có tâm trạng lau nước mũi lạnh, đâu có rảnh rỗi mà tiếp kẻ phàm tục)." Đây là câu thiền ngữ mà Bồ bá từng kể cho nàng nghe khi hai bác cháu ngồi nướng khoai đêm đông hồi bé. Chuyện kể rằng chùa Hành Nhạc đời Đường có một vị tăng làm tạp dịch, rất lười, lại hay đi xin cơm thừa canh cặn của các tăng khác về ăn, nên người ta gọi là "Lãm Tàn" (Lười ăn thừa). Nhưng vị Lãm Tàn tăng này lại là một cao nhân thông phật pháp, hiểu cổ kim. Nghiệp Hầu Lý Bí nghe tiếng Phạn xướng vang vọng núi rừng của ông đoán chắc ông không phải người phàm, bèn đến bái kiến. Ông bới trong đống lửa phân trâu ra một củ khoai sọ, tự mình ăn một nửa, đưa nửa kia cho Lý Bí. Lý Bí đón lấy ăn hết, Lãm Tàn tăng chỉ dạy: "Thận trọng chớ nói nhiều, cứ thế mười năm làm tể tướng." Sau này lại có vương hầu đến mời ông xuống núi, ông vừa ăn khoai vừa nói: "Thượng vô tình tự thu hàn thế, na đắc công phu bạn tục nhân." Ý là khoai ngon quá, ta nước mũi chảy ròng ròng còn chưa rảnh tay lau, đâu có thời gian mà tiếp chuyện kẻ phàm tục như ngươi. Câu thiền ngữ này người đàn bà kia không hiểu, ngơ ngác nhìn nàng, nhất thời không biết đối đáp ra sao. Ngược lại "Hạc thần" kia lại rất hiểu, đứng dậy ôn tồn nói với Chân Chân: "Cô nương cũng biết Lãm Tàn sư." Chân Chân cười khẩy: "Dù sao ta cũng từng đọc sách vài năm. Có điều chung quy vẫn là người phàm, chắc không xứng bước vào tiên cảnh Hạc thần của các người, nên các người mới nửa đêm ném ta ra ngoài." "Ấy, cái này không thể trách công t.ử nhà ta." Người đàn bà vội giải thích, "Cô nằm ngủ dưới đất trong phòng công t.ử dang tay dang chân như con cua, ta nhìn ngứa mắt quá mới khiêng cô ra hang đá đấy chứ." Cua? Khiêng? Chân Chân đang định nổi đóa mắng lại, thì vị công t.ử kia đã lên tiếng trước: "Tam nương, tạm thời đừng nói nữa." Rồi quay sang Chân Chân: "Không đợi cô nương tỉnh lại đã mời cô ra ngoài, không phải đạo đãi khách, là chúng ta sai, mong cô nương lượng thứ. Tệ xá ở ngay trong thung lũng, nếu cô nương không chê, chi bằng nán lại một lát, dùng bữa trưa tại tệ xá rồi hãy lên đường." Chân Chân vẫn còn giận, định từ chối thẳng thừng, nhưng liếc thấy Tam nương kia, bèn đổi ý: Nếu ta nhận lời mời của công t.ử nhà bà ta, để bà ta trơ mắt nhìn công t.ử tiếp đãi ta, bà ta chẳng phải càng tức điên sao? Thế là tâm trạng nàng bỗng chốc vui vẻ, nở nụ cười đoan trang rộng lượng, nói với "Hạc thần" rằng mình không ngại đến đó. Chân Chân theo nhóm người "Hạc thần" xuống núi từ sườn bên kia vách đá, đến khu nhà vườn của chàng nằm trong thung lũng. Dọc đường Chân Chân hỏi tên họ chàng, chàng nói mình họ Lâm tên Hoằng, chữ "Hoằng" trong câu"Hoằng trừng uyên uyên, hồng dung hãng dạng"(Nước sâu trong vắt, mênh m.ô.n.g bát ngát). Thấy Chân Chân ngơ ngác, chàng đổi lại: "Chữ 'Hoằng' trong câu'Nhất hoằng thu thủy nhất luân nguyệt'(Một làn nước thu một vầng trăng)." Câu thơ này tuy Chân Chân chưa nghe bao giờ, nhưng "một làn nước thu" thì vẫn hiểu được, bèn gật đầu khen: "Cái tên nghe thật trong trẻo." Nhà vườn của Lâm Hoằng nằm bên bờ nước trong núi, xung quanh trồng gai góc làm rào, ở giữa xen kẽ những cây trúc cao hơn trượng. Ngoài rào trồng khoai sọ, hạt dẻ, trong rào trồng mấy hàng hoa mai. Vào trong vườn, Chân Chân thấy trước nhà có một cái ao, nước trong nhìn thấy đáy. Một bên bờ ao xếp đá làm giả sơn, dẫn nước suối chảy từ trên giả sơn xuống, kèm theo tiếng ngọc kêu leng keng róc rách rơi vào ao. Giữa ao có một hòn đảo nhỏ, trên đảo dựng một ngôi nhà tre cho hạc ở. Hai con hạc đầu đỏ đang đùa giỡn bên bờ nước, thấy Lâm Hoằng về đều dang cánh múa chào. Khu vườn này hoa trúc xen nhau, chim kêu hạc múa, càng giống chốn sơn lâm tiên cảnh Nhà có hai gian, tiền viện bốn năm phòng, dành cho Lâm Hoằng ở, chứa sách và pha chế hương liệu. Hậu viện là bếp, hầm rượu và nơi ở của người hầu, thư đồng, người làm vườn. Lâm Hoằng mời Chân Chân ngồi nghỉ ở sảnh đường tiền viện, rồi cáo lui ngay. Một lúc sau, Tam nương bước vào, mặt lạnh tanh bày biện bàn ăn, đặt một cái đĩa thiếc lớn lên bàn, đổ đầy nước vào đĩa để cách nhiệt, rồi đặt một cái lò gió nhỏ ba chân bằng đất nung đỏ vào trong đĩa. Trên lò đặt một cái siêu đồng đã mở nắp, bên trong đang đun nửa nồi nước nóng. Sau đó Tam nương mang lên mấy đĩa gia vị, xì dầu, giấm, mứt cam, hành thơm các loại, đợi một lát lại bưng lên một đĩa lớn thịt thái mỏng, mỏng như lát cá sống, mấy lát xếp thành một bông hoa bày trong đĩa, đỏ đỏ trắng trắng trông rất đẹp mắt. Chân Chân hỏi thịt gì, Tam nương đáp: "Thịt thỏ rừng. Nhi t.ử ta hôm nay săn được, ta vốn định cho công t.ử ăn, công t.ử nói mấy ngày nay không ăn mặn, nên hời cho cô đấy." Chân Chân lại hỏi sao không thấy công tử, Tam nương nói: "Công t.ử không bao giờ ăn cùng người khác, toàn ăn một mình trong phòng." Tam nương đặt bát đĩa trước mặt Chân Chân, thấy nước trong siêu đã sôi, bèn đưa đũa cho nàng, ra hiệu nàng tự lấy gia vị, gắp thịt nhúng vào ăn. Cách ăn này Chân Chân chưa từng thấy, hỏi Tam nương thịt phải nhúng bao lâu, Tam nương bảo: "Cô gắp bỏ vào nước chao qua chao lại mấy cái, thấy thịt đổi màu là ăn được." Chân Chân làm theo lời bà. Nước sôi trong siêu cuộn trào như sóng trắng sông tuyết, lát thịt đỏ tươi, nhúng vào nước kéo một đường, lại như ráng chiều trôi, trong khoảnh khắc màu sắc dần phai đi, đẹp không sao tả xiết. Chân Chân không chấm gia vị, nếm thử vị thịt, thấy mặn mặn thơm thơm, hỏi Tam nương thịt này có phải đã ướp trước bằng rượu, tương và hoa tiêu không. Tam nương ngầm thừa nhận, nói: "Cô bé này mồm miệng cũng tinh đấy, nếm ra được mấy vị này." Chân Chân cười, nhiệt tình mời Tam nương cùng ăn. Tam nương từ chối một hồi, Chân Chân mời mãi, Tam nương cũng thuận thế ngồi xuống, cùng Chân Chân mỗi người tự lấy gia vị, nhúng thịt thỏ, ăn uống thỏa thích. Ăn uống vui vẻ, Tam nương chủ động kể cho Chân Chân nghe công t.ử đặt cho món thịt nhúng này cái tên rất hay, gọi là "Bát hà cung" (Món ăn ráng chiều). Chân Chân hỏi kỹ mới biết Lâm Hoằng tinh thông trù nghệ, ngày nào cũng tự mình nấu nướng, thường xuyên sáng tạo món mới. Nàng bèn khen: "Công t.ử nhà bà nhà cửa phong nhã, chỗ nào cũng sạch sẽ thanh tao, không ngờ chàng lại còn giỏi chuyện bếp núc, sau này nương t.ử nhà chàng không biết sẽ đỡ vất vả bao nhiêu." Tam nương nói: "Đương nhiên rồi. Công t.ử nhà ta xuất thân thế gia, tướng mạo tuấn tú, học vấn uyên bác, lại biết nấu ăn, không biết bao nhiêu cô nương muốn gả cho ngài. Dăm bữa nửa tháng lại có mấy cô chạy đến lượn lờ quanh ngài, công t.ử không thèm để ý, các cô ấy còn bịa chuyện thân thế muốn lừa ngài thu nhận." Chân Chân hỏi họ bịa thế nào, Tam nương kể: "Cũng quanh quẩn mấy chuyện gia đạo sa sút, thất lạc cha nương, không chốn dung thân, không xu dính túi, muốn theo tiên sinh học nghề các kiểu." Chân Chân lập tức hiểu ra đây chính là lý do Tam nương ghét mình, lo nàng cũng đến lừa Lâm Hoằng thu nhận. Nàng nghĩ bụng loại người nhà tan cửa nát thật sự như mình mới không thèm thấy sắc nảy lòng tham, quên mất mục đích ban đầu đâu. Lâm Hoằng có tốt đến mấy cũng không giữ chân được nàng đi tìm Vấn Tiều lãp sư... Gọi Vấn Tiều tiên sinh làThầy Lâm là ý của Bồ bá. Bá bảo người đời thường gọi các vị lão thiền sư đức cao vọng trọng là "lão sư", vị Vấn Tiều tiên sinh này sống trong núi, nhìn qua là biết một vị lão thiền sư, gọi tiên sinh không đủ tỏ lòng tôn trọng đặc biệt, Chân Chân gặp mặt nên gọi là "lão sư". Để thanh minh với Tam nương, Chân Chân hùa theo bà ta tỏ vẻ khinh bỉ những cô gái bịa chuyện kia, nói: "Mấy cô nương này, vì theo đuổi công t.ử mà đến liêm sỉ cũng không cần, bịa đặt như thế, sao xứng đáng với lời dạy của cha nương, thật làm mất mặt nữ nhi chúng ta!" Tam nương nghe rất lọt tai, lại đi lấy thêm hoa quả bánh trái và rượu nếp ngọt như mật, cùng Chân Chân uống rượu chuyện trò vui vẻ, còn bảo mình họ Tân, Chân Chân gọi Tân Tam nương cũng được, Tân Tam tỷ cũng xong. Bữa trưa kéo dài đến ba tiếng đồng hồ (một giờ rưỡi thời xưa), Chân Chân thấy trời không còn sớm, đứng dậy cáo từ. Tân Tam nương bảo nàng đợi một chút, rửa sạch cái chén nàng dùng, cùng với bộ đồ nàng dùng uống canh gà và trà hoa đêm qua nhét hết cho nàng, bảo mang đi. Chân Chân thấy mấy cái chén đó chất lượng thượng hạng, tuyệt không phải đồ thường, bèn từ chối: "Thế này ngại quá, vừa được ăn vừa được gói mang về..." Tân Tam nương phẩy tay: "Không sao, mang đi hết đi. Đằng nào đồ cô dùng rồi công t.ử cũng không dùng nữa đâu." Tân Tam nương tiễn Chân Chân ra ngoài cổng vườn. Chân Chân chào bà ta, sắp sửa rời đi, quay người lại bỗng phát hiện một bên cổng vườn treo một tấm biển gỗ nhỏ, trên viết ba chữ: Vấn Tiều Dịch. Tấm biển gỗ rất nhỏ, lúc vào vườn nàng mải ngắm cảnh nên không nhìn thấy. Giờ nhìn thấy rồi, trong lòng giật thót, vội hỏi Tân Tam nương: "Khu vườn này của công tử, tên là Vấn Tiều Dịch?" Tân Tam nương xác nhận. Nụ cười của Chân Chân đông cứng trong gió: "Vậy, Lâm công t.ử chính là Vấn Tiều tiên sinh?" "Đúng rồi," Tân Tam nương nói, "Ở đây gọi là Vấn Tiều Dịch, nên người trong núi đều gọi ngài là Vấn Tiều tiên sinh." Chân Chân ngượng ngùng, hạ giọng hỏi nhỏ: "Ta có thể quay lại gặp Vấn Tiều tiên sinh một lát được không?" Quay lại gặp Lâm Hoằng, Chân Chân cúi đầu dâng thư của Triệu Hoài Ngọc lên cho chàng. Lâm Hoằng lấy thư ra xem, rồi lẳng lặng nhìn nàng một lúc. Chân Chân chột dạ hỏi: "Thư của Triệu công t.ử nói gì vậy ạ?" Lâm Hoằng từ từ đưa tờ giấy viết thư đã mở ra trước mắt nàng: "Cậu ấy nói, cô từ nhỏ mất cha, nay lại lạc mất nương, gia đình xảy ra biến cố, không chốn dung thân, tiền bạc không nhiều, hy vọng ta có thể thu nhận cô, cho cô ở lại đây học nghề... Có phải vậy không?" "Vâng, không sai ạ," Chân Chân cố tỏ ra bình tĩnh, coi như không thấy ánh lửa giận đang thiêu đốt trong mắt Tân Tam nương, cố gắng nở nụ cười vừa ngượng ngùng vừa ngây thơ với Lâm Hoằng, "Thầy Lâm." Chương 16 - Người Trong Tranh Có lẽ vì không muốn phụ lòng bằng hữu gửi gắm, mặc cho Tân Tam nương kịch liệt phản đối, Lâm Hoằng vẫn giữ Chân Chân ở lại. Phòng ở được ở hậu viện đã kín chỗ, Lâm Hoằng bảo Tân Tam nương dọn một phòng ở tiền viện cho Chân Chân. Khi Tân Tam nương mặt đen sì ôm một đống chăn gối vào phòng Chân Chân sắp ở, Chân Chân phát hiện bộ chăn gối đó chính là bộ chăn giấy dó gối hoa cúc nàng từng dùng trong phòng Lâm Hoằng. Thấy Tân Tam nương hậm hực ném chăn gối lên giường, Chân Chân cố ý trêu bà: "Lâm công t.ử hiếu khách thật đấy, cho khách dùng toàn đồ dùng của mình." Tân Tam nương cười khẩy: "Đây là đồ công t.ử bảo ta mang đi vứt. Ta đã nói với cô rồi, mấy thứ đồ thân cận này, nếu người ngoài dùng rồi, công t.ử sẽ không dùng lại nữa đâu. Nhưng ta thấy bộ chăn gối này vẫn còn tốt, vứt đi thì phí, cho cô dùng luôn, đỡ phải chuẩn bị bộ mới cho cô." "Vậy à..." Chân Chân trầm ngâm, rồi ôm chăn gối định đi ra ngoài. Tân Tam nương vội quát: "Cô đi đâu đấy?" Chân Chân đáp: "Đến phòng công tử. Ta ngủ ở phòng đó một đêm, phòng đó chắc công t.ử cũng không cần nữa đâu, ta thấy phòng đó vẫn tốt lắm, để không thì phí, hay là ta sang đó ở nhé." "Cái con nha đầu mặt dày này," Tân Tam nương tức điên người đuổi theo ra cửa, "Mau quay lại đây cho ta!" Chân Chân thấy bà ta tức đến mức ôm n.g.ự.c th* d*c, không nhịn được cười, ôm chăn gối quay về phòng. Lâm Hoằng không hề bảo Chân Chân mỗi ngày học nghề giờ nào. Chân Chân mấy ngày liền không ngủ ngon, hôm sau tỉnh dậy trời đã sáng bảnh mắt. Vội vàng chạy ra hậu viện xem, thấy Lâm Hoằng đã ra ngoài gảy đàn trở về, lúc này đang đội khăn trắng, buộc gọn tay áo, nấu bữa sáng trong bếp. Căn bếp của chàng khiến Chân Chân thán phục không thôi. Chẳng những cửa sổ sáng sủa bàn ghế sạch bong, không một chút khói dầu, mà còn tỏa ra mùi thơm tươi mát của rau quả. Tất cả nguyên liệu và gia vị đều được phân loại xếp trên kệ gỗ riêng, rau củ xếp ngay ngắn theo thứ tự lá, thân, quả, củ. Gia vị đựng trong bình sứ, xếp thành hàng theo kích cỡ lọ lớn nhỏ trung bình. Một ít thịt cá treo ở nơi thoáng gió, cũng sắp xếp theo kích thước, không rối một ly, thịt được xử lý cực kỳ sạch sẽ, mặt đất bên dưới không vương một giọt m.á.u hay dầu mỡ nào. Trên kệ gỗ dưới chỗ để nguyên liệu và trên bình sứ đều có nhãn viết chữ khải nhỏ, ghi rõ tên vật phẩm và thời gian nhập bếp. Độ sạch sẽ của nhà bếp gần như có thể sánh ngang với thư phòng. Khi Chân Chân bước vào, Lâm Hoằng đang dùng hoa mai đã rửa sạch và tuyết hứng trên cây trong vườn nấu cháo với gạo trắng. Thấy Chân Chân chàng cũng chẳng nói lời nào, lẳng lặng làm xong, rửa tay sạch sẽ rồi tự về phòng mình, để Tân Tam nương bưng cháo vào phòng chàng. Chân Chân ngẩn người không biết làm sao, bỗng thấy Tân Tam nương bưng một bát cháo đưa cho nàng, bảo là công t.ử dặn. Bữa trưa và bữa tối cũng vậy, Lâm Hoằng im lặng làm xong, không mở miệng giảng giải, không dạy Chân Chân bất kỳ kỹ thuật nào, thậm chí Chân Chân chủ động hỏi chàng cũng không đáp, chỉ nấu xong rồi chia cho Chân Chân ăn. Sau bữa tối, Chân Chân không nhịn được đi tìm chàng, hỏi chàng có thể dạy mình không. Lâm Hoằng đứng bên hồ, dùng cành mai đón con hạc trở về, đợi hạc ngậm cành mai bay về đảo, mới quay sang nói với Chân Chân: "Ta chẳng phải đã dạy cô cả ngày rồi sao?" Hôm sau, Chân Chân dậy thật sớm đến bếp, giúp Tân Tam nương sơ chế rau củ hái buổi sáng, xếp lên kệ gỗ theo cách phân loại của Lâm Hoằng, cùng Tam nương rửa sạch những dụng cụ chàng có thể dùng đến, canh lửa lò, lau chùi bàn ghế, quét tước sàn nhà, pha sẵn trà nước, để đón chàng đến. Lâm Hoằng bước vào nhìn quanh một lượt, liền nhận ra chỗ nào không đúng, đi thẳng đến kệ gia vị, đặt lại lọ muối và lọ tiêu mà Chân Chân vô tình đổi chỗ khi lau kệ về vị trí cũ. Dao đặt lệch một chút, chàng cũng chỉnh lại ngay ngắn rồi mới bắt đầu dùng. Khi chàng nấu nướng, Chân Chân luôn túc trực bên cạnh, tự mình suy đoán bước tiếp theo chàng sẽ làm gì. Cần dùng d.a.o thì lấy ra trước một chút, lót khăn sạch, đưa tận tay chàng đúng lúc. Biết Lâm Hoằng mỗi khi xử lý xong một loại nguyên liệu đều rửa tay rồi mới chạm vào loại khác, nàng bèn chuẩn bị sẵn chậu nước, khi chàng đặt d.a.o xuống là dâng lên đúng lúc. Còn lọ gia vị thì không cần nàng đưa, vì kệ gia vị nằm bên trái chỗ Lâm Hoằng đứng nấu, chàng thuộc làu vị trí từng loại, cần gì chỉ cần đưa tay là lấy chính xác lọ đó, thậm chí không cần ngẩng đầu lên. Sau một ngày như vậy, Lâm Hoằng cũng tỏ ra dễ chịu hơn với Chân Chân. Chân Chân hỏi chàng, chàng sẽ trả lời. Ví dụ Chân Chân hỏi món canh gà hoa mai trong phòng chàng hôm đó là gì, chàng bảo đó là Bánh canh hoa mai, dùng hoa mai trắng và nước bột đàn hương nhào bột cán thành vỏ hoành thánh, rồi dùng khuôn sắt năm phân dập thành hình hoa mai. Tiện thể còn cho Chân Chân biết trà hoa lạp mai nàng uống hôm đó gọi là "Thang trán mai" (Canh mai nở), dùng d.a.o tre cắt nụ hoa lạp mai từ trên cành xuống, dùng sáp ong chấm vào đầu và đuôi nụ hoa để ngăn nở, rồi ngâm mật bảo quản, nên khi uống pha với nước nóng, hương thơm không mất đi, hệt như lúc mới nở trên cành. Chỉ có điều những gì Chân Chân không nhắc đến thì chàng sẽ không chủ động dạy, tất cả để nàng tự nhìn, tự ngộ. Nhưng Chân Chân đã cảm thấy đây là tiến bộ lớn rồi, ít nhất nhờ sự nỗ lực của nàng, chàng đã chịu giao tiếp với nàng. Ngày thứ ba họ nói chuyện nhiều hơn một chút, Chân Chân thậm chí còn có tâm trạng nói đùa. Lâm Hoằng thái hành cực nhanh, mà độ dài các khúc hành thái ra đều tăm tắp như nhau. Chân Chân bới ra một ít, so từng khúc một, Lâm Hoằng thấy vậy bảo: "Đừng so nữa, giống nhau cả thôi." Buổi chiều Chân Chân lén ra vườn rau hái một cây hành, tự mình thái vài khúc trong phòng, mang đến bếp trộn vào đống hành Lâm Hoằng thái, cố ý nhặt ra một khúc cho chàng xem: "Thầy ơi, khúc hành này hơi dài." Lâm Hoằng liếc qua liền nói: "Đây không phải hành ta thái." Chân Chân hỏi sao biết được. Lâm Hoằng bảo, nhìn màu sắc và vân trên bề mặt là biết hành mới hái buổi chiều. Chân Chân mở to mắt nhìn kỹ, cũng chẳng thấy màu sắc và vân có gì khác biệt. Lâm Hoằng nhặt từng khúc hành Chân Chân trộn vào ra, bỗng nhiên như vô tình hỏi nàng: "Có thể làm một món cho ta xem không?" Chân Chân sững người: "Lão sư muốn xem con nấu ăn ạ?" Lâm Hoằng gật đầu: "Hôm đó mời cô ăn Bát hà cung, là vì ta không biết khẩu vị của cô, nên chọn cách đun nước nhúng thịt, giao quyền nêm nếm cho cô, để cô tự pha nước chấm, mặn nhạt đậm đà đều do cô tự quyết. Nay cô muốn ta dạy cô trù nghệ, nhưng ta lại không rõ cô biết gì, muốn học gì, thiếu sót chỗ nào. Ta không muốn cô thụ động tiếp nhận sự chỉ dạy của ta, ta muốn cô chủ động làm, để cô và ta đều nhận ra cô cần gì, chứ không phải để cô dù thích hay không cũng bắt chước cách làm của ta một cách thiếu suy nghĩ." Ánh mắt Chân Chân lướt qua từng loại rau củ trong phòng, trong đầu nhanh chóng điểm lại những món mình biết làm, nhưng cuối cùng thốt ra lại là một món ngớ ngẩn nhất: "Con có thể nướng một củ khoai sọ không ạ?" Lời vừa ra khỏi miệng đã hối hận vô cùng, đang thầm khinh bỉ sự lựa chọn ngốc nghếch này thì nghe Lâm Hoằng ôn tồn đáp: "Được, vậy nướng một củ khoai sọ đi." Chân Chân bèn chọn một củ khoai to, vùi vào đống tro trong lò than dưới đất ở bếp. Ước chừng đến giờ than nướng chín, nàng bới khoai từ đống tro ra, sợ làm bẩn nền bếp, tự mình bê chạy ra ngoài phủi sạch, rồi mới vào bếp bóc vỏ mời Lâm Hoằng nếm thử. Lâm Hoằng nhìn trong nhìn ngoài củ khoai, nếm thử một chút, nói: "Cũng được." Rồi đứng dậy đi về phía kệ rau củ, "Ta cũng nướng một củ nhé." Chàng tự lấy một củ khoai to, rửa sạch, dùng giấy ướt bọc lại, sau đó đun ít rượu hoàng tửu, phết rượu đã đun và bã rượu lên lớp giấy ướt bọc khoai cho thấm đẫm, rồi sai Chân Chân dọn than trong lò đất đi, thay bằng lửa trấu, mới đặt củ khoai đã bọc kỹ vào trong đống tro trấu. Khoai nướng xong, bóc lớp giấy bọc đi, củ khoai bên trong vẫn rất sạch sẽ, lại chín đều, bóc vỏ ra lộ lớp thịt trắng ngần. Chân Chân theo ý Lâm Hoằng nếm thử, chỉ thấy cảm giác dẻo thơm mềm mại cùng hơi nóng tràn ngập khoang miệng, trong đó ẩn hiện mùi rượu thơm nồng, hương vị thơm ngon hơn hẳn củ khoai nàng nướng. Chân Chân tấm tắc khen ngợi, lại nói: "Khoai ngon thế này chắc không thể không có một cái tên hay đâu nhỉ?" Lâm Hoằng cười nhẹ: "Có chứ, gọi là Thổ Chi Đan." Rồi giải thích, "Dùng rượu và bã rượu, càng có tác dụng ôn bổ, thích hợp nhất là ăn nóng vào mùa đông." Thấy Chân Chân ăn ngon lành, chàng bỗng hỏi: "Hôm ta gảy đàn trên núi gặp cô, củ khoai cô ăn đã nguội rồi phải không?" Chân Chân gật đầu: "Vâng ạ, trên núi lạnh thế, nguội từ lâu rồi." "Sau này đừng ăn nữa," Lâm Hoằng dặn dò, "Khoai nguội phá huyết, không tốt cho sức khỏe." Chân Chân buông tay cầm khoai xuống, có chút không dám tin: Thầy Lâm đây là... đang quan tâm mình? Rõ ràng cảm thấy vui, mà mũi lại cay cay. Nàng len lén nhìn Lâm Hoằng, thấy chàng đã quay người đi, lại bắt đầu bình thản làm món tiếp theo. Tuy nhiên Thầy Lâm cũng không phải lúc nào cũng đôn hậu như thế. Là một người hiển nhiên một ngày nào đó sẽ trở thành lão thiền sư, thi thoảng chàng lại bắt Chân Chân đoán ý thiền mà chàng vô tình bộc lộ. Một hôm Chân Chân và thư đồng A Triệt của Lâm Hoằng xem chàng luyện thư pháp trong thư phòng. A Triệt tán gẫu với họ, bảo dạo này hàng xóm xung quanh bàn tán xôn xao về thân phận của nàng, đều đoán nàng là tỳ thiếp công t.ử mới nạp. Chân Chân tỏ vẻ không bận tâm, nói mình cũng chẳng qua lại với họ, cách nhìn của họ cũng chẳng ảnh hưởng đến cuộc sống của mình, mặc kệ họ nói. A Triệt lầm bầm: "Cô thì không sao, nhưng người ta sẽ nói công t.ử háo sắc đấy." Chân Chân bèn hỏi Lâm Hoằng: " Thầy Lâm, ngài có sợ người ta nói ngài háo sắc không?" Lâm Hoằng nghiêng đầu nhìn nàng, lấy một tờ giấy khác, dùng cây bút vừa viết chữ vẽ nhanh vài nét, phác họa ra một thiếu nữ, y phục đặc điểm khá giống Chân Chân. Vẽ xong chàng lặng lẽ đẩy hình người mực này cho Chân Chân xem. Chân Chân nghiêm túc suy ngẫm, đoán: "Ngài muốn tỏ rõ với mọi người rằng, ngài nhìn con như nhìn người trong tranh, giữ khoảng cách đứng xa mà ngắm?" Lâm Hoằng từ từ lắc đầu. A Triệt nhanh nhảu trả lời thay chàng: "Công t.ử bảo là, cô trong mắt ngài ấy là trắng đen, chẳng có bao nhiêu sắc (màu sắc/nhan sắc) để mà háo (thích) đâu." Chân Chân trừng mắt nhìn Lâm Hoằng, Lâm Hoằng điềm nhiên như không, chỉ có đáy mắt thoáng qua chút ý cười. Chân Chân không khỏi bực bội, lại không tiện trút giận lên Thầy Lâm, đành cầm cây phất trần bên cạnh, quét về phía A Triệt đang cười trộm. Chương 17 - Lạc Thần Tỷ Tỷ Việc dạy và học hàng ngày của họ thường diễn ra như thế này: Lâm Hoằng làm xong món mình định làm trước, Chân Chân quan sát, thi thoảng phụ giúp, sau đó Chân Chân chọn nguyên liệu trong ngày tự làm một hai món, Lâm Hoằng quan sát toàn bộ quá trình, nếu có chỗ nào không ổn sẽ chỉ ra ngay, hoặc cho nàng vài lời khuyên cải thiện. Cái "chỗ không ổn" này quả thực hơi nhiều. Chân Chân phát hiện dưới con mắt soi mói của Lâm Hoằng, con lừa nhỏ nuôi ở hậu viện còn biết nấu ăn hơn nàng. Gần như từ lúc nàng cầm d.a.o lên là bắt đầu phạm lỗi, Lâm Hoằng cầm một cành cây hồng ,chốc chốc lại gõ vào chỗ nàng sai: "Đứng thẳng lên, đừng nghiêng đầu, đừng khom lưng, hai chân rộng bằng vai, đừng nhô vai, cũng đừng buông thõng vai... Bụng cách thớt không được dưới một nắm tay... đừng vượt quá nửa thước... Mắt nhìn đi đâu đấy? Đừng nhìn bụng, nhìn rau cô định thái ấy." "Lão sư," Chân Chân không nhịn được rụt rè hỏi, "Nếu con không nhìn làm sao biết bụng cách thớt bao xa ạ?" Lâm Hoằng đáp: "Lúc mới học trước khi cầm d.a.o có thể nhìn, một khi đã hạ d.a.o thì đừng cứ nghĩ đến nó mãi. Trước tiên cô phải vận d.a.o đúng quy cách, sau đó trong quá trình làm tìm kiếm một cảm giác khiến bản thân thoải mái dễ chịu, đừng coi thái rau là lao động khổ sai. Dao đưa lên hạ xuống có nhịp điệu, nguyên liệu cần thái hoặc giòn, hoặc dai, hoặc mềm, hoặc cứng, nhịp điệu vận d.a.o cũng có nhanh có chậm, cần điều chỉnh cho phù hợp. Cô nương theo những nhịp điệu khác nhau mà thư thả tay nghề, giống như gảy đàn vậy, gảy tốt tự nhiên sẽ không mất quy cách, tư thế cũng nhất định sẽ đẹp." Chân Chân để ý quan sát Lâm Hoằng cầm dao, thấy quả nhiên là chắc mà không cứng, mềm mà không lỏng, cứng mà không cứng nhắc, thần thái ung dung tự tại, hơn cả đi dạo trong sân vắng, nguyên liệu thái ra đều tăm tắp, cũng đẹp như tư thế khi chàng thao tác vậy. Cực hiếm khi, Chân Chân cũng nhìn ra vài chỗ nghi là sơ hở, ví dụ: "Lão sư, bụng thầy giờ cách thớt quá nửa thước rồi, không đúng quy cách." Lâm Hoằng không ngước mắt lên, vẫn ung dung thái xong rau theo nhịp điệu của mình, cho Chân Chân xem tác phẩm vẫn hoàn hảo như thường, mới đáp: "Cô luyện đến trình độ như ta cũng có thể không màng quy cách... Ta chính là quy cách." Thư phòng của Lâm Hoằng ngăn nắp trang nhã, ngoài cửa sổ trồng mấy khóm trúc xanh, trên cửa sổ dán giấy lụa thường thấy bóng trúc lay động. Dưới cửa sổ đặt bàn kỷ bày bàn cờ, bàn viết bên kia bày bút, giá bút, nghiên mực, bình nước mài mực, mực thỏi và thước chặn giấy, còn bày một lư hương gốm xanh nhỏ, suốt ngày đốt loại trầm đàn chàng tuyển chọn kỹ càng hoặc hương chàng tự pha chế. Trong phòng còn treo một bức tranh do chính chàng vẽ: Bên bờ nước ngày gió nhẹ, cây bích đào nở đầy, con đường liễu rủ quanh co, một nữ t.ử xinh đẹp đang nhẹ nhàng quay đầu lại bên sông, tay trái đưa về phía sau, trên cổ tay đeo một chiếc vòng màu xanh ngọc bích. Nàng búi tóc mây cao vút, tà áo bay bay như sắp cưỡi gió mà đi, đôi mắt đẹp ngoái nhìn phía sau, có vẻ lưu luyến không rời. Lâm Hoằng mỗi ngày cắm hoa vào một chiếc bình đồng xanh hình vuông, dâng trước bức tranh. Lúc rảnh rỗi thường đứng lặng ở đó, ngắm nhìn bức tranh thật lâu, đôi khi trong tay còn nắm một viên đá xanh ngọc bích trong suốt, ánh mắt chàng cứ quanh quẩn giữa cổ tay người nữ t.ử trong tranh và viên đá xanh ấy. Chân Chân tình cờ nhìn thấy, không khỏi tò mò, lén hỏi Tân Tam nương người nữ t.ử trong tranh Lâm Hoằng là ai. Tân Tam nương nói: "À, cái đó à... Là Lâm Thủy phu nhân, Tống T.ử nương nương. Lâm Thủy phu nhân tên là Trần Tĩnh Cô, là vị thần cứu giúp phụ nữ khó sinh và ban con cái được đạo gia vùng Mân Nam thờ phụng. Nhưng câu trả lời này khiến Chân Chân rất bất ngờ: " Thầy Lâm chưa từng cưới vợ, sao lại thờ Tống T.ử nương nương?" Tân Tam nương ngập ngừng một chút, rồi nói: "Dù sao công t.ử sớm muộn gì cũng phải cưới vợ sinh con, cứ thờ trước, có chuẩn bị vẫn hơn." Lý do này quá khiên cưỡng. Chân Chân thấy bà ta rõ ràng không muốn nói thật, bèn đi hỏi A Triệt. A Triệt cũng do dự thấy rõ, cuối cùng đưa ra một đáp án khác: "Công t.ử vẽ Lạc Thần đấy." "Thật á?" Chân Chân không tin lắm. A Triệt lần này gật đầu rất chắc chắn: "Đương nhiên là thật." Cậu chỉ vào nữ t.ử trong tranh, "Cô nhìn tư thế này xem, lướt nhẹ trên sóng, vớ lụa sinh bụi (Lăng ba vi bộ, la miệt sinh trần), không phải Lạc Thần thì là ai?" Chân Chân nhìn kỹ, cũng thấy cách giải thích này hợp lý hơn Tống T.ử nương nương, bèn hỏi A Triệt: "Tại sao thầy Lâm lại thờ Lạc Thần?" A Triệt nói: "Công t.ử là tài t.ử mà, giống như Tào T.ử Kiến ấy, chắc chắn đều thích Lạc Thần... Có lẽ, ngày ngày thờ phụng, Lạc Thần sẽ khiến ngài ấy văn tư tuôn trào chăng?" Thấy Chân Chân vẫn ngẩn người nhìn bức tranh, cậu huých tay nàng: "Cô cũng lạy đi, xin Lạc Thần phù hộ cho cô bớt ngốc, sớm ngày học được tay nghề nấu nướng giỏi." Chân Chân trừng mắt nhìn cậu, nhưng đợi A Triệt đi rồi, vẫn lén lạy bức tranh, khẽ khấn: "Xin Lạc Thần tỷ tỷ phù hộ cho con, học hành suôn sẻ ở Vấn Tiều Dịch, năm sau vào Thượng Thực Cục, tìm được nương con." Từ đó mỗi ngày lạy Lạc Thần tỷ tỷ một cái, lẩm bẩm lại điều ước y hệt đã thành thói quen của Chân Chân, nàng cũng chủ động giúp Lâm Hoằng dọn dẹp thư phòng hơn. Thấy chiếc bình đồng vuông Lâm Hoằng dùng cắm hoa phủ đầy rỉ xanh đốm đỏ, trong bình rỉ xanh mọc kín mít, nghĩ bụng thầy ưa sạch sẽ, bình hoa rỉ thế này chắc chắn là A Triệt lười biếng không chịu cọ rửa hẳn hoi, bèn nhân lúc Lâm Hoằng ra ngoài tự lấy bình hoa, dùng giấm cọ rửa nhiều lần, đ.á.n.h bên ngoài sáng bóng, lại thọc bàn chải vào trong bình, cọ sạch hết rỉ xanh bám trên thành bình. Thế nên khi Lâm Hoằng trở về, chàng đối mặt với một chiếc bình hoa đồng xanh gần như mới tinh. Chàng quay đầu nhìn Chân Chân, mặt mày xanh mét như bị rỉ đồng nhập. Mắt Chân Chân sáng long lanh, ánh mắt nhiệt thành dò xét trên mặt chàng, muốn tìm kiếm dấu vết của sự bất ngờ vui sướng: "Lão sư, bình hoa này... có cần con rửa thêm không ạ?" Cảm xúc trong lòng Lâm Hoằng cuộn trào như sông lấp biển, cuối cùng nhìn ánh mắt ẩn chứa mong đợi của Chân Chân, chàng nén lời quát mắng sắp trào ra, điềm nhiên đáp: "Không cần rửa nữa, cái bình hoa này cả ngàn năm nay chưa bao giờ sạch thế này đâu." Ngược lại A Triệt trừng mắt nhìn Chân Chân, định mắng, nhưng chữ "Cô" vừa thốt ra đã bị Lâm Hoằng quát dừng, rồi sai A Triệt mang bình hoa vào kho, chọn một chiếc bình gốm Nhữ khác mang đến. Chân Chân có chút khó hiểu: "Lão sư không thích con rửa bình hoa ạ?" "Không phải," Lâm Hoằng ôn tồn nói, "Chỉ là dùng lâu rồi, nay muốn đổi cái khác thôi." Thấy nụ cười trên mặt Chân Chân tắt ngấm, vẫn đang dò xét biểu cảm của mình, chàng cười nhẹ dặn dò: "Ra vườn cắt vài cành hồng mai cho ta cắm bình đi." Cành hoa Lâm Hoằng dùng cắm mỗi ngày thường do người làm vườn cắt mang đến, chàng tỉa tót chỉnh sửa rồi c*m v bình. Chân Chân nhận lệnh, hớn hở đi cắt loại hồng mai chàng thích dùng nhất, cành nào cũng chọn lựa kỹ càng, đảm bảo dáng đẹp, hoa nở rộ mới dâng cho Lâm Hoằng xem. Lâm Hoằng nhìn những cành mai nàng cắt, nói: "Đều rất đẹp. Có điều, cành hoa đẹp thế này, cứ để nó mọc trên cành thì hơn, sau này đừng cắt nữa." Chàng sai A Triệt vừa đặt xong bình gốm Nhữ mang những cành mai này đi c*m v bình hoa lớn ở sảnh đường, rồi đứng dậy, dẫn Chân Chân ra vườn, tự mình chọn cắt những cành gãy, cành khô, cành mọc vượt. Trở lại thư phòng, Chân Chân nhìn chằm chằm những cành cây mình chẳng bao giờ để mắt tới, còn đang ngạc nhiên thứ này sao có thể dùng cúng Lạc Thần tỷ tỷ, thì Lâm Hoằng đã cầm một cành mọc vượt thẳng đuột lên, hai tay nắm cành hoa để gần bụng mình, hai đầu ngón cái ấn nhẹ vào nhau, hơi dùng sức, chỉ nghe cành hoa phát ra tiếng "rắc" nhẹ, Chân Chân giật mình, còn chưa kịp phản ứng, tay Lâm Hoằng tiếp tục di chuyển, tiếng "rắc rắc" vang lên vài tiếng nữa. Khi chàng buông tay, cành hoa đã được uốn thành một đường cong tuyệt đẹp, hơn nữa vỏ ngoài gần như không tổn hại, dáng vẻ cành hoa tự nhiên như trời sinh. "Thớ gỗ bên trong tuy bị bẻ cong, nhưng kinh mạch chưa đứt, c*m v** bình vẫn có thể hút nước, hệt như khi chưa bẻ." Lâm Hoằng giải thích. Chân Chân gật đầu: "Con hiểu rồi, cảm giác như 'đánh gãy xương còn liền gân' ấy ạ." Lâm Hoằng cười, đưa một cành khác cho Chân Chân: "Cô thử xem." Chân Chân nhận lấy, thử uốn cành hoa, ban đầu lực không đủ, vừa buông tay cành hoa bật lại trạng thái cũ ngay, sau đó nàng tăng lực, lần này một tiếng "rắc" chói tai vang lên, cành hoa gãy đôi. Nàng xấu hổ xin lỗi Lâm Hoằng, Lâm Hoằng mỉm cười trấn an, lại lấy một cành khác, vừa uốn vừa giảng giải: "Hai tay nắm lấy, cành cách bụng một nắm tay, uốn từ từ trước, cảm nhận độ dẻo dai của cành, rồi chọn lực phù hợp. Khi uốn động tác phải dứt khoát, tiếng bẻ cành phải thanh giòn, nhưng phải yếu như tiếng trẻ sơ sinh ho, nếu chói tai nhức óc thì là gãy rồi." Chân Chân ngộ ra: "Nấu ăn cũng vậy, trước khi thao tác, phải hiểu rõ tính chất nguyên liệu mình cần nấu, rồi mới chọn lực độ và cách vận d.a.o tương ứng." Lâm Hoằng tiếp tục xử lý những cành hoa còn lại, không nói nữa, đôi mắt chăm chú nhìn cành cây đã chọn, quan sát dáng vẻ ban đầu, rồi tự tin uốn nắn ra những đường nét mình muốn, thần thái tập trung, nhưng thực hiện lại vô cùng nhẹ nhàng. Thần thái này thật đẹp, y hệt lúc chàng tập trung vẽ tranh, viết chữ, gảy đàn hay nuôi hạc. Khoảnh khắc ấy nàng chợt nhận ra, nam t.ử đẹp nhất chính là lúc chuyên tâm làm việc mình giỏi. Nàng lẳng lặng ngắm Lâm Hoằng, cảm giác như tắm mình trong nắng xuân, lòng ấm áp, cho đến khi Lâm Hoằng phát hiện nụ cười vô thức trên môi nàng, nhìn nàng với ánh mắt thắc mắc, nàng mới đỏ mặt cúi đầu. "Còn thắc mắc gì không?" Lâm Hoằng hỏi. Chân Chân cụp mắt nghĩ ngợi, nhìn vào cành khô: "Tại sao lại chọn cành khô ạ? Chúng ta ngắm hoa cắm, chẳng phải ngắm hoa đang nở sao? Cành khô trông có vẻ tàn tạ." Lâm Hoằng tạm thời không đáp, cắm những cành hoa đã sửa sang xong vào bình, rồi chọn một cành khô gầy guộc cứng cáp, không có hoa lá gì cắm nghiêng vào phía sau, mới nói: "Tại sao phải né tránh cành khô? Đó là quá khứ chúng ta có thể soi mình." Chân Chân ngước nhìn bình hoa chàng hoàn thành, cành nhỏ phía trước có nụ chưa nở, cành chính ở giữa yểu điệu thướt tha, cách đầu cành khoảng nửa thước có đóa hoa nở rộ, còn cành khô phía sau hùng hồn cứng cỏi, tạo nên cảnh tượng thưa dày có độ, sinh t.ử khô vinh, đều là một thể, tựa như một bức tranh thu nhỏ của sự sống. Chương 18 - Tạo Viên Vài ngày sau, có hai người mang bản đồ từ Phủ Châu đến, nói vâng mệnh chủ nhân mời Lâm Hoằng đến Phủ Châu xây dựng vườn tược. Từ khi triều đình lui về phía Nam (Nam Tống), sĩ đại phu đều thích xây dựng vườn ao, dùng để phụng dưỡng cha nương tiêu khiển, tiệc tùng xướng họa, hưởng thú lâm tuyền. Vườn tược của quan lại quý tộc, không nơi nào không xếp đá làm núi, khơi dòng làm nước, xây đình hóng mát các vẽ, đài cao tạ nguy, trồng kỳ hoa dị thảo, cây quý cỏ thơm, để có thể ở, có thể chơi, có thể chứa tiếng ca điệu múa. Để tìm được người tạo viên (thiết kế sân vườn) lý tưởng, họ không tiếc chi ngàn vàng mời mọc. Chân Chân lúc này mới biết, Lâm Hoằng không phải cả ngày uống gió nuốt sương, không màng thế sự, chi tiêu hàng ngày của chàng và mọi người trong vườn, một phần đáng kể đến từ tiền thù lao thiết kế vườn. "Công t.ử xuất thân dòng dõi thi thư trâm anh, nhưng song thân mất sớm, gia sản để lại không nhiều. Công t.ử mười tám tuổi đã đỗ tiến sĩ, nhưng ngài không màng quan lộ, từ quan về ở ẩn núi Vũ Di, đến nay đã năm năm." A Triệt kể với Chân Chân. Chân Chân rất thấu hiểu: "Thầy Lâm phẩm hạnh cao khiết, xem nhẹ danh lợi, chắc hẳn cũng không quen nhìn chuyện người chuyện đời chốn quan trường." A Triệt tiếp tục: "Ngài ấy dựng khu vườn này ở Vũ Di Sơn để tự mình ở, nhưng bạn bè đến thăm đều khen không dứt lời, nhao nhao mời ngài ấy thiết kế vườn cho nhà mình. Công t.ử khó chối từ, bèn làm hai cái, ai ngờ người đến cầu ngài ấy xây vuờn ngày càng đông. Công t.ử thấy việc này mình giỏi, lại có thể lo liệu sinh kế, nên quyết định mỗi năm nhận hai đơn làm chơi. Nhưng cũng chỉ hai đơn thôi, công t.ử tính tình đạm bạc, không chạy theo lợi nhuận kếch xù, làm việc gì cũng cầu toàn, mỗi khi nhận một đơn là suy đi tính lại, cố gắng làm cho hoàn hảo, cũng rất hao tổn tâm trí, nên một năm hai đơn đã là giới hạn. Có điều số lượng tuy không nhiều, nhưng thu nhập cũng đủ nuôi sống đám người chúng ta." Phủ Châu cách núi Vũ Di không gần, Lâm Hoằng vốn định từ chối, nhưng người đến khẩn khoản nài nỉ: "Chủ nhân nói trong lòng tiên sinh tự có gò khe, nên mới có sự khéo léo của bậc thầy, người khác không theo kịp, không thể thay thế. Nên chủ nhân đặc biệt dặn dò chúng ta nhất định phải mời được tiên sinh đi, nếu tiên sinh từ chối, chúng ta cũng không cần về nữa, chủ nhân sẽ không thu nhận loại bất tài như chúng ta." Lâm Hoằng thấy họ thái độ chân thành, lại thêm chủ nhân cũng là văn nhân nổi tiếng, từng có qua lại với cha mình, cuối cùng đành đồng ý, nhưng nói rõ vì ở xa khó giám sát công trình, mình chỉ đến Phủ Châu vài ngày khảo sát địa thế, vẽ bản đồ thiết kế, tính toán sơ bộ công trình, còn việc xây dựng cụ thể xin chủ nhân sắp xếp người khác. Đã nhận việc này, Lâm Hoằng mỗi ngày buổi chiều lại có thêm một số công việc trù tính đo đạc, thường ngồi trong thư phòng đối diện với bản đồ viết viết vẽ vẽ, hoặc tính toán vật tư cần thiết. Có lần Chân Chân thấy chàng viết vẻ mệt mỏi, bèn đề nghị chàng đọc, nàng cầm bút ghi chép. Lâm Hoằng do dự một chút, sau đó lại đồng ý. Chân Chân ghi chép một lúc, bỗng nghe Lâm Hoằng nhắc đến từ "chuyên giác" (rường cột), không chắc viết thế nào, bèn mở miệng hỏi Lâm Hoằng. Lâm Hoằng đứng dậy đi tới, định cầm lấy bút từ tay nàng viết cho nàng xem, nào ngờ đúng lúc đó Chân Chân đang giơ tay lên, bàn tay chàng đưa ra định lấy bút bất ngờ phủ lên tay nàng đang giơ lên. Đây là lần đầu tiên họ tiếp xúc da thịt trực tiếp. Chân Chân cảm thấy tay thầy Lâm rất lạnh, quay đầu nhìn chàng, chàng đã rụt phắt tay về. Chân Chân vô thức nhìn theo bàn tay rụt về của chàng, phát hiện một cảnh tượng kỳ lạ. "Từ cổ tay chàng trở lên, thế mà lại nổi da gà." Chân Chân nghĩ mãi không ra, sau kể lại chuyện này với A Triệt, "Là tay ta lạnh quá sao? Chắc không phải đâu, ta còn thấy tay thầy ấy lạnh hơn tay ta nữa." A Triệt cười gập cả người: "Ta thấy, cảm giác công t.ử chạm vào tay cô cũng giống như chạm phải chuột vậy." Né cú đ.á.n.h của Chân Chân xong, A Triệt nghiêm mặt nói: "Nói thật đấy, công t.ử ưa sạch sẽ hơn người thường, không chỉ với cô, ngài ấy tránh tiếp xúc da thịt với tất cả mọi người, nếu lỡ chạm phải, ngài ấy sẽ rửa tay đi rửa tay lại. Chúng ta quen rồi, bình thường chung sống đều cố gắng cách xa ngài ấy một chút, sau này cô cũng để ý nhé." Chân Chân vâng dạ, lờ mờ hiểu ra tại sao Lâm Hoằng đã qua tuổi nhược quán (20 tuổi) từ lâu mà vẫn chưa lấy vợ. Chàng mắc bệnh sạch sẽ, không bao giờ dùng chung đồ thân cận và bát đĩa với người khác, mỗi lần ăn cơm đều ngồi một mình một phòng, nghiêm chỉnh lặng lẽ thưởng thức từng món ăn, lại sợ tiếp xúc da thịt với người khác như thế... Chân Chân thầm thở dài, tính cách này, e là định sẵn sẽ cô độc đến già. Chuẩn bị vài ngày, Lâm Hoằng dẫn A Triệt đi Phủ Châu, bảo làm xong việc khảo sát sẽ về, trước khi đi sắp xếp kỹ lưỡng bài tập cho Chân Chân, mỗi ngày dùng nguyên liệu gì luyện dao, kỹ thuật gì luyện nấu nướng đều viết rõ ràng, mỗi bữa chàng quy định một món bắt buộc phải làm, còn lại để Chân Chân tự phát huy, còn không quên bảo Tân Tam nương giám sát. Tân Tam nương mừng thầm, chẳng những chuyện bếp núc mà việc nhà khác cũng sai bảo Chân Chân làm. Chân Chân biết bà ta có thành kiến với mình, cũng không so đo, làm được bao nhiêu thì cố làm, nhiều quá thì giở trò lười biếng qua loa, Tân Tam nương phát hiện ra, lần nào cũng lớn tiếng mắng mỏ: "Công t.ử hảo tâm thu nhận cô, dạy cô nấu ăn, còn không thu học phí, cho cô ăn ngon ở đẹp, cô làm chút việc nhà cho công t.ử chẳng phải là nên làm sao? Có tí việc cỏn con cũng đùn đẩy, đủ thấy lười biếng quen thói, nếu đến nhà người khác còn làm được con tỳ thiếp, đằng này công t.ử nhà ta giữ mình trong sạch, giữ cô lại, cứ như rước một bà Bồ Tát về cho chúng ta thờ vậy." Mấy lời này Chân Chân nghe cũng chẳng thèm cãi lại, ngược lại hai bác làm vườn nghe không lọt tai, thường khuyên Tân Tam nương: "Người ta là cô gái nhỏ, công t.ử đối với cô ấy cũng rất khách sáo, bà nói năng nên đôn hậu một chút, đừng làm cô ấy mất mặt quá, dù sao cũng ngẩng đầu không thấy cúi đầu thấy." Một đêm nọ, Chân Chân bị khói làm sặc tỉnh, mở mắt thấy ngoài cửa sổ lửa cháy bập bùng, tiếng kêu cứu vang lên thất thanh. Chân Chân vội khoác áo vùng dậy, thấy phía xa ngoài vườn lửa cháy ngút trời, chuồng gia súc ở hậu viện trong vườn cũng bắt lửa, có lẽ do tàn lửa bị gió thổi bay lên mái tranh. Chân Chân vội cùng bác làm vườn lấy nước dập lửa, may mà lửa ở chuồng tranh không lớn lắm, dập một hồi đã tắt ngấm. Lửa tắt rồi Tân Tam nương mới ôm một cái tay nải đựng đầy vàng bạc châu báu từ phòng Lâm Hoằng chạy ra, thấy nhóm Chân Chân liền nói: "May mà công t.ử trước khi đi giao chìa khóa cho ta, nếu không lửa mà cháy lên, đống gia sản này đúng là cháy sạch sành sanh." Lúc này lửa ngọn tuy đã tắt nhưng chuồng tranh vẫn bốc khói mù mịt, Tân Tam nương bị sặc ho sù sụ mấy tiếng bỗng giật mình: "Á, tranh của công tử! Không biết có bị khói ám đen không." Nói rồi chạy biến vào thư phòng. Chân Chân cũng theo vào, Tân Tam nương thấy bức tranh Lạc Thần tạm thời vô sự, nhưng khói vẫn liên tục ùa vào, bèn dúi tay nải trong tay cho Chân Chân, tự mình vươn tay tháo bức tranh treo trên tường xuống. Chân Chân nhìn cái tay nải nặng trịch, đi ra ngoài cửa quan sát hướng lửa cháy, trầm ngâm một lát, bỗng rảo bước chạy ra hậu viện, dắt con lừa nhỏ nuôi trong viện ra, tự mình cưỡi lên, mang theo tay nải chạy nước kiệu xuống núi. Tân Tam nương nghe tiếng quay lại nhìn, phát hiện Chân Chân mang tay nải đi mất, đuổi theo một đoạn, thấy Chân Chân đã mất hút, tức đến đ.ấ.m n.g.ự.c giậm chân, vừa khóc vừa mắng: "Con ranh c.h.ế.t tiệt này, ta biết ngay nó không phải người tốt, giờ quả nhiên ôm tiền của công t.ử chạy trốn rồi..." Tân Tam nương sai bác làm vườn xuống núi báo quan ngay trong đêm. Bác làm vườn thấy lửa ngoài vườn chưa giảm, lại lo trong vườn cháy lại, không dám tự tiện rời đi, một người canh giữ trong vườn, một người ra ngoài dập lửa gần đó. May mà hôm sau trời mưa tuyết, hai người bận rộn đến trưa hôm sau, thấy lửa ngoài vườn đã được khống chế mới có cơ hội th* d*c. Tân Tam nương vẫn đang thúc giục hai người đang nằm vật ra đất đi trấn trên báo quan, bắt Chân Chân, thì thấy Chân Chân cưỡi lừa nhỏ, tay xách tay nải, ung dung trở về. Tân Tam nương lao tới, giật phắt tay nải từ tay Chân Chân, cân nhắc tay nải, thấy nhẹ đi nhiều, mở ra xem, quả nhiên thấy tiền bạc vơi đi quá nửa. Tân Tam nương m.á.u dồn lên não, giận dữ quát: "Con ranh muốn c.h.ế.t, bọn ta bận rộn dập lửa, mày lại cướp tiền đi chơi bời!" Vung tay định đ.á.n.h Chân Chân, nhưng bị bác làm vườn ngăn lại, khuyên giải: "Làm gì có ai cướp tiền tiêu xài trắng trợn mà còn dám quay lại, cứ nghe nàng ấy nói xem sao đã." Chân Chân xuống lừa, chắp tay cảm tạ bác làm vườn, rồi nói với Tân Tam nương: "Ta đi trấn trên mua vật liệu trùng tu vườn tược, tiện thể bao trọn nửa năm tiền công của hơn mười người thợ." Tân Tam nương mắng: "Nhà ta chỉ cháy cái chuồng tranh, vật liệu cần để sửa rất ít, đâu cần đến hơn mười người thợ làm nửa năm?" Chân Chân nói: "Ta thấy đám cháy này lan từ vườn của mấy nhà sĩ đại phu gần đó sang. Nơi này phong cảnh tú lệ, phong thủy lại tốt, sau hỏa hoạn, họ nhất định sẽ không để vườn hoang phế, chắc cũng chẳng thiếu tiền, sẽ nhanh chóng xây dựng lại. Mà gạch ngói rường cột cần cho xây dựng phải xuống trấn mua, số lượng có hạn, mấy nhà bị cháy, có nhà thiệt hại nặng, cùng lúc xây dựng lại, vật liệu và thợ mộc, thợ nề, thợ hồ đều sẽ thiếu hụt, nên ta xuống núi ngay trong đêm, nhanh chóng mua gom một lượng lớn vật liệu, và tìm thợ thỏa thuận xong thời gian, trả tiền đặt cọc. Vì số lượng lớn thời gian dài, họ đưa ra giá rất hời." Quay sang hai bác làm vườn, Chân Chân lại nói: "Hai bác theo Thầy Lâm nhiều năm, cũng thường làm đồ mộc, rất am hiểu công trình. Mong hai bác bàn bạc với ta, định ra phương án sửa chữa và giá cả, nếu có người đến mời, chúng ta bao cả công cả vật liệu, nhận mối này. Xây dựng sửa chữa lại, chủ nhà tự có bản vẽ, cũng không cần phiền Thầy Lâm. Nếu ngài ấy rảnh, chỉ điểm đôi chút là tốt nhất, nếu không muốn nhúng tay, thợ tự làm, phiền hai bác giám sát chút đỉnh là được." Bác làm vườn rất ngạc nhiên, hỏi Chân Chân: "Cô nương tuổi còn nhỏ, sao lại rành rẽ chuyện công trình và kinh doanh thế này?" Chân Chân đáp: "Kinh doanh là học từ nương ta. Mỗi khi gặp biến cố, bà sẽ nhanh chóng phán đoán tiếp theo sẽ thiếu hụt thực phẩm gì, rồi chuẩn bị trước khi người khác hành động, như vậy chúng ta sẽ nắm được tiên cơ. Còn về công trình, mấy hôm trước giúp Thầy Lâm chuẩn bị việc xây vườn, cũng nghe thầy nói qua, nên biết chỗ nào có vật liệu và thợ thuyền. Lần này bàn bạc với thợ, họ nghe nói làm việc cho Lâm đều rất vui vẻ, bảo đã từng làm cùng Vấn Tiều tiên sinh nhiều lần, ngài ấy người đàng hoàng, lại hào phóng, theo ngài ấy còn học được vài kỹ thuật nơi khác không học được, nên đều đồng ý ngay, nhanh chóng ký giấy tờ, nhận cọc." Các bác làm vườn đều tán thành quyết sách của Chân Chân, Tân Tam nương vẫn ấm ức, chất vấn Chân Chân: "Nếu những nhà bị cháy kia tìm vật liệu và thợ chỗ khác, thì chúng ta chẳng phải lỗ vốn sao?" "Không đâu," Chân Chân nói, "Chúng ta định giá nhất định phải công đạo, cứ để họ tính toán, đi nơi khác mua vật liệu thuê thợ, chi phí chỉ có hơn chứ không kém." Quả nhiên không bao lâu sau, có người đến hỏi chuyện xây lại vườn, nói xuống trấn tìm thợ, thợ đều bảo họ lên Vấn Tiều Dịch bàn bạc. Chân Chân và bác làm vườn tính toán phương án và giá cả, người đến cũng nhanh chóng chấp nhận. Có hai nhà vốn định tìm vật liệu và thợ nơi khác, hỏi giá xong tính lại, quả thực chi phí chỉ có hơn chứ không kém, cuối cùng cũng đến Vấn Tiều Dịch đặt hàng. Chân Chân sau đó nhờ thợ điều tra nguyên nhân hỏa hoạn, biết được là do chủ nhân một khu vườn muốn bắt chước Lâm Hoằng, thiết kế lò sưởi dưới đất để sưởi ấm phòng ngủ, nhưng xây dựng không đúng cách, lò lửa đặt ngay trong phòng ngủ, bén vào rèm màn bàn ghế gây cháy. May mà người ở kịp thời chạy thoát, những khu vườn bị cháy quanh đó chủ yếu là nơi nghỉ dưỡng, ít người ở thường xuyên, nên không gây thương vong. Chân Chân kiểm tra cấu tạo dưới gạch nền phòng ngủ, thấy bên dưới có đường khói xây bằng gạch đan xen ngang dọc, gạch nền lát ngay trên đường khói, còn cửa lò sưởi đặt bên ngoài bếp, đường khói thông đến phòng ngủ, đốt than xong hơi nóng sẽ theo đường khói đi qua phòng ngủ, rồi thoát ra từ ống khói giấu ở một góc. Chân Chân bèn bảo bác làm vườn: "Vậy cái việc xây lò sưởi này chúng ta cũng nhận làm luôn đi, để người không biết làm bừa, cũng là mối họa lớn." Nhà giàu quanh đó nghe tiếng, bất kể nhà có bị cháy hay không, đều đến nhờ Vấn Tiều Dịch xây giúp lò sưởi. Chân Chân tính toán xong phát hiện, nhận hết mấy đơn này, lịch làm việc của thợ thuê đã kín mít, e là còn phải thuê thêm. Tiền đặt cọc của những công trình này Tân Tam nương nhận đến mỏi tay, nhìn con số khổng lồ trên đơn đặt hàng, cuối cùng cũng nở nụ cười với Chân Chân: "Cái con ranh này, cũng lanh lợi phết, lần này kiếm được, đủ chi tiêu cho vườn ta một hai năm. Đợi công t.ử về, ta nói với ngài ấy, bảo ngài trích một hai phần cho cô." Chân Chân khoác vai bà, nói: "Tam nương nói thế khách sáo quá. Lần này nếu kiếm được chút tiền, cứ coi như là tiền tạ ơnThầy Lâm ta chuẩn bị, không cần trích cho ta đâu,Thầy Lâm tiếp tục cho ta học nghề, Tam nương mỗi ngày cười với ta một cái, là ta mãn nguyện rồi." Tân Tam nương lại nói: "Cô làm tuy không tệ, nhưng chuyện quan trọng, dù sao cũng nên bàn với ta trước, đừng có lẳng lặng ôm tiền chạy, hại ta suýt nữa báo quan bắt cô." Chân Chân hỏi ngược lại: "Nếu ta bàn với bà trước, bà có đồng ý không?" Tân Tam nương nghĩ nghĩ, cười đáp thật lòng: "Không." Lâm Hoằng hoàn thành việc khảo sát vườn tược ở Phủ Châu trở về Vấn Tiều Dịch, Chân Chân ra đón, dọc đường kể lại những chuyện xảy ra ở đây, và tự nhận tội tự ý quyết định. Lâm Hoằng lúc vào núi đã thấy dấu vết hỏa hoạn, lập tức cau mày, nghe Chân Chân nói không tỏ thái độ gì, không khen cũng chẳng mắng, chỉ bước đi như bay, đi thẳng đến thư phòng, cho đến khi đẩy cửa thư phòng ra, thấy bức tranh Lạc Thần vẫn nguyên vẹn treo ở chỗ cũ, mới thầm thở phào nhẹ nhõm. Chương 19 - Chương 19 Tân Tam nương hớn hở trình sổ sách mấy ngày qua cho Lâm Hoằng xem, khen ngợi Chân Chân kiếm lời được nhiều. Lâm Hoằng lặng lẽ xem qua rồi lại nói: "Tính lại sổ sách, trừ đi chi phí và tiền thuế phải nộp, lợi nhuận thu được trả lại hết cho các nhà bị cháy." Mọi người nghe xong đều kinh ngạc, không hiểu sao chàng lại chắp tay dâng khoản lợi nhuận đáng kể này cho người khác. Lâm Hoằng thấy mọi người đều im lặng không đáp, bèn giải thích: "Tai họa thế này, chúng ta không nên thừa nước đục thả câu, nhân cơ hội trục lợi." Chân Chân bất mãn nói: "Chúng ta định giá không vượt quá giá thị trường ngày thường, lợi nhuận thu được là do chênh lệch giá nhờ nhập hàng số lượng lớn và thuê thợ dài hạn, cho dù chúng ta không làm, những nhà bị nạn tự mua hàng thuê thợ, giá cũng không thấp hơn thế này, sao có thể nói chúng ta thừa nước đục thả câu trục lợi." Lâm Hoằng nói: "Hiện giờ những người bị nạn đa phần không liên quan đến nguyên nhân gây cháy, chịu tai bay vạ gió, vốn đã thiệt hại nặng nề, xây dựng sửa chữa lại, lại tốn thêm một khoản lớn. Bất kể chúng ta định giá hợp lý hay không, kiếm tiền trên t.a.i n.ạ.n này chung quy là không ổn, chi bằng trả lại lợi nhuận cho họ, giảm bớt chút thiệt hại cho họ, cũng coi như giúp đỡ hàng xóm, làm một việc thiện." Chân Chân và Tân Tam nương tuy không nỡ, nhưng thấy thái độ Lâm Hoằng kiên quyết, cũng đành nghe theo, tính lại sổ sách, tìm người bị nạn sửa lại hợp đồng, trả lại lợi nhuận cho họ. Mà việc thiện của Lâm Hoằng không chỉ dừng ở đó, chàng còn đi xem tình hình cây rừng trong núi bị cháy, tự bỏ tiền mua cây giống, đợi thời tiết thích hợp sẽ trồng lại. Khiến cho Tân Tam nương nhìn sổ sách than ngắn than dài: "Vốn tưởng vớ bở một món, giờ xem ra, chúng ta lỗ cũng chẳng kém mấy nhà bị cháy nửa cái vườn đâu!" Thấy hành động thiện lương của Lâm Hoằng, những người bị nạn không ai không cảm kích, có người truyền tai chuyện này đến phủ Kiến Ninh nơi quản lý núi Vũ Di, phủ Kiến Ninh lại báo cho Chuyển vận sứ Phúc Kiến lộ. Chuyển vận sứ nói, mỗi khi có thiên tai nhân họa, thường có thương nhân đầu cơ tích trữ, bán nhu yếu phẩm giá gấp đôi, khiến người bị nạn họa vô đơn chí. Nghĩa cử của Lâm Hoằng xứng đáng được khen thưởng, sẽ báo lên triều đình, miễn thuế hai năm cho chàng. Hơn nữa gần đây phủ Kiến Ninh hanh khô, hỏa hoạn thường xuyên, sau tết mưa nhiều, dự báo dễ xảy ra lũ lụt, trong vòng một năm kể từ ngày xảy ra hỏa hoạn trong núi, những người cung cấp vật tư tái thiết bình ổn giá và thợ thuyền sửa chữa liên quan cho người bị nạn, cũng sẽ được miễn thuế. Tin tức truyền đến, không chỉ người trong Vấn Tiều Dịch, mà gần như tất cả thương nhân vật liệu xây dựng và thợ thuyền ở phủ Kiến Ninh đều hớn hở ra mặt, vỗ tay ăn mừng, thường xuyên có người đến Vấn Tiều Dịch cảm ơn. Trước ngày Lập Xuân một hôm, có một bác thợ nề tên Cố Thất Thúc được Chân Chân thuê từ dưới núi lên, đặc biệt mang hai miếng thịt ba chỉ tươi rói đến biếu Chân Chân, thấy trong vườn thanh nhã sạch sẽ, bản thân cũng không dám vào, cứ đứng ngoài hàng rào, đưa thịt cho Chân Chân, liên tục bày tỏ lòng biết ơn. Chân Chân từ chối, bác lùi nhanh lại, nhất quyết không nhận về. Chân Chân đành nhận thịt, nói với Cố Thất Thúc: "Vô công bất thụ lộc, Thất Thúc đã tặng quà cho cháu, cháu cũng xin đáp lễ, có điều không phải hiện vật, chỉ là một gợi ý nhỏ thôi." Cố Thất Thúc hỏi là gì, Chân Chân nói: "Nghe Thầy Lâm bảo, sau tết mưa sẽ nhiều lên, nước sông suối dưới núi chảy xiết, đi thuyền qua sông, thuyền sẽ chòng chành, thậm chí có nguy cơ lật úp. Nên cháu gợi ý bác hoặc người nhà khi đi mua thịt lợn, tiện thể mua luôn bong bóng lợn ở hàng thịt, tích trữ nhiều một chút, phơi khô bảo quản. Đợi khi mưa nhiều, thì thổi bong bóng lợn căng lên buộc chặt, mấy cái kết thành một vòng có thể đeo quanh eo, mang ra bờ sông bán, bán cho người lái đò hoặc người muốn qua sông. Như vậy, họ đeo bong bóng lợn qua sông, dù có gặp hiểm nguy cũng không bị c.h.ế.t đuối, còn Thất Thúc bác, cũng có thể kiếm một khoản tiền tiêu vặt." Bong bóng lợn tức là bàng quang lợn, dẻo dai đàn hồi, có thể thổi thành túi khí. Cố Thất Thúc nghe xong mừng rỡ, khen ngợi kế này khả thi, cảm ơn xong lại nhìn Chân Chân khen: "Cô nương đúng là vừa biết làm ăn vừa biết làm người." Nhìn quanh thấy không có ai lại gần, lại hạ giọng nói với Chân Chân, "Thứ lỗi cho ta nói thẳng, Vấn Tiều tiên sinh tự nhiên là người biết chữ hiểu lễ, thông minh hơn người, nhưng coi tiền bạc nhẹ quá, không thích kinh doanh lắm, ngày thường đối đãi với người cũng khách sáo nhưng khó gần. May mà cô nương đến, cái gì tiên sinh không biết, cô nương đều biết cả, với tiên sinh đúng là trời sinh một cặp. Chúng ta đều đang đợi uống rượu mừng của tiên sinh và cô nương đấy." Hai má Chân Chân đỏ bừng, khẽ nói: "Thất Thúc đừng nói đùa, cháu chỉ đến học nghề với thầy thôi." Cố Thất Thúc cười nói: "Học nghề học nghề, học thành người một nhà thì có sao đâu!" Thấy Chân Chân đỏ mặt hồi lâu không nói, bác cười ha hả cáo từ, lại xuống núi. Chân Chân nhìn theo bác đi xa, nghĩ đến lời bác, trong lòng lại có vài phần vui vẻ, nhưng nhanh chóng nhớ đến nương, lại thấy buồn bã. Chốn Quỳnh lâm Dao trì sau lưng này, chỉ trong hơn một tháng ngắn ngủi, đã cho nàng cảm giác như ở nhà, không khỏi nảy sinh lưu luyến, nhưng nàng chưa bao giờ quên mục đích chuyến đi, đến là để đi, nơi nào có nương mới là cố hương. Mỗi dịp Lập Xuân, người trong nước đều dùng rau quả tươi làm "Xuân Bàn" (Mâm cỗ xuân), hoặc tự ăn, hoặc biếu tặng thân hữu. Xuân Bàn ở Vấn Tiều Dịch cũng là món ăn không thể thiếu ngày Lập Xuân. Đêm trước hôm đó, Lâm Hoằng kể tỉ mỉ cho Chân Chân nghe nguồn gốc Xuân Bàn, nói thời Tấn Xuân Bàn là "Ngũ Tân Bàn" gồm tỏi to, tỏi nhỏ, hẹ, cải dầu, rau mùi ghép lại, ăn vào ngày Lập Xuân, dùng năm vị cay (ngũ tân) để phát tán khí của ngũ tạng. Đến ngày nay, nội dung Xuân Bàn ngày càng phong phú, không còn giới hạn ở ngũ tân, còn có thể chọn củ cải, măng xuân, ngải cứu, cần nước, cải trắng, rau nghể... các loại rau thời vụ đầu xuân, thái sợi bày mâm, dùng các màu xanh, đỏ, trắng, vàng, tím tượng trưng cho cảnh xuân sắc xuân, dùng bánh tráng mỏng như giấy cuốn lại thành cuốn, đưa vào miệng, trong tiết trời mưa bụi hoa mai, cái lạnh chưa tan hẳn này, để môi lưỡi cảm nhận ý xuân mà rau quả mang lại trước tiên. Bánh tráng này Chân Chân từng học với sư tỷ, tự mình lấy bột mì và nước, nhào thành bột ướt, cầm trong tay úp ngược xuống, bột dính trong lòng bàn tay từ từ chảy xuống, Chân Chân ấn vào chảo đã quết dầu nóng, rồi nhấc nhanh lên, bột vẫn đàn hồi trở lại lòng bàn tay, còn đáy chảo đã lưu lại một lớp bánh mỏng dính, bị nhiệt độ nung nóng, mép bánh dần cong lên, đợi tâm bánh khô là có thể lấy ra, đặt vào đĩa, dùng khăn bông ẩm phủ lên, lớp bánh mỏng vốn khô giòn hút hơi nước sẽ nhanh chóng mềm ra, là có thể dùng để cuốn rau thái sợi rồi. Lâm Hoằng tủm tỉm cười, nhìn nàng làm rất vui vẻ, đợi nàng làm xong một chồng dày cộp, mới hỏi: "Cô biết làm 'tích tô san' (núi bơ nhỏ giọt) không?" Chân Chân bảo không biết. Lâm Hoằng xếp rau củ các màu đã thái sợi gọn gàng vào một chiếc đĩa bạc lớn, men theo mép đĩa, xếp thành hình tròn theo màu sắc, chỗ trống ở giữa đồng tâm với mép đĩa. Sau đó Lâm Hoằng lấy mấy miếng bơ sữa đông đặc, đun cách thủy cho mềm, rửa tay sạch sẽ lần nữa, rồi nâng thứ bơ trắng như tuyết sền sệt trong tay, chuyển đến một chiếc đĩa bạc nhỏ cỡ bằng vòng tròn tâm đĩa lớn, bàn tay trắng muốt uyển chuyển xoay tròn, để bơ tràn qua kẽ ngón tay, hoặc nhỏ giọt, hoặc rỉ, hoặc tưới, bơ rơi xuống tạo thành hình chấm, hình sợi hoặc hình mảng, tích tụ ở giữa đĩa bạc, trong nháy mắt một ngọn núi tuyết thu nhỏ sống động như thật dần hình thành, núi non trùng điệp, tú lệ đa dạng. Lâm Hoằng bảo Chân Chân mang núi bơ ra gian ngoài để nó đông lại, rửa tay xong hái một ít hoa mai và cành tùng, tỉa tót công phu, điểm xuyết l*n đ*nh núi tuyết bơ, sau đó đặt núi bơ vào giữa Xuân Bàn. Mâm Xuân Bàn này trông như ruộng xuân hoa nở rộ đan xen với núi tuyết, lập tức mang khí tượng non sông thiên hạ. Chương 20 - Sơn Hải Đầu Ngày Lập Xuân, Chân Chân dậy sớm làm Xuân Bàn, mời Tân Tam nương, A Triệt, bác làm vườn cùng thưởng thức. Còn Lâm Hoằng sau khi gảy đàn trở về, vẫn một mình đi vào thư phòng, ăn cơm một mình. Chân Chân dâng mâm Xuân Bàn có núi bơ chàng làm sáng sớm lên, nhưng vẫn ôm một tia hy vọng khuyên chàng: "Tam nương, A Triệt bọn họ đều đang ăn ở sảnh đường, nói cười vui vẻ lắm. Thầy hay là cùng ra đó đi ạ?" Lâm Hoằng lắc đầu, không hề lay chuyển. "Thầy ơi..." Chân Chân nhìn bộ bát đĩa đơn độc một người ăn trước mặt chàng, nói ra suy đoán mình ấp ủ bấy lâu, "Thầy ăn một mình, là vì không có người mình thích bầu bạn phải không ạ?" Lâm Hoằng cau mày liếc nàng, trong mắt lóe lên tia sáng lạnh như sao băng. Chân Chân như không nhận ra, nhìn bức tranh Lạc Thần, rồi chạy xuống bếp bưng một hộp sơn mài khác lên thư phòng, cười nói với Lâm Hoằng: "Hộp này, là con chuẩn bị Xuân Bàn cho Lạc Thần tỷ tỷ, cảm ơn tỷ ấy luôn ở đây bầu bạn với thầy, che chở chúng ta." Lâm Hoằng không đáp lại, nhưng cũng ngầm đồng ý để Chân Chân lấy Xuân Bàn trong hộp ra, dâng trước tượng Lạc Thần. Trong mâm Xuân Bàn này vẫn có rau củ năm màu và bánh tráng mỏng, kèm theo mắm do Chân Chân dùng cá, thịt thêm muối, rượu, hương liệu và men tương, men rượu ủ thành, mặn thơm vừa vặn, dùng để chấm nem cuốn. Giữa Xuân Bàn có một con vật nhỏ do Chân Chân dùng bơ đặc nặn thành, thân hình nón tròn vo như người tuyết, đầu giống quả cầu, tai cũng như hai quả cầu nhỏ hơn, bên trên dùng hạt quả khô gắn thành mắt tròn, mũi nhọn và cái miệng cong cong. Chân Chân thấy Lâm Hoằng nhìn chằm chằm Xuân Bàn, thần sắc khác thường, xấu hổ nói: "Lần đầu con nặn bơ, tay nghề không tốt... Vốn định nặn con hạc tiên, nhưng bơ nhỏ xuống con thấy không có chân, bèn định nặn con thiên nga, nhưng lỡ tay nặn mình tròn quá, cổ thiên nga dài ngoằng cũng không biết làm thế nào... sau đó định sửa thành con cú mèo, kết quả cũng không giống lắm... Hay là, Lạc Thần tỷ tỷ có thể coi nó là một con gấu nhỏ..." "Ra ngoài." Lâm Hoằng ngắt lời nàng, giọng điệu lạnh băng, ánh mắt trầm xuống như mây đen kéo tới. "Con làm tệ quá ạ?" Chân Chân lo lắng bất an. Trước mặt Lâm Hoằng nàng làm hỏng không ít món, có món còn tệ hơn con vật nhỏ này, nhưng chưa bao giờ thấy Lâm Hoằng lộ vẻ mặt nghiêm khắc đáng sợ như vậy. "Ra ngoài!" Lâm Hoằng chỉ vào mấy lớp thịt thái lát dưới "con gấu nhỏ", quát: "Ngay lập tức, mang thịt lợn và Xuân Bàn của cô ra ngoài!" Dưới con gấu nhỏ, giữa đám rau củ, là mấy lớp thịt lợn thái mỏng, chính là thịt lợn mà Lâm Hoằng nói, là thịt ba chỉ Cố Thất Thúc biếu đem hấp chín thái lát. Chân Chân khổ luyện d.a.o pháp đã lâu, những lát thịt này thái đều tăm tắp, thớ thịt và mỡ phân bố đẹp mắt, bày biện Chân Chân cũng tốn bao tâm huyết, từng lớp từng lớp như cánh hoa chụm lại. Chân Chân từng nghĩ Lâm Hoằng có thể không hài lòng về hình nặn bơ, nhưng ngàn vạn lần không ngờ những lát thịt tươi ngon, d.a.o pháp tinh tế, bày biện khéo léo này lại chọc giận chàng. Vốn dĩ, đây là bất ngờ Chân Chân chuẩn bị cho chàng. Ở Phố Giang, hàng năm Thu Nương và các nữ đệ t.ử đều bày thịt lợn hoa lên Xuân Bàn, mặn chay phối hợp, khiến món ăn đầu mùa càng thêm phong phú. Dưới cái nhìn bức bách giận dữ của Lâm Hoằng, Chân Chân luống cuống tay chân xếp Xuân Bàn lại vào hộp, vội vã mang về bếp. Tiếng Lâm Hoằng gọi A Triệt rõ mồn một truyền đến tai nàng, chàng ra lệnh, yêu cầu A Triệt nhanh chóng lấy nước rửa thư phòng, và đốt hương trừ uế. Món ngon nàng dày công chuẩn bị, hóa ra trong mắt chàng lại là uế khí. Chân Chân đặt Xuân Bàn xuống, thẫn thờ bước ra khỏi bếp, chỉ thấy cảnh tượng trước mắt như ảo ảnh trong nước, bắt đầu nhòe đi trong mắt. Nàng cảm thấy nước mắt sắp rơi xuống, bèn mặc kệ tiếng gọi của Tân Tam nương, cắm đầu chạy khỏi nơi này. Cứ thế cắm đầu chạy một mạch, đến khi nước mắt cạn khô, Chân Chân mới phát hiện mình vô thức đã đến bên vách núi, nơi Lâm Hoằng gảy đàn. Nàng kiệt sức ngồi xuống trong đình, đối diện với ngàn non sông núi, nước trôi mây nổi, đáy lòng một mảnh thê lương, chỉ cảm thấy mình nhà tan người chia lìa, nay lại bị thầy ghét bỏ, trời đất bao la, thật sự chẳng còn nơi dung thân nữa rồi. Phía xa núi non xanh thẫm, dưới chân sương khói mây mù, Chân Chân chạy từ phòng ấm ra, lúc này áo xống mong manh, ngồi thừ hồi lâu, dần cảm thấy cái lạnh thấm vào xương tủy. Nàng ngồi bó gối, đang run lẩy bẩy, bỗng một chiếc áo choàng từ trên trời giáng xuống, còn vương hương lan ấm áp, bao trùm nàng trong mùa xuân. Nàng quay đầu nhìn lại, A Triệt dưới ánh mắt ngỡ ngàng của nàng ung dung ngồi xuống bên cạnh. Cậu thiếu niên thanh tú này còn nhỏ hơn nàng hai tuổi, nhưng lúc này nhìn nàng với ánh mắt thiện ý như một người anh: "Mau về đi, trong núi lạnh lắm, nói không chừng còn có thú dữ, đừng làm Xuân Bàn cho thú dữ đấy." Chân Chân lườm cậu: "Cậu và Tam nương đều lừa người như thế. Nếu có thú dữ, cậu và thầy còn ngày nào cũng đến đây?" A Triệt cười: "Cho dù không có thú dữ, gặp người xấu cũng khổ mà. Cô tưởng ai cũng lương thiện như công t.ử chắc?" "Haizz," Chân Chân thở dài thườn thượt, "Ánh mắt thầy nhìn ta hôm nay, dường như cũng muốn băm vằm ta ra ngàn mảnh." "Con người luôn có một số cấm kỵ không được chạm vào, đối với công tử, thịt lợn là một điều, Lạc Thần là một điều, cô lấy thịt lợn cúng Lạc Thần, vừa khéo phạm cả hai." A Triệt nói, "Công t.ử cho rằng thịt lợn khiến người ta béo phì mà trúng gió, lại hao tổn tâm khí, nên không bao giờ ăn. Ngài ấy trước đây tuy không nói rõ với cô, nhưng cô không nhận ra ngài ấy chưa bao giờ ăn loại thịt này sao?" Chân Chân nhớ lại chuyện ăn uống của Lâm Hoằng, quả thực xưa nay chỉ thấy chàng thiên về ăn chay, nhưng không để ý chàng kiêng thịt lợn. Lại nhớ lời Phượng Tiên từng nói: "Mật ngọt trong mắt muội, có khi lại là thạch tín trong mắt người ta, chưa chắc thứ mình thấy tốt thì người khác cũng phải thích." Nhất thời cảm thấy mình l* m*ng vô cùng, than với A Triệt: "Lần này đúng là ta sai rồi." "Vậy ta nói toạc ra luôn nhé, đây không phải lần đầu cô phạm lỗi đâu." A Triệt cười nói, "Lần trước cô cọ sạch rỉ xanh trên bình hoa đồng của công tử, công t.ử đã âm thầm thổ huyết trong lòng một lần rồi." Thấy Chân Chân rất ngạc nhiên, hoàn toàn không nhận ra vấn đề trong đó, cậu kiên nhẫn giải thích: "Bình vuông công t.ử dùng, là đồ đồng cổ đào được, nằm trong đất lâu năm, nhiễm thổ khí sâu, nên mọc đầy rỉ xanh. Tuy nhiên rỉ xanh đó có thể diệt trùng, chống thối, dùng để đựng nước cắm hoa, nước trong bình lâu hỏng, hoa cắm giữ được vẻ tươi tắn nhiều ngày, như còn trên cành, nụ hoa mau nở, nhưng tàn muộn. Mà cô cọ sạch rỉ xanh đi rồi, công dụng này cũng giảm đi nhiều." Chân Chân mới vỡ lẽ, tại sao hôm đó Lâm Hoằng nhìn chiếc bình đồng sạch bóng chẳng hề vui vẻ. Lại thở dài áy náy, hỏi A Triệt: "Sao ngươi không nói sớm cho ta biết?" "Công t.ử bảo ta đừng nhắc nữa," A Triệt nói, "Ngài ấy bảo cô có lòng tốt rửa bình cho ngài, tuy làm sai, nhưng là vô tình, nếu vì thế mà bị mắng, chắc chắn sẽ rất buồn, nên coi như thôi, bảo ta cũng coi như chưa từng xảy ra chuyện đó." Thấy Chân Chân cúi đầu không nói, A Triệt lại bảo: "Công t.ử không thích nói nhiều, cũng không hay hỏi cảm nhận của người khác, nhưng ngài ấy tuy không hỏi, lại biết đặt mình vào vị trí người khác, suy bụng ta ra bụng người mà nhìn nhận sự việc, nên nhịn được thì nhịn, không nhịn được thì nổi cáu chút đỉnh, quay đầu nghĩ đến điểm tốt của cô, chắc lại thở dài, rồi xắn tay áo nấu cơm cho cô ăn thôi." Chân Chân muốn cười, lại thấy chột dạ, khẽ hỏi: "Thầy sẽ tha thứ cho ta nhanh thế sao?" A Triệt nói: "Ta cá với cô năm văn tiền, giờ này ngài ấy đang nấu cơm cho cô đấy. Ngài ấy công danh lợi lộc đều không để trong lòng, há lại vì chút chuyện cỏn con của cô mà oán giận sầu bi mãi." Khóe môi Chân Chân cong lên, cuối cùng nở nụ cười rạng rỡ. A Triệt nhìn nhau cười với nàng, một lát sau quay nhìn biển mây núi xa trước mắt, cao giọng hát:"Thanh sơn tương đãi, bạch vân tương ái, mộng bất đáo t.ử la bào cộng hoàng kim đái. Nhất mao trai, dã hoa khai. Quản thậm thùy gia hưng phế thùy thành bại, lậu hạng đan phiêu diệc nhạc tai. Bần, khí bất cải; đạt, chí bất cải."(Núi xanh chờ đợi, mây trắng yêu thương, mộng chẳng màng áo gấm đai vàng. Một mái nhà tranh, hoa dại nở. Quản chi nhà ai hưng phế ai thành bại, ngõ hẹp bầu nước cũng vui thay. Nghèo, khí tiết không đổi; đạt, chí hướng chẳng dời). Chân Chân trở về Vấn Tiều Dịch, trước tiên đến thư phòng, ngượng ngùng xin lỗi Lâm Hoằng, kể lại cả hai lần phạm lỗi, khẩn cầu Lâm Hoằng lượng thứ. Lâm Hoằng không tỏ thái độ gì, chỉ ra hiệu cho nàng lui ra. Lúc này trời đã tối, cũng không thấy chàng có ý gọi nàng ăn cơm, Chân Chân hơi thất vọng, nghĩ bụng chắc phải ngậm ngùi nhận năm văn tiền của A Triệt rồi. Lui ra ngoài cửa, đụng mặt Tân Tam nương đang dâng trà cụ sạch sẽ cho Lâm Hoằng, Tam nương thấy nàng liền nói to: "Chân Chân về rồi à, chưa ăn tối phải không? Trong bếp ta còn ít bánh hấp và thức ăn, cô đi lấy mà ăn." Tân Tam nương biết Lâm Hoằng ưa sạch sẽ, nên xây bếp riêng, cơm nước của mình và A Triệt, bác làm vườn đều nấu ở bếp nhỏ của bà, không dùng chung với Lâm Hoằng. Chân Chân chưa kịp đáp lời, lại nghe Lâm Hoằng trong phòng nhàn nhạt nói vọng ra, rõ ràng là nói với nàng: "Trong chõ bếp của ta còn ba cái Sơn Hải Đầu thừa, để đến mai cũng không ngon nữa, cô nếu không chê thì ăn đi." Sơn Hải Đầu là món ăn dùng vỏ bột đậu xanh gói lại thành hình cái yếm, bên trong có măng xuân và tôm cá thái hạt lựu, hấp chín rồi nêm tương, dầu, muối, hồ tiêu, gói vỏ bột đậu xanh lại, chấm giấm ăn. Măng lấy từ núi, tôm cá lấy từ biển, nên gọi là "Sơn Hải". Chân Chân chợt nhớ ra, Lâm Hoằng đã ăn chay nhiều ngày, hơn nữa bình thường chàng nấu ăn định lượng cực kỳ chuẩn xác, ăn bao nhiêu làm bấy nhiêu, nếu không cố ý, tuyệt đối không có lý nào thức ăn thừa đến hôm sau. Cho nên mấy cái Sơn Hải Đầu này, có lẽ đúng như A Triệt nói, là đặc biệt làm cho nàng. Chân Chân không dám chắc nhìn A Triệt sau lưng Lâm Hoằng, A Triệt cười tủm tỉm, nháy mắt với nàng. Trong lòng Chân Chân vui sướng, nhưng đối mặt với ý tốt của thầy, miệng lưỡi lại vụng về, không tìm được lời thích hợp để cảm ơn, cuối cùng ấp úng thốt ra một câu trái lòng: "Muộn thế này rồi, con không ăn đâu... béo lắm." Lời vừa ra khỏi miệng, nàng hối hận muốn tự tát mình một cái: Tại sao lại từ chối? Rõ ràng là mình đói, mình cần Sơn Hải Đầu, huống hồ là thầy Lâm làm... May mà Lâm Hoằng không chấp nhận lời từ chối của nàng, nói: "Người đói thì ăn sẽ không béo, béo là vì tỳ vị không cần mà vẫn nạp quá nhiều thức ăn, ví dụ như ăn vì xã giao, ăn để xả giận, ăn để không lãng phí, ăn để g.i.ế.c thời gian. Cô không phải như thế, nên không cần lo lắng." Chân Chân vui vẻ vâng dạ, sắp chạy xuống bếp của Lâm Hoằng, lại nghe chàng bổ sung: "Còn một bát canh Bích Giản, ta cũng làm thừa, cô uống luôn đi." Chương 21 - Cảnh Xuân Tiết trời tháng hai, cỏ cây đua lớn, chim oanh bay lượn, sắc núi vốn mờ mịt trong mây khói dần được gió xuân thổi cho xanh biếc. Những ngày Chân Chân và Lâm Hoằng bên nhau cũng theo đó mà bước vào mùa xuân. Lâm Hoằng đưa Chân Chân men theo dòng nước chảy tìm kiếm vẻ đẹp chốn núi rừng, cùng ngắm hoa hạnh nở rộ giữa kẽ đá, bình phẩm những búp trà non mới nhú trong núi, cũng cùng nhau đi hái nấm trên nền đất rợp bóng tùng, đào măng xuân dưới rừng trúc xanh rì rào. Lâm Hoằng dạy Chân Chân phân biệt sự khác biệt nhỏ giữa hoa đào, hoa mận, hoa hạnh và hoa sơn anh, kể cho nàng nghe nguồn gốc và điển cố của hoa cỏ chim muông nơi họ đi qua, và tất nhiên, không quên nhắc đến kỹ thuật nấu nướng những món tươi ngon ngày xuân. "Măng mới nhú, cô sẽ chế biến thế nào?" Lâm Hoằng hỏi Chân Chân. Chân Chân ngẫm nghĩ rồi đáp: "Thái lát, dùng hương liệu và bột hồ bọc qua lát măng, rồi thả vào chảo dầu chiên vàng, ngọt giòn đáng yêu. Hoặc như thầy từng làm, thái miếng vuông, nấu cháo với gạo, màu trắng như ngọc, cũng rất đẹp." "Đúng vậy, hai cách làm này, một tựa vàng nướng (bác kim), một như ngọc nấu (chử ngọc), đều rất tuyệt. Tuy nhiên, còn một cách nữa, cực kỳ đơn giản, nhưng lại giữ được trọn vẹn hương vị chân thật của măng non." Lâm Hoằng nhìn rừng trúc trước mặt, chỉ vào một đống lá rụng nói với Chân Chân, "Lá trúc dễ rụng, ít bữa nữa lá khô nhiều hơn, có thể vun lại thành đống. Khi đó quét lá rụng vun quanh những búp măng mới nhú, châm lửa, nướng chín ngay bên gốc trúc, vị ngọt tươi trong đó là thứ mà các cách làm khác khó lòng bì kịp. Món măng làm theo cách này, ta gọi là 'Bàng Lâm Tiên' (Món tươi bên rừng)." Chân Chân cảm thán: "Hồi nhỏ thấy các đầu bếp lớn thường nổi tiếng nhờ giỏi dùng gia vị, lại thường có người khoe khoang làm món chay mà ra vị thịt. Trước khi đến đây, con cũng từng tưởng món ăn của thầy sẽ tinh thông về gia vị, không ngờ thầy nấu nướng đa phần thanh đạm, theo đuổi vị thật của nguyên liệu, gia vị thêm vào chẳng nhiều. Món 'Bàng Lâm Tiên' này, chẳng những không có gia vị, mà ngay cả nồi niêu cũng lược bỏ luôn." Lâm Hoằng cười nhẹ: "Phàm là nguyên liệu, chỉ cần đúng mùa và tươi ngon, dù chế biến đơn giản như hấp hay luộc, hương vị cũng không tệ, thường thì còn cảm nhận được hương thơm rõ hơn những món nêm nếm đậm đà. Giống như thiếu nữ tuổi trăng tròn, chẳng cần phấn son tô vẽ, để mặt mộc cũng đã rất đẹp, dù nói cười hay giận hờn, nhìn thế nào cũng thấy đẹp." Chân Chân nhanh chóng nhẩm tính tuổi mình trong lòng, còn gần một tháng nữa là tròn mười bảy, "Vậy nên..." nàng rụt rè hỏi Lâm Hoằng, "Có lẽ, con trong mắt thầy, cũng không đến nỗi đen trắng đơn sắc chứ ạ?" Lâm Hoằng sững người, rồi bật cười. Chàng không trả lời câu hỏi của Chân Chân, quay người đi về phía núi, bước qua một dòng suối nhỏ chảy róc rách. Quay đầu lại thấy Chân Chân vẫn đứng nguyên chỗ cũ, ánh mắt do dự quanh quẩn giữa khuôn mặt chàng và dòng suối, bèn đưa tay phải về phía nàng: "Lại đây." Chân Chân hoàn toàn ngơ ngác. Nàng không đi theo ngay, một là đang hối hận vì câu nói vừa rồi quá đường đột, sợ thầy cho là thiếu ý tứ, hai là vẫn đang do dự có nên nhảy qua suối hay không. Con suối này với nàng thì nhảy qua dễ ợt, chỉ sợ nhảy mạnh quá, hùng hổ quá sẽ làm thầy giật mình. Mà bây giờ, nàng suýt bị hành động đưa tay của Lâm Hoằng làm cho giật mình. Bàn tay ngón thon dài, trắng trẻo sạch sẽ ấy giờ đây thản nhiên xòe ra trước mắt nàng, lòng bàn tay hướng lên trên, dường như đang đợi nàng đưa tay nắm lấy. Có vẻ như thầy muốn dắt nàng qua suối. Vài câu hỏi xoay chuyển trăm vòng trong lòng Chân Chân: Chẳng phải thầy sợ tiếp xúc da thịt với người khác sao? Nếu nắm tay mình, thầy có lại nổi da gà không? Rốt cuộc có nên đưa tay cho thầy không? Lâm Hoằng dường như nhận ra sự bối rối của nàng, cũng có thể tưởng nàng ngại nam nữ thụ thụ bất thân, bèn kéo tay áo che bàn tay phải lại, rồi vẫn đưa ra cho Chân Chân như cũ. Thế là Chân Chân bước tới bờ suối, cúi đầu đặt tay phải vào lòng bàn tay đã được tay áo che phủ của Lâm Hoằng, cảm nhận hơi ấm từ lòng bàn tay chàng truyền qua lớp vải, mơ màng như đi trên mây được chàng dắt qua, còn việc qua suối thế nào thì hoàn toàn không nhớ nổi. Chân Chân tiếp tục theo Lâm Hoằng thăm thú cảnh đẹp, chỉ thấy non xanh nước biếc trong rừng dường như đẹp thêm vài phần. Mây trắng trời quang, chim oanh bay lượn, gió xuân hây hẩy lướt trên áo. Chân Chân đi sau Lâm Hoằng, để bóng áo bay bay của chàng chồng lên bóng mình, giữ im lặng, nhưng đôi môi mỉm cười, trong lòng như có bốn năm con chim sẻ đang nhảy nhót. Đến một thung lũng, hoa mận rụng trắng như tuyết, những cánh hoa mỏng manh như lụa theo gió rơi xuống khe suối, trôi theo dòng nước. Nước suối trong veo chảy róc rách, tiếng nước trong thung lũng vắng nghe càng thêm thanh linh, tựa như tiếng đàn không hầu. Bên khe suối mọc mấy bụi cây xanh biếc, màu như liễu rủ mới nảy lộc, trên lá còn đọng sương sớm chưa tan, càng thêm tươi non mơn mởn. "Đây là rau cần nước." Chân Chân chỉ bụi cây nói. Lâm Hoằng gật đầu: "Món canh Bích Giản lần trước cho cô nếm, chính là làm từ rau cần nước ở đây." "Cái tên canh Bích Giản này, cũng là thầy đặt ạ?" Chân Chân hỏi. Lâm Hoằng đáp: "Tên này lấy từ câu thơ của Đỗ Phủ 'Tiên tức ngân ti quái, hương cần bích giản canh' (Gỏi cá diếc tươi thái chỉ bạc, canh rau cần thơm ngát khe xanh), miêu tả món ngon ngày xuân nơi rừng núi." Thấy Chân Chân mỉm cười, hỏi nguyên do, Chân Chân bèn kể lại chuyện tranh đấu với Di Bối Lâu, nhắc đến việc Triệu Hoài Ngọc dạy Di Bối Lâu làm canh Bích Giản, nói: "Lúc đó con chỉ thấy Di Bối Lâu cố tình hùa theo sĩ tử, dùng cái tên phong nhã để tô vẽ cho món rau bình thường. Nhưng hôm nay đến đây, ngắm cảnh vật nơi này, mới biết nguồn gốc cái tên canh Bích Giản quả thực vô cùng thích hợp." Lâm Hoằng nói: "Dùng nước suối nấu rau cần, canh thanh đạm thơm tho, nghe tên canh Bích Giản rồi nếm thử, hương thơm ấy tựa như mang cả cảnh xuân trong thung lũng đến đầu lưỡi, cho nên cái tên này có tác dụng điểm đề, chứ không phải tô vẽ." Thấy Chân Chân còn đang ngẫm nghĩ lời mình, Lâm Hoằng lại hỏi: "Nếu mùa hè cô làm món anh đào sốt sữa, trên lớp băng vụn bày anh đào, rồi rưới sữa đặc mật ong lên, có hai loại đĩa đựng, một là đĩa sơn mài, một là đĩa pha lê, cô chọn cái nào?" Chân Chân đáp: "Đương nhiên là đĩa pha lê. Mùa hè ăn anh đào sốt sữa vốn để giải nhiệt, nếu dùng đĩa pha lê đựng, vật chứa cũng trong như băng tuyết, khiến người ta càng thấy mát mẻ." Lâm Hoằng mỉm cười: "Đúng vậy. Thực ra đĩa sơn mài và đĩa pha lê đều không ảnh hưởng đến vị của món ăn, nhưng cảm quan khác nhau, cảm nhận của người ăn cũng sẽ khác. Tên món ăn cũng như vật chứa, cốt để dệt hoa trên gấm, tuy không thay đổi mùi vị món ăn nhưng cũng không phải vô dụng. Còn về điển cố liên quan, nói hay không, nói thế nào, tùy người tùy lúc. Nói khéo thì có thể luận cổ đàm kim, có thể can gián giảng đạo lý, nếu nói không khéo, hoặc không chọn đúng lúc đúng người mà nói, sẽ trở thành đua đòi phong nhã." Chân Chân thấy rất chí lý. Lâm Hoằng lại nói: "Món ăn có lợi cho thân tâm, gọi là Tâm mỹ; hương vị ngon miệng, gọi là Vị mỹ; bày biện tinh tế, gọi là Hình mỹ; tên gọi nhã nhặn, gọi là Danh mỹ. Một món ăn nếu hội tụ đủ bốn cái đẹp (tứ mỹ) này, sẽ vừa thỏa mãn cái bụng của thực khách vừa an ủi cái tâm thẩm mỹ của họ, khiến họ vô cùng vui vẻ. Chúng ta nấu ăn cũng đừng chỉ coi mình là kẻ bếp núc, nghiền ngẫm trù nghệ cũng giống như đốt hương cắm hoa, là việc liên quan đến cái đẹp, có thể nuôi dưỡng thân tâm, rèn luyện tâm trí, nâng cao tu dưỡng." Chân Chân lặng thinh không nói, thầm nghĩ sư phụ là thế ngoại cao nhân, không lo âu phiền muộn gì mới coi nấu nướng là chuyện phong nhã như đốt hương cắm hoa. Còn nương và các sư tỷ khổ luyện trù nghệ đều là để mưu sinh giữa chốn hồng trần này, bản thân nàng giờ đây cũng coi trù nghệ là nấc thang vào cung, gánh vác trọng trách nặng nề, sao có thể điềm nhiên như chàng được. Nghĩ đi nghĩ lại, không biết nói sao, cuối cùng chỉ thở dài một tiếng: "Khó quá, khó quá." Lâm Hoằng dường như cũng cảm nhận được suy nghĩ của nàng, lại nói: "Cô đến học nghề với ta, nói là để kiếm cơm, nhưng ta luôn cảm thấy không chỉ có vậy. Cô trong bếp luôn có chút lo âu khó hiểu, cô quan tâm đến kỹ thuật, chỗ nào cũng bắt chước ta, mà thiếu đi sự suy ngẫm. Có lẽ cô có việc rất quan trọng cần dùng trù nghệ để giải quyết, cô cũng không cần nói cho ta biết, ta chỉ hy vọng một ngày nào đó, sau khi giải quyết xong vấn đề của mình, cô có thể buông bỏ mọi tâm cơ vụ lợi, mang tâm trạng nhẹ nhàng vui vẻ để làm ra món ăn hội tụ tứ mỹ cho chính mình." Chương 22 - Luận Thơ Quãng thời gian học nghề tưởng chừng gian khổ này, nhờ có sự hiện diện của Lâm Hoằng, lại khiến Chân Chân cảm nhận được sự yên bình tĩnh lặng đã lâu không gặp. Ở bên chàng, cơm rau dưa nước lã cũng thấy ngọt ngào. Thậm chí không cần ngày ngày đối mặt, buổi sớm nghe tiếng đàn của chàng vọng từ trên núi xuống, buổi tối xa xa nhìn thấy ánh đèn leo lét trong phòng chàng, trong lòng đều dâng lên niềm vui ấm áp. Nàng thích lén quan sát chàng. Chàng viết chữ vẽ tranh là đẹp, pha trà đốt hương là đẹp, ung dung mím nhẹ môi cắm hoa cũng đẹp, cho dù chàng chẳng làm gì cả, chỉ chắp tay đứng dưới mái hiên nghe mưa, dáng vẻ tĩnh lặng ấy cũng đẹp. Nhờ ơn chàng, cơn mưa xuân dầm dề không dứt kia dường như cũng trở nên đáng yêu. Đôi khi chàng cảm nhận được ánh nhìn của nàng, quay đầu lại nhìn, nàng lập tức đỏ mặt cúi đầu, nhưng được tắm mình trong ánh mắt chàng, trong lòng như có đóa hoa đang từ từ hé nở. Ngoài việc tu luyện trù nghệ, nàng còn rất chăm chỉ đọc sách, nghiêm túc học thuộc thơ văn, ghi nhớ từng điển cố trong sách. Không phải để sau này khoe khoang, mà là hy vọng tâm hồn có thể đến gần Lâm Hoằng hơn một chút, hiểu hơn lời nói hành động của chàng, cũng như nội hàm những món ăn chàng làm. Dưới sự chỉ dạy của Lâm Hoằng, nàng đã quen thuộc cách chế biến các loại rau củ đúng mùa, nhưng sau vụ thịt lợn, trừ tôm cá ra, nàng không dám chủ động hỏi Lâm Hoằng cách nấu các loại thịt khác, sợ lỡ lời lại chọc giận người thích ăn chay này. Có lần nàng dốc lòng làm vài món cho Tân Tam nương ăn, đều là học từ Lâm Hoằng, hỏi Tam nương thấy thế nào. Tân Tam nương nếm xong khen ngợi một hồi, rồi nhìn quanh không có ai, mới thì thầm với Chân Chân: "Nếu nói khuyết điểm ấy mà..." Chân Chân hiểu ý, đồng thanh với bà: "Chay quá." Hai người nhìn nhau cười. Tân Tam nương lại bảo: "Con trai ta hôm nay vừa gửi biếu mấy cân gà béo và thịt dê béo, nghĩ bụng công t.ử cũng chẳng ăn, ta bèn cất trong bếp nhỏ của ta. Hay là tối nay cô sang, chúng ta tự làm tự ăn." Chân Chân đồng ý. Tối đến thấy Lâm Hoằng đã về phòng nghỉ ngơi, nàng bèn lẻn sang bếp của Tân Tam nương. Hai người thấy làm cách khác tốn thời gian, bèn quyết định xiên thịt gà, thịt dê cùng nấm, hẹ và măng còn thừa trong bếp nướng lên ăn. Tân Tam nương nhóm lò, đặt vỉ sắt lên trên, giúp Chân Chân xiên thịt. Chân Chân thấy bà làm lụng cả ngày đã mệt, bèn mời bà về nghỉ trước, đợi nướng xong sẽ sang mời. Tân Tam nương đồng ý, về phòng nghỉ tạm. Chân Chân quết một lớp dầu lên đồ ăn rồi đặt lên vỉ nướng. Da gà và thịt dê gặp nóng, mỡ nhanh chóng xèo xèo chảy ra, nhỏ xuống lửa, ngọn lửa bùng lên cùng khói, mùi thịt thơm phức quyện với khói dần lan tỏa trong không khí. Thấy khói ngày càng đậm, Chân Chân mở cửa sổ cho thoáng, chốc chốc lại lật xiên thịt, quết tương rắc muối. Kỹ năng nướng đồ ăn dân dã này nàng biết từ nhỏ, không phải nương hay sư tỷ dạy, mà là học được khi đi chơi đùa nghịch ngợm cùng đám Dương Thịnh Lâm. Mỡ tiếp tục nhỏ xuống, ngọn lửa kèm theo tiếng "xèo xèo" nhảy múa giữa vỉ sắt và thức ăn, đưa mùi thịt nướng nồng nàn và khói bay lên không trung, thoát ra ngoài cửa sổ. Tiếng bước chân vang lên từ hành lang gỗ, Chân Chân nhìn qua cửa sổ, phát hiện Lâm Hoằng đang đi về phía nhà bếp. Chân Chân giật mình, lập tức trút hết xiên thịt đã nướng và chưa nướng vào cái chảo sắt trên bếp, đậy vung kín mít, nhanh chóng giấu vỉ nướng sau cánh cửa, rồi nhét thêm thật nhiều than vào lò để dập lửa ngọn. Nghe tiếng bước chân Lâm Hoằng ngày càng gần, trong lúc vội vã không tìm thấy nắp lò, bèn luống cuống đặt cái chảo sắt lên lò, rồi vội vàng chỉnh đốn y phục, đứng trước bếp, nở nụ cười bình tĩnh với Lâm Hoằng đang bước vào. Lâm Hoằng nhìn quanh, hỏi Chân Chân: "Cô đang làm gì? Sao khói mù mịt thế này." Chân Chân đã quyết định không nói thật, nướng đồ ăn đến nương và các sư tỷ còn cho là th* t*c, huống chi Lâm Hoằng. Thế là nàng cố giữ nụ cười hoàn hảo nhất, đoan trang đáp: "Con giúp Tam nương rửa chảo, trong chảo có nước dầu, lỡ tay hắt một ít vào lửa nên có khói ạ." Lâm Hoằng liếc nhìn cái chảo sắt trên lò, bình thản hỏi: "Rửa xong chưa?" "Sắp xong rồi ạ. Con đun ít nước, đợi nước nóng tráng lại chảo là xong." Lâm Hoằng không hỏi nữa, nhưng cũng không đi, ung dung ngồi xuống chiếc ghế bên bàn, xem ra ngửi thấy mùi khói nên đặc biệt qua xem xét, trên tay vẫn cầm một cuốn sách. "Thầy đang xem sách gì thế ạ?" Chân Chân thấy chàng không đi, đành tìm chuyện để nói. Lâm Hoằng đáp: "Tập thơ Đỗ Phủ... Câu 'Dạ vũ tiễn xuân phỉ' (Đêm mưa cắt hẹ xuân) ta nói với cô hôm trước, xuất xứ từ bài thơ nào, còn nhớ không?" "Nhớ ạ, 'Dạ vũ tiễn xuân phỉ, Tân xuy gián hoàng lương' (Đêm mưa cắt hẹ xuân, Cơm mới lẫn kê vàng), trích trong bài 'Tặng Vệ Bát xử sĩ' của Đỗ Phủ." Chân Chân đáp, không khỏi nghĩ đến mớ hẹ trong chảo sắt, thầm cầu nguyện lá hẹ đừng bị lửa lò nướng cháy khét lẹt quá nhanh. "Cả bài thơ, cô đọc thuộc lòng được không?" Lâm Hoằng hỏi. Chân Chân sững sờ, buột miệng: "Dài lắm ạ." Lâm Hoằng cười khích lệ: "Thử xem, nếu không nhớ rõ, ta nhắc cho." Chân Chân bất lực, đành đọc từng câu bài thơ dài hơn trăm chữ này:"Nhân sinh bất tương kiến, Động như tham dữ thương. Kim tịch phục hà tịch, Cộng thử đăng chúc quang..."(Đời người không gặp nhau, Như sao Sâm sao Thương. Đêm nay là đêm nào, Cùng chung ánh nến vàng...) Khó khăn lắm mới đọc đến câu cuối"Minh nhật cách sơn nhạc, Thế sự lưỡng mang mang"(Ngày mai cách núi sông, Chuyện đời đôi ngả mịt mùng), vừa thở phào nhẹ nhõm thì lại nghe Lâm Hoằng hỏi: "Bài thơ này nói về cái gì?" Thầy Lâm trước mặt xem ra quyết tâm làm ông đồ già cả đêm nay rồi. Chân Chân ôm trán, mồ hôi lạnh sắp tuôn ra như tắm, lòng lo lắng cho đống thịt xiên trong chảo, muốn trả lời nhanh để tống tiễn thầy đi, nhưng d.ụ.c tốc bất đạt, đầu óc rối loạn, câu trả lời ấp úng đứt quãng: "Đỗ tiên sinh gặp lại bạn cũ... cảm thán gặp nhau khó... ừm, khó... Lần trước gặp chưa cưới vợ, giờ gặp lại, con cái đã biết đi nướng thịt rồi..." "Hửm?" Lâm Hoằng nghi hoặc, khóe môi hơi nhếch lên. "A, không phải không phải!" Chân Chân vội sửa, "Là con cái đều biết rót rượu mời rồi." "Đúng," Lâm Hoằng mỉm cười, thuận miệng đọc câu thơ liên quan, "Vấn đáp nãi vị dĩ, Nhi nữ la tửu tương." (Hỏi đáp còn chưa xong, Con cái bày rượu lỏng). Thấy Chân Chân trả lời khó khăn, Lâm Hoằng tự giải thích cho nàng: "Bài thơ này làm vào mùa xuân năm Càn Nguyên thứ hai, Đỗ Phủ trên đường từ Lạc Dương về Hoa Châu, gặp lại người bạn ở ẩn là Vệ Bát xử sĩ. Lúc đó đang loạn An Sử, thời cuộc biến động, Đỗ Phủ chợt gặp cố nhân, càng có cảm giác đời người như mộng, ngỡ như cách một kiếp..." Chân Chân nghe tai nọ qua tai kia, đến khi Lâm Hoằng nói đến đoạn Vệ Bát xử sĩ đãi Đỗ Phủ hẹ tươi và cơm kê vàng mới hoàn hồn, hùa theo thầy than thở cảm khái để lấp l.i.ế.m tiếng "xèo xèo" phát ra từ trong chảo trên bếp. Đợi Lâm Hoằng giảng xong, Chân Chân chân thành bày tỏ niềm vui khi học được kiến thức mới, rồi lựa lời chuẩn bị tiễn khách, nào ngờ Lâm Hoằng lại mở miệng: "Cô đã nghe chăm chú thế, chi bằng kể lại một lần, để nhớ kỹ hơn." Trong chảo đã bắt đầu bốc khói dầu. Chân Chân muốn khóc không ra nước mắt, còn Lâm Hoằng vẫn ung dung đợi nàng kể lại. Rõ ràng trong mắt chàng, nàng là con người trong suốt như pha lê, nhìn một cái là thấu, chẳng giấu được tâm tư gì. Đã không nói thật, chàng quyết định chơi cùng nàng thế này. Chân Chân đang đắn đo có nên thú nhận với thầy không, bỗng một con thiêu thân cứu nàng một bàn thua trông thấy. Con thiêu thân lao vào ngọn nến trên bàn, trên đường đi đụng phải tay cầm sách của Lâm Hoằng. Lâm Hoằng giật mình đứng dậy, cau mày phủi tay chỗ bị thiêu thân chạm vào, vẻ mặt đầy ghê tởm. Nhanh trí, Chân Chân chộp ngay cái khăn lau bàn, rảo bước tới chỗ Lâm Hoằng, vẻ quan tâm nói: "Thầy ơi, để con lau tay cho thầy." Lâm Hoằng mặt cắt không còn giọt m.á.u nhìn cái khăn đang tiến lại gần, lùi lại liên tục, buông một câu "Không cần đâu", rồi quay người chạy biến. Chân Chân thở phào nhẹ nhõm, lao ngay đến bên bếp mở vung chảo. Một làn khói ẩm bốc lên, hòa cùng mùi thơm quyến rũ lạ lùng, dần tan ra trước mắt Chân Chân. Mỡ gà mỡ dê trong chảo đã chảy ra, lênh láng trong chảo sắt, rau củ thấm đẫm mỡ, ánh lên vẻ bóng bẩy khác hẳn luộc hay hấp. Vì trước đó lửa lò bị than phủ lên, sức nóng giảm, nên rau trong chảo không bị cháy nhiều. Chân Chân gắp thử một miếng nấm nhỏ bỏ vào miệng, miếng nấm được mỡ chiên chín tan ra nơi đầu lưỡi, Chân Chân cảm nhận được một hương vị kỳ diệu, trơn mềm thơm ngon khác hẳn mọi cách nấu trước đây, lại quyện mùi mỡ thơm lừng. Chương 23 - Chương 23 Chân Chân đảo đều nguyên liệu trong chảo, để mỡ và nước sốt bao phủ đều bề mặt thực phẩm, cách ly với lửa ngọn. Thực phẩm được làm chín hoàn toàn nhờ nhiệt độ truyền từ chảo và mỡ, không có vị khét do nướng lửa, lại có nước ngọt tiết ra hòa với mỡ, giữ được độ ẩm, hương vị lại thơm nồng hơn luộc hay hấp. Mùi thơm này phong phú nhiều tầng lớp, ngoài mùi thơm bản thân thực phẩm còn có mùi mỡ, và mùi thơm của các loại rau củ trộn lẫn vào nhau. Cách làm chín thực phẩm bằng cách đảo trong chảo nóng với ít dầu mỡ mà không thêm nước này gọi là “xào”. Chân Chân cũng biết, nhưng dù ở quê nhà Lưỡng Chiết hay vùng Phúc Kiến nơi có núi Vũ Di, món xào nàng từng thấy đều là một khâu sơ chế nguyên liệu đơn lẻ trong quá trình nấu nướng, ví dụ như rang khô đậu, hay rang khô hương liệu rồi nghiền làm gia vị. Chảo đổ dầu thường dùng để chiên rán, tốn rất nhiều dầu, còn việc trộn rau với thịt, dùng ít mỡ làm chín như thế này, dù là nương, các sư tỷ hay Lâm Hoằng, Chân Chân đều chưa từng thấy ai làm. Cách nấu phổ biến nhất vẫn là hầm, luộc, hấp, chiên. Chân Chân lén gọi Tân Tam nương đến, mời bà nếm thử những món đã "xào" chín này. Tân Tam nương gắp một ít nếm thử, nhai kỹ, ánh sáng lóe lên trong mắt bà khiến Chân Chân nhận ra cảm giác của mình là đúng. Món ăn xào chín kiểu này rất thơm, một mùi thơm động lòng người khác hẳn các cách nấu khác. Hôm sau Chân Chân và Lâm Hoằng đều ngầm hiểu không nhắc đến chuyện đêm qua. Sáng sớm Lâm Hoằng đốt hương trong thư phòng. Từ mùa đông năm ngoái, loại hương chàng thích dùng nhất là "Phản hồn mai" (Mai trả hồn) hợp thành từ hắc giác trầm, đinh hương, uất kim, xạ hương và lạp trà (trà tháng chạp). Lúc này chàng vùi một bánh than hương đã đốt cháy đầu đuôi vào trong chiếc lư hương ba chân men xanh ngọc Long Tuyền cao chừng ba tấc, dùng xẻng hương vun tro thành hình núi, chọc lỗ thông khí trên đỉnh núi bằng đũa hương, đặt tay lên trên thử nhiệt độ lửa, rồi mới đặt một lá bạc đỡ viên hương Phản hồn l*n đ*nh. Viên hương gặp nhiệt, mùi hương tỏa ra bắt đầu lượn lờ bay lên, nhưng cách lửa xông, không thấy khói. Mùi hương thoang thoảng phả vào mặt, ngọt ngào thanh khiết, trong đó có mùi thảo mộc của lạp trà, khiến người ta như đang lạc giữa rừng mai. Chân Chân vẫn luôn im lặng quan sát, đợi Lâm Hoằng đặt lư hương lên bàn, mới nói: "Hương Phản hồn mai này thầy đốt nhiều lần, đến nỗi dù không đốt, thư phòng của thầy cũng tự vương một làn hương. Nhưng ngửi kỹ, hương lưu lại trong phòng và hương đang đốt trong lò không hoàn toàn giống nhau. Hương trong lò có mùi cỏ cây tươi mới, nhưng hương lưu lại chủ yếu là mùi trầm của hắc giác trầm, mùi lạp trà gần như không ngửi thấy nữa." "Đương nhiên rồi, tuyệt đại đa số hương liệu tổng hợp đều lấy trầm, đàn làm chủ, đốt đến cuối cùng, mùi hương cỏ cây đều sẽ tan đi, còn lại vẫn là mùi trầm đàn. Linh hồn của vị Phản hồn mai này, chính là hắc giác trầm." Lâm Hoằng lấy một mẩu gỗ hắc giác trầm đưa cho Chân Chân xem. Mẩu hắc giác trầm màu như gỗ mun, trong thớ gỗ đẫm dầu đen, bóng loáng. Chân Chân thử bẻ, thấy rất cứng. Nhẹ nhàng v**t v*, mùi hương quấn quýt đầu ngón tay không tan. Lâm Hoằng lại lấy một cái lồng xông bằng đồng dùng để xông áo, gọi là "xuất hương" cho Chân Chân xem. Nắp lồng hình bát úp, đỉnh như đóa sen, giữa các cánh hoa có lỗ thoát khói chạm rỗng. Lâm Hoằng mở nắp, chỉ thấy bên trong nắp bám một lớp dầu màu nâu đen tích tụ lâu ngày. Chân Chân cầm lấy, ngửi qua liền thấy mùi hoa quả nồng nàn của trầm hương Hải Nam. "Trầm hương, đặc biệt là loại hương liệu như hắc giác trầm lưu hương lâu, đều do giàu nhựa dầu thơm. Dầu có thể hòa hương, có thể định hương (giữ hương), dùng để hợp hương, có thể dung hòa mùi của các loại hương khác. Khi đốt, nhựa dầu theo hơi nóng bốc lên, bám vào đâu, mùi hương ở đó lâu dài không tan. Hương thảo mộc thiếu dầu, lưu hương không bằng trầm hương." Lâm Hoằng giải thích. "Dầu có thể hòa hương, định hương..." Chân Chân ngẫm nghĩ kỹ, dường như ngộ ra điều gì, mặt lộ vẻ vui mừng. Hai ngày sau, A Triệt xuống núi mua văn phòng tứ bảo cho Lâm Hoằng, khi về lại mang theo một con gà béo đã làm sạch đưa cho Chân Chân. "Cô muốn ăn mặn cứ nói thẳng, không cần giấu giếm. Công t.ử tuy thích ăn chay, nhưng không phản đối người khác ăn mặn." A Triệt bảo Chân Chân, "Công t.ử nói, ngài ấy tôn trọng mọi cái lưỡi." Chân Chân nhanh chóng bắt tay vào việc. Bữa tối hôm ấy, Chân Chân dâng món gà đã nấu xong lên trước mặt Lâm Hoằng, thành khẩn mời chàng nếm thử. Gà trong đĩa được làm theo cách Lâm Hoằng thích, luộc với dầu vừng, muối, nước, lát sau thêm hành, tiêu, không quá nhiều gia vị, đợi gà chín thì chặt miếng bày ra đĩa, nước luộc múc riêng, dâng cùng với gà. Gà và canh đều vàng óm, mùi thơm hấp dẫn. Lâm Hoằng nếm thử một miếng, không khen chê gì, nhìn kỹ đĩa gà, cười hỏi: "Con gà này hình như thiếu một cái đùi, chẳng lẽ bị cô ăn vụng rồi?" "Không phải không phải, con gà này vốn dĩ chỉ có một chân thôi ạ." Chân Chân cười tủm tỉm đáp, thấy Lâm Hoằng cau mày không hiểu, nàng chỉ con hạc đầu đỏ trên đảo nhỏ ngoài cửa, "Thầy xem, giống con hạc kia kìa, cũng chỉ có một chân." Lâm Hoằng nhìn ra, quả nhiên thấy con hạc đứng bên mép nước trên đảo đang co một chân lên, trông đúng là như chỉ có một chân. Lâm Hoằng cười khẩy, đứng dậy đi ra cửa, hướng về phía con hạc từ từ vỗ tay hai cái. Con hạc nghe tiếng liền vỗ cánh kêu vang, nhảy múa, cái chân co lên kia cũng theo đó lộ ra. Lâm Hoằng ung dung quay người lại, nhìn Chân Chân: "Giờ là một chân hay hai chân?" "Ra là thế..." Chân Chân làm bộ vỡ lẽ, nhìn Lâm Hoằng, ánh mắt tinh quái, "Thầy đã biết loài chim không vỗ tay là một chân, vỗ tay là hai chân, lại muốn gà hai chân, vậy vừa nãy đối mặt với gà con làm sao thầy không vỗ tay?" Lâm Hoằng ôm trán cười, rồi quay lại phòng, nhìn đĩa gà trịnh trọng vỗ tay hai cái, khen: "Thơm mềm róc xương, màu sắc đẹp mắt. Lý Bạch có thơ:'Đường thượng thập phân lục tự tửu, Bàn trung nhất vị hoàng kim kê'(Trên nhà mười phần rượu lục tự, Trong mâm một vị gà hoàng kim). Nay cô làm món này, sắc hương vị đều đủ, cũng xứng gọi là Gà Hoàng Kim rồi." Chân Chân hớn hở cảm ơn thầy khen ngợi. Sau đó chạy vào bếp, bưng ra một món khác tạm giấu trước đó. Đó là một món xào với dầu vừng, Lâm Hoằng nhìn kỹ, nhận ra trong đó có dưa muối, gừng tươi, hành trắng, măng xuân, tôm nõn và thịt gà, đều thái sợi dài, xanh đỏ vàng trắng xen kẽ, màu sắc và hương thơm đều dễ chịu. Lâm Hoằng gắp vài sợi rau nếm thử, trầm ngâm không nói, một lát sau lại gắp sợi thịt gà nếm, nhai kỹ, vẫn chưa tỏ thái độ. "Thịt gà bên trong chính là cái đùi gà con bớt lại lúc nãy đấy ạ." Chân Chân giải thích, rồi kể lại tường tận chuyện xảy ra sau khi Lâm Hoằng bỏ đi đêm nướng thịt hôm nọ, sau đó nói: "Con phát hiện dùng dầu làm chín nguyên liệu, nhiệt đều, lại không dễ cháy, so với hấp luộc, mùi vị thơm hơn. Có lẽ đúng như thầy nói, là vì dầu có thể hòa hương, định hương. Đĩa gà xé phay xào dưa này, vị tươi của gừng hành măng xuân và vị mặn thơm của dưa muối trong quá trình xào đã bám vào sợi thịt gà, mà mùi thơm thịt gà tỏa ra cũng tan vào trong dầu, bao bọc lấy rau củ, mấy loại hương vị hòa quyện thúc đẩy lẫn nhau, biến hóa ra hương vị phong phú. Tuy thầy chủ trương giữ vị thật của nguyên liệu, nhưng thi thoảng thay đổi chút ít, thử chút hương vị béo ngậy mới mẻ, cũng không phải chuyện xấu đâu ạ." Lâm Hoằng cuối cùng cũng mỉm cười: "Đúng vậy. Người trên đời đâu chỉ ngàn vạn, khẩu vị mỗi người mỗi khác, thanh đạm hay béo ngậy đều có người yêu thích. Ngay cả cùng một người, cũng không cả đời chỉ thích một vị, khẩu vị mặn nhạt sẽ thay đổi theo hoàn cảnh, tâm trạng và sự từng trải. Ăn chay lâu ngày nhớ nhung vị béo ngọt, hay ăn mặn lâu ngày muốn dùng rau củ thanh lọc tâm hồn, đều là bình thường. Ăn uống không phân cao thấp, chỉ bàn xem lúc đó nơi đó có hợp với người ăn hay không. Ta thiên về ăn thanh đạm, cô tán thành, nghiêm túc học những gì ta dạy, nhưng không bị quan điểm của ta trói buộc, vẫn theo ý mình tìm tòi hương vị khác biệt và cách làm mới, điều này rất tốt, chứng tỏ cô biết suy nghĩ độc lập. Học mà không suy nghĩ thì u tối, cô bây giờ đã vượt qua giai đoạn đó rồi." Chân Chân vui mừng ra mặt, giơ tay lên trán vái chào, trịnh trọng cảm ơn Lâm Hoằng đã khẳng định. Lâm Hoằng lại nhìn đĩa thức ăn, nói tiếp: "Nếu nói về chỗ chưa được, thì là lửa hơi quá, sợi gà hơi khô. Nếu trong thời gian ngắn làm chín bằng nhiệt độ cao, lập tức bắc ra khỏi lửa, hương vị và màu sắc chắc chắn sẽ tốt hơn." Chân Chân nói: "Cái chảo sắt con dùng ngày thường là để hầm và nấu cơm, hình dáng giống cái đỉnh đồng cổ, rất dày, truyền nhiệt chậm, tản nhiệt cũng chậm, vì nặng nên muốn trong khoảnh khắc nhấc ra khỏi lửa cách nhiệt là không dễ. Hơn nữa đáy chảo bằng phẳng, trong quá trình xào đảo cũng không thuận tay lắm." Lâm Hoằng gật đầu: "Thực ra cách xào tương tự thế này, trong 'Tề Dân Yếu Thuật' từng có ghi chép, dùng chảo đồng, ta từng thấy người bạn từ đất Thục làm qua. Ta cũng từng thử, nhưng thấy chảo không phù hợp, dùng không thuận tay nên thôi. Có lẽ, chúng ta có thể cùng thử xem, thay đổi hình dáng chảo sắt, để khi xào nấu tiện lợi hơn." Chương 24 - Ước Hẹn Trung Thu Những ngày sau đó, Lâm Hoằng và Chân Chân thử xào rau nhiều lần, nghiêm túc ghi chép cảm nhận về dụng cụ nấu nướng, và liên tục sửa đổi bản vẽ cải tiến chảo sắt. Họ đổi chảo sang hình đĩa đáy tròn, miệng mở rộng, lòng chảo cong tròn trơn nhẵn, tiện cho việc đảo một cái là xuống tận đáy, thành chảo làm mỏng đi, giảm trọng lượng, lợi cho việc truyền nhiệt và cầm nắm. Cảm thấy đại khái ổn rồi, bèn tìm thợ rèn đ.á.n.h chảo mới theo bản vẽ. Có được mẫu chảo sắt mới, hai người lại thường xuyên thử xào món mới, bất kể mặn chay. Nhà bếp của Lâm Hoằng vì thế mà có thêm vài phần khói lửa so với trước kia. Chân Chân thấy vậy rất áy náy, nhưng Lâm Hoằng lại chẳng hề bận tâm, mỗi ngày xào rau xong lại cùng Chân Chân tỉ mỉ lau dọn bếp núc. Hai người ở bên nhau nhiều hơn trước, Lâm Hoằng càng thêm ôn hòa, thậm chí thi thoảng còn có tâm trạng nói cười. Một hôm A Triệt xuống núi câu được mấy con cá vược, mang về Vấn Tiều Dịch cho Lâm Hoằng và Chân Chân làm gỏi cá (chước khoái). Hai người mỗi người một con, làm sạch nội tạng, đ.á.n.h vảy xong, Lâm Hoằng cầm d.a.o thái gỏi trước, Chân Chân đứng bên quan sát. Lâm Hoằng tay trái ấn nhẹ miếng cá, đẩy nhẹ sang phải với tốc độ đều, tay phải cầm dao, tay nâng d.a.o hạ, tạo ra tiếng động liên tục nhịp nhàng trên thớt, những lát cá mỏng tang theo tiếng d.a.o rơi xuống, bay sang bên phải như hoa tuyết bọt sóng. Chân Chân vừa thán phục vừa cố gắng bắt chước, nhưng phát hiện sau khi hạ d.a.o lát cá thường dính vào thân dao, không bay xuống ngay như của Lâm Hoằng. Chân Chân thắc mắc, Lâm Hoằng chỉ điểm: "Cô bôi một ít não cá, hoặc mỡ bụng cá lên thân dao, lát cá thái ra sẽ không dính d.a.o nữa, lại không có mùi lạ." Chân Chân làm theo, quả nhiên dưới từng nhát d.a.o hạ xuống, từng lát gỏi cá bay lượn, không hề dính dao. Chân Chân cười cảm ơn Lâm Hoằng, lại hỏi có phải cá nào cũng dùng cách này làm gỏi được không. Lâm Hoằng đáp: "Cá nào thịt thích hợp làm gỏi thì hầu như đều được, chỉ có một loại không được – cá nóc." Chân Chân gật đầu: "Cá nóc có độc, nương con không bao giờ dùng cá nóc làm nguyên liệu, còn rất ghét loại cá này, nhắc đến cũng không cho các sư tỷ nhắc." "Chắc là lệnh đường nhân hậu, nên không thích nguyên liệu có độc tố." Lâm Hoằng nói, "Độc tố cá nóc tụ ở nội tạng, da và máu, m.á.u lại dễ hòa tan trong mỡ, nên khi thái gỏi không được bôi não cá và mỡ lên dao. Nhưng nếu chỉ lấy thịt cá tươi, rửa sạch máu, ăn vào sẽ không hại thân." "Con biết, đến Đông Pha cư sĩ còn thích ăn cá nóc, chứng tỏ chỉ cần xử lý kỹ càng, độc tố không ngăn cản được người ta thưởng thức món ngon này." Chân Chân cười nói. Lâm Hoằng hơi tò mò: "Sao cô biết Đông Pha cư sĩ thích ăn cá nóc?" "Con từng học thuộc thơ ông ấy mà." Chân Chân thuận miệng đọc:"Trúc ngoại đào hoa tam lưỡng chi, Xuân giang thủy noãn áp tiên tri. Lâu cao mãn địa lô nha đoản, Chính thị hà đồn d.ụ.c thượng thời."(Ngoài rặng trúc ba hai cành đào nở, Nước sông xuân ấm vịt hay trước tiên. Rau ngải đầy đất mầm lau ngắn, Chính là lúc cá nóc muốn ngược dòng). Lâm Hoằng mỉm cười: "Bài thơ này viết hay đấy. Cô có cảm tưởng gì?" "Cảm tưởng là, rất nhiều bài thơ hồi bé thầy đồ bắt thuộc thì thuộc thôi, chứ không hiểu thâm ý bên trong, nhất định phải trải qua một số chuyện, học được nhiều thứ rồi mới hiểu ý đồ thực sự của nhà thơ." Chân Chân đáp, "Ví dụ như bài 'Huệ Sùng xuân giang vãn cảnh' này, đề bài nói là cảnh chiều sông xuân, thầy đồ năm xưa cũng bảo con bài này tả cảnh xuân, con cũng tin là thế. Nhưng nay học nấu ăn, biết được những món ngon Đông Pha cư sĩ từng ăn và từng làm mới vỡ lẽ, hóa ra lúc đó ông ấy muốn nói là: Măng trúc, vịt béo, rau ngải, măng lau, còn cả cá nóc nữa, ta đến đây!" Lâm Hoằng nghe xong cau mày: "Sao có thể suy diễn ý thơ Đông Pha cư sĩ như thế." Chân Chân sững sờ, cẩn thận thăm dò sắc mặt chàng, rụt rè hỏi: "Thầy thấy con ăn nói bừa bãi ạ?" "Ý ta là," Lâm Hoằng điềm nhiên, chậm rãi nói, "Đông Pha cư sĩ là người chỉ để ý đến mấy loại nguyên liệu này thôi sao? Còn đào nữa chi... Ông ấy lúc đó nhìn hoa đào, trong lòng đa phần còn nghĩ, đợi ít bữa nữa, là có thể ăn được đào tươi rồi." Chân Chân không nhịn được cười phá lên, Lâm Hoằng cũng nở nụ cười rạng rỡ. Hai người đặt d.a.o xuống, ngồi đối diện nhau, lại bàn đến những bài thơ khác về món ngon của Đông Pha cư sĩ, chuyện trò rôm rả cười nói không ngớt. A Triệt và Tân Tam nương đứng ngoài bếp nghe tiếng cười của hai người, nhìn nhau, đều thấy lạ lùng. A Triệt nói nhỏ với Tân Tam nương: "Tam nương có thấy không, dạo này công t.ử cười nhiều hơn trước bao nhiêu." Tân Tam nương im lặng hồi lâu, rồi thở dài: "Con bé Chân Chân này trước ta ghét lắm, nhưng giữ nó lại đây xem ra cũng không tệ, ít nhất làm cho công t.ử có chút hơi người." Đêm đến Lâm Hoằng luyện chữ trong thư phòng, Chân Chân hầu bên cạnh, mài mực đốt hương cho chàng. Khác với ban ngày, nàng thẫn thờ lo âu, vẻ mặt buồn rười rượi. Lâm Hoằng để ý thấy, gác bút, ôn tồn nói với Chân Chân: "Cô vất vả cả ngày rồi, về phòng nghỉ sớm đi. Ta đã bảo A Triệt nhắn với ngư dân dưới núi, nếu bắt được cá nóc thì mang đến vườn ta, ta dạy cô cách bỏ độc nấu nướng." Chân Chân cười gượng, khẽ nói: "Cảm ơn thầy... Chỉ là, e con không đợi được đến ngày đó đâu ạ." Lâm Hoằng ngạc nhiên, hỏi sao nàng nói vậy. Chân Chân đáp: "Ngày mai, con phải rời Vấn Tiều Dịch, về Phố Giang rồi." Hồi trước thư Triệu Hoài Ngọc gửi Lâm Hoằng chỉ nói Chân Chân vì biến cố gia đình không nơi nương tựa, muốn tá túc Vấn Tiều Dịch học nghề, không nhắc chi tiết biến cố Thích Trân Lâu, cũng không nói khi nào Chân Chân đi. Mà Chân Chân quy hết tai họa gia đình về lỗi của mình, tự trách sâu sắc, cũng không đủ can đảm kể rõ với Lâm Hoằng, nên mãi đến hôm nay Lâm Hoằng mới biết nàng sắp đi. Chân Chân xin lỗi Lâm Hoằng, cuối cùng kể hết đầu đuôi ngọn ngành việc đến đây học nghề, nói rõ việc tuyển chọn của Thượng Thực Cục sắp đến, mình phải về Phố Giang. Thấy Lâm Hoằng vẻ mặt nghiêm túc, đăm chiêu không nói, nàng lại cố gắng mỉm cười với chàng: "Thật sự cảm ơn thầy những ngày qua đã dạy dỗ và chăm sóc con... Hôm nay, là sinh nhật mười bảy tuổi của con, cảm ơn thầy đã dạy con làm gỏi cá, cho con một ngày rất vui... Mọi ân tình và lòng tốt thầy dành cho con, con đều khắc ghi trong lòng, hy vọng có ngày được báo đáp." Lâm Hoằng nghe xong không lộ vẻ vui giận, chỉ nói một câu: "Đi theo ta." Rồi tự mình đi về phía bếp. Chân Chân theo Lâm Hoằng vào bếp của chàng. Lâm Hoằng lấy từ trong vò ra một ít củ khoai sọ nhỏ đã phơi khô, mang đến bên lò đất, châm rơm, vùi khoai vào trong tro nướng chín. "Trước không biết hôm nay là sinh nhật cô, nếu không đã chuẩn bị nguyên liệu tốt hơn. Giờ chỉ có mấy củ khoai nhỏ này ăn khuya thôi." Lâm Hoằng nói, "Khoai này đã phơi khô, nướng chín ăn vị rất giống hạt dẻ, nên ta gọi là 'Thổ Lật' (Hạt dẻ đất). Có một năm đầu xuân Hoài Ngọc đến thăm ta, đến vội đi vội, ta cũng chẳng chuẩn bị gì, hai chúng ta cứ vùi khoai nướng Thổ Lật này ăn, trò chuyện suốt đêm." Chân Chân gật đầu: "Con thấy Tam nương phơi đống khoai này rồi, lúc đó còn chưa biết làm vậy để làm gì. Cảm ơn thầy hôm nay cho con nếm thử." Chân Chân bèn cùng Lâm Hoằng ngồi sóng vai bên lò đất, vừa tán gẫu vừa khều lửa nướng khoai. Nhắc đến chuyện học nghề, Lâm Hoằng hỏi Chân Chân: "Nhà cô đã mở tửu lầu, sao cô không học nấu ăn từ nhỏ?" Chân Chân thở dài: "Cha con mất sớm, nương một mình nuôi con, năm con bốn tuổi nương nhận nuôi Phượng Tiên tỷ tỷ, lại quen Bồ bá, cuộc sống mới náo nhiệt hơn chút. Nương con sinh ra đã đẹp, những năm đó người đến cầu thân rất nhiều, nương đều từ chối. Sau có một gã công t.ử con quan, muốn nạp nương con làm thiếp, bị từ chối thẳng thừng, gã nhân lúc Bồ bá đi tỉnh khác mua hàng sai người xông vào nhà con, đ.á.n.h nương một trận thừa sống thiếu c.h.ế.t, Phượng Tiên tỷ tỷ can ngăn cũng bị đ.á.n.h không nhẹ. Con lúc đó bảy tuổi, được nương gửi vào trường tư thục nên thoát nạn. Nương và Phượng Tiên tỷ đều vì thế mà nằm liệt giường, con về nhà thấy họ không có sức nấu cơm, bèn định tự nấu cho họ ăn." Lâm Hoằng kiên nhẫn lắng nghe, lúc này đã đoán được chuyện xảy ra sau đó: "Trước đó cô chưa nấu cơm bao giờ đúng không? Nên đã phạm sai lầm." "Vâng," Chân Chân buồn bã nói, "Con làm theo ấn tượng lờ mờ bắt chước nương nấu cơm, đặt chõ gỗ vào trong nồi đồng, đổ gạo vào, rồi đặt lên bếp, nhóm lửa... Con ngồi canh bên cạnh, không biết thế nào lại ngủ quên mất. Sau đó, chõ gỗ bốc cháy... Thầy biết tại sao không?" Lâm Hoằng hiểu rõ: "Cô quên đổ nước vào chõ và nồi đồng." "Không phải quên, là con hoàn toàn không biết phải đổ nước, bình thường con chỉ chơi thôi, ít khi vào bếp." Chân Chân cười khổ ôm mặt, im lặng một lát rồi kể tiếp, "Lúc con tỉnh dậy, trong bếp khói mù mịt, ngoài chõ gỗ, đồ đạc quanh bếp cũng bén lửa, rồi đến bàn ghế gần đó... Con bị kẹt trong đám cháy, sợ quá khóc thét lên, nhưng vừa mở miệng khói đã xộc vào họng, ho sặc sụa... Ngay lúc con sắp ngất đi, nương lao vào. Nương người mảnh mai như thế, vốn bị đ.á.n.h đến trở mình còn khó, vậy mà lúc đó không biết lấy đâu ra sức lực, thế mà đi như bay, múc từng chậu nước trong vại, dội vào ngọn lửa... Cuối cùng hết nước, nương cởi áo ngoài ra, ra sức dập lửa, cuối cùng cũng dập tắt được ngọn lửa chặn đường con, bế con ra ngoài." Lâm Hoằng dời mắt khỏi mặt Chân Chân, không nhìn đôi mắt ngấn lệ của nàng, nhìn vào ngọn lửa nói: "Cô rất may mắn, có một người nương tốt." Chân Chân nhân cơ hội lén lau nước mắt nơi khóe mi, tiếp tục nói: "Nương đã cứu mạng con. Con bị khói làm sặc, họng đau mấy ngày, nhưng không bị thương gì khác, còn nương, ngoài vết thương bị đánh, lại thêm mấy vết bỏng... Từ đó về sau, nương kiên quyết không cho con vào bếp, một mực bảo không cần con học nấu ăn, chăm chỉ đọc sách là được, nương sẽ kiếm tiền nuôi con, bảo vệ con..." Lâm Hoằng thở dài: "Cô nên nói sớm cho ta biết mục đích học nghề và thời hạn rời đi, như thế ta sẽ dạy cô một số món ăn hiếm thấy hơn. Những gì cô học hiện giờ, chỉ là món ăn dân dã núi rừng, e là khó lọt mắt xanh của hoàng gia." "Con học được nhiều lắm rồi ạ." Chân Chân cười nhẹ, "Món thầy làm đều có sự sáng tạo độc đáo, hội tụ đủ tứ mỹ. Thầy còn dạy con đọc thi thư, đốt hương cắm hoa, theo thầy, con còn biết thêm bao nhiêu hoa cỏ chim muông. Quan trọng là, còn khiến con hiểu ra nhiều đạo lý... Những thứ này, sau này nhất định sẽ giúp ích cho con." Lâm Hoằng mỉm cười với nàng, tạm thời không tiếp lời. Hai người ngồi quanh lò lửa, tuy im lặng nhưng trong lòng đều bình yên, không hề thấy gượng gạo. Một lát sau, Lâm Hoằng bới một củ khoai nhỏ trong tro ra, tự mình bóc xem, thấy chín tới, bèn bóc sạch vỏ rồi đưa cho Chân Chân. Chân Chân đón lấy ăn, thấy củ khoai nhỏ này bở tơi, vị thơm bùi, quả thực rất giống hạt dẻ. Củ này ăn vèo cái là hết, Lâm Hoằng lại liên tiếp lấy ra hai củ nữa, vẫn bóc vỏ xong mới đưa cho Chân Chân, bản thân không ăn, chỉ cười nhạt khi Chân Chân cảm ơn. Chân Chân ăn xong khoai, đứng dậy rửa tay sạch sẽ, quay lại bên Lâm Hoằng, bỗng hỏi: "Thầy ơi, sinh nhật thầy là ngày nào ạ?" Lâm Hoằng sững người, cuối cùng vẫn đáp: "Rằm tháng Tám." "Là Tết Trung Thu ạ!" Chân Chân cười nói, "Đúng là ngày lành. Mỗi lần đón sinh nhật, đúng vào lúc cả nhà đoàn viên." Lâm Hoằng gượng cười: "Từ khi ta biết nhớ, sinh nhật chưa bao giờ cả nhà đoàn viên. Người càng ngày càng ít, sau mười lăm tuổi, ta không đón sinh nhật nữa." Chân Chân ngỡ ngàng, muốn an ủi Lâm Hoằng nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Ngược lại Lâm Hoằng cười an ủi nàng, ôn tồn nói: "Nếu, cô không vào cung, hoặc, tìm được nương rồi xuất cung, thì Trung Thu về Vấn Tiều Dịch ngắm cảnh nhé... Khi ấy trong vườn cúc vàng nở rộ, ban ngày gió thu nổi lên, chốc chốc lại có lê tím và táo đỏ rụng từ trên cành xuống, rơi trên t.h.ả.m rêu xanh, màu sắc rực rỡ, rất đẹp mắt. Ban đêm một vầng trăng sáng in xuống nước hồ thu, đất bạc không vương bụi trần, lại là một cảnh tượng thanh tao tuyệt đẹp khác." Chân Chân tưởng tượng cảnh đó, lòng cũng xao xuyến, chỉ là lo nghĩ chuyện của nương, không dám tùy tiện nhận lời, khẽ thở dài một tiếng, buồn bã cúi đầu. Lúc này lửa trong lò cháy đượm, tro cỏ tranh múa theo ngọn lửa, vài tàn tro bay ra ngoài, một mảnh như bông tuyết rơi đậu trên lông mày Lâm Hoằng. Chân Chân phủi tro trên người mình, quay sang thấy điểm trắng trên mày Lâm Hoằng, vô thức đưa tay lau đi. Lâm Hoằng cũng không né tránh, để mặc nàng lau. Tro bụi rơi xuống, Chân Chân nhìn mày mắt thanh tú của Lâm Hoằng mỉm cười, chỉ thấy khuôn mặt chàng dưới ánh lửa đẹp không sao tả xiết, chợt như nhớ ra điều gì, cố ý nhìn kỹ cổ và tay Lâm Hoằng. Lâm Hoằng thấy nàng nhìn mình từ đầu đến chân, nhướng mày hỏi, Chân Chân thở phào, nói: "May quá, lần này thầy không nổi da gà." Dường như muốn xác nhận, Chân Chân lại chìa một ngón tay, vô cùng cẩn trọng chọc nhẹ vào tay Lâm Hoằng. Cảm giác kỳ lạ này khiến toàn thân Lâm Hoằng run lên, chàng mím môi, cụp mắt nhìn Chân Chân. Chân Chân ngẩng đầu, ánh mắt trong veo như trẻ thơ, chàng nhìn thấy chính mình trong đôi mắt sáng ngời của nàng. Chân Chân cười nói: "Lần này cũng không..." Lời chưa dứt, bàn tay đang giơ lên của nàng đã bị Lâm Hoằng nắm lấy. Chân Chân còn đang ngẩn ngơ, bất ngờ tiếp theo lại ập tới – Lâm Hoằng nắm tay nàng giật mạnh một cái, cơ thể Chân Chân theo đà nghiêng tới, ngã vào lòng chàng. Chương 25 - Chuỗi Ngọc Vỡ (Toái Ngọc Tử) Lâm Hoằng dang rộng hai tay áo, ôm trọn lấy Chân Chân. Hành động dứt khoát không cho phép cự tuyệt, nhưng cái ôm sau đó lại dịu dàng vô cùng. Tay áo rộng của chàng đan vào nhau, phủ lên người nàng như muốn ủ ấm, cằm nhẹ nhàng tì lên tóc mai nàng, để nàng dựa vào n.g.ự.c mình. Chân Chân nghe thấy tiếng tim đập của chàng, ở khoảng cách gần thế này nghe âm thanh ấy vừa vang dội vừa cao xa, theo thời gian kéo dài dần dần mạnh lên, tựa như có người trong tim đang bước từng bước trên hành lang gỗ đến bên nàng. Y phục chàng vẫn sạch sẽ không vương bụi trần như mọi khi, chàng trong ánh lửa chập chờn vừa tinh khiết vừa ấm áp. Vùi đầu vào n.g.ự.c chàng, ngoài mùi hương trầm đàn trên áo, còn ngửi thấy cả mùi của ánh nắng mặt trời. Sự kinh ngạc và ngẩn ngơ của nàng bị sự dịu dàng bất ngờ này lặng lẽ làm tan chảy, tỉnh lại từ trạng thái thất thần, những đóa hoa trong tim lần lượt nở rộ, nhưng lại cảm thấy sống mũi cay cay, mắt nóng lên một cách khó hiểu. Nàng nhắm mắt lại, hai tay vòng qua eo chàng, giấu mình trong vòng tay chàng, tránh ánh mắt chàng, một lát sau khẽ hỏi: "Thầy nói xem, có phải con đang nằm mơ không? Liệu tỉnh mộng, có phát hiện mình vẫn đang nằm trong hang đá không?" Có lẽ vì quá lo lắng và không tự tin, giọng nàng nhỏ xíu, nghe rất mong manh yếu ớt, khiến chàng trào dâng niềm thương cảm. Chàng muốn trả lời, nhưng nhất thời không tìm được từ ngữ thích hợp, cứ im lặng mãi. Nàng không đợi được câu trả lời, tay trái rụt về, đặt lên n.g.ự.c chàng, như con mèo nhỏ cào nhúm áo trước n.g.ự.c chàng, hơi ngẩng đầu lên, mở đôi mắt long lanh ngấn lệ dò xét biểu cảm của chàng, dường như muốn xác nhận sự tồn tại của chàng. Trái tim như bị một chiếc lông vũ quét qua, chàng khẽ run lên, tay phải ôm chặt nàng hơn, tay trái men theo gáy nàng, luồn vào mái tóc xanh búi lỏng sắp tuột ra, cúi người xuống, đặt một nụ hôn chứa đựng tiếng thở dài lên giữa trán nàng. Ngoài cửa sổ có bóng người thoáng qua, rất nhanh lùi lại. Đó là A Triệt đi tìm công tử, thấy thư phòng vẫn sáng đèn mà công t.ử không có ở đó, bèn tìm đến đây, định hỏi xem ngài có cần quay lại thư phòng không. Cảnh tượng trong phòng khiến A Triệt kinh hãi lùi lại liên tục, cho đến khi gáy va vào cột hành lang phía sau, may mà tiếng động không lớn, không làm kinh động Lâm Hoằng và Chân Chân. A Triệt lập tức cúi đầu, rón rén bước chân, chạy một mạch về phòng ngủ của mình. Vừa đến cửa, đụng mặt Tân Tam nương đang đi về phía bếp. Tam nương nhìn ánh nến hắt ra từ bếp, hỏi A Triệt: "Muộn thế này rồi, công t.ử còn ở trong bếp làm gì?" A Triệt chặn bà lại, xua tay liên tục, ngăn bà đi tiếp. Tân Tam nương dừng bước, vẻ mặt nghi hoặc: "Sao thế? Công t.ử đang làm gì?" A Triệt đỏ mặt tía tai, ấp úng hồi lâu mới đáp: "Đang tiếp địa khí (hơi người/hơi đất) đấy ạ." Tân Tam nương đảo mắt, trong lòng đã hiểu. Bà đẩy A Triệt vào phòng cậu, đóng cửa từ bên ngoài: "Mau ngủ đi, đừng lo chuyện bao đồng." Rồi chính mình cũng quay về phòng, không đi xem xét nữa. Môi Lâm Hoằng chạm nhẹ từng chút một lên trán Chân Chân, rồi quyến luyến không rời, như muốn khắc lên nàng một dấu ấn dài lâu. Cái ôm lần này khác với trước, cũng như nụ hôn của chàng, mang theo nhiệt độ tăng dần. Chân Chân có chút hoảng hốt, lại có chút e thẹn, định vùng ra, nhưng chàng không buông tay. Chân Chân nhất thời không biết làm sao, chân tay cũng mềm nhũn như say rượu, tạm thời ngừng giãy giụa. Khi nụ hôn của chàng có xu hướng lan xuống dưới, bỗng có gió thổi qua rặng trúc thưa, lay động những mảnh ngọc vỡ treo giữa những thân trúc ngoài thư phòng, mảnh ngọc va vào nhau, phát ra tiếng lanh canh như ngọc bội. Lâm Hoằng treo mảnh ngọc vỡ trong rừng trúc, gọi là "Toái ngọc tử", dùng làm chuông gió. Chân Chân từng hỏi tại sao dùng thứ này, chàng bảo, gió thổi ngọc rung, có thể vui tai vui mắt, có thể tĩnh tâm dưỡng tính. Gió đêm thổi mạnh, tiếng Toái ngọc t.ử lách cách rả rích, mỗi lúc một dồn dập, tiếng nhạc thanh thúy dần trở nên kịch liệt, bỗng nhiên vang lên một tiếng "keng" chói tai như kim loại va vào đá, dường như có mảnh ngọc rơi xuống đất, rơi trên nền gạch xanh, trong khoảnh khắc tan xương nát thịt. Lâm Hoằng giật mình kinh hãi, buông Chân Chân ra, đứng dậy nhìn ra ngoài cửa sổ, ngọn lửa trong mắt dần lụi tàn. Chàng bỗng quay người bước ra ngoài, sải bước băng qua hành lang và rừng trúc hoa mai, đi về phía bờ ao. Gió cuồng rít gào, tạt thẳng vào mặt, chàng đón gió dang rộng hai tay áo, mặc cho gió cuốn phăng chiếc áo choàng khoác trên người. Áo choàng rơi xuống đất, chàng không quay đầu lại, đi thẳng đến bờ nước sóng vỗ lăn tăn mới dừng lại, đôi mắt mênh mang nhìn lên bầu trời đêm mây đen che khuất trăng, khó khăn điều hòa hơi thở trong tiếng gió phần phật. Lặng lẽ đứng hồi lâu, cho đến khi gió giảm bớt, ánh trăng hiện ra. Ánh trăng như một tinh linh dang đôi cánh lụa băng, ôm lấy thân hình chỉ mặc mỗi áo đơn của chàng vào lòng, cơn nóng trong người rút đi, cuối cùng chàng cũng tìm lại được cảm giác mát lạnh an toàn quen thuộc. Chàng trở lại thư phòng, đẩy cửa, chậm rãi bước đến trước bức tranh Lạc Thần, ánh mắt từ từ hướng về phía Lạc Thần, thì thầm ba chữ: "Xin lỗi nàng." Lạc Thần đôi mày như nhíu, khóe môi lại hàm chứa nụ cười nhạt, đôi mắt đẹp như nước, dịu dàng liếc nhìn chàng. Còn bên ngoài cửa sau lưng Lâm Hoằng, Chân Chân ôm chiếc áo choàng lặng lẽ đến. Khi chàng kết thúc sự im lặng kéo dài, quay người bước ra cửa, nàng đã không còn ở đó, chiếc áo choàng được gấp gọn gàng đặt trên đất. Chàng cúi xuống nhặt lên, phát hiện trên áo có hai vệt tròn ẩm ướt. Chàng ngẩng đầu nhìn xa xăm, đêm trong vườn yên tĩnh, không có dấu vết của mưa. Sáng sớm hôm sau, Chân Chân thu dọn hành lý, đến sảnh đường, đợi từ biệt mọi người trong vườn, nhưng Lâm Hoằng đã ra ngoài gảy đàn từ sớm, dường như không có ý định gặp lại nàng. Tân Tam nương cười nói từ hậu viện đi lên sảnh, vốn định bụng chuẩn bị cả rổ lời vừa trêu chọc vừa chúc mừng để nói với Lâm Hoằng và Chân Chân, nào ngờ một người không thấy bóng dáng, một người ngồi một mình ủ rũ t.h.ả.m thương, trên mặt chẳng có chút khí sắc vui vẻ nào. Tân Tam nương phát hiện hành lý của Chân Chân, ngạc nhiên hỏi ý định của nàng. Chân Chân kể vắn tắt chuyện về Phố Giang chờ tuyển vào Thượng Thực Cục, Tân Tam nương lập tức nổi trận lôi đình, quát: "Cô cũng đòi vào cung?" Chân Chân không hiểu sao bà lại có thái độ đó, đoán chắc bà nghĩ mình không biết lượng sức, bèn giải thích: "Tuy trù nghệ con chưa tinh, nhưng đây là cơ hội duy nhất vào cung tìm nương, con không thể bỏ cuộc, chỉ có thể cố gắng hết sức." "Cô muốn vào cung cứ việc đi một mình, sao còn đến đây trêu chọc công tử!" Tân Tam nương quát lớn, cũng chẳng thèm nghe Chân Chân giải thích, phất tay áo bỏ đi. Ngược lại A Triệt an ủi nàng rất hòa nhã, còn lấy ra một chiếc hộp gỗ đưa cho nàng: "Cái này là công t.ử bảo tôi đưa cho cô." Chân Chân mở ra xem, thấy bên trong là một khoản tiền lộ phí hậu hĩnh và một cuốn sổ tay đóng thành tập. "Đây là lộ phí công t.ử chuẩn bị cho cô, còn cái kia..." A Triệt chỉ vào cuốn sổ tay, "Đó là thực đơn công t.ử ghi chép ngày thường, bảo cô mang đi, nói có lẽ sau này cô dùng đến." Chân Chân lấy sổ tay ra lật xem, thấy quả nhiên là thực đơn viết bằng chữ tiểu khải, ghi chép đủ các món ngon bốn mùa, chắc hẳn là tâm huyết bao năm của Lâm Hoằng. Nét chữ thanh tú phiêu dật, giữa các trang sách còn thoang thoảng mùi hoa mai u tịch. A Triệt tiễn Chân Chân xuống núi, cùng nàng tìm lại con ngựa gửi nhà nông dân, đỡ nàng lên ngựa, từ biệt xong lại nói: "Có một lời chúc tôi biết là không nên nói, nhưng thực sự không nói không chịu được." Chân Chân bảo cậu cứ nói, cậu cười bảo: "Chúc cô thi trượt trở về." Chân Chân muốn cười đáp lễ một cái, nhưng thực sự không nặn ra nổi nụ cười nào thành hình. A Triệt giục nàng lên đường, nàng thúc ngựa đi được vài bước, bỗng nhiên quay đầu lại, khẽ hỏi: "A Triệt, Lạc Thần tỷ tỷ, có phải không ăn thịt lợn không?" A Triệt ngớ người, không hiểu ý nàng ám chỉ điều gì, im lặng không đáp. Chân Chân cười buồn, cũng không chờ đợi nữa, quay đầu ngựa, bắt đầu hành trình mới. Hôm nay nắng ấm chan hòa, trời quang khí tạnh, đi giữa rừng cây tươi tốt, hoa nở rộ tiễn đưa suốt dọc đường, cảnh xuân tươi đẹp dường như vĩnh viễn không bao giờ tàn phai. Chân Chân trên lưng ngựa nhắm mắt lại giữa tiếng chim kêu ríu rít đầy cây, mặc cho tuổi thanh xuân tháng Giêng vô tư lự của mình theo hai hàng lệ trong vắt rơi vào bụi trần. Chương 26 - Phượng Tiên Chân Chân trở về Phố Giang, từ xa đã thấy biển hiệu Thích Trân Lâu bị tháo xuống, thay bằng biển Di Bối Lâu, trong ngoài tửu lầu đã được trang trí lại, phong cách y hệt Di Bối Lâu cũ. Hôm nay trong lầu dường như có tiệc lớn, ngoài cửa xe như nước ngựa như rồng, cha con họ Dương đích thân đứng cửa đón khách, mặt mày hớn hở, đắc ý vô cùng. Chân Chân luôn tự trách mình vì sai lầm khiến tửu lầu đổi chủ, không muốn gặp mặt Dương Thịnh Lâm, bèn quay đầu ngựa vòng ra phố sau, đi về phía căn nhà nhỏ Thu Nương đã tặng Bồ bá. Trước kia nương con Chân Chân và các nữ đệ t.ử sống ở các phòng hậu viện tửu lầu. Tửu lầu giao cho nhà họ Dương, tuy Dương Thịnh Lâm nói nhóm Chân Chân có thể tiếp tục ở lại, nhưng Chân Chân nghĩ đến việc họ đều là nữ nhi, tửu lầu đổi chủ mà ở chung chạ như thế chung quy không tiện, bèn cùng Tương Diệp chuyển sang nhà Bồ bá ở. May mà căn nhà đó rộng rãi, phòng ở được cũng có năm sáu gian, nên không thấy chật chội. Chưa đến cửa viện, ánh mắt Chân Chân vượt qua hàng rào, thấy bên trong dưới gốc cây hạnh có một cô gái đang quay lưng về phía mình phơi quần áo vừa giặt. Chân Chân thúc ngựa lại gần, xuống ngựa tự mở cổng sài, rảo bước về phía cô gái, miệng vui vẻ gọi "Tương Diệp". Cô gái nghe tiếng quay đầu lại, hóa ra là Phượng Tiên. Chân Chân sững người, rồi cười tươi rói, nắm tay Phượng Tiên: "Phượng Tiên tỷ tỷ, là tỷ sao! Sao tỷ lại về đây?" Phượng Tiên thấy nàng cũng vô cùng mừng rỡ, chưa vội trả lời câu hỏi, hỏi han ân cần một hồi, lại nâng mặt Chân Chân bảo nàng gầy đi. Rồi vừa gọi với vào trong Bồ bá và Tương Diệp, vừa dắt tay Chân Chân vào nhà. Bồ bá và Tương Diệp từ trong nhà đi ra, thấy Chân Chân đều cả mừng, hàn huyên xong lại pha trà, bày hoa quả bánh trái, lại hỏi nàng tối muốn ăn gì, ai cũng thấy Chân Chân đen đi gầy đi chịu khổ rồi, hận không thể bù đắp hết sự quan tâm Chân Chân thiếu thốn mấy tháng nay. Họ đương nhiên rất quan tâm đến trải nghiệm mấy tháng qua của Chân Chân, nhao nhao hỏi thăm chuyện Chân Chân theo Vấn Tiều tiên sinh học nghề. Chân Chân kể một số nội dung đã học, nhưng không nhắc đến chuyện riêng tư giữa hai người. Tương Diệp có vẻ hứng thú với bản thân Vấn Tiều tiên sinh hơn, liên tục hỏi ông ấy bao nhiêu tuổi, có gia đình chưa, tướng mạo thế nào, đối với Chân Chân ra sao. Chân Chân liếc nhìn Bồ bá, thấy ông tuy không nói nhưng ánh mắt sáng quắc nhìn mình chằm chằm, cũng đang đợi câu trả lời, bỗng cảm thấy không tự nhiên, bèn giấu đi tình trạng thực của Lâm Hoằng, chỉ bảo đó là một ông lão, thích tu thiền, không vợ không con, đối với mình rất hiền hậu từ bi, mình luôn gọi ông là thầy. Bồ bá nghe xong rất yên tâm, gật đầu khen ngợi liên tục, Tương Diệp trông có vẻ hơi thất vọng, chắc là câu trả lời của Chân Chân không giống tưởng tượng của nàng. Đêm đến Chân Chân ngủ cùng phòng với Phượng Tiên, Phượng Tiên thì thầm hỏi nàng: "Vấn Tiều tiên sinh đó là một người trẻ tuổi phải không?" Chân Chân kinh ngạc, buột miệng hỏi lại: "Sao tỷ biết?" Phượng Tiên nói: "Lúc Tương Diệp hỏi muội, muội rõ ràng có chút do dự, nếu ông ấy đúng như lời muội nói, việc gì phải cân nhắc, chắc chắn đã trả lời ngay rồi." Phượng Tiên là đệ t.ử đầu tiên Thu Nương nhận nuôi, lớn lên cùng Chân Chân như hình với bóng, vốn thân thiết hơn người khác, nên Chân Chân im lặng một lát, rồi cũng kể hết chuyện về Lâm Hoằng cho Phượng Tiên nghe, từ tuổi tác tướng mạo, chi tiết gặp gỡ, đến kỹ nghệ chàng biết, đạo lý chàng dạy. Lòng đã mở, nàng thao thao bất tuyệt kể mãi, chuyện lớn chuyện nhỏ, rất nhiều thần thái, tư thế, động tác của Lâm Hoằng, những lời chàng nói nàng đều hào hứng mô tả tỉ mỉ, tuy nhiên, cuối cùng vì e thẹn, vẫn giấu chuyện đêm trước khi đi. Phượng Tiên kiên nhẫn lắng nghe, đợi Chân Chân tự dừng lại, mới mở lời: "Muội chắc chắn rất thích huynh ấy nhỉ?" Chân Chân sững lại, quay mặt đang nóng bừng vào bóng tối, đáp: "Muội rất kính trọng yêu mến thầy Lâm." "Không chỉ là kính trọng yêu mến đâu," Phượng Tiên nói trúng tim đen, "Khi nhắc đến huynh ấy mắt muội sáng lên, vui vẻ như thế, chắc chắn là rất thích huynh ấy." Chân Chân không biết nói gì, lặng lẽ kéo chăn trùm kín mặt. Phượng Tiên hạ giọng, hỏi dồn rất nghiêm túc: "Muội và huynh ấy, có... không..." Chân Chân trốn trong chăn không đáp. Phượng Tiên không tha cho nàng, kéo cái chăn trùm mặt ra, hỏi tiếp: "Muội và huynh ấy, có da thịt thân cận (quan hệ nam nữ) không?" Chân Chân nhớ lại chuyện đêm đó, mặt càng đỏ như gấc, nhưng thấy Phượng Tiên rõ ràng sẽ không bỏ qua chuyện này, đành đáp: "Không có." "Thật sự không có?" Phượng Tiên nhìn sắc mặt nàng, có chút nghi ngờ. Chân Chân lắc đầu, kiên quyết phủ nhận. Phượng Tiên lúc này mới thu lại ánh mắt nhìn nàng chằm chằm, nói: "Vấn Tiều tiên sinh này tuổi còn trẻ, thế mà biết khắc kỷ giữ lễ. Đối mặt với cô nương trẻ trung xinh đẹp như muội mà vẫn giữ lễ nghĩa, xem ra là bậc quân tử." Chân Chân gật đầu lia lịa, thuận thế khen ngợi phẩm hạnh của Lâm Hoằng một lượt. Phượng Tiên nói: "Tỷ hỏi cái này, không phải tò mò chuyện riêng tư của muội. Hôm nay người trong cung đã đến Phố Giang, Huyện lệnh mở tiệc tẩy trần ở Di Bối Lâu, hai ngày nữa là bắt đầu tuyển trù nương trẻ tuổi vào Thượng Thực Cục. Bước đầu tiên của cuộc tuyển chọn này là nghiệm thân (kiểm tra trinh tiết), tuy ngoài mặt nói là chọn nữ t.ử dung mạo đoan chính sức khỏe tốt, nhưng đã nói tuyển nữ t.ử dưới hai mươi tuổi, lại cần dung mạo xinh đẹp, e là yêu cầu xử nữ là không thể thiếu. Nếu muội và Vấn Tiều tiên sinh có chuyện vượt rào, chẳng phải công cốc sao." Chân Chân nhớ lại chuyện cũ, cảm thán xong cũng thấy hơi sợ. Đêm đó khi Lâm Hoằng cuối cùng buông nàng ra, nàng tuy thở phào nhẹ nhõm, nhưng cũng ẩn ẩn chút mất mát, giờ nghĩ lại, hành động đó của chàng hóa ra là để tác thành cho nàng. Im lặng hồi lâu, nàng cảm ơn Phượng Tiên: "Đa tạ tỷ tỷ lo nghĩ cho muội, nghe ngóng tin tức tuyển chọn Thượng Thực Cục giúp muội. Lần này trở về, cũng là để giúp muội phải không?" Câu này lại khiến Phượng Tiên hơi lúng túng, suy nghĩ một chút mới nói thẳng: "Tỷ lần này về, cũng giống muội, là để tham gia tuyển chọn vào Thượng Thực Cục." Chân Chân vô cùng bất ngờ. Vốn tưởng Phượng Tiên được cha nương tìm về sẽ xa rời bếp núc, sống cuộc sống tiểu thư cẩm y ngọc thực. Nội nhân Thượng Thực Cục tuy làm việc trong cung, nói cho cùng vẫn là tỳ nữ dùng trù nghệ phục vụ người khác, cũng không biết tại sao Phượng Tiên lại nguyện ý bỏ lại người nương ốm yếu quyết tâm tham tuyển. Nàng chăm chú nhìn Phượng Tiên, chỉ thấy ánh mắt sư tỷ lạnh lùng, vẻ mặt bình tĩnh, rõ ràng điều vừa nói ra là quyết định sau khi đã suy nghĩ kỹ càng. Phượng Tiên lúc này dường như có nhiều điểm khác biệt so với trước kia, Chân Chân cũng không nói rõ được là khác ở đâu, chỉ cảm thấy một mùa chia xa này vừa ngắn ngủi lại vừa dài đằng đẵng, họ dường như đều đã rời khỏi con đường ban đầu, trưởng thành theo những hướng khác nhau. Phượng Tiên đến phủ Tinh Nam vào đúng giữa đông. Nương nàng là Viên phu nhân tuy là chính thất của Lăng Đào, nhưng thất sủng đã nhiều năm, lúc này sống một mình trong một viện vắng vẻ, nơi đó ít người qua lại, đến hạt bụi cũng cô đơn. Thời tiết lạnh giá, trong phòng Viên phu nhân chỉ có một chậu than nhỏ bốc mùi khói nồng nặc, cũng giống như ánh mắt bà trên giường bệnh, cháy leo lắt yếu ớt. Nghe tiếng gọi của Phượng Tiên, Viên phu nhân ngơ ngác nhìn nàng hồi lâu, dường như nhận ra nàng, nhưng u uất tích tụ trong lòng bao năm, những lời muốn nói với con gái bị đau thương, áy náy và bất lực chôn vùi, rồi sau đó chỉ biết khóc. Phượng Tiên nắm lấy bàn tay gầy guộc như que củi của bà, cảm giác như chạm vào một khúc gỗ khô. Bên cạnh Viên phu nhân chỉ còn lại một người hầu hạ bà nhiều năm là Hứa cô cô. Bà ấy kể chuyện cũ với Phượng Tiên, những mảnh ký ức vụn vỡ như tranh vẽ của Phượng Tiên cuối cùng cũng được ghép lại: Năm xưa Viên phu nhân m.a.n.g t.h.a.i Phượng Tiên, theo chồng xuất chinh, sống trong doanh trại. Ngày Phượng Tiên chào đời, một đàn chim đen lớn bay đến trước doanh trại, lượn lờ không đi. Sau đó Lăng Đào giao chiến với người Kim thất bại, bèn đổ tội cho Phượng Tiên, cho rằng nàng sinh ra dẫn đến chim đen, là điềm chẳng lành, đứa con gái này tự nhiên cũng là người không may mắn, nên rất không thích nàng. Lăng Đào háo sắc, trong nhà có nhiều thê thiếp, năm đó ông ta sủng ái nhất là Chu Ngũ nương tử. Chu Ngũ nương t.ử là người Lâm An, có nhan sắc khuynh thành, lại có tài nấu nướng, cả tài và sắc đều nắm chặt trái tim Lăng Đào. Nương con Viên phu nhân sống dưới sự chèn ép của các thiếp thất, đứng đầu là Chu Ngũ nương tử, ngày tháng trôi qua vô cùng gian nan. Năm Phượng Tiên sáu tuổi, Hoàng đế triệu Lăng Đào về kinh, định thăng quan tiến chức cho ông ta, Lăng Đào bèn đưa cả gia quyến đi cùng. Nhưng không hiểu sao, đi đến gần Phố Giang lại nhận được thánh chỉ, Hoàng đế thu hồi mệnh lệnh đã ban, vẫn bắt Lăng Đào trấn thủ biên cương. Mà khi họ lên đường Phượng Tiên bị cảm lạnh ốm, dọc đường sốt li bì, toàn thân đau nhức. Các thiếp thất khác đoán nàng bị sốt rét, rất lo con cái mình bị lây bệnh. úc đó Tam cô nương do Chu Ngũ nương t.ử sinh ra cũng bắt đầu sốt, Chu Ngũ nương t.ử kinh hãi tột độ, khóc lóc với Lăng Đào. Lăng Đào vì chuyện mất tước vị đang buồn bực, lại nghe Phượng Tiên lây bệnh cho em gái, càng thêm giận dữ, nói tình cảnh hôm nay đều do sự đen đủi của Phượng Tiên gây ra, vì thế bất chấp Viên phu nhân khổ sở van xin, giằng Phượng Tiên từ trong lòng nương, vứt bỏ ở ngoài thành Phố Giang trong đêm mưa. "Vậy, bây giờ nương sống ở cái viện nhỏ xa xôi này, cũng là do Chu Ngũ nương t.ử xúi giục?" Phượng Tiên hỏi Hứa cô cô. Hứa cô cô nói: "Cái đó thì không phải. Bây giờ Tướng quân sủng ái nhất là Tiết Cửu nương tử, Chu Ngũ nương t.ử không còn phong quang như xưa, cũng im hơi lặng tiếng đi nhiều. Phu nhân vốn ở nhà lớn, vì ốm yếu quanh năm, trong phòng thường xuyên sắc thuốc. Cách đây không lâu Tiết Cửu nương t.ử sinh con trai, phàn nàn với Tướng quân là ngửi thấy mùi t.h.u.ố.c từ phòng phu nhân bay sang là chóng mặt hoa mắt, Tướng quân bèn bắt phu nhân chuyển ra đây." Phượng Tiên lại hỏi: "Vậy cha sai người tìm con về, là thấy nương bệnh nặng, nên động lòng trắc ẩn, để con về chăm sóc nương sao?" Hứa cô cô có chút do dự, sau đó nói: "Sau khi mất cô nương, phu nhân khóc lóc ngày đêm, cầu xin Tướng quân nhiều lần, Tướng quân đều không đồng ý đi tìm cô nương về. Dần dần phu nhân cũng tuyệt vọng, không cầu xin nữa, nhưng cứ nhớ đến cô nương là khóc. Lần này, là Chu Ngũ nương t.ử cầu xin Tướng quân, muốn đón cô nương về." Phượng Tiên ngạc nhiên: "Tại sao?" Hứa cô cô nói: "Hai tháng trước Tam cô nương về nhà nương đẻ Chu Ngũ nương t.ử thăm bà ngoại, trên đường về lại mất tích. Có người nói cô ấy bỏ trốn cùng biểu ca, nhưng nhà họ Chu phủ nhận, bảo Tam cô nương bị trộm cướp bắt đi. Tướng quân sai người tìm kiếm rất lâu, vẫn bặt vô âm tín. Chu Ngũ nương t.ử từ đó thường đến chỗ phu nhân kể lể nỗi đau mất con, nói suy bụng ta ra bụng người, cuối cùng cũng hiểu nỗi đau của phu nhân, vì thế nguyện ý ra sức khuyên giải Tướng quân, tìm Nhị cô nương về." Chương 27 - Hiếu Trĩ Hôm sau Chu Ngũ nương t.ử đặc biệt đến thăm nương con Viên phu nhân. Chu Ngũ nương t.ử thoạt nhìn vẫn là một mỹ nhân rạng rỡ, giọng nói nũng nịu như thiếu nữ, Phượng Tiên đoán tuổi bà ta chắc không quá ba mươi lăm, chỉ là những nếp nhăn nơi khóe mắt khi cười nói cho thấy thời xuân sắc nhất của bà ta đã dần trôi xa, và lớp trang điểm tinh xảo không chê vào đâu được cũng cho thấy bà ta không cam tâm với điều đó đến nhường nào. Bà ta chân thành bày tỏ sự hoan nghênh Phượng Tiên trở về, không né tránh chuyện chèn ép nương con Viên phu nhân trước kia, nói hận bản thân năm xưa trẻ người non dạ hiếu thắng, vô cùng hối hận về những việc đã làm, và nguyện ý bù đắp. Bà ta mang đến một ít trang sức vải vóc, mặc kệ Phượng Tiên từ chối, cứ sai người đặt trong nhà, ngoài ra còn đem đến một con gà có hình dáng đặc biệt, nói để bồi bổ cho Viên phu nhân. Con gà này nhỏ hơn gà thường một chút, đầu và má giống chim trĩ, phần lớn lông màu đen, bên trên điểm xuyết những đốm tròn trắng. "Gà này xuất xứ từ Quỳ Hạp (vùng Tam Hiệp), cực kỳ hiếm, là họ hàng ta ở Tứ Xuyên ngàn dặm xa xôi mang đến cho ta. Đốm tròn trên người nó giống đốm trân châu, người Thục gọi là gà Trân Châu. Vì lớn lên biết mớm mồi nuôi lại mẹ, rất có hiếu tâm, nên còn gọi là Hiếu Trĩ." Chu Ngũ nương t.ử giải thích, "Hiếu Trĩ này còn có một điểm thần kỳ: Mỗi khi giao mùa xuân hè, khí trời ấm áp, dưới cằm nó sẽ lộ ra dải lụa dài hơn một thước, màu đỏ xanh xen kẽ, vô cùng rực rỡ, đồng thời, trên đầu còn mọc một đôi sừng xanh biếc. Khoe với người ta một lúc, nó lại thu dải lụa vào dưới diều, bị lông vũ che lại, dải lụa và sừng xanh lại biến mất. Tiếc là giờ trời lạnh, không thấy được cảnh tượng này." Phượng Tiên nhìn kỹ cổ con Hiếu Trĩ, không thấy manh mối gì, bèn hỏi: "Vậy dải lụa đó thụt vào trong cổ rồi sao?" Chu Ngũ nương t.ử cười: "Ta trước đây cũng nghĩ thế, nhưng g.i.ế.c một con, nhìn kỹ cổ ức, đều không thấy dải lụa. Cho nên con Hiếu Trĩ này tự mang vài phần tiên khí, họ hàng bảo dùng dầu chiên qua rồi hầm canh, là bổ dưỡng nhất. Ta vốn định hầm xong mang sang cho phu nhân, lại sợ phu nhân chê tay nghề ta vụng. Nghe nói cô nương học được trù nghệ giỏi ở Phố Giang, hầm một con gà tự nhiên là chuyện nhỏ. Huống hồ nương con liền tâm, cô nương nấu ăn tự nhiên sẽ hợp tỳ vị phu nhân hơn người ngoài làm. Vì thế mạo muội, tặng một con Hiếu Trĩ sống qua đây." Viên phu nhân từ chối, nói Hiếu Trĩ quý giá thế này, mình không dám nhận, muốn mời Chu Ngũ nương t.ử mang về. Nhưng Chu Ngũ nương t.ử khăng khăng muốn tặng, nói Viên phu nhân ốm lâu thể suy nhược, thích hợp nhất dùng món này bồi bổ. Phượng Tiên lạnh lùng nhìn họ khách sáo qua lại hồi lâu, cuối cùng lên tiếng khuyên nương: "Tấm lòng của Chu Ngũ nương tử, nương cứ nhận đi ạ." Con gái đã mở lời, Viên phu nhân cũng không từ chối nữa. Chu Ngũ nương t.ử thấy họ chịu nhận quà, rất vui mừng, lại chỉ dẫn chi tiết cho Phượng Tiên cách chế biến, rồi mới cáo từ ra về. Nguyên liệu Hiếu Trĩ này Phượng Tiên lần đầu nhìn thấy, rất tò mò, đây cũng là một trong những lý do nàng quyết định giữ lại món quà của Chu Ngũ nương tử. Tiễn khách xong, Phượng Tiên g.i.ế.c gà, trụng nước sôi nhổ lông, lại kiểm tra kỹ càng, quả nhiên không thấy giữa cổ ức có dải lụa nào, cấu tạo trong cơ thể Hiếu Trĩ vẫn tương tự gà nhà. Phượng Tiên làm theo cách Chu Ngũ nương t.ử dạy, chiên trước rồi thêm ít hương liệu, đặt vào nồi đồng hầm lửa nhỏ, chẳng bao lâu đã có mùi thịt tỏa ra, càng nấu càng đậm, cả cái sân ngập tràn mùi thơm nồng nàn quyến rũ này. Canh hầm xong màu cũng vàng óng như canh gà, Hứa cô cô ngửi mùi đã tấm tắc khen, đang định múc một bát mang cho Viên phu nhân thì bị Phượng Tiên ngăn lại. Phượng Tiên nói: "Hiếu Trĩ này đưa đến khi còn sống, Chu Ngũ nương t.ử hẳn là không muốn chúng ta lo ngại, mới không nấu sẵn, để con tự tay làm, tỏ ý không hại. Nhưng dù sao con cũng chưa từng thấy loại gà này, cũng không biết có hoàn toàn không độc hay không, vẫn nên thận trọng chút thì hơn." Hứa cô cô cũng thấy Phượng Tiên suy nghĩ chu đáo, nhưng nói: "Chu Ngũ nương t.ử nếu muốn hại phu nhân, cũng sẽ không dùng cách trực tiếp như vậy, gà này đa phần không độc. Nếu cô nương không yên tâm, ta có thể thử trước." Thấy Phượng Tiên ngầm đồng ý, Hứa cô cô bèn tự múc một bát canh, từ từ uống hết. Đợi một lúc lâu, không thấy có gì khác thường, ngược lại còn cười khen: "Tay nghề cô nương giỏi thật, canh này thơm hơn tất cả các loại canh gà ta từng uống." Phượng Tiên cũng tự lấy một bát uống. Trong mùa đông gió rét căm căm này, hơi nóng theo dòng canh từ cổ họng trôi xuống, dần dần thẩm thấu vào tứ chi bách hải, hương vị nồng đượm thơm ngon ấy dường như mang theo một luồng sinh khí, dịu dàng bao bọc lấy cơ thể khô héo lạnh lẽo, sự an ủi của bát canh gà này, kỳ lạ thay lại khiến Phượng Tiên cảm thấy sự yên ổn trần thế đã lâu không gặp, nhớ lại cảnh mình hồi nhỏ nằm trong lòng nương uống canh gà. Sẽ không có độc đâu.Nàng thầm phán đoán trong lòng. Phượng Tiên bưng canh Hiếu Trĩ đến trước giường bệnh Viên phu nhân, Viên phu nhân lại không uống, không phải lo độc tính, chỉ khuyên Phượng Tiên: "Gà này đã gọi là Hiếu Trĩ, rất thích hợp dâng cho song thân. Nương nằm bệnh đã lâu, e là hư bất thụ bổ (cơ thể yếu quá không nhận được đồ bổ), phí phạm nguyên liệu tốt này. Chi bằng con mang sang cho cha con, vừa là do chính tay con làm, cũng có thể tỏ chút hiếu tâm." Phượng Tiên không hề muốn gặp cha. Về nhà những ngày qua, Lăng Đào thậm chí còn không gọi nàng đến gặp, nàng cũng chẳng có chút lòng hiếu kính nào với cha, nhưng Viên phu nhân cứ khăng khăng, Phượng Tiên không muốn làm trái ý nương, đành phải mang canh Hiếu Trĩ đến nhà lớn, dâng cho cha. Lăng Đào tuổi gần năm mươi, dáng người cao lớn, ngũ quan rắn rỏi, nhưng cũng không hoàn toàn là võ phu thô kệch, sống mũi cao và đôi mắt hơi sâu lờ mờ có thể bắt gặp chút bóng dáng tuấn tú thời trẻ. Phượng Tiên lén quan sát ông, lờ mờ cảm thấy mình và ông vẫn có vài phần giống nhau. Dòng m.á.u của ông hòa quyện với những nét tú lệ của nương, truyền sang Phượng Tiên thể hiện thành dáng người cao ráo và dung mạo rạng rỡ, khiến nhan sắc Phượng Tiên trông khá sang trọng, từ nhỏ đã nổi bật giữa đám giai nhân Giang Nam. Lăng Đào đối với Phượng Tiên vẫn rất lạnh nhạt, đối mặt với lời thỉnh an khách sáo của con gái chỉ gật đầu, đến một câu hàn huyên cũng lười nói, hoàn toàn không có hứng thú tìm hiểu những gì Phượng Tiên trải qua bao năm nay, càng không có tâm trạng ôn chuyện cũ với con gái. Tuy nhiên, khi Phượng Tiên dâng canh Hiếu Trĩ lên, ông bị mùi thơm nồng nàn thu hút, nheo mắt quan sát một hồi rồi vui vẻ chấp nhận lời mời nếm thử của Phượng Tiên. Sau khi thưởng thức một bát cả thịt lẫn canh, cuối cùng ông cũng lộ chút sắc mặt tốt với Phượng Tiên, khen nàng nấu ngon, tiện thể hỏi thăm tình hình gần đây của Viên phu nhân. Phượng Tiên cảm thấy phấn chấn. Tuy nàng không có thiện cảm với người cha này, nhưng nhìn ra được nương vẫn còn nặng tình với cha, nếu biết cha có chút quan tâm, chắc chắn sẽ vui mừng. Vì thế Phượng Tiên kể chi tiết tình hình của nương, thầm hy vọng cha thương xót nhiều hơn. Lăng Đào lại nghe có vẻ lơ đễnh, ánh mắt thi thoảng lại rơi vào bát canh Hiếu Trĩ. Đợi Phượng Tiên nói xong, câu đầu tiên ông mở miệng nói không liên quan đến nương con Viên phu nhân, mà là sai bảo người hầu bên cạnh: "Mang canh này sang cho Cửu nương tử." Cửu nương t.ử này chắc chắn là Tiết Cửu nương t.ử mà Hứa cô cô nhắc đến. Thấy Phượng Tiên sắc mặt khác thường, im lặng không nói, Lăng Đào giải thích qua loa: "Cửu nương t.ử mới sinh, chưa đầy tháng, canh gà này vị không tệ, mang sang cho cô ấy tẩm bổ." Phượng Tiên gượng cười, nói: "Vâng. Tùy cha định đoạt." Nghe nói Tiết Cửu nương t.ử cũng rất thích vị Hiếu Trĩ này, ăn không ít, nhưng đêm đến bỗng đau bụng, ra m.á.u không ngừng, có nguy cơ băng huyết. Tỳ nữ A Mai của Tiết Cửu nương t.ử mang chỗ canh Hiếu Trĩ còn lại đến báo tin cho Lăng Đào, nói là do ăn Hiếu Trĩ gây ra, Lăng Đào tức giận đùng đùng, sai người bắt Phượng Tiên đến, đích thân thẩm vấn. Phượng Tiên kinh ngạc, biện giải rằng phụ nữ sau sinh cơ thể yếu, cho dù ra máu, cũng chưa chắc do ăn uống. A Mai nói: "Cửu nương t.ử sinh xong đã hơn hai mươi ngày, trước đó vẫn bình thường, là hôm nay ăn Hiếu Trĩ xong mới ra máu." Phượng Tiên liệt kê cho Lăng Đào nghe những hương liệu dùng ngoài Hiếu Trĩ, đều rất thông dụng và không độc. Phượng Tiên lại nói: "Canh Hiếu Trĩ nấu xong con và Hứa cô cô đều đã uống, thấy không có gì lạ mới dâng cho cha. Cha cũng uống canh ăn thịt, nếu có độc, tại sao ba người chúng ta vô sự? Nếu Cửu nương t.ử ra m.á.u là do ăn uống, tội cũng không ở Hiếu Trĩ." A Mai vặn lại: "Cửu nương t.ử hôm nay khẩu vị không tốt, trước khi ăn Hiếu Trĩ chỉ uống chút canh ngọt hầm hồ đào (óc chó), vừng và a giao (da lừa), ăn chút nấm luộc thanh đạm, những thứ này đều là đồ ăn thường ngày Cửu nương t.ử hay ăn, không có hại gì, mà ăn Hiếu Trĩ xong lại ra máu, chẳng lẽ không phải do Hiếu Trĩ gây ra sao?" Lăng Đào suy ngẫm: "Chẳng lẽ Hiếu Trĩ này người thường ăn được, sản phụ ăn không được?" Lúc này bỗng nghe ngoài cửa có người nói lớn: "Sản phụ ăn được." Mọi người nhìn ra, thấy người nói là Chu Ngũ nương t.ử đang rảo bước đi tới. Chu Ngũ nương t.ử vội vã đi đến trước mặt Lăng Đào hành lễ, rồi nói: "Hiếu Trĩ này vốn là cháu ngoại ta mang từ Quỳ Hạp về. Lần đầu tiên ta ăn Hiếu Trĩ, chính là sau khi sinh Tam cô nương, họ hàng ở Tứ Xuyên đặc biệt sai người mang đến cho ta tẩm bổ. Hiếu Trĩ bổ dưỡng hơn canh gà thường, rất thích hợp cho sản phụ. Sau này sinh Tứ cô nương Ngũ cô nương, ở cữ lần nào ta cũng ăn, không hề có triệu chứng ra máu. Chứng tỏ triệu chứng lần này của Cửu nương tử, không liên quan đến Hiếu Trĩ." Lăng Đào nghe vậy khẽ gật đầu, có lẽ nhớ ra chuyện Chu Ngũ nương t.ử ở cữ ăn Hiếu Trĩ. A Mai cau mày không nói, tạm thời không phản bác Chu Ngũ nương tử, một lát sau, liếc nhìn Phượng Tiên, lại nói: "Cho dù Hiếu Trĩ không độc, biết đâu có người biết canh này sẽ mang cho Cửu nương tử, bèn thừa cơ bỏ thêm cái gì vào canh." Phượng Tiên chưa kịp đối đáp, Chu Ngũ nương t.ử đã quay sang A Mai, nghiêm mặt nói: "Canh Hiếu Trĩ là Nhị cô nương dâng cho cha, làm sao biết cha cô ấy sẽ chuyển cho Cửu nương tử. Huống hồ ta tin tưởng phẩm hạnh Nhị cô nương, cô ấy người lương thiện, tuyệt đối sẽ không làm chuyện hại người." Lời chưa dứt, Chu Ngũ nương t.ử đã bước nhanh đến trước nồi canh A Mai mang về, cũng chẳng dùng đũa, trực tiếp dùng muôi múc canh, uống liền mấy muôi, lại lấy mấy miếng thịt, nhai nuốt nhanh chóng, rồi đối diện với mọi người nói: "Hiếu Trĩ Nhị cô nương làm, ta cũng ăn rồi, xem ta có vì thế mà mắc bệnh không. Nếu có, ta cam nguyện chịu phạt cùng Nhị cô nương, nếu không..." Ánh mắt bà ta lạnh lùng lướt qua A Mai, nhưng lại nói với Lăng Đào, "Mong Tướng quân nghiêm trị kẻ châm ngòi hãm hại, để trả lại sự trong sạch cho Nhị cô nương." Chương 28 - Đông Quân Chu Ngũ nương t.ử ăn Hiếu Trĩ xong không có biểu hiện gì khác thường, Lăng Đào lại mời danh y địa phương kiểm tra canh Hiếu Trĩ còn lại, kết luận cũng là không độc, sản phụ có thể ăn, Lăng Đào mới tin việc Tiết Cửu nương t.ử ra m.á.u không liên quan đến Hiếu Trĩ. Chu Ngũ nương kiến nghị kiểm tra nghiêm ngặt chi tiết sinh hoạt ngày hôm đó của Tiết Cửu nương tử, không lâu sau có người hầu tố giác, nói buổi trưa hôm đó từng thấy A Mai dìu Tiết Cửu nương t.ử ra khỏi phòng ngủ, đi dạo trong sân nhỏ. Chu Ngũ nương t.ử mặt mày biến sắc nói: "Cửu nương t.ử vẫn đang trong tháng, vạn lần không được ra khỏi phòng. Bây giờ trời lạnh thế này, lại có nô tỳ xúi giục cô ấy ra ngoài hóng gió, thảo nào xảy ra chuyện!" Lăng Đào lập tức tra khảo A Mai, A Mai khóc lóc thừa nhận là Cửu nương t.ử bị nhốt trong phòng nhiều ngày, thấy buồn chán, nài nỉ mãi, cô ta mới dìu Cửu nương t.ử ra sân, dập đầu biện bạch: "Nhưng trước khi ra ngoài ta đã mời Cửu nương t.ử mặc áo choàng dày, toàn thân bọc kín mít, lại vào buổi trưa lúc nắng to nhất, cũng không có gió, ra ngoài chưa đến nửa nén hương là về phòng rồi, nương t.ử không có chút khó chịu nào, thực sự là ăn Hiếu Trĩ xong mới ra máu." Chu Ngũ nương t.ử cười khẩy: "Danh y Tướng quân mời đã có kết luận rồi, Hiếu Trĩ không độc. Con tiện tỳ nhà ngươi, rõ ràng là ngươi xúi giục Cửu nương t.ử ra ngoài, bị cảm lạnh sinh bệnh, để che giấu tội lỗi, còn đổ tội cho Nhị cô nương, tâm địa thật đáng c.h.ế.t." Lại khuyên Lăng Đào, "Con nha đầu này gian xảo, giữ lại bên cạnh Cửu nương t.ử chỉ làm hỏng cô ấy, lại dễ gây chuyện thị phi, làm nhà cửa không yên, xem ra không giữ được nữa rồi." Lăng Đào cũng thấy rất có lý, sai người đ.á.n.h A Mai một trận thừa sống thiếu c.h.ế.t, mặc kệ Tiết Cửu nương t.ử xin tha, nhanh chóng bán tống bán tháo tỳ nữ thân cận hầu hạ Cửu nương t.ử nhiều năm này đi. Sau khi A Mai bị bán, Tiết Cửu nương t.ử suốt ngày rửa mặt bằng nước mắt, vừa thấy Lăng Đào là khóc lóc oán hận, Lăng Đào phiền lòng, dần dần cũng không thích đến chỗ cô ta nữa. Tâm trạng Chu Ngũ nương t.ử tốt hơn nhiều, cũng càng ra sức lấy lòng nương con Viên phu nhân, dăm ba bữa lại mang quà đến, bầu bạn với Viên phu nhân, vừa thấy Phượng Tiên là nắm tay hàn huyên, từ dung mạo tính tình đến nấu ăn may vá, khen Phượng Tiên lên tận mây xanh. Nhưng trải qua chuyện lần trước, Phượng Tiên cũng cảnh giác hơn, phàm là đồ ăn người ngoài mang đến đều không cho nương ăn, nguyên liệu t.h.u.ố.c men cho Viên phu nhân Phượng Tiên đều tự mình ra ngoài mua. May mà họ không sống trong nhà lớn họ Lăng, người trông coi không nhiều, nàng đi lại hàng ngày cũng tương đối thuận tiện. Một hôm Phượng Tiên đến tiệm thuốc, định mua ít d.ư.ợ.c liệu cho nương, vừa ra khỏi cửa liền nghe bên cạnh cách đó không xa có người gọi "Lăng cô nương", Phượng Tiên quay đầu nhìn, phát hiện người đứng dưới gốc liễu đằng kia lại là Triệu Hoài Ngọc đã lâu không gặp. Phượng Tiên sững người, rồi bước tới thi lễ, hỏi Triệu Hoài Ngọc sao lại đến đây. Triệu Hoài Ngọc đáp: "Ta vào kinh ứng thí, đi qua Kinh Nam, nhớ đến cô nương, hỏi thăm chút, biết cô nương ở đây, nên tản bộ đến, không ngờ quả nhiên có duyên gặp lại cô nương." Phố Giang cách Lâm An không xa lắm, còn Kinh Nam lại ở phía tây Phố Giang và Lâm An, cách nhau gần hai ngàn dặm, làm gì có chuyện từ Phố Giang đi Lâm An lại đi qua Kinh Nam. Phượng Tiên kinh ngạc hỏi: "Công t.ử từ Phố Giang đến đây, rồi lại đi Lâm An, ngàn dặm xa xôi, e là đi đường cũng mất một hai tháng, chẳng phải làm lỡ việc ôn bài ứng thí sao?" Triệu Hoài Ngọc khẽ lắc đầu: "Thi cử sách vở, nằm ở mười năm đèn sách, không ở một hai tháng này." "Cho nên..." Phượng Tiên ngập ngừng, "Công t.ử chuyến này, là đặc biệt đến du ngoạn Kinh Nam?" Triệu Hoài Ngọc "ừ" một tiếng, chần chừ hồi lâu, mới nói: "Cũng là tiện thể đến thăm cô nương... Cô nương tuy nói là về nhà cha nương đẻ, nhưng nhiều năm không gặp, cũng không biết họ đối xử với cô nương thế nào. Nghĩ đi nghĩ lại, rốt cuộc vẫn không yên tâm, vì thế..." Nói đến đây, Triệu Hoài Ngọc đỏ mặt tía tai, cúi đầu không dám nhìn Phượng Tiên. Phượng Tiên cũng thấy không tự nhiên, nhìn quanh, khẽ mời Triệu Hoài Ngọc đi theo mình, tìm chỗ nói chuyện. Triệu Hoài Ngọc hiểu ý, giữ khoảng cách hơn hai trượng với Phượng Tiên, theo nàng đến một quán trà nhỏ yên tĩnh, mới ngồi đối diện nói chuyện. Triệu Hoài Ngọc rất quan tâm tình cảnh hiện tại của Phượng Tiên, Phượng Tiên kể sơ qua tình hình trong nhà, lại nhắc đến chuyện Hiếu Trĩ. Triệu Hoài Ngọc lập tức hỏi kỹ những món ăn khác Tiết Cửu nương t.ử ăn hôm đó, Phượng Tiên bèn kể lại chuyện vừng hồ đào da lừa và nấm mà A Mai nói cho Triệu Hoài Ngọc. Triệu Hoài Ngọc gật đầu: "Thế thì đúng rồi..." Sau đó chàng bảo Phượng Tiên, Hiếu Trĩ này không phải chỉ Tứ Xuyên mới có, vùng Phúc Kiến cũng có một ít. Hai năm trước chàng từng đến núi Vũ Di thăm bạn tốt Vấn Tiều tiên sinh, thợ săn địa phương xách một con Hiếu Trĩ lên Vấn Tiều Dịch chào bán, cũng nói đến chỗ thần kỳ, hỏi họ có muốn nếm thử món sơn hào này không, nhưng họ không hẹn mà cùng từ chối. "Chúng ta đồng thanh từ chối, rồi hai người nhìn nhau cười, đều cảm thấy đối phương đúng là tri kỷ." Triệu Hoài Ngọc nhớ lại cảnh tượng lúc đó, vẫn còn vương nụ cười nhạt. Phượng Tiên gật đầu nói: "Các người đều là quân t.ử nhân hậu, chắc chắn không nỡ dùng loài chim quý này thỏa mãn cái miệng." Triệu Hoài Ngọc nói: "Chúng ta đều cho rằng, Hiếu Trĩ sinh ra biết mớm mồi nuôi mẹ, giống như người con có hiếu, chúng ta sao nỡ làm hại nó. Vấn Tiều tiên sinh tuy từ chối thẳng thừng việc ăn thịt Hiếu Trĩ, sau đó vẫn bỏ tiền mua lại từ tay thợ săn, mang vào rừng sâu phóng sinh. Tối hôm đó bọn ta nướng khoai sọ, quây quần bên bếp lò trò chuyện đến đêm khuya, huynh ấy nhắc đến Hiếu Trĩ, nói đến một điều cấm kỵ trong ăn uống mà người Mân Trung (vùng trung tâm Phúc Kiến) đều biết: Hiếu Trĩ không thể ăn cùng hồ đào, mộc nhĩ và các loại nấm khác, ăn cùng sẽ bị ra máu." Phượng Tiên nghe xong trầm ngâm. Biết được điều này, rất nhiều chuyện trước kia nghĩ không thông lập tức được giải quyết dễ dàng. Nàng không kịp cảm thán, ngẩng đầu nhìn Triệu Hoài Ngọc lần nữa, thỉnh cầu: "Triệu công t.ử có thể giúp ta mua một ít sách y không?" Triệu Hoài Ngọc hỏi nàng muốn mua loại sách y nào, Phượng Tiên đáp: "Tên sách cụ thể ta cũng không biết, Triệu công t.ử học vấn uyên bác, mong công t.ử giúp ta chọn. Ghi chép d.ư.ợ.c tính của các loại thực phẩm và d.ư.ợ.c liệu, giảng giải sự kết hợp ăn uống cái gì có lợi, cái gì có hại là được." Triệu Hoài Ngọc nhận lời, hẹn nàng hai ngày sau gặp ở đây. Hai ngày sau, Triệu Hoài Ngọc đến đúng hẹn, mang theo hơn mười bộ sách y: "Ta tìm khắp cả thành, tìm được những cuốn này còn xem được, cô nương cứ xem tạm, sau này ta sẽ tiếp tục để ý, nếu tìm được cuốn nào hay, lần sau lại tặng cô nương." Phượng Tiên cảm ơn, hỏi chàng hết bao nhiêu tiền, lấy tiền mình tích cóp ra, định trả cho Triệu Hoài Ngọc. Triệu Hoài Ngọc vội từ chối: "Sách là tặng cô nương, cô nương chịu đọc, với ta đã là vinh hạnh lớn lao. Cô nương nếu có tiền dành dụm, xin hãy dùng để báo hiếu lệnh đường, không cần đưa cho ta đâu." Phượng Tiên kiên quyết đẩy tiền cho chàng: "Công t.ử nếu chịu nhận, là hành thiện tích đức, thay mặt mua sách giúp nương con ta; nếu không nhận, người ngoài biết được, sẽ nói chúng ta tư tương thụ thụ (trao nhận riêng tư). Chắc công t.ử cũng không muốn nhìn thấy danh tiết của chúng ta bị tổn hại." Triệu Hoài Ngọc thấy nàng nói nghiêm trọng đến thế, mới chịu nhận tiền mua sách. Thấy Phượng Tiên hiểu lễ nghĩa như vậy, trong lòng càng thêm kính trọng, không kìm được bộc lộ tình cảm ngưỡng mộ, hỏi Phượng Tiên Lăng Đào đã từng hứa gả nàng cho ai chưa. Phượng Tiên đỏ mặt, lắc đầu. Triệu Hoài Ngọc lập tức yên tâm, trịnh trọng nói: "Kỳ thi mùa xuân sắp đến, Hoài Ngọc chắc chắn sẽ dốc toàn lực. Nếu bảng vàng đề danh, và cô nương nguyện ý, Hoài Ngọc nhất định sẽ chuẩn bị đầy đủ lễ nghi, mời người mai mối đến cầu thân cô nương." Phượng Tiên cúi đầu, hồi lâu mới khẽ nói: "Chuyện chung thân đại sự, đương nhiên phải đợi cha nương làm chủ." Triệu Hoài Ngọc cứ ngỡ nàng đồng ý rồi, mừng rỡ khôn xiết. Phượng Tiên chỉ thấy mặt nóng ran, cũng không dám ở lâu, cáo từ ngay lập tức. Triệu Hoài Ngọc tiễn nàng đến cách nhà hơn trăm mét, dưới sự yêu cầu kiên quyết của Phượng Tiên mới dừng bước, vái chào Phượng Tiên thật sâu từ biệt. Phượng Tiên cũng nhún mình đáp lễ, nói: "Phượng Tiên chúc trước Triệu công t.ử ghi danh bảng vàng." Dưới yêu cầu của nương, Phượng Tiên bắt đầu hàng ngày đến nhà lớn, thỉnh an cha. Đến khi xuân ấm hoa nở, tâm trạng Lăng Đào dường như cũng tốt lên theo thời tiết, đối với Phượng Tiên cũng trở nên khá hòa nhã, thường giữ nàng lại trong nhà trò chuyện chơi đùa với các muội muội khác. Đại cô nương nhà họ Lăng là con vợ lẽ, đã xuất giá. Tam, Tứ, Ngũ cô nương đều do Chu Ngũ nương t.ử sinh, Tam cô nương đến nay bặt vô âm tín, Tứ cô nương mười sáu tuổi, Ngũ cô nương mười lăm tuổi, dưới yêu cầu của Chu Ngũ nương t.ử tiếp xúc với Phượng Tiên nhiều nhất, còn lại Lục, Thất, Bát cô nương lần lượt do các nương t.ử khác sinh, tuổi còn nhỏ, cũng không thân thiết với Phượng Tiên. Một buổi sáng, Phượng Tiên sau khi thỉnh an cha, nhận lời mời của Chu Ngũ nương t.ử đến hậu hoa viên nhà lớn ngắm hoa cùng các em. Trong vườn hoa đào, hoa mận, hải đường, thậm chí mấy khóm thược d.ư.ợ.c tranh xuân đều đã nở, muôn tía nghìn hồng, đâu đâu cũng tràn trề ý xuân. Mấy muội muội nô đùa đòi hái hoa để chơi trò đấu cỏ, các loại hoa trong vườn đều bị họ hái một ít, cuối cùng Tứ cô nương chỉ vào một cành hoa hạnh từ ngoài tường vươn vào trong vườn, nói: "Chỉ thiếu hoa hạnh thôi, trong vườn chúng ta không có, ai đi cắt mấy cành trên đầu tường kia về đây?" Lúc này trong vườn toàn là nữ quyến, họ nhìn cành hoa trên cao kia, ánh mắt lần lượt đổ dồn về phía Phượng Tiên, cuối cùng Ngũ cô nương cười nói: "Nhị tỷ tỷ, trong chúng ta tỷ cao nhất, có thể giúp bọn muội cắt ít hoa hạnh không?" Phượng Tiên cũng không từ chối, đi đến dưới cành hoa hạnh ước lượng độ cao, quay đầu lại nói: "Tỷ cũng không với tới. Đi lấy cái thang hoa của người làm vườn cho tỷ." Tứ cô nương sai tỳ nữ sau lưng đi lấy thang. Hai tỳ nữ mang thang đến đặt sát tường, lại đưa kéo cắt hoa cho Phượng Tiên, rồi nhanh chóng lùi ra, như sợ Phượng Tiên bắt họ trèo lên hái hoa. Phượng Tiên mới nhớ ra, đối với những nữ quyến nhà quyền quý này, trèo lên đầu tường hái hoa là việc mất thân phận đến thế nào, đến tỳ nữ cũng không thèm làm. Nàng nhìn lại đám muội muội, thấy họ quả nhiên có người cười trộm, có người lạnh lùng đứng nhìn, bộ dạng chuẩn bị xem kịch vui. Phượng Tiên tuy không vui, nhưng kéo đã cầm tay, tạm thời cũng lười nghĩ nhiều thế, cứ thế trèo lên thang, bắt đầu cắt cành hạnh. Cắt xong đưa cho tỳ nữ đến đón, đám muội muội lại reo lên, liên tục nói: "Muội cũng muốn muội cũng muốn! Nhị tỷ tỷ cắt thêm ít nữa đi." Phượng Tiên nhanh chóng cắt hết cành hoa trên đầu tường, các cô nương vẫn chưa hài lòng, giục nàng cắt tiếp, Phượng Tiên nhìn lại hoa hạnh ngoài tường, ngoài đó thì nở đầy đường đỏ đỏ trắng trắng, ước chừng cả trăm cây, nhưng cành có hoa có nụ đều cách tường một đoạn khá xa, mắt thấy là không với tới được rồi. Phượng Tiên lộ vẻ khó xử, đang nghĩ có nên cứ thế xuống thang hay không, bỗng nghe ngoài tường có tiếng vó ngựa vang lên, Phượng Tiên nhìn theo tiếng động, xuyên qua biển hoa hạnh như ráng chiều che khuất, mây nhẹ từng đóa kia, thấy một thiếu niên áo trắng cưỡi một con ngựa đỏ tía lông bóng mượt, đang cầm cương thong thả đi tới. Chàng đội khăn mềm màu đen, áo trắng như tuyết, mà viền áo màu đỏ thẫm pha chút sắc tím, y hệt màu đài hoa hạnh, đi giữa biển hương tuyết này, dáng vẻ hệt như thần tiên. Đến bên tường, chàng đón ánh mặt trời sau lưng Phượng Tiên ngẩng đầu ghìm cương, ánh mắt nửa khép, lướt qua cây kéo trong tay nàng, rồi nở nụ cười ung dung với nàng, đưa tay phải ra, ra hiệu nàng đưa kéo cho chàng. Phượng Tiên như trúng bùa mê, lặng lẽ nhìn chàng chằm chằm, không nói nên lời, chỉ làm theo chỉ dẫn đưa kéo cho chàng. Chàng cầm kéo, thả lỏng cương ngựa, thong thả đi đến dưới gốc hoa bên cạnh, thi thoảng giơ tay, chẳng bao lâu, đã nhẹ nhàng thoải mái cắt được rất nhiều cành hạnh. Sau đó quay lại bên tường chỗ Phượng Tiên, đưa cành hoa cho nàng, trả lại kéo, chỉ vào con ngựa cao lớn mình cưỡi, cười nói: "Cái thang này của ta so với cái thang của cô thế nào?" Phượng Tiên không đáp, ngượng ngùng nhận lấy cành hoa, khẽ nói: "Đa tạ công tử." Thiếu niên khẽ gật đầu, cười mà không nói, quay ngựa lùi lại. Ánh nắng rọi lên khuôn mặt tuấn tú chưa từng bị khổ đau mài mòn của chàng, khiến toàn thân chàng như tỏa sáng, rực rỡ một mình trong tâm trạng u ám của Phượng Tiên hôm nay. Phượng Tiên ngẩn ngơ nghĩ, Đông Quân (Thần mùa xuân) trong truyền thuyết, chắc cũng chỉ đến thế này thôi. Phượng Tiên đứng rất lâu trên thang hoa, nhìn theo chàng dần đi xa. Rất muốn biết chàng là ai, nhưng lại không dám hỏi. Đúng lúc này có một đạo sĩ tóc bạc phơ, tiên phong đạo cốt cưỡi lừa từ phía nam tới, đến gần thiếu niên kia, dang tay chỉ về phía nam, cười lớn nói: "Nhị Đại vương, mời bên này. Phủ Kinh Nam đã cung kính đợi ở cổng chính phía nam, mời Đại vương theo bần đạo đi thôi." Chương 29 - Điểm Trà Trong nhà nhanh chóng sôi sùng sục, nô tỳ chạy đôn chạy đáo báo tin, nói đạo trưởng Thượng Quan Thầm mà Tướng quân đợi đã lâu đã đến, đi cùng ông còn có Nhị hoàng t.ử Triệu Ngai. Lăng Đào đích thân dẫn gia nhân thuộc hạ ra ngoài cổng nam nghênh đón, nữ quyến tạm thời không cần lộ diện, nhưng nhắc đến hai vị quý khách này đều là vẻ mặt vui mừng khôn xiết. Từ cuộc trò chuyện của các nữ quyến Phượng Tiên biết được, vị đạo trưởng này giỏi y thuật, giỏi xem tướng, nghe nói còn biết tiên tri, từng chữa khỏi bệnh nan y cho mẫu hậu của Tiên đế, nên rất được hoàng gia tin tưởng. Hoàng Thái hậu hiện nay cũng đặc biệt coi trọng ông, gặp chuyện lớn thường mời ông bói toán giải hoặc. Lăng Đào nhiều năm trước từng gặp Thượng Quan Thầm, Thượng Quan Thầm dự đoán chính xác con đường quan lộ của ông ta đến nay, nên Lăng Đào vô cùng tin tưởng ông, nhiều lần mời mọc, gần đây Thượng Quan Thầm mới nhận lời đến làm khách, không ngờ lần này lại còn mang theo quý khách cỡ như Nhị hoàng tử. Phượng Tiên cáo từ các nữ quyến, chuẩn bị về chỗ ở của nương. Trên đường về nấp dưới hành lang tiền viện, chứng kiến cảnh cha đón hai vị quý khách vào trong. Triệu Ngai tắm mình trong ánh nắng vàng, ngẩng cao đầu rảo bước, khóe môi mỉm cười, tà áo bay bay đi qua con đường chính nơi mọi người trong nhà đứng hai bên cúi đầu nghênh đón, Thượng Quan Thầm đi theo bên cạnh, rất cẩn trọng giữ khoảng cách tụt lại sau hai bước, còn Lăng Đào thì đi bên cạnh cúi đầu dẫn đường, chốc chốc lại giải thích gì đó, nụ cười dành cho Triệu Ngai lộ rõ vẻ nịnh nọt, vẻ mặt khiêm nhường này Phượng Tiên chưa từng thấy bao giờ, hoàn toàn khác với người cha luôn hống hách trong ấn tượng của nàng. Còn Triệu Ngai không đáp lời, vẫn nhìn thẳng phía trước mà đi, chỉ thỉnh thoảng khẽ gật đầu, ra ý có nghe thấy. Hôm nay Hứa cô cô cũng đi nhà lớn lĩnh tiền tháng, khi về tiểu viện dẫn theo một tỳ nữ mười mấy tuổi, bảo là Chu Ngũ nương t.ử phái đến cho Phượng Tiên sai bảo. Cô gái đó thấy Phượng Tiên liền bước lên hành lễ, cười nói thỉnh an: "Nhị cô nương vạn phúc,Em tên là Nhạn Xảo, giặt giũ may vá đều biết, cũng biết nấu chút món ăn, sau này Nhị cô nương cần em làm gì, cứ sai bảo một tiếng là được, em nhất định sẽ tận tâm tận lực làm tốt." Phượng Tiên đ.á.n.h giá Nhạn Xảo một lượt, cũng không nói gì, đồng ý cho cô ta ở lại trong viện, bảo cô ta tự đi dọn dẹp phòng ở. Nhạn Xảo vâng lời, đi trước. Còn Hứa cô cô sắc mặt khác thường, đợi Nhạn Xảo đi rồi mới nói nhỏ với Phượng Tiên: "Cô nương, hôm nay tôi đi nhà lớn, có tỳ nữ thân quen bên cạnh Tướng quân lén bảo tôi, Tướng quân đã chuẩn bị để cô nương thay Tam cô nương, gả cho trưởng tôn của Diên Bình Quận vương là Ân Kỳ. Diên Bình Quận vương là em trai của Hoàng Thái hậu đương triều, chịu ơn sâu của hoàng gia, con cháu cũng nhiều lần được ấm bổ (phong chức nhờ cha ông). Tướng quân cũng phải nhờ người mai mối nhiều lần, mới trèo cao được mối hôn sự này, nhưng mà, bàn xong mới biết, cái tên Ân Kỳ kia mắc chứng cuồng loạn, phát tác lên là đ.á.n.h g.i.ế.c người bên cạnh, nghe nói có tỳ thiếp bị hắn đ.á.n.h c.h.ế.t rồi. Tướng quân biết chuyện có hối hận, nhưng hôn sự đã định, không dám đổi ý, bèn giấu kín trong nhà không nói, âm thầm vẫn định để Tam cô nương gả đi. Tam cô nương chắc nghe được phong thanh, nên mới bỏ trốn..." Mọi nghi hoặc của Phượng Tiên đến đây được giải đáp, không khỏi cười lạnh: "Thảo nào Chu Ngũ nương t.ử lấy lòng ta và nương đến thế. Vô sự hiến ân cần, phi gian tức đạo (không gian cũng trộm). Ta cứ nghĩ mãi mình có gì đáng để bà ta mưu đồ, hóa ra là muốn ta gả thay." "Đúng vậy," Hứa cô cô thở dài, "Tôi bảo sao bà ta tốt bụng khuyên Tướng quân tìm cô nương về thế, giờ thì hiểu rõ cả rồi. Hôm nay phái Nhạn Xảo đến, đa phần là để giám sát cô nương, sợ cô nương nghe tin xong cũng chạy mất... Tướng quân lần này mời Thượng Quan đạo trưởng đến, là muốn nhờ ông ấy so bát tự của cô nương và Ân Kỳ, xem tướng mạo cô nương, xem có hợp hay không." Phượng Tiên cười khẩy: "Hợp hay không, cũng sẽ bắt ta gả đi, cần gì vẽ chuyện." Hứa cô cô nói: "Cũng là để dự đoán cảnh ngộ cô nương gả đi thôi, có lẽ Tướng quân phát hiện tính tình cô nương không nhu thuận như phu nhân, ít nhiều cũng có chút lo lắng." Phượng Tiên nghĩ nghĩ, lại hỏi: "Vậy Thượng Quan đạo trưởng tại sao lại đưa Nhị hoàng t.ử đến?" Hứa cô cô nói: "Nghe nói Nhị hoàng t.ử chịu lệnh Hoàng Thái hậu đi mời đạo trưởng vào cung, có việc muốn hỏi. Đạo trưởng đã nhận lời đến gặp Tướng quân, bèn mời Nhị hoàng t.ử đi cùng, đợi đạo trưởng nói chuyện với Tướng quân xong sẽ cùng về kinh... Tướng quân thấy Nhị hoàng t.ử rất mừng, có ý nhờ đạo trưởng làm mối, hy vọng Nhị hoàng t.ử có thể chọn một trong hai cô nương Tứ, Ngũ làm phu nhân." Phượng Tiên trầm ngâm, một lát sau hỏi lại: "Cho nên, cha sẽ để Thượng Quan đạo trưởng và Nhị hoàng t.ử gặp ta và các muội muội?" Hứa cô cô gật đầu: "Chắc là vậy." Không lâu sau nhà lớn có người đến, mời Phượng Tiên chuẩn bị một chút, sáng mai đến tiệc trà ở vườn hoa nhà lớn, mời Thượng Quan đạo trưởng xem tướng. Tỳ nữ mới đến Nhạn Xảo hào hứng bắt đầu chuẩn bị trang phục mai dùng cho Phượng Tiên, tự đi lấy quần áo trang sức, bày từng cái trước mặt Phượng Tiên, hỏi nàng muốn chọn cái nào. Phượng Tiên bình thản, chọn một bộ y phục màu sắc trang nhã. Nhạn Xảo lại hỏi nàng muốn dùng trang sức tóc gì, Phượng Tiên làm bộ suy nghĩ, rồi nói: "Nghe nói hoàng gia hiện nay trên dưới đều không thích xa hoa, nếu dùng trang sức vàng ngọc, e là Nhị hoàng t.ử nhìn thấy sẽ bảo chúng ta xa xỉ, toàn thứ phàm tục. Ta thấy trong vườn nhà lớn có thược d.ư.ợ.c nở sớm, hoa to đẹp, màu sắc rực rỡ, nếu cài bên tóc, vừa lộng lẫy lại không mất vẻ tự nhiên, là tốt nhất rồi. Em mau đi nhà lớn, giúp ta hái một ít về đây." Nhạn Xảo vui vẻ đồng ý, đang định đi, Phượng Tiên lại gọi lại: "Quý nhân trong kinh dù nam hay nữ đều thích xông hương, mai y phục của ta cũng không thể không có hương, nếu không sẽ tỏ ra thô lỗ vô lễ. Em đến phòng phu nhân mượn lư hương và lồng xông cho ta trước đi." Nhạn Xảo lĩnh mệnh, đi lấy lư hương lồng xông trước, sau đó mới đi nhà lớn hái thược dược. Phượng Tiên đợi bóng cô ta khuất, tự mình lấy hộp hương mang từ Phố Giang về, trong đó hương liệu đủ loại, nàng lại chỉ lấy một mùi Long Não (Băng phiến), đốt than hương bỏ vào lư, vun tro hương, trên núi tro hương đặt lá bạc, lấy ít hương Long Não đặt vào lá bạc, chậu đồng dưới lư hương đổ nước sôi, để lấy hơi nước làm ẩm áo, bên trên chụp lồng xông, rồi vắt y phục mai mặc lên lồng xông, bắt đầu xông hương. Sau bữa sáng hôm sau, Lăng Đào mời Thượng Quan Thầm và Triệu Ngai thưởng hoa uống trà trong vườn, trò chuyện một hồi rồi sai các nhi nữ vào vườn, lần lượt hành lễ với Thượng Quan Thầm và Triệu Ngai, lại sai người lấy danh trà Phúc Kiến ra, chỉ vào Tứ cô nương và Ngũ cô nương nói với Thượng Quan Thầm: "Hai nữ nhi này của ta tuy không thông minh, nhưng cũng từng bắt chước khuê nữ trong kinh, học qua thư họa và điểm trà cắm hoa. Chúng nó luôn ngưỡng mộ cao đức của đạo trưởng, hôm kia nghe đạo trưởng sắp quang lâm, đều hy vọng có thể dâng đạo trưởng một chén trà, để tỏ lòng kính trọng." Thượng Quan Thầm tỏ vẻ vinh hạnh, cười nói: "Nhị Đại vương là đích t.ử của Quan gia, chén trà đầu tiên này lý nên dâng cho Nhị Đại vương, để tỏ ý cả phủ Tướng quân khắc ghi thiên ân, lấy lòng thành phụng sự quân thượng." Lăng Đào liên tục nói: "Có lý, có lý." Lập tức ra hiệu cho Tứ cô nương lên điểm trà. Tứ cô nương cúi đầu bước lên, ngồi ngay ngắn trước bàn trà, đợi nước trong siêu sôi thì nhấc lên, rót vào bình trà, đợi nước ngừng sôi, rồi cho bột trà tỳ nữ đã nghiền sẵn bằng cối bạc vào chén Kiến diêu men đen lông thỏ, một tay xách bình trà, rót ít nước vào chén, tay kia cầm chổi trà (trà tiển) làm bằng tre, đ.á.n.h nước và bột trà thành dạng sệt, rồi tiếp tục rót nước nóng, sau đó nhanh tay dùng chổi trà đ.á.n.h (kích phất), để trong chén nổi lên lớp bọt trắng. Nàng ta ngày thường hay luyện tập điểm trà, bộ động tác này vốn dĩ rất thành thạo, nhưng hôm nay trên đầu nàng cài một đóa thược d.ư.ợ.c to tướng, trên người lại xông hương áo mùi hoa, toàn thân thơm nức mũi, lúc điểm trà liền có một con ong bay đến, lượn lờ quanh đầu nàng. Tứ cô nương vừa sợ hãi lại vừa nhớ phải điểm trà, động tác bèn rụt rè, chốc chốc lại khựng lại, trên trán mồ hôi vã ra như tắm. Chén trà này điểm xong, độ sệt, kích phất đều chưa tới, bọt trên mặt nước nhanh chóng tan đi, lộ ra vệt nước quanh chén trà. Điểm trà quý ở chỗ bọt trà lưu lại lâu, tay nghề này của Tứ cô nương quả thực lộ ra sự yếu kém, Lăng Đào nhìn mà mặt trầm xuống, vô cùng xấu hổ. Tứ cô nương đặt chổi trà xuống, cúi đầu nhìn chén trà trước mặt, cũng không biết có nên dâng cho Triệu Ngai không, cứ im lặng mãi. Triệu Ngai thấy nước mắt nàng ta sắp rơi xuống, bèn ra hiệu cho tỳ nữ gần đó dâng trà lên, tự mình bưng uống một ngụm, mỉm cười: "Không tệ." Lăng Đào vội xua tay cho Tứ cô nương lui xuống, lại sai Ngũ cô nương lên điểm trà. Ngũ cô nương cũng cài một đóa thược dược, chỉ là Tứ cô nương dùng màu tím, còn nàng chọn màu hồng, cũng thơm nức mũi. Có lẽ vì trẻ tuổi, thích mùi ngọt ngào hơn, lúc này nàng dùng hương áo là hoa cam chưng trầm hương Hải Nam, ngửi cực kỳ ngọt, cũng dẫn dụ ong đến, hơn nữa không chỉ vây quanh hoa trên đầu nàng, khi nàng xách bình trà lên, một con ong bay đậu vào tay đang rót nước của nàng. Ngũ cô nương hét lên một tiếng, buông tay, bình trà rơi xuống va vào chén Kiến diêu, chén trà và bình trà lần lượt lăn lóc rơi xuống đất, nước nóng b.ắ.n tung tóe, bàn trà bừa bộn, trên người trên tay Ngũ cô nương cũng bị nước nóng b.ắ.n vào vài chỗ, hét lên nhảy dựng. Lăng Đào mặt xám ngoét như tro tàn, không nhịn được quát thẳng mặt Ngũ cô nương: "Ra ngoài!" Ngũ cô nương che mặt khóc chạy đi. Lăng Đào tạ tội với hai vị quý khách, sai người dọn dẹp bàn trà, đang không biết có nên tiếp tục tiệc trà này không, lại thấy ánh mắt Triệu Ngai liếc về phía Phượng Tiên đang đứng ở một góc, mỉm cười hỏi ông: "Vị kia cũng là lệnh ái? Có giỏi điểm trà không?" Lăng Đào ngượng ngùng nói: "Nó là con gái thứ hai của tôi, cũng là đích xuất, nhưng từ nhỏ thất lạc gia đình, được nuôi ở quê, e là không biết điểm trà." Phượng Tiên nghe vậy chậm rãi bước lên, giọng nhẹ nhàng nhưng đủ rõ ràng đáp lại: "Con biết điểm trà." Lăng Đào ngạc nhiên nhìn nàng, Phượng Tiên hơi ngẩng đầu, nhìn cha, nở một nụ cười tự tin. Trên tóc nàng không cài bất kỳ bông hoa tươi nào, chỉ điểm xuyết vài hạt trân châu. Dưới sự ngầm đồng ý của cha, nàng khoan t.h.a.i đi đến sau bàn trà ngồi xuống. Khi di chuyển có cơn gió nhẹ thoảng qua, Triệu Ngai ngửi thấy mùi hương Long Não thanh mát trên người nàng. Chương 30 - Thủy Đan Thanh Phượng Tiên ngồi xuống chính giữa bàn trà, kiểm tra bột trà Tứ, Ngũ cô nương vừa dùng, cảm thấy không được mịn nhẹ như ý muốn, bèn lấy từ hộp trà ra một bánh trà nguyên vẹn bên ngoài còn bọc sáp dầu, xem nhãn ghi năm, thấy là trà năm ngoái, bèn lấy nước sôi đổ vào bát nước, từ từ thả bánh trà vào, đợi nước nóng làm tan lớp vỏ dầu, liền vớt bánh trà ra, dùng giấy sạch thấm khô nước, cạo sạch lớp dầu còn sót lại, dùng kẹp trà kẹp bánh trà, hơ trên lửa nhỏ của lò lửa cho đến khi khô hẳn, rồi dùng giấy bọc bánh trà đập vụn, xúc một phần vào cối bạc xay trà hình thuyền một bánh xe, quay bánh xe nghiền trà thành bột mịn, lại lấy rây trà bọc một lớp lụa trắng mỏng như cánh ve, rây bột trà đã nghiền cho cực mịn, thấy bột trà xanh nhẹ như bụi phấn, mới xách bình trà rót nước sôi tráng nóng chén Kiến diêu lông thỏ, rồi xúc bột trà vào chén để đó. Phượng Tiên không dùng chổi trà, chọn một chiếc thìa bạc để trộn bột trà, tay trái xách bình trà rót nước, cổ tay phải xoay tròn, trộn bột trà và nước thành dạng keo, sau đó tiếp tục rót nước dọc theo mép trong chén Kiến diêu, cầm thìa bạc đ.á.n.h nước trà xoay vòng, tay ban đầu chậm rãi, theo mực nước dâng lên dần nhanh hơn, trong nước trà bọt trắng sủi lên, hạt châu lấp lánh, bám chặt vào thành chén (gọi là "giáo trản"). Một loạt động tác này làm liền một mạch, không có ong bướm quấy nhiễu, bọt bám thành chén như một âu tuyết xuân, vô cùng đẹp mắt. Lăng Đào thầm thở phào, đang định bảo Phượng Tiên dâng trà cho Triệu Ngai, Phượng Tiên lại cầm thìa bạc, nhúng vào chén gạt nhẹ. Theo cổ tay nàng nhấp nhô, bọt trong chén dần tan ra, để lộ nước trà xanh biếc bên dưới. Lăng Đào kinh ngạc, không hiểu sao nàng lại làm thế. Còn Phượng Tiên liếc nhìn đôi mày đang nhíu chặt của ông, mỉm cười, dừng tay, đặt thìa bạc xuống, nghiêng đầu ra hiệu cho tỳ nữ bên cạnh dâng trà cho Triệu Ngai. Tỳ nữ bưng trà đến trước mặt Triệu Ngai, nâng khay quá mày, mời chàng thưởng thức. Triệu Ngai nhìn vào, chỉ thấy nước trà xanh như đầm sâu, mà chút bọt trắng ít ỏi còn sót lại nổi trên mặt nước trà, được Phượng Tiên dùng thìa bạc vẽ thành một cành hoa hạnh, mảnh mai tú lệ, tựa như dùng bút thần vẽ nên. Chiêu này gọi là "Trà bách hý" (Trò trăm vẻ của trà), hay còn gọi là "Thủy đan thanh" (Tranh vẽ trên nước), ngay cả trong kinh cũng chỉ có số ít người biết. Thượng Quan Thầm đứng bên nhìn thấy, lớn tiếng khen hay, hết lời ca ngợi trà nghệ của Phượng Tiên với Lăng Đào. Lăng Đào xua tay khiêm tốn: "Tiểu nữ chút tài mọn điêu khắc sâu bọ, không đáng nhắc tới." Tuy nhiên mặt mày hớn hở, vô cùng vui vẻ. Triệu Ngai chăm chú nhìn cành hoa hạnh trắng muốt kia, cười nhạt, sai tỳ nữ dâng chén trà này cho Thượng Quan Thầm, rồi đứng dậy, đi về phía bàn trà Phượng Tiên ngồi. Phượng Tiên sững người, nhận ra có lẽ chàng muốn tự mình điểm trà, bèn lập tức lui sang một bên, nhường bàn trà cho Triệu Ngai. Triệu Ngai vào chỗ, đổ nước thừa trong bình trà ra, tự lấy siêu đun nước, đợi tiếng nước trong lò trà reo như gió tùng mưa thông, lại nhấc lên rót vào bình trà, tráng nóng chén, xúc bột trà Phượng Tiên đã nghiền vào, đợi một lát, chờ trong bình trà tĩnh lặng không tiếng động, mới lại xách bình trà rót nước dọc theo thành trong chén Kiến diêu. Chàng nhìn dụng cụ trên bàn trà, cũng chọn dùng thìa bạc trộn bột đ.á.n.h trà, chỉ có điều không dùng đầu thìa, mà quay ngược lại, dùng cán thìa bạc trơn bóng như d.a.o găm đ.á.n.h bột trà nước trà. Đợi bột trà hòa tan, Triệu Ngai một tay rót nước đều đều, tay kia ngón tay quấn cổ tay xoay, cán bạc ánh lên tia sáng nhảy múa, như rắn bạc bay lượn. Chàng hơi rũ mắt, thần thái nhàn nhã nhìn nước trà, mà hai tay hai việc vẫn đâu vào đấy tiếp tục. Bọt trà mịn như bọt tuyết dần nổi lên trên mặt nước xanh trong chén, êm dịu mịn màng, không có thế trào dâng tràn chén như Phượng Tiên vừa đ.á.n.h ra. Thấy lượng bọt vừa đủ, Triệu Ngai ngừng đánh, bắt đầu cầm cán bạc như cầm bút, dùng cạnh bên vạch nhanh trên mặt nước, dẫn động vân nước mạch nước, một bức tranh tinh xảo như tranh sơn thủy công bút dần hiện ra trên mặt nước trà. Vẽ xong, chàng đặt thìa bạc xuống, cười nói với Lăng Đào và Thượng Quan Thầm: "Nét bút mảnh mai, cảnh tượng thoáng qua là mất, mời hai vị dời bước đến bàn trà xem một chút." Hai người kia lập tức đến bàn trà, ngồi đối diện Triệu Ngai. Chỉ thấy trong chén trà của Triệu Ngai, bọt trắng mịn sinh ra những đường nét to nhỏ khác nhau, hệt như bút lông vẽ ra, hiện lên cảnh tượng ngàn núi tuyết trên nền trà xanh, núi non trùng điệp, tuyết trắng xóa, bên dưới bóng đổ xuống sông lạnh, mặt sông trôi một chiếc thuyền con, mà đầu thuyền thế mà còn có một ông chài đội nón lá khoác áo tơi đang ngồi xổm. Lăng Đào và Thượng Quan Thầm vẻ mặt đầy thán phục. Phượng Tiên đã nhìn thấy từ bên cạnh, kinh ngạc xong càng thấy bái phục từ tận đáy lòng. Thủy đan thanh của Phượng Tiên là Thu Nương dạy. Trong huyện thành Phố Giang khách quý có hạn, điểm trà bình thường đã đủ đãi khách, Thu Nương không biểu diễn Thủy đan thanh trước đám đông, chỉ khi uống trà riêng tư thỉnh thoảng vẽ vài cành hoa cỏ trên mặt nước để tự giải trí, bị Phượng Tiên nhìn thấy, bèn mè nheo sư nương dạy mình. Tuy chỉ là một hai cành hoa cỏ, Phượng Tiên cũng phải luyện nhiều năm mới gọi là nắm sơ kỹ thuật, vẽ ra được chút ý tứ, còn Triệu Ngai vậy mà có thể trong thời gian ngắn ngủi vẽ ra bức tranh sơn thủy hoàn chỉnh nhường này, sở hữu công lực bực này, đối với người điểm trà mà nói, e là thiên phú, tu dưỡng và thời gian bỏ ra, thiếu một thứ cũng không được. Bọt trong chén chốc lát tan đi, bức tranh dần hòa vào nước trà, mọi người vây xem mới như tỉnh mộng, vỗ tay khen không dứt. Triệu Ngai cười nhẹ, nói: "Kỹ nghệ gia truyền, ta chỉ học được chút vỏ ngoài thôi." Ánh mắt chàng lơ đãng lướt qua Phượng Tiên, Phượng Tiên không dám nhìn thẳng chàng, cúi đầu lặng lẽ lùi lại. Cảm giác ưu việt có được nhờ sai lầm của các muội muội lúc nãy giờ tan thành mây khói, mặt nóng bừng, chỉ thấy mình rõ ràng là múa rìu qua mắt thợ. Sau tiệc trà hôm đó, Lăng Đào lén hỏi Thượng Quan Thầm tướng mạo mấy cô con gái của mình thế nào, Thượng Quan Thầm cười nói: "Theo bần đạo thấy, cực quý không ai bằng Nhị cô nương, mắt rồng cổ phượng (long tinh phượng cảnh), có dung mạo khuynh thành, Nhị cô nương lại chí lớn cao xa, tiền đồ không thể hạn lượng." Lăng Đào lại hỏi vận mệnh các cô nương khác, Thượng Quan Thầm chỉ nói: "Cứ yên tâm, tùy duyên, tùy duyên." Lăng Đào khéo léo hỏi ấn tượng của Nhị hoàng t.ử với các cô nương, Thượng Quan Thầm cười lớn: "Cái này chỉ có Nhị Đại vương tự biết, bần đạo sao dám đoán bừa!" Tuy vậy, khi Thượng Quan Thầm ở riêng với Triệu Ngai vẫn nhắc đến Phượng Tiên, nói cô nương này phong thái đoan trang, thông minh hơn người, Nhị Đại vương cũng đến tuổi thành gia, chi bằng liệt Phượng Tiên vào danh sách ứng cử viên. Triệu Ngai cười: "Lăng Nhị cô nương không tệ, chỉ là quá thông minh, không hợp với ta." "Ồ, sao thấy quá thông minh?" Thượng Quan Thầm hỏi. Triệu Ngai nói: "Hai cô em gái cô ấy điểm trà thất bại, đều do ong mật quấy nhiễu, con ong này, rõ ràng là bị hoa cài đầu, hương xông áo của họ thu hút đến. Mà Lăng Nhị cô nương đầu không cài hoa, trên người xông thế mà chỉ có một mùi hương Long Não... Long Não thanh lạnh, hơi hắc, người chỉ dùng hương Long Não làm hương áo, ta chỉ nghe nói có một người, là ông chú họ của ta, Sở Vinh Hiến Vương. Ông ấy chê hương áo người xung quanh tạp nham, ngửi đau đầu, nên dùng Long Não giải độc vạn hương. Long Não còn có thể xua đuổi côn trùng mối mọt, Lăng Nhị cô nương đang tuổi xuân thì, vốn là lúc thích các loại hương thơm nồng nàn, nhưng hôm nay cô ấy chỉ dùng Long Não, liên hệ trước sau xem ra, cô ấy biết hương hoa có thể dẫn dụ ong mật, nên cố ý xông Long Não để đuổi ong, đảm bảo việc điểm trà của mình không chút sơ suất." Thượng Quan Thầm hiểu ra cười nói: "Cô nương này chắc là rất mong đợi thể hiện trà nghệ để được Đại vương chú ý, nên mưu tính vô cùng chu toàn. Nếu cô ấy có may mắn hầu hạ Đại vương, chưa chắc không thể trở thành hiền nội trợ của Đại vương, giúp Đại vương làm lên một phen sự nghiệp." Triệu Ngai lắc đầu, cười khẩy: "Nhưng nếu sau này cô ấy dùng tâm tư đối phó em gái lên người ta, thì đó tuyệt đối không phải chuyện tốt đẹp gì." Hai người nhìn nhau cười lớn. Triệu Ngai lại nói: "Nay đại ca đã được phụ hoàng lập làm Thái tử, quốc bản đã định, ta cũng vui vẻ an nhàn, làm một người phú quý nhàn tản, xin Thái hậu cho ta nhận ý chỉ của bà đi xa, đến tìm đạo trưởng. Cũng phải cảm ơn đạo trưởng vân du tứ phương, khó tìm tung tích, ta mới có thể phụng chỉ truy tìm, ngao du sơn thủy. Ta ra khỏi kinh không dễ, chuyến về này, mong đạo trưởng chậm bước, cùng ta về muộn chút." Thượng Quan Thầm cười đáp: "Chỉ cần Thái hậu không giục, hành trình nhanh hay chậm, tự nhiên toàn quyền do Đại vương quyết định." Hôm sau Triệu Ngai và Thượng Quan Thầm cáo từ Lăng Đào, đi về phía Lưỡng Chiết. Chu Ngũ nương t.ử nhớ lại chuyện tiệc trà, biết mình bị Phượng Tiên chơi một vố, Nhạn Xảo vốn là tai mắt bà ta cài bên cạnh Phượng Tiên, không ngờ ngược lại bị nàng lợi dụng để truyền tin, hại con gái mình. Càng nghĩ càng giận, Chu Ngũ nương t.ử cũng không định diễn kịch nữa, nhờ Lăng Đào công bố với Phượng Tiên quyết định để nàng thay thế Tam cô nương gả cho Ân Kỳ. Phượng Tiên nói thẳng với Lăng Đào, mình chuẩn bị về Phố Giang tham gia tuyển chọn nội nhân Thượng Thực Cục, nếu trượt, sẽ lại về Kinh Nam, hôn sự tùy cha xử lý. Lăng Đào nói: "Nội nhân Thượng Thực Cục tuy nói nhậm chức trong cung, nhưng chung quy là tỳ nữ hầu hạ người, sao bằng phu nhân trưởng tôn Diên Bình Quận vương phú quý!" "Làm tỳ nữ thì có sao?" Phượng Tiên vặn lại, "Hoàng Thái hậu và Lệ Quý phi đương triều, lúc đầu vào cung đều là tỳ nữ hầu hạ người." Lăng Đào nhất thời nghẹn lời. Phượng Tiên lại nói: "Phụ thân ngài muốn liên hôn với nhà Diên Bình Quận vương, chẳng qua là muốn mượn thế lực làm rạng rỡ gia môn, cũng cài cắm một người có thể nói đỡ cho ngài trong kinh. Nếu con vào cung, tương lai được quý nhân đề bạt, ngài muốn đạt được hai nguyện vọng này, hoàn toàn không thành vấn đề. Diên Bình Quận vương là hoàng thân quốc thích, nhưng chung quy cách một tầng. Con nếu trở thành nội nhân Thượng Thực Cục, hàng ngày tiếp xúc chính là thiên hoàng quý tộc thực sự, đến lúc đó muốn giúp ngài tiến ngôn, có gì khó đâu?" Lăng Đào suy tính, dường như bị thuyết phục. Phượng Tiên bồi thêm: "Con gái ngài không chỉ có mình con, nhà Diên Bình Quận vương, ai gả sang cũng được. Mà chuyện tiệc trà đủ thấy, người con gái có thể làm việc cho ngài, e là chỉ có mình con. Đã có cơ hội vào cung, sao phụ thân ngài không buông tay để con thử một lần? Việc nếu không thành, con lập tức trở về, sau này thế nào, toàn quyền do ngài định đoạt." Lăng Đào chăm chú đ.á.n.h giá đứa con gái xa lạ này, lần đầu tiên cảm nhận được vẻ đẹp chói mắt của nàng, khác với vẻ kiều mị của các thiếp thất, vẻ đẹp của nàng không chút yếu đuối rụt rè, lờ mờ toát ra một luồng ngạo cốt. Trong sảnh đường nàng đình đình ngọc lập, dáng người thẳng tắp, ánh mắt lạnh lùng, nhớ tới từ "mắt rồng cổ phượng" Thượng Quan Thầm nói, Lăng Đào bỗng nhiên nhận thức sâu sắc sự thích hợp của từ này. Có lẽ, có một chút khả năng, nàng có may mắn trúng tuyển, tương lai như lời đạo trưởng, tiền đồ vô lượng. Cuối cùng, ông buông lỏng: "Được, ta cho người đưa con đi Phố Giang tham tuyển." Phượng Tiên nhận được sự đồng ý của cha liền đi tìm Chu Ngũ nương tử, nói cho bà ta quyết định của mình, rồi bảo: "Ta đi rồi, nương ta phó thác cho bà chăm sóc, xin hãy tận tâm, không được xảy ra chút sơ suất nào." Chu Ngũ nương t.ử nghĩ mình nghe nhầm, đứa con gái bị vứt bỏ to gan ngày xưa này, lại dám dùng giọng điệu sai khiến nói chuyện với mình. Phượng Tiên nhìn thẳng vào đôi mắt trợn tròn của bà ta, tiếp tục: "Những việc bà làm ngày trước, ta đều biết, cũng tạm thời không so đo với bà. Lần này đi Phố Giang, nếu trượt, ta tự sẽ về thay Tam cô nương gả cho Ân Kỳ; nếu trúng, cách mười ngày nửa tháng ta sẽ gửi thư về, hỏi bà tình hình của nương. Sau này cha nếu phát đạt, vào kinh nhậm chức, chúng ta cũng không thiếu cơ hội gặp mặt, đến lúc đó sẽ đàng hoàng hàn huyên, giáp mặt tạ ơn Ngũ nương t.ử thay ta chăm sóc nương." Chu Ngũ nương t.ử không khỏi cười lạnh: "Cảm ơn cô nương tin tưởng, lại giao trọng trách nhường này cho ta." "Bà đương nhiên là người thích hợp nhất." Phượng Tiên bước đến trước mặt bà ta, nở nụ cười lạnh nhạt, "Bà quản lý nội vụ trong nhà nhiều năm, lo liệu tốt việc ăn ở của phu nhân không phải việc khó. Còn bắt buộc phải chăm sóc tốt cho phu nhân, vì bà ấy là chính thất, nếu có mệnh hệ gì, đi trước cha ta, cha ta nhất định sẽ chọn thục nữ danh môn khác cưới làm kế thất. Bà nói xem, bà nguyện ý chăm sóc phu nhân yếu ớt hiện tại, hay là chuẩn bị xốc lại tinh thần, đi hầu hạ một tân phu nhân trẻ trung xinh đẹp?" Nụ cười của Chu Ngũ nương t.ử tắt ngấm. Phượng Tiên lại nói: "Nếu bà có tâm tư đợi phu nhân đi rồi xin cha ta đưa bà lên làm chính thất, thì nên sớm tỉnh mộng đi. Thần t.ử trong triều, nếu lấy thiếp làm vợ, ắt bị quan ngự sử đàn hặc. Bà nói xem, cha ta có chịu từ bỏ con đường làm quan, đưa bà lên chính thất không?" Chu Ngũ nương t.ử biết lời nàng nói có lý, im lặng không đáp. Phượng Tiên cười nhẹ, ghé vào tai Chu Ngũ nương t.ử nói: "Cho dù cha ta dám mạo hiểm làm chuyện cả thiên hạ chê cười, quyết tâm lấy thiếp làm vợ, bà nói xem, người ông ấy muốn đưa lên, có phải là bà không?" Mặt Chu Ngũ nương t.ử trắng bệch như giấy, hàm răng c.ắ.n chặt khẽ run lên. Gần đây Tiết Cửu nương t.ử đã khỏi bệnh, Lăng Đào lại bắt đầu đến phòng cô ta, Cửu nương t.ử có xu hướng được sủng ái trở lại. Cho dù Lăng Đào không còn sủng ái cô ta, đa phần cũng sẽ nạp thêm cơ thiếp trẻ đẹp khác, mà mình nhan sắc đã tàn phai, chuyện tốt lên chính thất này, e là dù thế nào cũng không đến lượt mình. "Cho nên, xin bà tận tâm chăm sóc phu nhân, bà ấy sống tốt, đối với bà đối với ta, đều tốt." Phượng Tiên nói. Lạnh lùng nhìn giọt mồ hôi lăn xuống bên thái dương Chu Ngũ nương tử, lại cố ý nhấn mạnh, "Nếu phu nhân bình an khỏe mạnh, tương lai ta tự nhiên sẽ không bạc đãi bà; nếu phu nhân có mệnh hệ nào, bất kể bị ai hại, ta đều sẽ tính món nợ này lên đầu bà." Chương 31 - Tần Tư Thiện Chu Chu nương t.ử đối với nương con Viên phu nhân lại khôi phục thái độ ân cần, niềm nở như xưa, ngày ngày qua lại hỏi han ân cần, tựa hồ giữa bà ta và Phượng Tiên chưa từng xảy ra bất kỳ chuyện gì không vui. Trước khi Phượng Tiên lên đường, bà ta thậm chí còn dùng lời ngon ngọt thuyết phục Lăng Đào, để Viên phu nhân dọn về ở lại trong đại trạch. Hứa cô cô chép miệng lấy làm lạ, nhắc chuyện này với Phượng Tiên, lại lo lắng Chu Chu nương t.ử tâm địa bất chính, việc này e là có mưu đồ riêng. Phượng Tiên nghe vậy bèn nói: "Chu nương t.ử quả thực chẳng phải hạng người lương thiện. Trước đây bà ta mang gà lôi đến biếu, cố ý nhắc đến cái tên 'Hiếu Trĩ' trước mặt con và nương, phần lớn là muốn nhắc nhở nương bảo con dâng canh gà cho phụ thân để tỏ lòng hiếu thảo. Bà ta lại tính chuẩn việc phụ thân đang sủng ái Cửu nương tử, mà Cửu nương t.ử lại đang trong tháng ở cữ, phụ thân rất dễ nghĩ đến việc mang canh gà 'Hiếu Trĩ' ấy ban cho nàng ta tẩm bổ. Cửu nương t.ử là kình địch lớn nhất của bà ta, thói quen ăn uống ngày thường hẳn bà ta đã nắm rõ trong lòng bàn tay, lợi dụng sự tương khắc giữa hồ đào, nấm và thịt gà lôi để khiến thân thể Cửu nương t.ử bị tổn hại, lại mượn gió bẻ măng, khiến Cửu nương t.ử mất đi tỳ nữ thân tín..." Hứa cô cô chợt bừng tỉnh đại ngộ, lại hỏi: "Nhưng nhỡ đâu trong đó có một khâu xảy ra sai sót, canh Hiếu Trĩ không đến được tay Cửu nương t.ử thì sao?" Phượng Tiên khẽ gật đầu: "Có khả năng đó, nhưng cho dù Cửu nương t.ử không uống được canh Hiếu Trĩ, bà ta cũng sẽ mượn danh nghĩa con gà này để con và nương phải nhận cái tình của bà ta, rốt cuộc vẫn có lợi cho bà ta. Con gà này dù biếu đi đường nào bà ta cũng chẳng chịu thiệt." Hứa cô cô than rằng: "Chu nương t.ử dụng tâm hiểm ác như vậy, cô nương sao lại nhẫn tâm rời xa mẫu thân, đem phu nhân giao phó cho bà ta?" Phượng Tiên đáp: "Cái nhà này, dù con đi hay ở cũng chẳng thể ở lâu dài. Con không đi Phố Giang, phụ thân cũng sẽ sớm gả bán con đi, lúc ấy với mẫu thân cũng là kẻ chân trời người góc bể. Chi bằng con đ.á.n.h cược một ván với phụ thân và Chu nương tử. Nếu con trúng tuyển vào cung, phụ thân sẽ có kỳ vọng nơi con, Chu nương t.ử sẽ có phần kiêng dè con, cả hai đều không dám ngược đãi mẫu thân. Nếu rớt tuyển, con đồng ý thay Tam cô nương gả cho Ân Kỳ, cũng coi như giải quyết cho họ một mối lo lớn, nghĩ lại họ cũng sẽ chẳng dám bạc đãi nương con. Nếu khiến con không vui, con tự khắc có cách khiến mối thông gia mà họ khó khăn lắm mới trèo cao được này trở nên cơm không lành canh không ngọt, khéo khi mối hôn sự này thành công cốc, biết đâu người ta còn truy cứu chuyện Tam cô nương đào hôn... Sau khi con đi, kẻ có khả năng ức h.i.ế.p mẫu thân chưa chắc là Chu nương tử, mà là loại thiếp thất trẻ tuổi đang đắc ý xuân phong lại ngu ngốc kiêu ngạo như Cửu nương tử. Thế nên con mới phân tích lợi hại cho Chu nương tử, để bà ta đứng ra bảo vệ nương. Chu nương t.ử cũng sẽ sẵn lòng mượn danh phận chính thất của nương để kìm kẹp các thiếp thất khác, việc đón nương về đại trạch cũng mang ý nghĩa 'kiểm soát thiên t.ử để ra lệnh cho chư hầu'. Sau đó, bà ta chắc chắn sẽ mời danh y chạy chữa cho nương, hiện tại trong nhà này kẻ sợ phu nhân xảy ra chuyện nhất chính là bà ta. Bà ta tuy tâm địa bất lương, nhưng được cái không ngốc, biết cân nhắc thiệt hơn, cũng có thừa thủ đoạn để đối phó với đám thiếp thất kia. Trước mắt mà nói, gửi gắm nương cho bà ta là thỏa đáng nhất. Sau khi con rời đi, còn mong Hứa cô cô tiếp tục tận tâm chăm sóc nương, nếu trong nhà có gì bất ổn, mong cô cô tìm mọi cách báo tin cho con, kẻ nào dám bắt nạt nương con, con tự khắc sẽ tìm đến tận nơi, tính toán sòng phẳng từng món nợ một." Hứa cô cô thầm thán phục tâm trí của Phượng Tiên, nhưng nghĩ đến tiền đồ mai sau của nàng, không khỏi lo lắng, gạt nước mắt nói: "Sách lược của cô nương dĩ nhiên là tốt, nhưng các cô gái báo danh tham tuyển ở Phố Giang hẳn là rất đông, nhỡ đâu không được như ý nguyện, chẳng phải cô nương sẽ phải chịu thiệt thòi, gả cho kẻ mắc bệnh cuồng hãn kia sao?" Phượng Tiên ngước mắt nhìn về phía chân trời, nơi đó có một cánh chim nhạn lẻ loi đang gắng sức bay về phía biển mây được ánh mặt trời dát lên một lớp viền vàng rực rỡ. Nhìn lâu, ánh sáng chói lòa khiến mắt nàng hơi đau nhức, nhưng nàng vẫn mở to đôi mắt, kìm nén ý muốn chớp mắt, giữ nguyên tư thế tĩnh lặng đứng đó, nói với Hứa cô cô, mà cũng như đang tự nhủ với lòng mình: "Đừng lo, con nhất định sẽ trúng tuyển." Cuộc tuyển chọn nữ nhân cho Thượng Thực Cục tại Phố Giang chia làm ba ngày: ngày đầu nghiệm thân, ngày thứ hai thi kỹ thuật dùng dao, ngày thứ ba phải dùng các kỹ pháp khác nhau để chế biến ba món ăn. Vì mang theo hy vọng được tiến cung, các thiếu nữ Phố Giang đua nhau ghi danh như nước vỡ bờ. Những cô gái tuổi từ mười hai đến hai mươi, biết nấu hai món ăn trở lên đều đến báo danh rất đông. Ngày đầu tiên, bên ngoài nha môn huyện Phố Giang, số nữ t.ử chờ đợi được vào tham tuyển lên đến hàng trăm người, thế nhưng sau một ngày nghiệm thân, số người giành được tư cách dự tuyển ngày hôm sau chỉ còn lại hơn ba mươi người. Trong cửa nha môn có vài vị hoạn quan từ trong cung đến ngồi đó, trước tiên quan sát dung mạo các cô gái. Những ai dung mạo quá xấu xí, hoặc quá béo, quá gầy, quá cao, quá thấp đều bị đ.á.n.h rớt, không cho vào trong. Những người qua được vòng sơ thẩm mới được dẫn vào nội thất, giao cho nữ quan bên trong kiểm tra thân thể kỹ càng. Nữ quan chia làm hai người một nhóm, cùng ở trong một phòng, mỗi lần chỉ cho một cô gái vào, yêu cầu trút bỏ xiêm y đến khi tr*n tr hoàn toàn, xem xét kỹ làn da cơ thể, yêu cầu không được có bệnh trĩ hay lở loét, không có nốt ruồi đen, vết chàm hay sẹo. Lại sai cô gái đi lại, hà hơi, ai có mùi hôi ở miệng, mũi, nách hay chân đều không được chọn, lập tức bị mời ra ngoài. Sau đó, quả nhiên như Phượng Tiên dự liệu, họ sẽ yêu cầu người tham tuyển nằm lên giường, để hai vị nữ quan lần lượt kiểm tra n t* m*t, phán đoán xem có còn là xử nữ hay không. Chân Chân đã vượt qua các bài kiểm tra này. Một nữ quan liền cầm thước dây đo đạc thân hình cho nàng: chiều cao, độ dài bàn chân, chiều rộng vai, chiều rộng hông, cùng với độ dài từ vai đến ngón tay, độ dài ngón tay so với lòng bàn tay, độ dài từ đùi đến chân đều được đo đếm tỉ mỉ, do một nữ quan khác cầm bút ghi chép. Chân Chân lén nhìn trộm, thấy nữ quan cầm bút phê cho nàng mấy chữ: "Da dẻ mịn màng sạch sẽ, dài ngắn hợp độ." Phượng Tiên cũng thuận lợi lọt vào danh sách. Hai người nhận được thông báo, bước ra khỏi cửa, thấy bên ngoài những cô gái bị loại người thì khóc lóc, người thì hậm hực kể lể chuyện bị loại chỉ vì một vết sẹo nhỏ, phần lớn là lủi thủi rời đi trong ánh mắt tò mò soi mói của đám đông vây xem. Trong số đó không thiếu những cao thủ bếp núc mà ngày thường họ quen biết, Chân Chân và Phượng Tiên không hẹn mà cùng đưa tay lên trán, thầm cảm thấy may mắn. Ngày hôm sau là phần thi kì thuật dùng dao, diễn ra tại hậu viện nha môn. Mỗi cô gái dự thi được chuẩn bị sẵn bàn án, thớt, dao, một ít mỡ để làm trơn d.a.o và các dụng cụ tẩy rửa liên quan. Đề bài đưa ra ba loại nguyên liệu: hành, củ cải và cá, yêu cầu họ vận dụng d.a.o để cắt thái, còn cắt thành hình dạng gì thì tùy ý quyết định. Chủ khảo ngày hôm nay là Tần Tư Thiện của Thượng Thực Cục. Bà trạc chừng hơn bốn mươi tuổi, nước da trắng trẻo, dáng người thon thả, dung mạo có thể gọi là tú lệ, nhưng ánh mắt lại lạnh lùng nghiêm nghị, ít nói cười, mang dáng vẻ người lạ chớ lại gần. Huyện lệnh Thân Bối Nhiên hiện giờ đối với Tần Tư Thiện vô cùng cung kính, có việc thỉnh thị đều vái chào gọi là "Nội phu nhân", nhưng Tần Tư Thiện luôn giữ khoảng cách vài trượng với ông ta, mỗi lần chỉ đáp lại vài từ ngắn gọn, thái độ lạnh nhạt, chỉ cầu đạt ý, chứ không cho phép người khác bắt chuyện. Cuộc thi bắt đầu, các cô gái đều tranh nhau cầm d.a.o xử lý nguyên liệu, kẻ băm, người thái, kẻ chặt, người khía, hận không thể biến những nguyên liệu tầm thường kia thành từng đóa hoa rực rỡ. Tần Tư Thiện rời khỏi ghế chủ tọa, dạo bước giữa các cô gái, đôi mắt sắc sảo nhìn chằm chằm vào thớt và đôi tay cầm d.a.o của họ. Thấy chỗ nào đáng quan sát, bà liền dừng chân đứng xem, ánh nhìn sắc như d.a.o bắt đầu lướt qua lại giữa mặt thớt và cô gái mà bà đang quan sát. Bà rất nhanh chóng chọn ra vài cô gái bị loại ngay đợt đầu, sai người đưa họ ra ngoài, không cần thi tiếp các phần sau. Nguyên do là sau khi thái hành xong, họ không hề đổi d.a.o cũng chẳng rửa sạch d.a.o và thớt mà đã bắt đầu thái sang loại nguyên liệu tiếp theo. Là người từng được học thái hành bên cạnh thầy Lâm - người vốn ưa sạch sẽ đến mức không vương một hạt bụi, sai lầm sơ đẳng như vậy Chân Chân đương nhiên sẽ không phạm phải. Đổi dao, rửa dao, đổi d.a.o rồi lại rửa dao, cũng như cọ rửa thớt, Chân Chân xử lý từng bước đâu ra đấy, không hề qua loa. Khi cắt thịt cá,Chân Chân làm theo lời Lâm Hoằng dạy, trước tiên dùng mỡ bụng cá lau lưỡi dao, hành động này đã khiến Tần Tư Thiện phải dừng chân và dành cho nàng ánh mắt tán thưởng. Ở phần cắt cá lát này, Tần Tư Thiện lại loại thêm vài cô gái, bởi vì họ dùng dầu mè, dầu cải hoặc mỡ động vật như heo, dê để lau dao, khiến miếng cá bị ám mùi lạ. Đợi những cô gái còn lại xử lý xong nguyên liệu hôm nay, Tần Tư Thiện lần lượt kiểm tra thành phẩm của họ, thế nhưng thứ bà nhìn đầu tiên không phải là nguyên liệu trên thớt, mà là vị trí họ đặt dao, cũng như độ sạch sẽ trên và dưới bàn án. Nguyên liệu đã xử lý xong đều được đựng trong khay, nhưng trên bàn không có giá để d.a.o chuyên dụng. Tần Tư Thiện lúc này xem xét cách các cô đặt d.a.o lên thớt: kiểm tra xem thân d.a.o có đặt phẳng giữa thớt hay không, mũi d.a.o không được chòi ra trước, cán d.a.o không được lộ ra sau, sống d.a.o và lưỡi d.a.o có vượt ra khỏi phạm vi mặt thớt hay không. Nếu có chút sai lệch, hay tệ hơn là cắm thẳng lưỡi d.a.o xuống thớt, đều bị đ.á.n.h rớt. Ngoài ra, bà còn soi kỹ xem d.a.o và thớt có được rửa sạch không, đồ thừa cắt ra có bỏ vào vật chứa chuẩn bị sẵn dưới gầm bàn hay không, trên bàn dưới bàn có vương vãi chút rác rưởi hay vệt nước nào không. Có một cô gái kĩ năng dùng d.a.o cực tốt, điêu khắc củ cải thành một đóa mẫu đơn, thịt cá cũng được thái thành hình hoa cúc, vô cùng đẹp mắt. Thế nhưng Tần Tư Thiện chỉ liếc nhìn đống vỏ củ cải cô ta tiện tay vứt bừa dưới gầm bàn, liền tuyên bố cô ta rớt tuyển. Thân huyện lệnh nhìn đóa hoa hoàn mỹ cô ta khắc ra, vô cùng tiếc nuối, khẽ hỏi Tần Tư Thiện có thể châm chước cho cô ta vào vòng sau không, Tần Tư Thiện một mực từ chối: "Kỹ pháp dùng d.a.o có thể luyện, nhưng sự th* t*c trong cốt cách thì khó sửa. Kĩ năng dùng d.a.o của cô ta đã tốt đến mức này rồi mà tham gia cuộc thi quan trọng như thế này vẫn tùy tiện vứt rác, đủ thấy cô ta cẩu thả đến mức nào. Hạng người này không xứng vào cung." Phượng Tiên chú ý giữ gìn vệ sinh, tác phẩm hoàn thành cũng rất khá: hành đều được chẻ từ giữa thành nhiều sợi, kéo thành từng sợi hành hoa xoăn tít; củ cải tỉa thành hình hoa tường vi; cá phi lê được khía d.a.o thẳng tạo thành hình quả vải, vân d.a.o ngang dọc, nông sâu như một, nhờ đó thuận lợi qua ải. Chân Chân chẳng cắt tỉa ra hoa lá cành gì, hành thái thành hạt lựu, củ cải thái sợi, cá cắt thành lát mỏng, đều là cách làm quy củ chừng mực. Tuy nhiên nàng thái đều tăm tắp, độ dày mỏng đúng như đều nhau, xử lý xong nguyên liệu lại dọn dẹp d.a.o thớt, thậm chí cả trên dưới bàn án sạch bong không một vết bẩn. Trước đó Tần Tư Thiện lại có ấn tượng khá tốt về việc nàng dùng mỡ bụng cá, nên hiếm hoi lắm mới buông lời khen ngợi trước mặt mọi người: "Thượng Thực nội nhân, người chúng ta hầu hạ là con trời cháu rồng, những việc liên quan đến thiện thực phải cẩn trọng từng li từng tí. Nguyên liệu hay dụng cụ không sạch sẽ dẫn đến bệnh từ khẩu nhập, ảnh hưởng đến long thể quý nhân, vì vậy Thượng Thực nội nhân trước hết phải có thói quen sạch sẽ. Cô nương này, trước và sau khi tiếp xúc với các loại nguyên liệu khác nhau đều rửa tay, đồng thời rửa sạch d.a.o thớt. Xử lý xong nguyên liệu lại chú ý thu dọn đồ thừa, dọn dẹp xung quanh sạch sẽ gọn gàng, rất ra dáng Thượng Thực nội nhân của chúng ta. Hơn nữa cô ấy dùng mỡ bụng cá lau dao, vừa làm trơn d.a.o để thịt cá không dính, lại tránh được mùi dầu mỡ khác ám vào cá, chứng tỏ là người đặc biệt tỉ mỉ, lại có cảm giác nhạy bén với mùi vị. Ở những chỗ nhỏ nhặt cô ấy đều dụng tâm đến thế, thì việc luyện ra kĩ thuật dùng d.a.o hoa mỹ cũng chẳng phải việc khó. Cuộc tuyển chọn hôm nay, người chúng ta muốn tìm chính là người như vậy." Chân Chân như đang trong mộng, vừa mừng vừa sợ nhận ra lời này của Tần Tư Thiện có ý là nàng được lọt vào vòng sau, khó khăn lắm mới kìm được khóe môi đang muốn cong lên thành một nụ cười tao nhã đúng mực, đoan trang hành lễ dưới ánh mắt ngưỡng mộ của các cô gái khác, nói lời cảm tạ Tần Tư Thiện. Khi cùng Phượng Tiên dắt tay nhau về nhà, Phượng Tiên mỉm cười hỏi nàng được Tần Tư Thiện khen ngợi có cảm tưởng gì, Chân Chân hướng về phía núi Vũ Di đưa tay lên trán, chân thành nói: "Cảm tạ thầy Lâm, người đã dùng ánh mắt lạnh lẽo ép muội một ngày phải rửa tay đến mấy chục lần." Chương 32 - Đường Quả Nhi Ngày cuối cùng sẽ thi nấu món ăn, địa điểm định tại Di Bối Lâu. Mười cô gái được chọn ra từ ngày thứ hai có thể tự mang theo dụng cụ bếp núc thường dùng đến đó, bốc thăm xếp thứ tự. Theo thứ tự, họ sẽ chọn nguyên liệu mình cần trong số thực phẩm được chuẩn bị sẵn tại Di Bối Lâu để làm hai món, sau đó dùng một loại nguyên liệu do Tần Tư Thiện chỉ định để chế biến thêm một món theo cách riêng của mình. Phần thi kĩ thuật dùng d.a.o chỉ mất nửa ngày, Chân Chân và Phượng Tiên về đến chỗ ở thì trời vẫn còn sớm. Phượng Tiên sau bữa trưa liền đóng cửa không ra, vùi đầu nghiên cứu sách d.ư.ợ.c thiện, còn Chân Chân thì ra khỏi tiểu viện, vừa tản bộ quanh vùng vừa suy đoán những loại nguyên liệu có thể gặp vào ngày mai, cũng như suy nghĩ xem nên nấu theo cách nào mới có thể nổi bật hơn người. Đi đến khuôn viên Thích Trân Lâu, chợt nghe sau lưng có đứa trẻ gọi "Chân Chân tỷ", Chân Chân quay đầu nhìn, nhận ra là cậu bé hàng xóm bảy tuổi tên Đường Quả Nhi. Đường Quả Nhi cười tít mắt chạy đến bên nàng, nói: "Nương em bảo ngày mai Chân Chân tỷ phải thi tài nấu nướng với rất nhiều các tỷ tỷ khác, tỷ đã nghĩ ra nấu món gì chưa?" "Cái này mà đệ cũng biết sao? Tin tức linh thông thật đấy." Chân Chân vỗ vỗ vai cậu bé, thuận miệng đáp, "Vẫn chưa quyết định nữa, hay đệ chọn giúp tỷ một món nhé?" Đường Quả Nhi giơ cao chiếc ná cao su khoe với Chân Chân: "Để em b.ắ.n giúp tỷ vài con chim nhé, chim nướng ngon tuyệt cú mèo luôn." Không đợi Chân Chân trả lời, cậu bé đã lao đến dưới gốc hòe bên cạnh, giương ná b.ắ.n "pằng pằng" những viên đạn đất về phía bầy chim trên cây. Có một chú chim trúng đạn, từ trên cây rơi xuống. Chân Chân vội chạy lại xem, thấy là một chú chim khách (hỷ tước), mỏ vàng lông đen đuôi dài, vai và bụng trắng muốt, trông rất đẹp. Chân bị trúng đạn, nhưng nó vẫn giãy giụa cố đứng dậy, đập đập đôi cánh, dường như vẫn muốn bay trở lại lên cây. Chân Chân ngẩng đầu nhìn lên, phát hiện trên cây hòe lớn có một tổ chim kết bằng cành khô, cách mặt đất chừng hơn hai trượng. Đường Quả Nhi hớn hở chạy tới, đưa tay định bắt chú chim khách, chim kêu lên một tiếng bi thương, tập tễnh né tránh, lại không ngừng vươn cổ nhìn lên tổ chim kia, tiếng kêu càng thêm thê thiết. Đường Quả Nhi vẫn muốn bắt nó, bị Chân Chân ngăn lại. Chân Chân hỏi: "Có phải đệ muốn tặng chú chim này cho tỷ không?" Đường Quả Nhi gật đầu, Chân Chân bèn nói: "Nguyên liệu thi ngày mai tỷ không cần tự chuẩn bị. Chú chim này đệ đã tặng tỷ rồi, vậy tỷ muốn đưa nó về tổ, có được không?" Đường Quả Nhi sảng khoái đồng ý. Chân Chân xé một mảnh khăn lụa, băng bó vết thương cho chim khách, rồi ủ nó trong n.g.ự.c áo, ước lượng độ cao của cành cây, chọn cành thấp nhất, tung người nhảy lên, hai tay bám chắc cành cây, leo về phía tổ chim. Để tiện đi lại, lúc này nàng đang mặc nam trang áo ngắn quần dài, từ nhỏ lại hay theo bạn bè leo trèo, nên cái cây này chẳng làm khó được nàng, chẳng mấy chốc đã leo đến bên tổ chim. Ghé đầu nhìn vào trong tổ, chỉ thấy bên trong có ba chú chim non, nghe thấy tiếng động Chân Chân gây ra, đều kêu chiêm chiếp, há to cái mỏ về phía bầu trời, dáng vẻ như đang đói lòng chờ nương mớm mồi. Hèn gì chú chim bị thương kia lại trông đau đáu về phía tổ như vậy. Chân Chân chợt thấy chua xót trong lòng, lập tức lấy chú chim trong n.g.ự.c ra, cẩn thận đặt trả về tổ. Chân Chân nằm rạp bên tổ chim, lặng lẽ ngắm nhìn cảnh gia đình chim đoàn tụ hồi lâu, nhớ tới nương mình, lại thấy thương cảm trào dâng. Nương nàng đến nay sống c.h.ế.t chưa rõ, cho dù mình có vào cung, cũng không biết có toại nguyện tìm được nương hay không. Nghĩ đến đây, vành mắt nóng lên, hai giọt lệ trào ra. Đang lau nước mắt, một viên đạn đất bỗng từ dưới gốc cây bay lên, đập vào mép giày của nàng. Tuy không chạm vào da thịt Chân Chân, nhưng cũng làm nàng giật mình thon thót. Chân Chân nhìn xuống, cách những tán lá trùng điệp cũng nhìn không rõ cảnh tượng bên dưới lắm, chỉ loáng thoáng thấy Đường Quả Nhi đang nhảy cẫng lên gọi: "Chân Chân tỷ mau xuống đây!" Chân Chân đoán chắc viên đạn này do Đường Quả Nhi bắn, trong lòng thầm mắng một câu "thằng nhóc nghịch t.ử này", liền dùng hai tay bám cây, định men theo thân cây tụt xuống. Nào ngờ mới nhúc nhích hai bước, lại có một viên đạn bay tới, b.ắ.n trúng phía trên tay trái nàng. Chân Chân hoảng hốt rụt tay trái về, cả người chỉ dựa vào tay phải chống đỡ, lơ lửng chao đảo trên cây. Chân Chân cũng chẳng màng nhìn xuống, vội vàng dùng cả tay chân tìm điểm tựa mới, nhưng những viên đạn kia vẫn bay tới liên hồi như chuỗi hạt châu, cái bên trái, cái bên phải, đều rơi sát sạt người nàng nhưng lại không làm nàng bị thương. Chân Chân lửa giận bốc lên ngùn ngụt, bụng bảo dạ đợi xuống đến đất nhất định sẽ tóm cổ Đường Quả Nhi đ.á.n.h đòn nát mông, bèn đẩy nhanh động tác leo xuống, ngặt nỗi lại thêm một viên đạn xé gió rít lên lao tới, Chân Chân trong lúc luống cuống đạp hụt chân, hai tay chưa bám chắc cành cây, người ngửa ra sau, từ trên cây rơi thẳng xuống. Chân Chân thầm kêu "thôi xong", đau khổ nhắm mắt lại, chuẩn bị đón nhận kết cục gãy tay gãy chân, may thay giữa chừng có người phi thân nhảy tới, dang rộng đôi tay, đón lấy thân hình đang rơi của nàng trước khi chạm đất. Chân Chân cảm nhận được một lồng n.g.ự.c ấm áp, xiêm y sạch sẽ thoang thoảng mùi hương cam quýt thanh khiết. Trong tiếng tim đập dần chậm lại, nàng mở mắt ra, nhìn thấy một dung nhan tuấn tú dường như đã từng quen biết, trong đôi mắt sáng ngời nhảy nhót những vụn vàng của nắng, khóe môi bên phải khẽ nhếch, nụ cười mỏng manh ấy lộ ra vài phần tuệ giác ranh mãnh có chút ý đồ xấu xa. Nàng lục lọi thật nhanh trong ký ức hỗn độn, cuối cùng tìm ra một cái tên: "Tống Khải?" Hắn mỉm cười chớp chớp mắt: "Đã lâu không gặp." Đường Quả Nhi chạy tới, nhận lấy chiếc ná từ tay phải hắn. Hắn duỗi ngón tay, mặc kệ Đường Quả Nhi lấy ná đi, nhưng đôi tay đang ôm Chân Chân thì chẳng có ý định buông lỏng. Chân Chân hừ lạnh một tiếng: "Là ngươi dùng đạn b.ắ.n ta?" Hắn cười tủm tỉm đáp: "Ta đến được một lúc rồi, ai bảo nàng chỉ ngắm chim mà không chịu ngắm ta." Chân Chân sa sầm mặt: "Buông ta ra." Hắn chẳng muốn tuân lệnh: "Xa cách đã lâu, khoảng cách thế này rất thích hợp để ôn chuyện cũ." Chân Chân bất ngờ phát lực, thúc cùi chỏ vào n.g.ự.c hắn, hắn đau điếng buông tay, Chân Chân nhân cơ hội thoát ra, rảo bước đi ra xa, giữ khoảng cách vài bước với hắn. Hắn không vội cũng chẳng giận, nhìn Chân Chân, vẻ mặt trông khá vui vẻ: "Nghe nói nàng muốn tham tuyển Thượng Thực nội nhân?" Chân Chân "hừ" một tiếng, lười chẳng buồn nói kỹ với hắn. Hắn cũng chẳng có vẻ gì là đợi nàng xác nhận, gật đầu nói: "Khá lắm, nàng có thể tham tuyển, xem ra một năm nay nàng không hề cùng người khác ngồi chung một ngựa." Chân Chân nhớ tới chuyện nghiệm thân, mặt không khỏi đỏ bừng, lại lùi về sau hai bước, mắng: "Tránh xa ta ra một chút, nếu cử chỉ vô lễ làm hỏng thanh danh của ta, ta sẽ không tha cho ngươi đâu." "Cái này không sao," hắn cười nói, "Thanh danh của cô nương tuy chẳng còn bao nhiêu, nhưng nếu bị ta làm hỏng, ta tự khắc sẽ chịu trách nhiệm." Chân Chân hỏi: "Chịu trách nhiệm thế nào?" Hắn làm bộ suy tư một lát, rồi nghiêng đầu thỉnh ý: "Cưới nàng nhé?" "Thành giao." Ngoài dự liệu của hắn, Chân Chân đáp lại sảng khoái nhanh như chớp giật, "Ngày mai ta đợi ngươi ở nhà Bồ bá của ta, ngươi mang theo bà mối đến, nạp thái vấn danh, kể rõ tên húy tổ tiên ba đời, thiếu một người cũng không được, cưới hỏi đàng hoàng. Kẻ nào không đến kẻ đó là cháu của Đường Quả Nhi." Yêu cầu này rõ ràng đã làm khó thiếu niên trước mặt. Nụ cười trên môi hắn cứng lại, nhất thời không biết đáp lại thế nào. Chân Chân cười khẩy lắc đầu, khinh bỉ nói: "Nương ta nói đúng, loại công t.ử bột như các ngươi chỉ thích mang những cô gái nhỏ như ta ra làm trò tiêu khiển, nào có nửa phần chân tình, lai lịch bản thân còn chẳng chịu nói, đừng mong gì đến chuyện đối đãi chân thành. Lời ngươi nói cũng giống như lời nhận lời vừa rồi của ta, chỉ là một trò cười, ta sẽ không coi là thật, cũng xin ngươi tự trọng, sau này nếu có tái ngộ, mong ngươi có thể lấy lễ mà đối đãi với ta." Nghe lời này, hắn bỗng thay đổi vẻ mặt cợt nhả trước đó, nhìn nàng chăm chú, nghiêm trang nói: "Được. Nếu nàng muốn biết, tất cả về ta, đều có thể nói thật cho nàng hay." Hắn chỉnh lại y quan, vái chào nàng một cái thật trịnh trọng, rồi nói: "Tại hạ họ Triệu tên Khải, người Lâm An, nguyên quán Biện Kinh, quận vọng Thiên Thủy. Trong nhà có ba huynh đệ, ta xếp thứ hai. Vì phải kiêng húy, không tiện nói thẳng tên phụ thân..." "Vậy phụ thân ngươi, làm nghề gì?" Chân Chân hỏi. Triệu Ngai ngẫm nghĩ, đáp: "Làm Quan gia." Chân Chân hơi mở to mắt, đ.á.n.h giá hắn từ đầu đến chân: "Vậy ra, ngươi là Hoàng tử?" Triệu Ngai gật đầu: "Phong hiệu của ta là Dĩnh Vương, người ta gọi là Nhị Đại Vương." Chân Chân mặt không đổi sắc gật gật đầu: "Nhị Đại Vương, ngài biết vì sao người khác gọi ta là Thất Công T.ử không?" "Vì sao?" Triệu Ngai nương theo ý nàng hỏi. Chân Chân nhìn thẳng vào hắn, giễu cợt: "Vì ta là Thất Tiên Nữ hạ phàm đấy." Triệu Ngai đưa tay lên trán, hiểu rằng nàng hoàn toàn không tin, không biết giải thích thế nào, cũng đành cười ngỡ ngàng. Lúc này cách đó không xa bỗng có một cô gái gọi "Chân Chân". Hai người nhìn về phía tiếng gọi, thấy người lên tiếng là Phượng Tiên đã đến từ lúc nào. Phượng Tiên chậm rãi bước đến trước mặt hai người, trước tiên khẽ nói với Chân Chân: "Những gì ngài ấy nói đều là thật." Sau đó nàng nhún người hành lễ với Triệu Ngai, miệng gọi: "Nhị Đại Vương vạn phúc." Chương 33 - Hải Đường Triệu Ngai thấy Phượng Tiên, cũng chắp tay đáp lễ, phong thái đoan trang, thần tình ôn hòa, hệt như ngày thường ứng đối với các thục nữ quyền quý, dung nghi không chê vào đâu được. Chân Chân đứng bên cạnh nhìn thấy, nhớ lại kẻ tên "Tống Khải" vừa nãy còn liên tiếp b.ắ.n đạn trêu chọc mình với nụ cười ranh mãnh, bỗng cảm thấy vị công t.ử bột trước mặt này dường như tính tình cũng thay đổi theo cái tên, hoàn toàn biến thành một người khác. "Lăng cô nương vì sao lại đến Phố Giang?" Triệu Ngai hỏi Phượng Tiên, lại nhìn sang Chân Chân, mỉm cười nói, "Hình như là chỗ quen biết cũ với Ngô cô nương?" Chân Chân câm nín nhìn trời: Nhờ phúc của Phượng Tiên, cuối cùng trong miệng tên háo sắc này, mình cũng được đối đãi khách sáo lễ độ thành "Ngô cô nương". "Chuyện này... nói ra rất dài." Đối mặt với câu hỏi của Triệu Ngai, Phượng Tiên dường như có chút trù trừ, hơi cúi đầu, khẽ nói, "Nương của Chân Chân là sư nương của tôi, tôi lớn lên ở Phố Giang." Triệu Ngai nhớ lại những gì Lăng Đào từng nói trước đây, Phượng Tiên "được nuôi dưỡng ở nhà nơi thôn dã", trong lòng đã hiểu ra vài phần, bèn nói: "Thảo nào trong danh sách nữ t.ử tham tuyển ngày mai ở huyện Phố Giang, ta thấy có vị Lăng cô nương. Họ Lăng khá hiếm gặp, ta còn nghĩ thật trùng hợp, trong một tháng mà gặp được những hai cô nương họ Lăng." Phượng Tiên cười nhẹ, hỏi ngược lại Triệu Ngai: "Nhị Đại Vương cũng đến để tuyển chọn Thượng Thực nội nhân sao?" Triệu Ngai cười lắc đầu: "Không, ta chỉ đến xem náo nhiệt thôi." Hắn cùng Thượng Quan Thầm đi Lâm An, dọc đường du sơn ngoạn thủy vô cùng thong dong, khi vào đến Lưỡng Chiết, thấy các châu huyện đều đang trù bị tuyển chọn Thượng Thực nội nhân, bỗng dưng nhớ tới Ngô Chân Chân gặp ở Phố Giang năm ngoái. Nhà họ Ngô mở tửu lâu, không biết Ngô Chân Chân có tham tuyển hay không. Hắn động tâm niệm, bèn tìm một cái cớ để Thượng Quan Thầm và mình đổi đường đến Phố Giang trước. Đến Phố Giang, vào nha môn tìm danh sách nữ t.ử lọt vào vòng trong xem thử, quả nhiên thấy tên Ngô Chân Chân nằm trong đó, bèn hứng chí bừng bừng đến Thích Trân Lâu tìm thăm, nào ngờ lại biết tin tửu lâu đã đổi chủ, dò hỏi mới biết những biến cố xảy ra trong mấy tháng nay, bèn lại tìm đến chỗ ở của Bồ bá để tìm Chân Chân. Tương Diệp nghe tiếng ra mở cửa, nhìn vị công t.ử ăn mặc bảnh bao, dung mạo tuấn tú này một lượt, nghe nói hắn muốn bái phỏng Chân Chân, lập tức nhiệt tình mời hắn vào trong ngồi đợi, không quên liên mồm hỏi hắn quê quán ở đâu, bao nhiêu tuổi, đã cưới vợ chưa, từng thi đỗ công danh gì chưa... Triệu Ngai còn chưa kịp trả lời, Bồ bá ở gian trong đã húng hắng ho khan mấy tiếng, ra hiệu cho Tương Diệp im miệng. Tương Diệp vào trong hỏi Bồ bá có ý gì, Bồ bá mắng cô một trận, nói Chân Chân là con gái chưa xuất giá, sao có thể tùy tiện cho nam t.ử vào nhà gặp mặt như thế. Tương Diệp hiểu ra, quay người lại bảo Triệu Ngai rằng Chân Chân đang ở cách đó không xa, mình có thể dẫn hắn đi tìm. Bồ bá nghe thấy, lại cuống lên ho khan sù sụ, lần này không đợi Tương Diệp vào trong, ông gọi thẳng: "Tương Diệp, cơm trên bếp đã chín chưa?" Tương Diệp cao giọng đáp vọng lại: "Chõ cơm vừa mới bắc lên, còn lâu mới chín ạ." Bồ bá nói: "Mau đi xem đi, ta ngửi thấy mùi khét rồi." Tương Diệp mặt đầy nghi hoặc: "Lửa có lớn đâu, lại còn cách thủy, sao mà khét được?" Triệu Ngai mỉm cười hiểu ý, chắp tay cáo từ. Tương Diệp áy náy chỉ hướng Chân Chân vừa đi cho hắn, rồi lẩm bẩm đi xem chõ cơm. Cuộc đối thoại này Phượng Tiên ở trong phòng nghe lọt cả, lờ mờ nhận ra giọng Triệu Ngai, lòng không khỏi bồn chồn, cuốn sách trên tay nhất thời cũng chẳng đọc vào được nữa. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng không kìm nén được, quăng sách xuống, đứng dậy đuổi theo hướng Triệu Ngai vừa đi. Phượng Tiên dường như còn muốn hàn huyên với Triệu Ngai đôi câu, lại nghe Chân Chân hỏi: "Phượng Tiên tỷ tỷ, tỷ đến tìm muội sao?" Phượng Tiên sững sờ, rồi nói ngay: "Đúng vậy. Ngày mai phải thi trù nghệ rồi, muội đã nghĩ kỹ chưa? Mà lại chạy lung tung ra đây chơi." Chân Chân cười nói: "Nguyên liệu lại không thể tự quyết định, thực đơn toàn dựa vào tích lũy ngày thường, nước đến chân mới nhảy cũng chẳng kịp nữa, chi bằng ra ngoài giải tỏa tâm trạng, có tâm trạng vui vẻ thì nấu ăn mới như có thần trợ giúp chứ." Phượng Tiên ngắm nhìn nàng, phát hiện vết nước mắt còn vương nơi khóe mắt, đưa tay chạm nhẹ vào, hỏi: "Chơi có vui không? Sao lại khóc rồi?" Chân Chân nhớ tới chuyện rơi lệ trước tổ chim lúc nãy, có chút ngượng ngùng, không muốn nói rõ sự thật, bèn liếc nhìn Triệu Ngai, nói: "Đều tại hắn, dùng ná của Đường Quả Nhi b.ắ.n muội." Phượng Tiên ánh mắt ngờ vực đảo qua lại giữa Chân Chân và Triệu Ngai, muốn hỏi lại không dám hỏi, cuối cùng chỉ ngập ngừng thốt ra hai chữ: "Hai người..." "Bọn ta đùa nhau chút thôi." Triệu Ngai mỉm cười nói, trong giọng điệu toát lên sự thân mật tự nhiên. Phượng Tiên mang theo nụ cười lễ phép cúi đầu xuống, không nói gì nữa. Chân Chân trừng mắt nhìn Triệu Ngai: "Ta là ta, ngươi là ngươi, ai là 'bọn ta' với ngươi chứ?" Rảo bước qua kéo tay Phượng Tiên, Chân Chân ghé tai nói với nàng: "Chúng ta về thôi, đừng để ý đến hắn." Phượng Tiên gật đầu, vội vàng hành lễ cáo từ Triệu Ngai, rồi cùng Chân Chân dắt tay nhau về nhà. Triệu Ngai cũng chẳng giữ lại, chắp tay sau lưng đứng đó, mỉm cười dõi theo họ, cho đến khi bóng họ khuất hẳn trong tầm mắt. Hai người về đến tiểu viện của Bồ bá, Tương Diệp từ xa đã đón đầu, tíu tít hỏi xem họ có gặp vị công t.ử tuấn tú kia không. Chân Chân nghĩ bụng với tính cách của Tương Diệp, nếu bảo gặp rồi chắc chắn cô nàng sẽ túm lấy mình hỏi han đủ thứ chi tiết suốt mấy canh giờ, lại biết hắn là Hoàng t.ử thì càng không xong, e là mấy ngày tới Triệu Ngai sẽ trở thành chủ đề chính trong các câu chuyện của họ mất. Thế là Chân Chân bảo không gặp, Tương Diệp không tin lắm, nhìn sang Phượng Tiên, Phượng Tiên cũng lắc đầu bảo không thấy, Tương Diệp đành tiếc nuối thở dài, nhưng đôi mắt lập tức sáng lên vì nghi vấn mới: "Hắn nói giọng Kinh thành rất chuẩn, nhất định là công t.ử danh gia vọng tộc. Chân Chân, để tỷ tả lại dáng vẻ của hắn cho muội nghe, muội nói xem muội quen hắn thế nào, tại sao hắn lại đến tìm muội..." Chân Chân bất lực, lấy cớ muốn yên tĩnh chuẩn bị thi, kéo Phượng Tiên vào phòng ngủ, nhốt Tương Diệp vẫn đang lải nhải đuổi theo hỏi han ở ngoài cửa. Hai người ở riêng một phòng, Phượng Tiên cũng không kìm được hỏi chuyện quen biết giữa Chân Chân và Triệu Ngai, Chân Chân bèn kể tỉ mỉ từ chuyện chứng kiến hắn đ.á.n.h mã cầu dưới nước đến chuyện điều tra cửa hàng thịt hươu giả, tiện thể kể luôn cả lời nhận xét của Thu Nương về loại công t.ử bột như hắn, chỉ là lược bỏ chuyện xem chỉ tay, ngồi chung một ngựa, và những lời lẽ thân mật của Triệu Ngai đối với nàng. "Nhị Đại Vương giúp muội niêm phong cửa hàng thịt hươu giả, là làm việc thiện, sao muội lại không có sắc mặt tốt với ngài ấy?" Phượng Tiên khó hiểu hỏi. "Bởi vì... hắn chẳng giống quân t.ử chút nào." Chân Chân ngẫm nghĩ hồi lâu, chỉ có thể đáp như vậy. Triệu Ngai mấy lần hữu ý vô tình tạo cơ hội tiếp xúc cơ thể với nàng, dù là xuất phát từ tâm lý đùa giỡn, cũng khiến nàng cảm thấy khá khó chịu. Dù sao cũng là con gái, lý do này không tiện nói ra, đành phải diễn đạt một cách ẩn ý. Lúc trước khi Phượng Tiên đến nơi thì Chân Chân đã thoát khỏi vòng tay Triệu Ngai, cho nên nàng không nhìn thấy cảnh Triệu Ngai ôm Chân Chân, chỉ nghe thấy vài câu đối thoại, còn tưởng Chân Chân chê lời lẽ Triệu Ngai thiếu tôn trọng, bèn nói: "Chúng ta thân ở chốn nhỏ bé này, từ nhỏ đến lớn thấy nam t.ử phần nhiều là kẻ buôn thúng bán bưng hoặc phường giá áo túi cơm, quân t.ử được mấy người? Ngài ấy không giống quân tử, cũng chẳng có mấy ai giống cả." Chân Chân lập tức phản bác: "Quân t.ử đương nhiên là có..." Phượng Tiên lập tức hiểu ra ý tứ trong lời nàng, không khỏi mỉm cười: "À, phải rồi, vị Vấn Tiều tiên sinh của muội, quả thực là một bậc quân tử." Đúng vậy, đúng vậy, lòng thầy Lâm là cây bồ đề, thân là đài gương sáng, dung nghi đoan trang, thường tự thản nhiên, không nhiễm nửa hạt bụi trần. Chàng là bậc quân t.ử luôn giữ mình điềm tĩnh, chẳng hề giống những gã nam t.ử phàm tục trên thế gian dễ bị sắc tướng chi phối, ngay cả chút rung động ngắn ngủi trong đêm cuối cùng ở bên nhau kia, e rằng cũng phải quy tội cho cái chỉ tay ngây ngô vô lễ ban đầu của nàng... Chân Chân nhớ tới Lâm Hoằng, tựa hồ có một lưỡi d.a.o tẩm mật ngọt khẽ lướt qua trong tim, sau vị ngọt ngào là cảm giác chua xót, rồi bắt đầu đau âm ỉ. Trong bình hoa trong phòng có cắm mấy cành hải đường, là do Tương Diệp cắt từ cây hoa trong viện, cắm tùy ý vào bình, cũng chẳng tu sửa gì nhiều. Chân Chân rút từ trong đó ra một cành hoa thẳng đuột, hai tay cầm ngang, đưa đến vị trí cách bụng dưới một nắm tay, nhắm mắt lại, tưởng tượng ra dáng vẻ Lâm Hoằng uốn cành hoa, bắt đầu dùng sức uốn cong cành hải đường. Phượng Tiên thấy Chân Chân không tiếp lời về Lâm Hoằng, thầm lo nàng sẽ hỏi chuyện mình quen biết Triệu Ngai, trong lòng đã chuẩn bị sẵn lời kể qua loa, thế nhưng Chân Chân dường như không giống Tương Diệp quan tâm đến những chuyện thầm kín trong khuê phòng như thế, mãi vẫn không hỏi Phượng Tiên. Trong phòng hai cô gái bỗng nhiên yên tĩnh trở lại, chỉ có vài tiếng "rắc rắc" khe khẽ vang lên theo động tác tay đóng mở nhịp nhàng của Chân Chân. Khi tay Chân Chân duỗi ra lần nữa, cành hoa vốn thẳng tắp đã có độ cong như cánh cung. Giống như dáng vẻ đang chuyên chú cắm hoa, Chân Chân cắm cành hoa đã được uốn nắn trở lại bình, điều chỉnh vị trí mấy cành còn lại, khiến chúng bày ra tư thái thướt tha, sau đó dưới ánh mắt dò xét của Phượng Tiên, nàng thở dài một tiếng, buồn bã nói: "Muội nhớ thầy Lâm quá." Chương 34 - Sơn Hào Hải Vị Ngày hôm sau, Chân Chân và Phượng Tiên đúng giờ đến Di Bối Lâu, cùng tám cô gái lọt vào vòng trong trổ tài nấu nướng. Hậu viện Di Bối Lâu đã sớm chuẩn bị đầy đủ các loại nguyên liệu, sơn hào, hải sản, thịt gia cầm, rau quả la liệt bắt mắt, còn có một số d.ư.ợ.c liệu thường dùng trong món ăn. Chỉ là chủng loại tuy nhiều, nhưng số lượng một số nguyên liệu chính lại có hạn, các cô gái trước tiên bốc thăm xếp thứ tự theo quy tắc, sau đó ra sân chọn hai loại nguyên liệu chính mình cần, mang vào bếp làm hai món ăn. Nếu nguyên liệu quý hiếm mình muốn bị người xếp trước chọn mất, có thể thương lượng đổi với đối phương, nhưng nếu đối phương từ chối đổi, thì đành phải chọn trong số nguyên liệu còn lại. Chân Chân có thứ tự khá sớm, bèn chọn cồi sò điệp và cá quế (cá mú hoa) trong số nguyên liệu chính – nàng khá giỏi các món thủy hải sản. Sau nàng lại có hai cô gái chọn cồi sò điệp, loại nguyên liệu này rất nhanh đã bị lấy hết. Một cô gái khác xếp sau họ trông có vẻ cũng muốn lấy cồi sò điệp, nhưng đến lượt cô chọn thì ở đó chỉ còn lại cái khay trống không. Cô ta thở dài sườn sượt, đành chọn tôm biển, rồi quay người đi về phía lồng gia cầm đối diện bắt hai con chim c* gáy. Có lẽ cảm nhận được sắp mất mạng, hai con chim c* gáy giãy giụa kêu "cúc c*" mấy tiếng, nghe rất thê lương. Chân Chân đang đi về phía bếp không khỏi dừng bước, quay đầu nhìn đôi chim và cô gái đã chọn chúng. Trên khay của Chân Chân đang đựng cồi sò điệp và cá quế, cô gái xách chim c* gáy thấy Chân Chân đang nhìn mình, cũng đ.á.n.h giá lại, ánh mắt rất nhanh bị cồi sò điệp thu hút, nhìn chăm chú hồi lâu. Chân Chân bèn đi về phía cô ta, thẳng thắn đề nghị: "Ta có thể dùng cồi sò điệp đổi lấy chim c* gáy của cô không?" Cô gái kia mừng rỡ, gật đầu lia lịa: "Được chứ, được chứ." Sau khi lấy được cồi sò điệp, cô gái giao hai con chim cho Chân Chân. Chân Chân cởi dây trói trên chân chim, mang ra giữa sân, lần lượt nâng niu trong lòng bàn tay, đưa lên cao, rồi xòe ngón tay ra, để chim đón gió tung cánh. Đôi chim đập cánh vài cái, rồi từ lòng bàn tay Chân Chân bay vút lên, lượn một vòng trên không trung sân viện, rồi bay về phía rừng cây rậm rạp phương xa. Chân Chân mỉm cười dõi theo chúng, cho đến khi chúng khuất dạng dưới ngấn mây chân trời, mới thu lại ánh mắt, chuẩn bị vào bếp. Vừa quay đầu lại, phát hiện Tần Tư Thiện đang đi tuần trong sân đang dùng đôi mắt sáng quắc nhìn nàng chăm chú. "Tại sao ngươi lại thả chim?" Tần Tư Thiện lạnh lùng hỏi. Chân Chân hành lễ với bà, đáp: "Bạch Lạc Thiên từng nói: 'Khuyên quân chớ b.ắ.n chim đầu cành, con trong tổ đợi nương mớm mồi'. Mùa xuân là mùa chim chóc ấp trứng nuôi con, loài chim trong ba tháng xuân này lại càng không nên đ.á.n.h bắt, sát hại một con, rất có thể sẽ khiến cả tổ chim non c.h.ế.t đói. Nên con mới tự ý làm chủ, thả chim đi... không biết có phạm quy tắc hôm nay hay không." "Quy tắc thì không tính là phạm." Tần Tư Thiện từ tốn nói, "Nguyên liệu chính ngươi đã chọn rồi, dùng hay không tùy ngươi. Nhưng ngươi chỉ có một lần cơ hội chọn nguyên liệu chính, giờ ngươi chỉ còn lại cá quế là nguyên liệu mặn chính, lại phải làm ra hai món ăn, làm thế nào, ngươi phải cân nhắc cho kỹ." Chân Chân gật đầu tỏ ý nguyện chịu hậu quả, tạ ơn Tần Tư Thiện, bưng khay nguyên liệu của mình tiếp tục đi vào bếp. Cô gái vừa đổi nguyên liệu với nàng đứng bên cạnh chứng kiến toàn bộ sự việc, len lén đi theo, từ trong khay của mình nhặt ra bốn con tôm biển bỏ vào khay Chân Chân. Chân Chân cảm kích nói lời cảm ơn, nhưng không quên quay đầu nhìn Tần Tư Thiện vẫn đang quan sát mình, thấy Tần Tư Thiện khẽ gật đầu, mới yên tâm nhận mấy con tôm này. Phượng Tiên bốc thăm thứ tự không tốt, xếp áp chót. Gia cầm chẳng còn mấy, đồ tươi sống đã hết, cuối cùng còn lại mấy con chim cút và một con gà ác, đều đã được làm lông sạch sẽ. Nàng bèn lấy gà ác trước, bên phía thủy sản chỉ còn hai loại cá: cá diếc bình thường và loại cá cực kỳ tươi ngon nhưng ẩn chứa kịch độc - cá nóc. Phượng Tiên suy tính hồi lâu, chần chừ chưa quyết định. Người xếp sau nàng là Hình Quân Mạn, biểu muội của Dương Thịnh Lâm chủ Di Bối Lâu. Hình Quân Mạn mười bảy tuổi, học nghề ba năm ở tửu lâu của họ hàng tại Lâm An, đầu năm nay mới về Phố Giang, dung mạo cũng khá xinh đẹp, người Phố Giang đều cho rằng cô ta có khả năng trúng tuyển nhất, chắc chắn là kình địch lớn nhất của Chân Chân và Phượng Tiên. Ngặt nỗi hôm nay vận may cô ta kém, bốc thăm xếp cuối cùng, chỉ có thể dùng những nguyên liệu người khác chọn thừa. Vì thế hiện giờ cô ta nhìn chằm chằm Phượng Tiên đầy căng thẳng, rất để ý đến sự lựa chọn của Phượng Tiên. Phượng Tiên còn đang suy nghĩ, chợt thấy Thân huyện lệnh đang chắp tay với Tần Tư Thiện: "Hạ quan gần đây tỳ vị không tốt, mỗi lần ăn đều không thấy ngon miệng. Hôm nay các cô nương dâng lên sơn hào hải vị, e rằng hạ quan vô phúc hưởng thụ, toàn bộ trông cậy vào Nội phu nhân phẩm bình tuyển chọn rồi." Phượng Tiên quan sát kỹ Thân huyện lệnh, thấy ông ta chừng hơn bốn mươi tuổi, sắc mặt vàng vọt, thân hình gầy gò, quả đúng là dáng vẻ tỳ vị khí nhược. Phượng Tiên thoáng chốc đã có quyết định, chọn cá diếc. Khi nàng dùng vợt nhỏ vớt cá diếc từ trong bể nước ra, cảm nhận rõ ràng Hình Quân Mạn ở phía sau thở phào nhẹ nhõm một hơi dài. Hình Quân Mạn đối với trận chiến này quyết tâm giành chiến thắng, với cô gái trẻ này mà nói, cá diếc dễ dàng có được đương nhiên không bằng loại nguyên liệu quý hiếm như cá nóc để phô diễn kỹ nghệ nấu nướng kinh người của mình. Phượng Tiên không quay đầu nhìn cô ta, tự mình xách cá diếc vào bếp, để lại một nụ cười như có như không vào khoảng không mà Hình Quân Mạn chưa kịp để ý tới. Nhà bếp của Di Bối Lâu trang thiết bị đầy đủ, mười cô gái đều có bàn án và bếp lò riêng. Ngoài nguyên liệu chính, nguyên liệu phụ chủ yếu là rau củ, bao gồm các loại gia vị và lương thực, còn có một số phần thừa của thịt thà như da, xương..., cung cấp đầy đủ, có thể tùy ý lấy dùng. Chân Chân chọn măng xuân, rau dớn, bột đậu xanh, gạo tẻ và muối, gừng, hồ tiêu làm gia vị; Phượng Tiên thì chọn sinh địa hoàng, đường mạch nha, trần bì, gừng tươi, hành trắng và một ít xương dê. Tần Tư Thiện thấy mọi người đều đã chuẩn bị xong, ra hiệu cho hoạn quan bên cạnh, hoạn quan hô một tiếng, các cô gái liền mỗi người một việc, bắt đầu bận rộn. Chân Chân lấy lượng bột đậu xanh vừa phải, thêm nước trong hòa thành nước bột. Bột đậu xanh là đậu xanh ngâm nước rồi xay nghiền lọc bỏ bã, lắng đọng mà thành, trắng tinh mịn màng, nước bột pha xong có màu trắng sữa. Chân Chân bắc nồi đun nước trên bếp, đợi nước sôi, đổ nước bột đậu xanh vào một chiếc khay đồng mỏng miệng nông, hai tay cầm khay xoay đều lên xuống, để nước bột phủ kín đáy khay, sau đó đặt khay đồng vào trong nước sôi, để nó nổi trên mặt nước. Một lát sau, nước bột đông lại thành lớp bánh màu trắng. Chân Chân hai tay cầm đũa, cẩn thận nhấn chìm khay đồng vào trong nước. Nước sôi tràn vào trong khay, khay đồng dần chìm xuống. Đợi lớp bánh bột đậu xanh chín đều, Chân Chân vớt khay đồng ra khỏi nồi, lập tức ngâm vào chậu nước lạnh đã chuẩn bị sẵn bên cạnh. Đợi khay đồng nguội, Chân Chân lấy ra để ráo nước, nhẹ nhàng bóc lớp bánh bột đậu xanh từ đáy khay ra. Lớp bánh bột chế xong mỏng nhẹ trong suốt như lớp băng mỏng, Chân Chân cắt thành bốn phần đều nhau để dùng. Sau đó Chân Chân lấy cá quế ra, đ.á.n.h vảy bỏ ruột, cắt bỏ đầu đuôi, mình cá để riêng một bên, lại tỉ mỉ lọc bỏ xương dăm ở phần đuôi cá, đem phần thịt cá này thái hạt lựu, lại lấy thịt tôm biển cùng măng xuân, rau dớn, đều thái hạt lựu, cùng chần qua nước sôi, thêm dầu chín, tương, muối và hồ tiêu trộn đều. Sau đó lấy một miếng bánh bột đã chuẩn bị sẵn, đặt vào trong một chiếc chén bạc tròn lót ở dưới, rồi múc lượng vừa phải hỗn hợp cá tôm măng rau đã trộn vào chén, liền nhón bốn góc bánh bột gấp lại vào giữa, dùng đũa chấm nước bột đậu xanh dán kín miệng. Gói xong úp ngược chén bạc vào một chiếc đĩa bạc, nhấc chén ra, một chiếc bánh tròn trịa ẩn hiện màu sắc tươi ngon của nhân bánh liền hiện ra trong đĩa. Đây chính là món "Sơn Hải Đầu" mà Lâm Hoằng từng làm cho Chân Chân, nàng đã sửa đổi một vài chi tiết nhỏ, chuyển công đoạn hấp đến khâu cuối cùng sau khi gói xong. Bốn chiếc Sơn Hải Đâu được đặt vào xửng hấp chín, Chân Chân lại pha chế các loại giấm, nước tương và Bát Hòa Tê (một loại đồ chấm gồm 8 vị) để chấm kèm, sau khi phẩm bình bắt đầu, cùng dâng lên trước mặt Tần Tư Thiện. Tần Tư Thiện nghe nói món này tên là "Sơn Hải Đầu", hỏi Chân Chân ý nghĩa cái tên, Chân Chân nói: "Trong Sơn Hải Đầu có cá tôm và măng rau, lấy ý nghĩa sơn hào và hải vị tụ hội một nhà. Núi và biển cách trở bởi trung châu, xa xôi ngàn dặm. Cá tôm và măng rau gặp gỡ, vốn là cuộc kỳ ngộ hiếm có, kết hợp hòa quyện với nhau, thường sẽ tạo nên hương vị tươi ngon độc đáo. Giống như hai người xuất thân khác biệt, cách xa ngàn núi vạn sông, vì cơ duyên ngẫu nhiên mà gặp gỡ, rất dễ thu hút lẫn nhau, thành tựu cho nhau, kết nên một mối lương duyên." Tần Tư Thiện không khỏi cười nhạt: "Món ăn tương tự trong cung cũng có người từng làm, chỉ là đặt tên là Ngư Hà Thuân Quyết Đâu (Bánh cá tôm măng rau), ý cảnh kém xa Sơn Hải Đầu. Hơn nữa cô ấy cắt bánh bột thành sợi, trộn đều với cá tôm măng rau, rưới giấm ăn kèm, hình thức không bằng Sơn Hải Đầu, cũng không giống như ngươi, chuẩn bị sẵn mấy loại đồ chấm để người ăn tự chọn." Chân Chân đáp: "Thần thiếp thấy khẩu vị người đời khác nhau, có người thích chua, có người ưa mặn, có người khẩu vị thanh đạm, có người lại chỉ thích dầu muối hương liệu đậm đà. Cho nên chi bằng thần thiếp phối thêm vài loại đồ chấm, trao quyền nêm nếm lại cho thực khách." "Ngươi tuổi còn nhỏ, suy nghĩ lại rất chu đáo." Tần Tư Thiện ra hiệu cho nội nhân bên cạnh lấy một phần Sơn Hải Đầu, cũng không chấm gia vị, tự mình nếm thử một miếng nhỏ, mùi vị thế nào, bà tạm thời chưa biểu lộ, nhưng nét mặt đã trở nên nhu hòa hơn. "Món còn lại của ngươi là gì?" Tần Tư Thiện hỏi. Bà nhớ Chân Chân trước đó nhận được nguyên liệu chính là cá quế và tôm biển, dường như đều dùng trong Sơn Hải Đầu rồi, không biết món kia sẽ dùng gì để làm. Chân Chân nói: "Là cháo cá quế. Vẫn còn trên bếp, chắc là vừa chín tới." Tần Tư Thiện sai tiểu hoàng môn hầu hạ bên cạnh bưng cháo tới. Trong chốc lát tiểu hoàng môn bưng nguyên cả nồi nấu cháo đến trước bàn chủ tọa, hơi nóng hầm hập mang theo mùi thơm cá tươi từ trong nồi tỏa ra, phả vào mặt. Mà kỳ lạ là, mép nồi có bốn sợi chỉ vươn ra, đầu dưới mỗi sợi chỉ buộc một đồng tiền xu, lần lượt rủ xuống bốn phía bên ngoài nồi đồng. Tần Tư Thiện hứng thú quan sát mấy sợi chỉ buộc tiền xu dưới nồi, lại sai Chân Chân mở nắp nồi. Chân Chân lĩnh mệnh, mở nắp đặt sang một bên. Tần Tư Thiện thấy đầu kia của bốn sợi chỉ chìm trong cháo, không biết có công dụng gì, bèn nhìn Chân Chân, ánh mắt mang ý dò hỏi. Chân Chân khẽ mỉm cười, lần lượt nhón lấy các đồng tiền xu, nắm cả bốn đồng trong tay, sau đó kéo dây nhè nhẹ lên xuống trong cháo vài cái, cảm thấy lửa đã đủ, bèn dùng sức nhấc bổng lên cao. Một bộ xương cá hoàn chỉnh trừ đầu và đuôi theo động tác tay của nàng dần dần nổi lên khỏi mặt cháo. Hóa ra bốn sợi chỉ kia được luồn qua xương sống cá quế, cá sống đã bỏ đầu đuôi và da dìm vào nước nấu cùng gạo, sau khi cháo chín thịt cá tan vào trong cháo, cá quế không có xương dăm, thứ còn lại chính là bộ khung xương này, nhấc sợi chỉ lên, xương cá liền tách ra khỏi cháo vẫn còn nguyên vẹn. Chương 35 - Tây Thi Nhũ Đặt xương cá xuống, Chân Chân dùng muôi gỗ khuấy đều cháo, rồi múc ra mời Tần Tư Thiện và Thân huyện lệnh nếm thử. Thịt cá kia đã hòa tan vào cháo, không còn nhìn rõ nữa, nhìn qua chỉ thấy cháo trắng ngần như tuyết, thi thoảng hiện ra vài sợi tơ vàng nhạt, nhìn kỹ mới nhận ra là một ít gừng thái chỉ. Tần Tư Thiện nếm xong không đưa ra ý kiến, nhưng mời Thân huyện lệnh phẩm bình. Thân huyện lệnh vốn không muốn ăn nhiều, nhưng vừa ngửi thấy mùi thơm này, liền không kìm được thay đổi ý định. Vừa nếm thử một miếng, Thân huyện lệnh đã mở to hai mắt. Cháo này ngoài gạo và cá quế ra chỉ dùng gừng, tiêu để khử tanh làm dậy mùi, thêm một ít muối, cá quế mang sẵn vị ngọt, ninh cùng cháo tạo nên khẩu vị mềm mại dẻo thơm, vị ngọt tươi ẩn sau vị mặn nhàn nhạt, nương theo nước cháo sền sệt trôi tuột vào miệng, dâng lên lan tỏa ở cuống lưỡi, khiến vị giác được vỗ về đến mức Thân huyện lệnh có cảm giác suýt rơi nước mắt. Ông liên tục gật đầu với Chân Chân, giữa việc mở lời khen ngợi và ăn thêm miếng nữa, ông đã chọn vế sau. "Cách dùng đồng tiền treo chỉ này thật mới lạ, làm sao ngươi nghĩ ra được?" Tần Tư Thiện hỏi. Chân Chân nói: "Cách này con từng nghe tiên sinh dạy nấu ăn nhắc tới, nói là từng có bạn hữu dùng cách này chiêu đãi người, còn các bước cụ thể người không nói kỹ, con cũng là lần đầu thử nghiệm, nêm nếm và buộc dây thế nào đều tự mình mày mò, cũng không biết làm có đúng không." Tần Tư Thiện hé lộ nụ cười mỏng: "Không tệ, lần đầu thử nghiệm mà làm được thế này đủ thấy công phu ngày thường. Luồn chỉ vào xương sống cá chắc là dùng kim thêu?" Chân Chân mỉm cười nói: "Vâng ạ. Nhưng việc may vá này của con so với Phượng Tiên sư tỷ thì kém xa, tỷ ấy có thể dùng kim chỉ xâu chuỗi toàn bộ vảy của một con cá cháy, sau khi cá lên mâm, chỉ cần nhấc chỉ là l*t s*ch vảy." Tần Tư Thiện ngẫm nghĩ một chút, hỏi: "Sư tỷ này của ngươi có phải là Lăng Phượng Tiên dự thi hôm nay không?" Chân Chân đáp phải, Tần Tư Thiện bèn đưa mắt nhìn quanh, tìm kiếm Phượng Tiên. Phượng Tiên lập tức tiến lên hành lễ. Tần Tư Thiện hỏi nàng hai món ăn đã chuẩn bị xong chưa, Phượng Tiên nói đã xong từ sớm, sau đó theo ý Tần Tư Thiện dâng tác phẩm lên. Phượng Tiên trước tiên từ trong chõ gỗ lấy ra một cái liễn đồng, trong liễn có một con gà ác đã hấp chín. Phượng Tiên đặt gà ác vào đĩa bạc, con gà ấy tuy trải qua thời gian hấp lâu, hình thái da dẻ vẫn giữ được khá nguyên vẹn. Phượng Tiên sau khi được Tần Tư Thiện gật đầu cho phép, dùng đũa khẽ gạt, da thịt gà ác hấp chín mềm rục thấu xương liền tách ra, lộ ra những lát địa hoàng mỏng giấu trong bụng gà. Phượng Tiên lấy ra một ít thịt gà, dâng cho Tần Tư Thiện. Tần Tư Thiện sau khi nếm thử tỏ ra khá ngạc nhiên: "Là ngọt, ngươi dùng đường?" "Vâng, là đường mạch nha. Gà ác này, dùng sinh địa hoàng thái lát, trộn với đường mạch nha, nhồi vào bụng gà hấp cách thủy mà thành." Phượng Tiên cúi đầu nói, "Đường mạch nha làm từ ngũ cốc, có thể bổ tỳ ích khí, nhuận phế chỉ khái. Sinh địa hoàng thanh nhiệt sinh tân, có thể trị sưng đau họng. Gà ác chế biến theo cách này có thể trị hư lao và đau lưng ho khan. Thần thiếp thấy Tư Thiện phu nhân làm giám khảo, mấy ngày liền vất vả, đi lại tuần tra, thường phải mở lời chỉ bảo tận tình. Hôm nay khi ngồi xuống từng dùng đốt ngón tay ấn vào lưng, dường như có triệu chứng đau lưng, thi thoảng ho nhẹ, hoặc do nói nhiều dẫn đến sưng đau họng. Phượng Tiên không thể chia sẻ nỗi lo với phu nhân, đành mạo muội dùng phương t.h.u.ố.c này nấu gà ác, hy vọng có chút ích lợi giúp giảm bớt khó chịu cho Tư Thiện phu nhân." Nói xong lại múc một ít nước gà tiết ra trong liễn đồng dâng cho Tần Tư Thiện: "Nước gà này cô đọng tinh hoa của cả ba thứ gà ác, địa hoàng và đường mạch nha, uống vào còn thấy hiệu quả hơn chỉ ăn thịt gà." Tần Tư Thiện đón lấy, nhấp thử một chút, chưa uống hết, nhưng nở một nụ cười nhạt với Phượng Tiên: "Đa tạ, ngươi có lòng rồi." Tần Tư Thiện lại sai Phượng Tiên dâng món thứ hai. Phượng Tiên lập tức dâng lên, lại là món canh nấu trong nồi. Món canh ấy đặc biệt sánh đặc, nắp nồi vừa mở, mùi thơm tươi ngon được ấp ủ từ sự tương trợ của nhiều loại nguyên liệu như ngàn vạn con rồng nhỏ thoát ra, quanh quẩn trong sảnh đường, phiêu du đến chóp mũi mỗi người, cái đuôi rồng nhỏ khẽ phất qua trái phải, mùi hương quyến rũ liền nương theo cú trêu chọc này len lỏi vào mũi, nhân lúc người ta rùng mình, mùi vị nồng nàn ấy liền lặng lẽ bám rễ vào sâu trong ký ức họ. "Canh này nấu bằng gì vậy? giống dê không phải dê, giống cá không phải cá, lại đậm đà hơn canh dê canh cá." Thân huyện lệnh nếm xong vô cùng tò mò, nhìn kỹ bát canh trắng đặc trước mặt, hỏi trước cả Tần Tư Thiện. Phượng Tiên đáp: "Là xương dê và cá diếc. Cá (Ngư - 魚) và Dê (Dương - 羊) ghép lại thành chữ Tươi (Tiên - 鮮), cho nên canh này đặc biệt tươi ngon." "Không hẳn, không hẳn." Thân huyện lệnh lắc đầu nói, "Canh nấu từ cá và dê ta cũng từng uống rồi, đều không tươi ngon nồng đượm như bát canh ngươi nấu, ngươi nhất định có bí phương." Phượng Tiên mỉm cười nói: "Cũng chẳng phải bí phương phức tạp gì. Trước tiên dùng xương dê ninh nhỏ lửa lấy nước dùng đậm đặc, ninh xong bỏ xương, thêm cá diếc đã bọc giấy nướng chín bỏ vảy cắt khúc, cùng trần bì, gừng tươi và hành trắng, hầm thành canh là được rồi." "Cá diếc tại sao phải bọc giấy nướng chín?" Tần Tư Thiện bất động thanh sắc hỏi. Phượng Tiên nói: "Làm vậy thịt thơm xương rục, dùng để nấu canh màu sắc trắng đậm, càng thêm thuần hương." Tần Tư Thiện lại hỏi: "Canh này có d.ư.ợ.c hiệu không?" "Có, có thể trị tỳ vị khí hư ăn không tiêu." Phượng Tiên nhìn Thân huyện lệnh, rồi cúi đầu trả lời, "Hôm nay thần thiếp vô tình nghe thấy Thân huyện lệnh nhắc với Tư Thiện phu nhân chuyện tỳ vị không tốt, liền nhớ tới phương t.h.u.ố.c này, làm theo cách đó, cũng không biết có thực sự có hiệu quả khai vị hay không." "Có chứ có chứ," Thân huyện lệnh nhanh nhảu đáp, ngón tay chỉ vào bát canh trước mặt, "Ngươi xem, lúc nãy các ngươi nói chuyện, ta đã sai người múc bát thứ hai rồi." Phượng Tiên cười nhẹ rủ mắt, nhún mình tạ ơn Thân huyện lệnh. Tần Tư Thiện không phẩm bình mùi vị canh, nhưng hỏi Phượng Tiên: "Ngươi từng học y thuật?" Phượng Tiên nói: "Chưa từng học qua, chỉ là bản thân lo lắng hoàn toàn không hiểu y lý sẽ phạm phải cấm kỵ trong ăn uống, hại người mà không biết, vì thế tự mình xem qua một số sách y." Tần Tư Thiện gật đầu: "Là người có tâm." Sau đó không nói thêm nữa, chỉ ra hiệu cho Phượng Tiên lui xuống. Tần Tư Thiện lại kiểm tra món ăn của các cô gái khác, đối với những cô chọn nguyên liệu quý hiếm như bào ngư, vi cá, hải sâm... bà không có mấy sắc mặt tốt. Những cô gái đó thường nêm nếm gia vị quá tay, công đoạn cầu kỳ, mong muốn đạt được khẩu vị phong phú, lại phô diễn kỹ thuật phức tạp. Đáng tiếc thái quá thì hỏng, Tần Tư Thiện nếm qua vài món xong cuối cùng không nhịn được mà tung ra nụ cười lạnh: "Tưởng rằng quý nhân đều thích bào ngư vi cá, cũng như tưởng tượng Quan gia hễ ăn uống là dùng bát vàng vậy, đúng là kiến thức ếch ngồi đáy giếng. Nếu trù nghệ quả thực bất phàm, có thể làm ra món ăn khiến người ta thán phục, thì chọn những nguyên liệu này cũng chẳng có gì đáng trách, nhưng nếu chọn rồi mà làm không tốt, ngược lại lộ ra tướng mạo kẻ ăn mày." Liên tiếp phê bình lạnh lùng mấy cô gái xong, ánh mắt bà rơi xuống người Hình Quân Mạn, hỏi cô ta đã chuẩn bị xong chưa. Hình Quân Mạn hân hoan đáp vâng, ung dung dâng những món mình làm lên. Khiến mọi người trầm trồ là, trong thời gian có hạn, cô ta dùng hai loại nguyên liệu chính – chim cút và cá nóc, làm ra bốn món ăn: Chim cút nấu hoa, Gỏi pha lê chim cút, Gỏi cá nóc và 'Tây Thi Nhũ' nướng tương. Chim cút nấu hoa là dùng chim cút chần nước sôi rồi thả vào nước trong đun sôi, thêm nhiều loại hương liệu cùng tương, muối, rượu và mật hoa quế, nấu đến khi cạn nước sền sệt thì thôi, mùi tương nồng nàn, trong đó còn thoang thoảng hương hoa quế rõ rệt. Gỏi pha lê chim cút là đem chim cút luộc suông rồi xé thịt, dùng bì lợn hầm lấy nước cốt đặc, rồi trộn thịt chim cút vào nước cốt bì lợn đã lọc, đông lại thành thịt đông rồi thái lát bày lên đĩa. Màu thịt tươi non, trong suốt long lanh như pha lê. Gỏi cá nóc là những lát cá sống được cắt mỏng tang. Hình Quân Mạn xếp những lát cá mỏng lên trên đĩa băng, bày ra hình dáng sóng nước xoay vần, một bên đĩa băng có tác phẩm điêu khắc bằng băng, nhấp nhô như dáng núi, trên núi vươn ra vài cành cây ngọc ngà, hóa ra được ghép từ xương cá trắng muốt. Món "Tây Thi Nhũ" kia màu trắng, mấy khối mềm mại, như mỡ như não. Thân huyện lệnh ban đầu không biết là vật gì, hỏi Hình Quân Mạn, Hình Quân Mạn hai nương đỏ bừng, cũng không nguyện nói rõ, chỉ gọi là "Bạch t.ử cá nóc". Thân huyện lệnh vẫn ngơ ngác, lúc này có hoạn quan đứng xem ghé tai ông ta, giải thích là túi tinh của cá nóc, Thân huyện lệnh mới vỡ lẽ. Hào hứng gắp một miếng nếm thử, vào miệng trước tiên cảm nhận được vị ngọt mùi tương, lớp da nướng qua là một lớp màng giòn mỏng manh, ngậm một cái là vỡ, "Tây Thi Nhũ" trơn mềm non nớt lập tức tràn ngập khoang miệng, thơm đặc hơn sữa, mịn màng hơn đậu phụ, cảm giác béo ngậy thơm nồng, quả thực diệu không thể tả. Thân huyện lệnh tán thưởng không ngớt. Hình Quân Mạn mỉm cười tạ ơn, trong lúc liếc mắt nhìn quanh lộ rõ vẻ tự đắc. Thân huyện lệnh thấy Tần Tư Thiện nhìn chăm chú mấy món này, nhưng mãi chưa động đũa, bèn lên tiếng mời bà nếm thử. Tần Tư Thiện không để ý đến ông ta, ánh mắt lạnh lùng ném về phía Hình Quân Mạn, hỏi: "Trước đó ta yêu cầu các ngươi làm là mấy món?" Hình Quân Mạn sững sờ, rồi đáp: "Là hai món ạ." "Hóa ra ngươi cũng biết là hai món," Tần Tư Thiện cười khẩy, "Ta còn tưởng hôm nay ngươi đi thi quên mang theo tai chứ." Chương 36 - Ba Người Bạn Sông Xuân Hình Quân Mạn bị câu nói này châm chọc đến đỏ mặt tía tai, cúi gằm đầu, hai tay vô thức xoắn lấy dây thắt lưng, căng thẳng đến mức không biết làm thế nào cho phải. Tần Tư Thiện thu lại ánh mắt sắc bén, từ từ nâng đũa, nếm thử một chút Gỏi pha lê chim cút và Chim cút nấu hoa, một lát sau đưa ra lời bình: "Hai món này cũng được, có sáu bảy phần giống mùi vị Ngự trù làm ra." Sự khẳng định trong lời nói khiến Hình Quân Mạn cảm thấy được an ủi đôi chút, nhen nhóm lại hy vọng, cúi đầu liếc nhìn hai món cá nóc còn lại, thầm mong chờ Tần Tư Thiện nếm thử xong sẽ nhìn mình bằng con mắt khác. Thế nhưng Tần Tư Thiện dừng đũa ngay tại đó, nói thẳng: "Món làm từ cá nóc, ta sẽ không nếm. Loại nguyên liệu này ẩn chứa kịch độc, xử lý sơ sẩy một chút sẽ nguy hiểm đến tính mạng thực khách. Ngươi và ta vốn không quen biết, ta hoàn toàn không biết gì về tình hình học nghề của ngươi, không rõ ngươi có đủ năng lực đưa cá nóc vào thực đơn hay không, cho nên rất xin lỗi, ta không thể mạo hiểm tính mạng để nếm thử hai món này của ngươi." Hình Quân Mạn kinh ngạc, ấp úng lấy hết can đảm hỏi: "Nhưng mà, cá nóc nằm trong danh sách nguyên liệu dự phòng, những nguyên liệu dự phòng này, hẳn là do Tư Thiện phu nhân đích thân ấn định mà? Đã có thể cho chúng con lựa chọn, tại sao làm xong rồi Tư Thiện phu nhân lại không nếm thử?" "Đúng vậy, cá nóc nằm trong danh sách nguyên liệu dự phòng." Tần Tư Thiện nhìn thẳng vào Hình Quân Mạn, thản nhiên nói, "Nhưng mà, dự phòng không phải là bắt buộc, ngươi có thể từ bỏ. Ngươi vì muốn kỹ nghệ kinh động mọi người, trong tình huống vẫn còn các loại thịt thà rau củ khác để lựa chọn, vẫn quyết định dùng nguyên liệu chứa độc, không tiếc để bậc tôn quý phải đối mặt với hiểm cảnh, đối với Thượng Thực nội nhân mà nói, đây là đại kỵ. Đầu bếp dân gian, nấu nướng có thể chỉ nằm ở việc theo đuổi mỹ vị, nhưng đối với chúng ta, những người hầu hạ quý nhân, trước tiên phải đảm bảo an toàn, thứ hai, mới là mỹ vị. Phải hiểu rằng, bất luận khi nào, cũng không được lựa chọn những nguyên liệu có khả năng gây tổn hại cho quý nhân." Hình Quân Mạn mặt cắt không còn giọt nươngu, lập tức đưa tay lên trán, hành đại lễ với Tần Tư Thiện, hổ thẹn cáo tội. Tần Tư Thiện nhàn nhạt dặn cô ta lui ra, tiếp tục chuẩn bị cho phần thi đấu tiếp theo. Mười cô gái sau khi phẩm bình xong món tự chọn, vòng cuối cùng, là phải dùng một loại nguyên liệu thống nhất làm mỗi người một món. Tần Tư Thiện nói với mọi người: "Ta từ Kinh thành đến, dọc đường thấy rau xuân xanh mướt, hoa cải vàng ươm, hoa cải dầu nở rộ khắp núi đồi, rực rà rực rỡ, như muốn nở lan sang cả mùa hè. Vậy thì, món cuối cùng hôm nay, hãy làm món rau cải dầu mà nhà nào cũng thường xuyên tích trữ này đi. Lấy cải dầu làm chính, nguyên liệu phụ tự chọn, phương pháp nấu nướng tự định, làm xong vẫn do ta và Thân huyện lệnh phẩm bình." Các cô gái nhìn nhau ngơ ngác. Vòng cuối cùng quan trọng thắng thua, mọi người trước đó đều đoán xem nguyên liệu cuối cùng này sẽ quý hiếm đến mức nào, độ khó nấu nướng cao bao nhiêu, hoàn toàn không ngờ Tần Tư Thiện lại chọn loại nguyên liệu bình dân như thế. Sau khi lĩnh mệnh, các cô gái tản ra chia nhau chuẩn bị. Chân Chân chọn một ít thì là, hồi hương, gừng và tiêu, sấy khô bằng lửa nhỏ, sau đó trộn lẫn nghiền thành bột mịn, múc ra để dùng. Tiếp đó nàng lấy chiếc chảo sắt mang theo ra, rửa sạch đun nóng, thêm ít dầu mè, một lát sau, nêm nước tương và bột gia vị đã nghiền vào, đảo đều thành sốt. Múc ra xong lại rửa sạch chảo sắt, lại thêm dầu cải chín đun nóng, lập tức đổ cải dầu đã rửa sạch nhặt kỹ vào, đảo qua một chút, đợi cải dầu vừa chín tới, tiết ra nước rau, liền đổ chỗ sốt vừa chuẩn bị vào chảo, trộn đều với cải dầu. Thứ sốt đó chạm vào cải dầu nóng, tức thì hương thơm ngào ngạt khắp phòng, khiến những cô gái đang nấu ăn khác đều phải tạm dừng động tác trong tay, nhao nhao nhìn về phía Chân Chân. Tần Tư Thiện cũng dạo bước đến sau lưng Chân Chân, quan sát hành động của nàng. Chiếc chảo sắt Chân Chân dùng chính là chiếc chảo mới được cải tiến sau khi bàn bạc với Lâm Hoằng, giống như một mái vòm lật ngược, thân chảo mỏng nhẹ, còn có một cán gỗ tiện cho việc cầm nắm. Chân Chân tay trái cầm cán chảo, tay phải cầm xẻng, men theo đường vòng cung của chảo sắt xúc một đường đến đáy, hất tung cải dầu vô cùng thuận tay. Chiếc chảo ấy không lớn, nàng thầm ước lượng hỏa hầu trong lò, khi một ngọn lửa bùng lên bỗng nhiên nhấc bổng cả chảo, cổ tay nhấp nhô, dùng sự rung động nhịp nhàng dẫn dắt ngọn lửa l.i.ế.m láp độ sâu dưới đáy chảo, cải dầu trong chảo cũng nương theo ánh lửa mà xoay vần nhảy múa, từng phiến lá rau đều trong những lần bay lên hạ xuống ấy mà đón nhận sự bao bọc của hương vị nước sốt. Cuối cùng cải dầu bày ra đĩa bóng mượt long lanh, nhờ kiểm soát hỏa hầu tốt, trông vẫn xanh tươi đáng yêu. Mà nước sốt hòa quyện với dầu mỡ, nước rau, cộng thêm một làn khói dầu nhàn nhạt bám trên đó, lại khiến món rau này tỏa ra hương thơm béo ngậy tựa như thịt thà cấm luyến. Tần Tư Thiện nếm xong trầm ngâm không nói, ánh mắt di chuyển qua lại trên chiếc chảo sắt Chân Chân dùng, thậm chí còn tự mình cầm lên, xem xét trong ngoài. Thân huyện lệnh thì nếm hết miếng này đến miếng khác, khen rằng: "Không ngờ thứ rau dưa nhạt nhẽo này trải qua khói lửa nhân gian như vậy, cũng có thể trở nên phong tình vạn chủng đến thế." Tần Tư Thiện cầm lấy xẻng của Chân Chân, trượt dọc theo thành trong chảo sắt, cảm nhận đường cong không chút trở ngại nào khi thao tác, rồi nói với Chân Chân: "Trong cung cũng có món xào, nhưng chúng ta dùng nồi đồng, đáy bằng miệng nông, chỉ thi thoảng dùng để xào thịt, các loại rau củ phồng xốp xào lên thì không nhanh gọn như ngươi vừa làm, khó kiểm soát hỏa hầu, xào rau dễ cháy, chúng ta cũng ít dùng. Chiếc chảo sắt này của ngươi khá mới lạ, hình dáng ta chưa từng thấy, là sản vật ở đâu?" Chân Chân đáp: "Chiếc chảo này là do thần thiếp theo tiên sinh dạy nấu ăn, sau từng lần thử nghiệm xào nấu đúc kết ra ưu nhược điểm của thân chảo, sửa đi sửa lại bản vẽ, rồi giao cho thợ rèn đ.á.n.h theo hình vẽ mà thành." Tần Tư Thiện gật đầu: "Công d.ụ.c thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí (Muốn làm tốt việc, trước tiên phải làm sắc công cụ). Ngươi có món lợi khí này, sau này về phương diện xào nấu, lại có thể nghiên cứu ra nhiều món ăn mà người đi trước chưa từng thử nghiệm." Những cô gái còn lại bất luận chọn nguyên liệu phụ là gì, không ngoại lệ đều chọn luộc cải dầu, nhiều người làm thành canh rau, trong canh có người thêm sò điệp tôm khô, có người thêm đậu phụ cá viên, cũng có người dùng thịt phơi gió, thịt tương ninh nấu. Hình Quân Mạn cũng dùng cách nấu canh, nhưng dùng nước dùng cao cấp được ninh nhỏ lửa từ thịt heo, thịt chim cút, xương gà, xương heo... và đã lọc kỹ, cải dầu nấu xong nước canh vẫn vô cùng trong trẻo, tựa như canh rau bình thường, không thấy bất kỳ nguyên liệu phụ nào, nhưng người ăn vừa nếm liền thấy tươi ngon đầy miệng, nhanh chóng cảm nhận được chỗ tinh diệu trong đó, cũng khiến Thân huyện lệnh khen không dứt miệng: "Cô nương quả nhiên là học nghệ từ Lâm An trở về, cách làm tương tự thế này, ta chỉ từng thấy ở các tửu lâu lớn tại Lâm An." Người cuối cùng dâng tác phẩm lên là Phượng Tiên. Khác với mọi người, nàng không dùng bất kỳ nguyên liệu mặn nào, ngoài cải dầu ra còn dùng hai loại rau là cây ngải và mầm cây lau. Ba loại rau trông lượng ngang nhau, Phượng Tiên chần riêng từng loại trong nước sôi cho chín, để ráo nước, xếp gọn gàng vào đĩa. Lại lấy bát nhỏ thêm tương, nước tương và ít đường, trộn đều. Trong chảo nhỏ đổ một ít dầu, thêm gừng thái chỉ phi thơm trên lửa, rồi vớt gừng ra, đổ bát nước sốt vừa pha vào chảo hòa với dầu, sau đó rưới tất cả lên trên rau đã chần chín. Rau làm theo cách này giữ được khẩu vị thanh mát của món luộc, nhưng lại mang theo hương béo của dầu mỡ, nước sốt cũng mặn ngọt vừa phải, không hổ là một món ăn ngon miệng. Đối diện với món này, Tần Tư Thiện cũng có nghi vấn: "Ta đã nói nguyên liệu phải lấy cải dầu làm chính, món này của ngươi cải dầu, cây ngải và mầm lau lượng bằng nhau, không phân chính phụ, là cớ làm sao?" Phượng Tiên cúi đầu nói: "Món này thần thiếp đặt tên là Xuân Giang Tam Hữu (Ba người bạn sông xuân), đã là ba người bạn, thiết nghĩ không nên bên trọng bên khinh, cho nên không cố ý lấy cải dầu làm chính." Tần Tư Thiện ngưng mắt nhìn Phượng Tiên, tạm thời chưa chất vấn thêm, mà Thân huyện lệnh đã sớm quên béng chuyện tỳ vị không tốt, trong lúc họ đối thoại đã cắm cúi nếm thử. Phượng Tiên thấy ông ta chỉ ăn cải dầu, không nhịn được khẽ nhắc: "Thân huyện lệnh, xin hãy nếm thêm cả cây ngải và mầm lau... tốt nhất là ăn cả ba thứ cùng lúc." "Ồ? Ba thứ cùng ăn có gì diệu kỳ sao?" Thân huyện lệnh vừa hỏi, vừa đưa đũa về phía Xuân Giang Tam Hữu, một lần gắp cả ba loại rau, đưa vào miệng nhai kỹ, rồi cười nói: "Hình như thơm hơn là ăn riêng từng loại." "Không chỉ có vậy..." Lúc này Tần Tư Thiện chậm rãi mở miệng, nói ra ý đồ thực sự của Phượng Tiên, "Nghe nói ba thứ cải dầu, cây ngải, mầm lau cùng ăn, có thể giải độc cá nóc. Cô nương này đoán chừng là thấy huyện lệnh vừa rồi ăn Tây Thi Nhũ, sợ trong đó còn dư độc, cho nên cố ý làm món này, để giải độc cho huyện lệnh." Thân huyện lệnh sững sờ, quay sang nhìn Phượng Tiên: "Cô nương nghĩ như vậy sao?" Phượng Tiên không đáp, chỉ cúi đầu nhún mình thi lễ với huyện lệnh. Thân huyện lệnh không khỏi cảm thán: "Cô nương không chỉ trù nghệ tuyệt gia, mà còn lan tâm huệ chất, thông tuệ hơn người a!" Hình Quân Mạn chứng kiến tình cảnh này, mồ hôi lạnh trên trán rịn ra, người lảo đảo, suýt chút nữa thì ngất xỉu. Ý thức được ánh mắt soi mói của đám con gái xung quanh, c.ắ.n chặt răng, mới miễn cưỡng đứng vững. Tần Tư Thiện lại nói với Phượng Tiên: "Chiêu này của ngươi rất mạo hiểm. Nếu ta không biết thuyết pháp ba loại rau có thể giải độc, lấy lý do không phân chính phụ để phán ngươi thua cuộc này, ngươi chẳng phải oan uổng sao?" Phượng Tiên đáp lời: "Cho dù như thế, thần cũng chẳng hề oan uổng. Nếu Thân huyện lệnh vô sự, tự nhiên là tất cả chung vui; nếu có gì bất ổn, thần thiếp đã biết phương t.h.u.ố.c này, lại không làm ra mời huyện lệnh dùng, tất nhiên sẽ áy náy cả đời, cho nên mạo muội làm như vậy. Thắng thua cố nhiên quan trọng, nhưng so với an nguy của người ăn, việc có trúng tuyển hay không, đều là chuyện nhỏ." Chương 37 - Ngọc Thực Phê Kết quả cuối cùng không được công bố ngay trong ngày. Tần Tư Thiện bảo các cô nương trở về chỗ ở, nói rằng người trúng tuyển sẽ có người chuyên trách đến thông báo sau. Sau khi các cô nương ứng tuyển tản đi, Tần Tư Thiện cùng Thân huyện lệnh trở về nha môn, mở danh sách người ứng tuyển ra, việc đầu tiên là đ.á.n.h dấu vào bên cạnh tên Ngô Chân Chân, lại lấy riêng một tờ giấy, tỉ mỉ viết lời bình cho nàng. Thân huyện lệnh lẳng lặng đợi bà viết xong, mới cung kính thỉnh giáo xem người tiếp theo được chọn là ai, nào ngờ Tần Tư Thiện lại gác bút, nhàn nhạt nói: "Không còn nữa, chỉ chọn một người." Thân huyện lệnh vô cùng kinh ngạc: "Hôm nay hạ quan thấy nhân tài cũng khá nhiều, sao lại chỉ chọn một người?" Tần Tư Thiện đáp: "Lần này tổng cộng cần tuyển sáu mươi Thượng Thực nội nhân, mà Lưỡng Chiết có tất cả mười bốn châu phủ, riêng Vụ Châu - nơi quản lý Phố Giang - đã có bảy huyện là Kim Hoa, Nghĩa Ô, Vĩnh Khang, Võ Nghĩa, Lan Khê, Đông Dương và Phố Giang. Một huyện có một người được chọn đã là không tồi rồi, những châu huyện ta làm chủ khảo trước đây, còn có nơi chẳng chọn được người nào ấy chứ." Hương vị tuyệt diệu của món Tây Thi Nhũ lúc này chợt ùa về trong tâm trí, Thân huyện lệnh không khỏi bùi ngùi tiếc nuối: "Ngô Chân Chân trù nghệ cố nhiên không tồi, nhưng dường như món ăn của Hình Quân Mạn lại mang dáng dấp thức ăn của quý nhân hơn, Tư Thiện chẳng phải đã nói nàng ta nấu được sáu bảy phần hương vị của món ngon Ngự trù sao?" "Nàng ta làm được sáu bảy phần, nhưng mà, trong cung đã có người làm được mười phần hương vị rồi, thì hà tất phải tuyển thêm một người chỉ làm được sáu bảy phần vào cung nữa?" Tần Tư Thiện vặn lại. Thân huyện lệnh sững sờ, không nói được lời nào. Tần Tư Thiện lại nói: "Món ăn của Hình Quân Mạn quả thực mang phong thái ẩm thực của các gia đình quyền quý ở Lâm An, nhưng so với tay nghề của những Thượng Thực nội nhân lớn lên trong cung từ nhỏ thì chẳng có bất kỳ ưu thế nào. Hai món chim cút kia, rất nhiều nội nhân đều có thể làm tốt hơn nàng ta. Còn món ăn Ngô Chân Chân làm, nhìn thì bình thường, nhưng nàng ấy đã bỏ tâm tư để nghiền ngẫm, rất có sự mới mẻ. Món Sơn Hải Đầu ấy, từ vẻ ngoài đến ý cảnh cái tên,... đều hơn những món tương tự do nội nhân trong cung làm. Hơn nữa, nàng ấy khiến ta lần đầu tiên thấy được cách dùng phương pháp 'xào' để chế biến cải dầu, lại còn nghĩ đến việc cải tiến hình dáng nồi niêu dùng để xào nấu, điều này sẽ giúp nàng ấy sau này nương theo phương pháp xào nấu mà sáng tạo ra nhiều món ăn mới lạ hơn. Cô nương như vậy mới là người chúng ta cần tìm, khác biệt với những nữ t.ử thường thấy trong cung, nàng ấy là người có thể mang đến luồng gió mới cho Thượng Thực Cục." "Tuy là vậy..." Thân huyện lệnh vẫn thở dài, "Hình cô nương vẫn thật đáng tiếc a. Tuổi còn nhỏ, trong thời gian ngắn như vậy mà làm ra được bốn món ăn tinh xảo, sau này rèn luyện thêm, ắt sẽ có thành tựu. Lần tuyển chọn Thượng Thực nội nhân này, Di Bối Lâu dốc sức tương trợ, trù bị hơn tháng trời, thật không dễ dàng gì, họ cũng gửi gắm toàn bộ hy vọng làm rạng rỡ tổ tông lên người Hình cô nương... Nội phu nhân hay là cho Hình cô nương thêm một cơ hội, chọn hai người từ Phố Giang đi." Tần Tư Thiện dứt khoát lắc đầu: "Ta chọn nhân tài, chỉ xem có thích hợp hay không, không xem nhân tình. Huống hồ, Hình Quân Mạn kia thích khoe khoang, chuộng hư vinh, vì cố ý thể hiện bản thân mà không nghe theo chỉ lệnh, tự ý làm bốn món ăn. Chuyện này nếu ở trong cung, nàng ta vì muốn tranh nổi bật mà ném ý chỉ của quý nhân ra sau đầu, nhẹ thì chịu phạt, nặng thì khó giữ được tính mạng. Tính tình như vậy mà cứ cố đưa vào cung, ngược lại là hại nàng ta." Thân huyện lệnh thấy thái độ Tần Tư Thiện kiên quyết, đành phải thôi, không nói đỡ cho Hình Quân Mạn nữa, nhưng chợt nhớ tới Phượng Tiên, cũng tiếc nuối không thôi, bèn khuyên Tần Tư Thiện: "Còn Lăng Phượng Tiên kia nữa, tính tình ôn hòa, hiểu lòng người, lại khá thông thạo d.ư.ợ.c lý, chọn nàng ấy vào cung hầu hạ quý nhân, chẳng phải rất thích hợp sao?" "Nàng ấy sao..." Tần Tư Thiện ngước mắt nhìn giàn t.ử đằng trong sân, nơi đó hoa lá xào xạc, lay động những mảng sáng tối nhập nhòe, "Dược thực đồng nguyên (thuốc và thức ăn cùng nguồn gốc), d.ư.ợ.c lý là lĩnh vực sớm muộn gì Thượng Thực nội nhân cũng phải đụng tới. Chỉ là, tinh thông d.ư.ợ.c lý cũng giống như hiểu lòng người, đều có lợi có hại, là tốt hay xấu, phải xem tâm thuật của người sử dụng. Cứu đời giúp người, hay gây hại cho chúng sinh, thường chỉ nằm trong một ý niệm của người dùng. Hai ngày thời gian bắt ta phán đoán phẩm đức bản tính của một người, rất khó, cho nên, ta dứt khoát không chọn. Khi nào ta cảm thấy đã đủ hiểu một học trò, tin tưởng phẩm tính thuần lương của nó, ta mới khuyên nó đi học d.ư.ợ.c lý." Ngày hôm sau, có tiểu hoàng môn từ nha môn đến, truyền đạt tin vui trúng tuyển cho Chân Chân, yêu cầu nàng ngay trong ngày chuyển đến hành quán nơi Tần Tư Thiện và các nữ quan khác đang ở để học lễ nghi, chờ ngày vào cung. Chân Chân vô cùng vui mừng, Bồ bá và Tương Diệp lần lượt tiến lên chúc mừng, ai nấy đều hân hoan ra mặt. Chân Chân chợt nhớ tới Phượng Tiên, gặng hỏi tiểu hoàng môn xem Phượng Tiên có trúng tuyển không, tiểu hoàng môn lộ vẻ khó xử, nói: "Tạm thời chưa biết..." Liếc thấy Phượng Tiên đứng im lặng bên cạnh nhưng vẫn giữ nụ cười lễ phép, hắn lại an ủi thêm: "Mong các cô nương kiên nhẫn chờ đợi, biết đâu Tần Tư Thiện vẫn đang cân nhắc, chừng nào quyết định xong sẽ lại sai người đến báo tin vui." Sau khi tiểu hoàng môn đi, Chân Chân an ủi Phượng Tiên như lời hắn nói, bảo nàng tĩnh tâm chờ tin vui. Phượng Tiên cười cười, cũng không đáp lời về chuyện đó, chỉ ôn tồn bảo Chân Chân: "Nào, để tỷ giúp muội thu dọn hành lý, lát nữa tiễn muội đến hành quán." Theo lời tiểu hoàng môn, sau này y phục và vật dụng thường ngày của Chân Chân đều sẽ có người chuẩn bị sẵn, đồng nhất với các Thượng Thực nội nhân khác, vì vậy hành lý Chân Chân cần mang theo không nhiều. Nghĩ đi nghĩ lại, ngoài bộ dụng cụ bếp núc tự chế, nàng cũng chỉ mang theo một ít kỷ vật liên quan đến nương và cuốn thực phổ do Lâm Hoằng tặng. Nhìn thấy thủ trát của Lâm Hoằng, Chân Chân bỗng nhớ đến cuốn thực phổ cũ đã giúp nàng làm ra bữa tiệc từ hôn xa hoa nọ. Thu Nương rời đi vội vã, không mang theo bất cứ vật gì, sau này Chân Chân chuyển đến tiểu viện của Bồ bá, thu dọn đồ đạc trong phòng Thu Nương cũng tìm thấy cuốn sách đó, khóa trong rương gỗ mang theo. Lúc này bèn mở rương, lấy ra, để cùng chỗ với thực phổ của Lâm Hoằng, mang theo đến hành quán. Phượng Tiên tiễn Chân Chân đến hành quán, trước cửa hành quán gặp Triệu Ngai vừa đi đạp thanh ở ngoại ô về. Vung roi cưỡi ngựa, mắt sáng như sao lấp lánh ý cười, vẫn là dáng vẻ đắc ý xuân phong, bên vó ngựa lấm tấm bùn xuân của con tuấn mã hắn cưỡi thậm chí còn vương vấn hai chú bướm rập rờn bay lượn. Chân Chân rất khinh bỉ liếc xéo, nói nhỏ với Phượng Tiên: "Suốt ngày lêu lổng, không làm việc đàng hoàng." Triệu Ngai dường như nghe thấy lời nàng, cười tủm tỉm xuống ngựa trước mặt các nàng, nói với Chân Chân: "Đối với một Thân vương nhàn tản mà nói, vui chơi chính là việc đàng hoàng." Dưới sự dẫn dắt của Phượng Tiên, Chân Chân miễn cưỡng thi lễ với hắn một cái, rồi lạnh lùng cáo từ. Triệu Ngai liếc nhìn hành quán nàng sắp bước vào, cười chúc mừng: "Cung hỷ, sau này còn mong chiếu cố nhiều hơn." Hôm thi tài cuối cùng của các cô gái, hắn cũng có mặt tại Di Bối Lâu, ẩn mình trong gian phòng dành cho quý khách, không lộ diện nhưng có thể nhìn thấy tình hình trong sân, chuyện xảy ra trong bếp cũng có hoạn quan báo lại cho hắn, nên đại khái biết được quá trình trong đó. Phượng Tiên mỉm cười nói: "Chân Chân vào cung, lẽ ra phải nhờ Nhị Đại Vương chiếu cố nhiều hơn, sao Nhị Đại Vương lại nhờ muội ấy chiếu cố?" Triệu Ngai đáp: "Dĩ thực vi thiên (coi cái ăn là trời), Thượng Thực nội nhân đã nắm giữ việc ăn uống, bất kể là vì món ngon hay sự an nguy, ta đều không thể đắc tội được." Lời này của hắn nghe có vẻ không hoàn toàn là nói đùa. Chân Chân lẳng lặng nhìn hắn, thấy ánh mắt hắn nhìn mình chăm chú không hàm chứa ý cợt nhả. Không biết nhớ tới chuyện gì, ánh mắt ẩn dưới hàng mi rủ xuống của hắn lặng lẽ nhạt đi, khiến nàng bắt gặp một loại cảm xúc ngờ ngợ như u sầu. Tuy nhiên chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, hắn rất nhanh khôi phục vẻ thần thái sáng láng, ôn hòa nói với nàng: "Mau vào đi thôi, hy vọng sớm ngày gặp lại nàng trong cung." Chân Chân gật đầu, từ biệt Phượng Tiên, xách hành lý đi vào trong. Triệu Ngai và Phượng Tiên đứng nguyên tại chỗ dõi theo nàng, cho đến khi bóng nàng khuất sau bức bình phong của hành quán. Triệu Ngai đang định lên ngựa rời đi, Phượng Tiên rảo bước tiến lên, gọi hắn lại. Triệu Ngai quay người hỏi: "Lăng cô nương có gì chỉ giáo?" Phượng Tiên ngượng ngùng cúi đầu, khẽ nói: "Phượng Tiên có một lời thỉnh cầu quá phận..." Triệu Ngai thấy tình cảnh của hai cô gái trước đó, đã đoán được Phượng Tiên rớt tuyển, bèn hỏi: "Có phải muốn ta tiến cử cô nương với Tần Tư Thiện không? Chỉ là việc tuyển chọn nội nhân lần này là chức trách của Thượng Thực Cục, ta không có quyền nhúng tay, nếu cưỡng ép can thiệp, Quan gia tất sẽ không vui..." "Không phải, không phải!" Phượng Tiên lập tức phủ nhận, rồi nói chậm lại, khẩn thiết: "Phượng Tiên tự biết vô phúc vào cung, tuyệt không dám ôm ấp suy nghĩ viển vông, nhờ Đại Vương nói tốt cho mình. Có điều, tôi khổ luyện trù nghệ nhiều năm, lần này cũng dốc hết sức trù bị hồi lâu, tự cảm thấy quá trình thi đấu không có sai sót, lại chẳng biết vì sao rớt tuyển. Cho nên, Phượng Tiên to gan, mong Đại Vương giúp tôi hỏi Tần Tư Thiện nguyên do tôi bị loại. Không phải để xoay chuyển kết quả, chỉ là muốn biết rõ mình kém cỏi ở đâu, để ngày sau biết đường sửa đổi cho tốt hơn." Triệu Ngai không tỏ thái độ, im lặng một lát, mới hỏi nàng: "Lăng cô nương, thứ lỗi cho ta nói thẳng, cô xuất thân nhà quan lại, rất dễ gả được tấm chồng như ý, hà tất cứ phải tham gia kỳ thi của Thượng Thực Cục, đi cầu một cơ hội hầu hạ người khác?" "Gả được... lang quân như ý..." Phượng Tiên c.ắ.n nhẹ môi dưới, cười thê lương, "Nếu tôi không thi đỗ vào Thượng Thực Cục, phụ thân sẽ gả tôi cho... Ân Kỳ." Ân Kỳ là ai, Triệu Ngai đương nhiên biết, trong nháy mắt cũng hiểu được sự bất lực và tuyệt vọng của Phượng Tiên. Đối diện với sự im lặng của nàng, suy tư một hồi, cuối cùng hắn nhận lời: "Được, ta sẽ hỏi Tần Tư Thiện." Tần Tư Thiện vẫn còn ở nha môn, cùng Thân huyện lệnh sắp xếp lại hồ sơ của đợt tuyển chọn lần này. Chợt có tiểu hoàng môn đi vào, trình lên cho bà một bức thư do chính tay Triệu Ngai viết. Tần Tư Thiện xem xong sắc mặt ngưng trọng, cau mày suy nghĩ. Thân huyện lệnh thấy vậy, hỏi bà xảy ra chuyện gì. Tần Tư Thiện nói Nhị Đại Vương muốn biết nguyên nhân Lăng Phượng Tiên rớt tuyển, Thân huyện lệnh lập tức biến sắc vì kinh ngạc: "Nhị Đại Vương đích thân viết thư hỏi, vậy chắc chắn nữ t.ử này đối với ngài ấy không hề tầm thường. Thấy nàng ta rớt tuyển, Nhị Đại Vương thất vọng lắm, cho nên mới đặc biệt hỏi thăm, ám chỉ Nội phu nhân cho nàng ta trúng tuyển." Tần Tư Thiện nói: "Nhị Đại Vương lại bảo chỉ có duyên gặp gỡ một lần với Lăng Phượng Tiên, được nàng ấy nhờ cậy, chỉ muốn biết nguyên nhân rớt tuyển mà thôi." Thân huyện lệnh liên tục lắc đầu: "Đâu có đơn giản như vậy! Chẳng lẽ Nội phu nhân muốn Nhị Đại Vương nói toạc ra là mình để mắt đến cô gái này, một lòng mong nàng ta vào cung sao? Người ta là Đại Vương mà, thích một cô gái dân gian, đương nhiên phải tỏ ra như gió thoảng mây bay, nhưng chúng ta không thể hiểu theo nghĩa đen trên mặt chữ, cho rằng cô nương này không quan trọng được." Thấy Tần Tư Thiện vẫn trầm mặc không nói, Thân huyện lệnh tiếp tục ân cần khuyên nhủ: "Nội phu nhân kiên trì nguyên tắc cố nhiên không sai, nhưng nên biết nước trong quá thì không có cá, Nội phu nhân nhậm chức trong cung, sẽ không thể không hiểu điều này. Nhị Đại Vương là con cháu dòng dõi hoàng gia, cũng là người gần ngai vàng nhất sau Thái tử, để phòng ngừa chu đáo, Nội phu nhân tuyệt đối không thể đắc tội với ngài ấy..." Thân huyện lệnh thấy Tần Tư Thiện vẫn chưa tỏ thái độ, dứt khoát tự mình rút danh sách nữ t.ử ứng tuyển vòng cuối cùng từ trong tập hồ sơ vừa sắp xếp xong ra, mở ra trước mặt Tần Tư Thiện, đích thân mài mực cho bà, vừa mài vừa nói: "Huống chi Lăng Phượng Tiên kia, vốn dĩ trù nghệ phi phàm, người lại thông minh, chọn nàng ta vào cung, ai nhìn vào cũng không bới ra được lỗi, sẽ không nói Nội phu nhân chọn hai người ở Phố Giang là có nội tình gì đâu..." Cuối cùng, Tần Tư Thiện thở dài một tiếng, chậm rãi cầm bút, viết lời phê chú bên cạnh tên Lăng Phượng Tiên. Vài ngày sau, Phượng Tiên và Chân Chân dắt tay nhau lên xe ngựa cung đình hướng về Lâm An. Bánh xe sơn đỏ lăn lộc cộc, tắm mình trong ánh nước lạnh lẽo uốn lượn, sắc trời quang đãng trên núi xa, nghiền qua con đường lớn dát vàng bởi hoa cải dầu, đưa hai cô gái dân gian này tiến vào chốn cửu trùng cung khuyết bồng bềnh trong giấc mộng của họ. Họ như trút được gánh nặng, đồng thời lại như gặp đại địch, cả hai đều ý thức được một đoạn đời hoàn toàn khác biệt với trước kia sắp sửa ầm ầm mở ra. Trong chiếc xe ngựa xóc nảy, Chân Chân lấy cuốn thực phổ Thu Nương để lại ra ngắm nghía, nhẹ nhàng v**t v* bìa sách, vừa mong đợi vừa thấp thỏm về tin tức của Thu Nương có thể biết được sau khi vào cung. Phượng Tiên phát hiện, đón lấy cuốn sách lật xem, phán đoán: "Sách này không phải do sư nương viết đâu nhỉ? Nét chữ không giống." Chân Chân sững sờ. Trước đây nàng cũng cảm thấy nét chữ không giống chữ viết thường ngày của Thu Nương, nhưng nghĩ lại cuốn sách này được viết từ nhiều năm trước, nét chữ của nương giờ đây có thay đổi cũng là bình thường, nên không đoán già đoán non nhiều. Lúc này thấy Phượng Tiên nói vậy, Chân Chân lại thu sách về xem kỹ. "Tuy đều là chữ tiểu khải, nhưng chữ của sư nương gân cốt rõ ràng, nét bút nghiêng như lan trúc, giống lối chữ 'Sâu kim' (Thư pháp của Tống Huy Tông) hơn, còn chữ trên cuốn thực phổ này thì dịu dàng tròn trịa hơn nhiều, không lộ mũi nhọn, trông giống như một nữ t.ử đang mỉm cười, hẳn là do người khác viết." Phượng Tiên phân tích như vậy. Chân Chân lật từng trang sách, muốn tìm ra chút manh mối trong đó. Bìa sách được bọc bởi một lớp vỏ lụa màu xanh sẫm, không nhìn thấy chữ viết. Chân Chân mở cửa sổ xe, đưa bìa sách ra trước ánh mặt trời, thấy ánh sáng xuyên qua lốm đốm, lờ mờ có thể nhận ra trong lớp vỏ bọc còn có vài trang sách rách. Chân Chân cẩn thận tháo lớp vỏ bọc ra, phát hiện bên trong ngoài bìa sách còn có mấy trang sách bị xé đi quá nửa. Trên bìa đề ba chữ ——Ngọc Thực Phê, mà từ nội dung vài chữ ít ỏi trong những trang rách còn lại có thể thấy, phần bị xé đi hẳn là một bài tựa. Trang cuối của bài tựa vẫn còn lưu lại dấu tích của tác giả, câu cuối cùng vẫn được viết bằng nét chữ tiểu khải nhu nhuận ấy: "Tư Thiện Lưu thị cẩn lục" (Tư Thiện họ Lưu kính ghi). Chương 38 - Chuyện Tình Đông Cung Thượng Thư nội tỉnh thuộc quyền quản lý của nữ quan trong đại nội, bên dưới thiết lập lục thượng: Thượng Cung, Thượng Nghi, Thượng Phục, Thượng Thực, Thượng Tẩm, Thượng Công. Nữ quan Thượng Thực hàm chánh ngũ phẩm, liêu tá bên dưới có Tư Thiện, Tư Uẩn, Tư Dược, Tư Sí mỗi chức hai người hàm chánh thất phẩm, bốn tư này lại có liêu tá riêng, chỉ riêng dưới trướng Tư Thiện đã có Điển Thiện, Chưởng Thiện, Nữ Sử mỗi chức bốn người, ngoài ra còn có một số nội nhân không có phẩm hàm, do các nữ quan chia nhau quản lý, sau khi học nghề xong sẽ phái đến các các trong cung phân chia công việc. Đợt nội nhân được tuyển từ dân gian của Chân Chân và Phượng Tiên tổng cộng có sáu mươi người, chia làm năm người một nhóm, giao cho một vị nữ quan dưới quyền Tư Thiện chịu trách nhiệm dạy bảo. Bình thường Bùi Thượng Thực lo liệu bữa ăn của Hoàng đế, Tần Tư Thiện lo liệu bữa ăn của Thái tử, còn một vị Tư Thiện khác là Tôn thị ở lâu dài tại cung Từ Phúc, lo liệu bữa ăn cho Thái hậu. Ba vị này công việc bộn bề, thi thoảng rảnh rỗi mới lên lớp dạy cho các nội nhân. Trong số nữ quan Thượng Thực Cục không có vị Tư Thiện nào họ Lưu cả, Chân Chân đã nghe ngóng rất kỹ rồi. Khi hỏi các nội nhân trẻ tuổi về ba chữ "Lưu Tư Thiện", họ đều ngơ ngác, tất nhiên họ càng không biết Ngô Thu Nương là ai, bất kể Chân Chân hỏi ai, câu trả lời nhận được đều là "không quen", "không biết" và "không rõ". Chân Chân được phân cho Chưởng Thiện Phùng Tịnh dạy bảo. Phùng Tịnh là một nữ t.ử mười tám tuổi dịu dàng, ngoài chức quan Chưởng Thiện chánh bát phẩm, nàng còn một thân phận nữa —— cháu gái của Lệ Quý phi. Nội nhân trong Thượng Thực Cục đối đãi với đồng liêu đều có quy luật riêng: người Lâm An coi thường người ở châu huyện khác, người nguyên quán Biện Kinh lại coi thường người Lâm An, cùng là nguyên quán Biện Kinh thì so xem quan tước tổ tiên ai cao thấp rồi mới quyết định ai coi thường ai. Phùng Tịnh là con gái của thân muội của Lệ Quý phi, nguyên quán Biện Kinh, phụ thân và anh đều có quan hàm, theo lý mà nói bối cảnh như vậy có thể kiêu ngạo nhất trong Thượng Thực Cục, nhưng Chân Chân phát hiện ra không phải như vậy. Những nội nhân lớn lên trong cung khi nhắc đến Phùng Tịnh, nơi khóe mắt đuôi mày thường mang ý trào phúng không giấu được, trước mặt thì khách sáo với Phùng Tịnh, vừa quay lưng đi lại ném cho nàng một ánh mắt mỉa mai. Còn Phùng Tịnh không giận không hờn, làm như không thấy tất cả sự khinh mạn vô lễ, bình thường nếu không cần thiết cũng chẳng thích tiếp xúc với ai, thường đi về lẻ loi, hoặc một mình một góc, dù bận rộn hay tĩnh lặng, đều mang dấu ấn của sự cô liêu. Những nội nhân mới cùng nhóm với Chân Chân dần dần nghe ngóng được nguyên do, lén lút kinh ngạc nói với Chân Chân: "Phùng Chưởng Thiện vốn là ứng cử viên Thái t.ử phi, chỉ thiếu một bước là một bước lên trời, nhưng lại bị Hoàng Thái t.ử ruồng bỏ!" Nghe như một câu chuyện đáng than tiếc: Trương Uyển Nghi của Tiên đế có một khu vườn tinh xảo tên là Tập Phương Viên, sau khi Trương nương t.ử qua đời khu vườn này được Quan gia thu hồi, dùng làm nơi du ngoạn cho tôn thất quyền quý. Năm ngoái Thái t.ử du xuân ở đây, tình cờ gặp Phùng Tịnh. Phùng Tịnh khí chất cao sang, đọc nhiều sách vở, Thái t.ử vừa gặp đã như quen thân, khá là xiêu lòng, sau đó lại vài lần hẹn gặp Phùng Tịnh ở Tập Phương Viên. Nhưng có lẽ vì trước và sau khi thân mẫu của Thái t.ử là An Thục Hoàng hậu qua đời, Hoàng đế từng sủng ái Lệ Quý phi một thời gian dài, Thái t.ử trong lòng oán hận, nên tỏ ra vô cùng lạnh nhạt với Lệ Quý phi. Phùng Tịnh có lẽ lo ngại điều này, khi lén lút qua lại với Thái t.ử đã giấu giếm sự thật mình là cháu gái Lệ Quý phi. Chuyện Phùng Tịnh lén lút hẹn hò với Thái t.ử ở Tập Phương Viên sau này bị Hoàng đế và Lệ Quý phi biết được, Lệ Quý phi vừa giận vừa cuống, mắng Phùng Tịnh một trận. Hoàng đế ngược lại rất khoan dung, nói hai người đã có tình ý với nhau, chi bằng đưa Phùng Tịnh vào danh sách ứng cử viên Thái t.ử phi. Khi đó ứng cử viên Thái t.ử phi đã có mấy người, đều là dòng dõi vương tôn, gia thế trâm anh, ai nấy gia thế bất phàm. Nhưng Hoàng đế nói với Thái tử, có thể tùy ý lựa chọn theo lòng mình, không cần bận tâm gia thế. Ngay lúc ai cũng tưởng Phùng Tịnh sẽ trúng tuyển, Thái t.ử lại vung bút, chọn Tiền thị, hậu duệ của Ngô Việt Vương. Tiền cô nương kia là cháu đời thứ bảy của Ngô Việt Vương Tiền Thục, bà cố là Tần Lỗ Quốc Đại Trưởng Công chúa, bà nội Đường thị là con nhà danh thần, nương cũng là tiểu thư khuê các, nếu luận về thân phận tôn quý, đủ sức đè bẹp Phùng Tịnh. Vì thế sau khi Thái t.ử đưa ra lựa chọn, người đời tuy hơi bất ngờ, nhưng đều cho rằng đây là quyết định sáng suốt, triều đình trên dưới đều vui mừng. Nhưng kết quả này khiến Phùng Tịnh rơi vào tình cảnh vô cùng khó xử. Chuyện mấy lần lén lút hẹn hò với Thái t.ử đã lan truyền ra ngoài, danh tiết bị tổn hại, chẳng còn vương tôn công t.ử nào đến cầu thân nữa. Hoàng đế có ý để Thái t.ử nạp nàng làm trắc thất, nhưng Thái t.ử lại từ chối, nói vợ chồng son với Thái t.ử phi đang mặn nồng, sẽ không nạp thiếp nữa. Cứ như vậy, Phùng Tịnh thấy rõ cảnh sẽ phải cô độc đến già ở nhà nương đẻ. Lệ Quý phi không nỡ nhìn nàng trở thành trò cười cho thiên hạ, bèn xin Hoàng đế cho phép nàng vào cung, ban cho cái danh Chưởng Thiện, làm một nữ quan. "Dù sao thì, nữ quan suốt đời không lấy chồng là chuyện rất bình thường." Trang Lăng Tử, nội nhân kể câu chuyện này than thở, "Có điều, bỗng nhiên đưa cô ấy vào Thượng Thực Cục làm nữ quan chánh bát phẩm, cũng gây ra sự bất mãn cho các nội nhân, họ cảm thấy cô ấy chưa từng qua huấn luyện bài bản về trù nghệ, kỹ nghệ có hạn, lại dựa vào quan hệ họ hàng mà một bước có được chức này, không phục chúng, cho nên mọi người ngoài sáng trong tối đều thích châm chọc mỉa mai cô ấy." Chân Chân nghi hoặc nói: "Lệ Quý phi là dì của cô ấy, các nội nhân chế giễu cô ấy, không sợ Lệ Quý phi trách phạt sao?" "Cô không biết à?" Cảm giác ưu việt của kẻ thạo tin dâng lên trong lòng Trang Lăng Tử, nàng ta nhướn mày nói với Chân Chân, "Bây giờ nương t.ử được Quan gia sủng ái nhất không phải là Lệ Quý phi nữa, mà là Liễu Tiệp dư. Lệ Quý phi bây giờ hoàn toàn mang dáng vẻ không màng thế sự, sống ngày nào hay ngày đó thôi, đâu còn lòng dạ nào lo cho Phùng Tịnh!" Chân Chân có chút đồng cảm với Phùng Tịnh, Hoàng Thái t.ử liền để lại ấn tượng là kẻ bạc tình trong lòng nàng. Chân Chân đôi khi hình dung dáng vẻ của Thái tử, cũng tự phác họa trong lòng hình ảnh hắn là một phiên bản cấp cao hơn của Nhị Đại Vương: áo quần bảnh bao, cưỡi ngựa dữ, suốt ngày chơi bời lêu lổng trêu ghẹo thiếu nữ. Nhưng nàng sớm phát hiện sự thật có chút sai lệch. Cuối tháng tư năm ấy, Hoàng đế muốn mở "Yến Văn Hỷ" (tiệc mừng nghe tin vui) tại Cống viện bộ Lễ, chiêu đãi các tân tiến sĩ vừa đỗ đạt. Việc bài trí trước yến tiệc do Nghi Loan Ty phụ trách, còn nội dung ăn uống phải do Thượng Thực Cục phối hợp lên thực đơn. Trước đó vài ngày, các nội nhân dưới sự dẫn dắt của mấy vị nữ quan đến Cống viện kiểm tra các thiết bị và đồ dùng liên quan, làm quen với bố cục môi trường. Xong việc hồi cung, các nội nhân vừa vào cửa Lệ Chính của cung thành, liền gặp Hoàng Thái t.ử và Thái t.ử phi đang từ cửa Nam cung đi ra. Một trận xôn xao ngắn ngủi như thủy triều lan qua giữa các nội nhân, Chân Chân nghe thấy họ thì thầm: "Thái t.ử điện hạ..." Chân Chân ngước mắt nhìn lên, quả nhiên thấy một thân ảnh cao ráo mặc trường bào tay rộng đang từ đại nội đi ra, nhìn kiểu dáng trâm mũ, quả nhiên là Hoàng Thái tử. Hắn bước đi trầm ổn, tư thái đoan trang, nước da trắng trẻo, đôi mắt phượng hơi xếch lên, phối hợp với khóe môi luôn giữ nét cười, khiến dung mạo hắn trông tú mỹ mà dịu dàng, mỗi cử chỉ đều tràn đầy phong thái quân tử, nhìn thế nào cũng không giống tên háo sắc sẽ làm ra chuyện bội bạc. Chân Chân tò mò nhìn chằm chằm hắn, ngạc nhiên vì sự khác biệt giữa hắn và hình dung về một công t.ử bột trong đầu mình, nhất thời quên mất lễ tiết, cũng không nhận ra các nội nhân đi cùng đã đồng loạt cúi người hành lễ với Thái t.ử ở phía sau lưng nàng. Hoàng Thái t.ử chú ý đến nàng đang đứng ngây ra đó, không hề có ý trách cứ, mà khi đi ngang qua nàng, mỉm cười khẽ nghiêng người về phía nàng, trông như chủ động chào hỏi nàng vậy. Chân Chân như vừa tỉnh mộng, mới nhớ tới lễ nghi mà các nữ quan đã dạy bảo nhiều lần. Vội vàng hành lễ, giữ tư thế cụp mắt cúi mày, bóng dáng Thái t.ử lướt qua như mây trôi nơi khóe mắt, Chân Chân cảm nhận được hương thơm thoang thoảng từ y phục hắn để lại, không kìm được thầm cảm thán: Quả là một nam t.ử nho nhã - chỉ kém mỗi thầy Lâm. Thái t.ử phi Tiền thị theo sau Thái tử, giữ khoảng cách ba bước với hắn, khi di chuyển trâm cài ngọc bội không hề rối loạn, độ cong nụ cười cũng giữ ở mức phù hợp lễ nghi nhất. Nàng là một nữ t.ử xinh đẹp dịu dàng, dường như cũng nhận được sự tôn trọng và yêu thương chân thành từ Thái tử. Đi đến bên xe ngựa, Thái t.ử đích thân dùng hai tay đỡ Thái t.ử phi lên xe, năm lần bảy lượt xác nhận nàng đã ngồi yên, sau khi nhận được nụ cười khẳng định của nàng mới xoay người lên ngựa, cưỡi ngựa đi bên cạnh xe ngựa, cùng Thái t.ử phi về Đông cung. Chân Chân nhớ tới Phùng Tịnh, quay đầu nhìn lại, thấy Phùng Tịnh vẫn giữ nguyên tư thế cúi người hành lễ, dưới ánh mắt hả hê khi người gặp họa của đám đông, nàng ta rủ mi, nhìn chằm chằm xuống đất, không nhúc nhích. Nàng đội chiếc mũ rèm mà nữ quan dùng khi ra ngoài, lúc nãy đã theo quy củ vén màn sa lên để hành lễ với Thái tử, điều này khiến dung mạo nàng ấy lúc này phơi bày dưới những cặp mắt soi mói của mọi người, không thể tránh né. Chân Chân tiến lên, hai tay cầm lấy màn sa trên mũ Phùng Tịnh, thả xuống trở lại, che đi đôi mắt ngân ngấn lệ của nàng ta, khẽ nói với Phùng Tịnh: "Gió nổi rồi, Chưởng Thiện đội mũ cẩn thận gió cát." Sau đó nàng nắm tay Phùng Tịnh, mặc kệ những nội nhân khác, ung dung đi về phía chỗ ở của họ. Sau ngày hôm ấy, cả Phùng Tịnh và Chân Chân đều ngầm hiểu không nhắc đến chuyện hôm đó, nhưng Phùng Tịnh bắt đầu chủ động trò chuyện với Chân Chân, dạy bảo Chân Chân các loại lễ nghi tỉ mỉ hơn, khi đứng xem Chân Chân nấu ăn, cũng thường đưa ra những ý kiến và đề xuất xác đáng, khiến Chân Chân cảm thấy cô ấy đến Thượng Thực Cục không chỉ đơn thuần do sự sắp đặt cứng rắn của Lệ Quý phi, trù nghệ của cô ấy dù so với nội nhân được đào tạo từ nhỏ ở Thượng Thực Cục, cũng chưa chắc đã kém cạnh. Món chính trong Yến Văn Hỷ không đến lượt nội nhân mới vào cung làm, nhóm Chân Chân chỉ cần làm một số loại bánh trái nhỏ. Phùng Tịnh hỏi Chân Chân muốn làm gì, Chân Chân nói mình hoàn toàn không biết các quan to quý nhân trong kinh thành ăn loại điểm tâm thế nào. Phùng Tịnh nở nụ cười dịu dàng, nhỏ nhẹ nói: "Thực ra, điểm tâm Quan gia ăn cũng không phức tạp đâu, cũng gần giống dân chúng ăn thôi, chẳng qua nguyên liệu và công đoạn tinh tế hơn chút. Ta dạy muội một món đơn giản trước nhé. Món điểm tâm này Quan gia và... và các quý nhân trong cung đều thích ăn, gọi làTô Nhi Ấn." Nàng dạy Chân Chân dùng bột mì trộn cùng bột đậu, dùng tay cán thành dải, to cỡ đầu đũa, cắt thành từng đoạn ngắn chừng hai phân, rồi nhón từng cái lên, dùng chiếc lược nhỏ ấn lướt lên trên tạo thành những vân hoa đều đặn. Sau đó đun nóng dầu tô (bơ lỏng) trong chảo, thả những đoạn bột đã in hoa vào chiên chín, dùng muôi thủng vớt ra, nhân lúc còn nóng rắc bột đường trắng mịn lên trộn đều. Chẳng bao lâu Chân Chân đã nắm được kỹ năng, Tô Nhi Ấn chiên xong khiến cả không gian tràn ngập mùi thơm ngọt ấm áp. Nhón một chiếc đưa vào miệng, vân hoa gợn sóng xoay tròn trên đầu lưỡi, c.ắ.n nhẹ một cái, thanh bánh giòn tan vỡ vụn dưới răng, hơi nóng và hương thơm dầu tô bị phong kín bên trong theo đó trào ra, cảm giác ấm áp ngọt ngào ấy nhanh chóng khơi dậy niềm vui sướng, đủ khiến người ta tạm thời quên đi mọi phiền não, cảm thấy niềm vui đơn thuần như thuở ấu thơ theo đuổi đồ ngọt. Chân Chân bày Tô Nhi Ấn ra đĩa, đặt lên bàn trong gian bếp nhỏ của nhóm mình để tản nhiệt, rồi đi sang phòng khác trong viện tìm vật dụng kín để đựng. Một lát sau, mang theo một chiếc hộp đựng thức ăn trở lại bếp, lại thấy Tô Nhi Ấn trong đĩa vơi đi nhiều, dưới đất còn rơi vãi vài thanh. Chân Chân nghi ngờ có mèo hoang lẻn vào ăn vụng. Nhìn quanh quất, phát hiện trong chiếc tủ đựng đồ vật lớn dường như có vật sống gì đó đang ẩn nấp, phát ra tiếng sột soạt khe khẽ. Chân Chân rảo bước tới, giật mạnh cửa tủ, chỉ nghe bên trong rú lên một tiếng, một thiếu nữ áo xanh lăn long lóc ngã ra đất, rồi vội vàng chống tay ngồi dậy, kinh hãi nhìn chằm chằm Chân Chân, khóe môi vẫn còn dính vụn bột Tô Nhi Ấn. Chương 39 - Chuyện Lạ Tiên Thiều Cô nương kia trạc chừng mười bốn mười lăm tuổi, đầu chải tóc song hoàn (hai búi tóc tròn), mắt hạnh trong veo, đôi môi anh đào tròn nhỏ, ửng sắc yên chi tự nhiên, vô cùng xinh xắn. Bộ váy lụa màu xanh nhạt ấy nếu người khác mặc, sơ sẩy một chút sẽ khiến sắc mặt trông xanh xao vàng vọt, nhưng cô nương này da dẻ trắng hồng, dưới sự tôn lên của màu sắc này càng thấy làn da sáng như ngọc, cả người tươi mới đáng yêu như mầm liễu mới nhú đầu xuân. "Tô Nhi Ấn là do muội ăn vụng?" Chân Chân hỏi. Cô bé do dự một chút, ước chừng khó mà chối cãi, đành gật đầu. Chân Chân đưa tay kéo nàng dậy, dẫn nàng ngồi xuống bên bàn, đặt chỗ Tô Nhi Ấn còn lại trước mặt nàng: "Ăn tiếp đi." Cô bé ngạc nhiên nhìn Chân Chân, thấy vẻ mặt nàng ôn hòa, không có ý trách mắng, mới yên tâm, hớn hở nhón lấy Tô Nhi Ấn ăn liền tù tì hai cái. Chân Chân thấy tướng ăn như mèo tham ăn của nàng, không khỏi bật cười: "Cũng đâu phải thức ăn quý giá gì, muốn ăn cứ theo quy củ mà xin là được, hà tất phải lén lút lấy." "Tại vì cô cô không cho muội ăn mấy loại điểm tâm ngọt này." Cô bé tiếp tục ăn ngấu nghiến, tranh thủ trả lời câu hỏi của Chân Chân. "Cô cô muội sợ muội ăn hỏng răng à?" Chân Chân lại hỏi. Cô bé lắc đầu: "Chủ yếu là sợ muội béo... Muội là người của Cúc Bộ, không được béo." "Cúc Bộ? Là chỗ trồng hoa cúc à?" Chân Chân nhìn kỹ nàng, cảm thấy nàng da thịt non mềm thế này, tuyệt đối không giống người làm việc chân tay, huống hồ váy lụa nàng mặc khác với váy áo nội nhân bình thường, lụa làm nền, bên trên phủ mấy lớp voan mỏng, tinh xảo thướt tha, nào giống đồ của người làm vườn mặc. "Tỷ là người mới đến phải không?" Cô bé rất nhanh nhận ra lai lịch của Chân Chân, nhưng vẫn kiên nhẫn giải thích, "Cúc Bộ là chỉ Tiên Thiều Viện, bên trong có rất nhiều ca vũ nhạc kỹ, phụ trách âm nhạc trong nội đình. Cô cô muội là tay đàn tỳ bà, muội cũng biết đàn tỳ bà, nhưng chủ yếu học múa, nên không được béo." Lời "không được béo" vừa dứt, nàng lại nhón một cái Tô Nhi Ấn nhét vào miệng, nhai ngon lành. Chân Chân làm bộ định thu Tô Nhi Ấn lại, "Vậy ta không thể hại muội được, điểm tâm không thể cho muội ăn nữa." Cô bé nhanh tay lẹ mắt giật lấy đĩa điểm tâm ôm vào lòng: "Tỷ tỷ đừng lo, muội có cách không bị béo mà." Chân Chân hỏi nàng có diệu pháp gì, nàng lại không chịu nói. Chân Chân cười cười, cũng không truy hỏi chuyện đó nữa, lại đi tìm thêm ít bánh trái điểm tâm bày trước mặt cô bé cho nàng tự lấy, mỉm cười nhìn nàng thưởng thức, đổi chủ đề: "Tiên Thiều Viện ta có biết, nhưng sao lại gọi là Cúc Bộ? Có liên quan gì đến hoa cúc không?" Cô bé nói: "Không liên quan đến hoa cúc, nhưng có liên quan đến một người tên có chữ 'Cúc'." "Người này chắc là danh ca nổi tiếng của Tiên Thiều Viện các muội nhỉ?" Chân Chân cười nói. Cô bé ngạc nhiên: "Sao tỷ biết?" Chân Chân nói: "Ta đoán thôi. Người này lại có thể khiến Tiên Thiều Viện vì nàng mà có tên gọi khác, nhất định không phải tầm thường, phần lớn là người tài nghệ áp đảo quần thơm ở Tiên Thiều Viện." "Tỷ tỷ thông minh thật." Cô bé khen, rồi giải thích, "Nhiều năm trước, Tiên Thiều Viện bọn muội có một đại mỹ nhân, ca múa song tuyệt, còn biết chơi các loại nhạc cụ như tỳ bà, không hầu. Tiên đế phong bà ấy làm 'Chủ quản Tiên Thiều công sự', thống lĩnh Tiên Thiều Viện. Tên bà ấy có chữ 'Cúc', người trong cung bèn gọi bà là 'Cúc Bộ Đầu'. Vì duyên cớ của bà ấy, Tiên đế đôi khi gọi Tiên Thiều Viện là 'Cúc Bộ', mọi người cũng gọi theo ngài, lâu dần, Cúc Bộ trở thành tên gọi khác của Tiên Thiều Viện, Quan gia bây giờ cũng thích gọi Tiên Thiều Viện như thế." Dừng một chút, nàng lại cố ý nhắc nhở Chân Chân: "Có điều, tỷ tỷ đừng gọi Tiên Thiều Viện như vậy trước mặt Thái hậu hay người cung Từ Phúc, thế là phạm húy đấy." Chân Chân hỏi: "Thái hậu không thích Cúc Bộ Đầu?" "Đâu chỉ không thích..." Cô bé nói đến đây, bỗng giật mình, "Ái chà, muội không thể nói không thể nói, cô cô không cho muội nhắc đến Cúc Bộ Đầu với người khác..." Nàng lấy hai tay che miệng, nhưng đôi mắt cứ đảo lia lịa nhìn Chân Chân, dáng vẻ như đang đợi Chân Chân gặng hỏi tiếp. Chân Chân nén cười, bình thản nói: "Ừ, vậy thì không nói nữa. Muội ăn xong chưa? Mau về tập múa đi." Cô bé buông tay xuống, không thể tin nổi hỏi: "Tỷ không muốn biết sao?" Chân Chân đáp: "Không muốn." Cô bé ngẩn người hỏi: "Tỷ không tò mò à?" Chân Chân cười một cái, vỗ nhẹ vào khuôn mặt còn vương nét bụ bẫm trẻ con của cô bé, nói: "Muội đã bảo là cấm kỵ rồi, thì hãy giấu câu chuyện này trong lòng đi. Nếu truyền ra ngoài, Thái hậu biết muội bàn tán chuyện riêng tư, e là sẽ làm khó muội." Cô bé ngây người nhìn Chân Chân một lúc, bỗng nhiên vành mắt đỏ lên: "Tỷ tỷ đúng là người tốt, mời muội ăn điểm tâm, lại còn lo nghĩ cho muội mọi đằng." Rồi nhảy dựng lên, chạy ra cửa thò đầu nhìn ra ngoài, sau đó nhanh chóng đóng cửa lại, quay về ngồi ngay ngắn, nắm tay Chân Chân nói: "Tỷ tỷ là Thượng Thực nội nhân, tương lai biết đâu có ngày bị phái đến cung Từ Phúc làm việc, cho dù không đi, yến tiệc trong cung cũng khó tránh gặp Thái hậu, cho nên muội vẫn nên kể cho tỷ nghe chuyện về Cúc Bộ Đầu trước, kẻo sau này tỷ lại giống Liễu Tiệp dư phạm húy mà không tự biết." Chân Chân thấy nàng quyết tâm muốn kể, bản thân cũng thực sự có vài phần tò mò, bèn gật đầu, ngồi đối diện với cô bé, lắng nghe nàng kể chuyện cũ trong cung. "Lúc muội sinh ra, Cúc Bộ Đầu đã xuất cung mấy năm rồi, nên muội chưa từng gặp bà ấy, nhưng nghe cô cô nói, bà ấy là mỹ nhân ngàn năm có một, cổ cao và đẹp như thiên nga, dáng người mảnh mai thon thả, khi múa người mềm như không xương, eo mềm như cành liễu, tay chân dường như chỗ nào cũng có thể dập dờn như sóng nước. Dung mạo của bà ấy thì... hình như không phải kiểu diễm lệ đặc biệt, cô cô cảm thấy nên gọi là 'thanh tú', thoạt nhìn không phải rực rỡ chói mắt, nhưng thanh nhã thoát tục, nhạc sư nam đều si mê bà ấy, bà ấy chỉ cần lạnh lùng nhìn ai một cái, người đó liền như được ánh trăng chiếu rọi, sự rung động trong lòng không sao tả xiết, có khi còn vì thế mà rơi lệ." Chân Chân nương theo lời miêu tả của cô bé tưởng tượng phong tư Cúc Bộ Đầu, nói: "Có vẻ là một mỹ nhân lạnh lùng." "Đúng vậy, tính tình bà ấy thanh lãnh, không thích cười." Cô bé nói, "Đôi khi vì yêu cầu của điệu múa, khi múa bà ấy sẽ mỉm cười, vô cùng tươi sáng, nhưng vừa múa xong, bà ấy liền lập tức thu lại nụ cười, lại khôi phục vẻ mặt lạnh lùng hờ hững. Cô cô bảo, bà ấy mang một khuôn mặt 'chán đời'." Nói đến đây, cô bé hất cằm lên, mi mắt rủ xuống, mím môi xóa đi độ cong hướng lên, cố hết sức bày ra vẻ mặt không còn luyến tiếc gì cuộc đời, ánh mắt hờ hững liếc nhìn Chân Chân, hỏi: "Thế này, đã đủ chán đời chưa?" "Chưa đủ." Chân Chân thành thật trả lời, đưa tay quệt vụn bánh bên mép cô bé, "Muội ít nhất cũng phải lau sạch cái miệng nhỏ đi rồi hẵng bày ra cái mặt chán đời của muội." Cô bé không nhịn được nữa, phì cười thành tiếng. Chân Chân cùng nàng nhìn nhau cười, lát sau, lại hỏi nàng: "Đã ở Tiên Thiều Viện được vây quanh như sao vây quanh trăng, Cúc Bộ Đầu này sống còn không vui vẻ sao? Tại sao lại chán đời?" Cô bé nói: "Chắc vì bà ấy là trẻ mồ côi, leo lên được chức Bộ đầu Tiên Thiều Viện cũng phải chịu nhiều cay đắng không ai biết. Sau này Tiên đế khá ưu ái bà ấy, bà ấy càng tỏ ra cô độc, cũng lười chẳng buồn hư tình giả ý với người khác, không vui là mặt lạnh với người ta, kể cả với Tiên đế cũng vậy." Chân Chân hỏi: "Tiên đế thích bà ấy?" Cô bé cười nói: "Đương nhiên rồi. Mỗi dịp yến tiệc, nhất định phải để bà ấy múa chính, thích nhất xem bà ấy múa điệu 《Lương Châu》. Khi bà ấy khởi vũ(bắt đầu múa), trong điện khói hương lượn lờ, lụa màu phấp phới, hoa tươi rơi rụng, Tiên đế thường nói phi tiên thần nữ thướt tha trong tranh tường, cũng chỉ đến thế mà thôi. Tiên đế đối xử như với tần ngự, ban cho bà ấy một viện riêng để ở, lại ban hiệu là Phu nhân, nên người trong cung cũng gọi bà là 'Cúc Phu nhân'." "Vậy bà ấy có làm phi tần của Tiên đế không?" Chân Chân lại hỏi. Lờ mờ nhớ các nội nhân từng nói, Quốc triều từng có một vị Hoàng đế, nạp một con hát xuất thân từ Tiên Thiều Viện, mà cô gái múa hát đó còn một đường leo lên làm Quý phi. Cô bé đáp: "Không có. Tiên đế thích bà ấy, thường xuyên đến gặp bà ấy, hai người cùng nhau đốt hương điểm trà nghiền ngẫm thư pháp, nhưng chưa bao giờ ngủ lại nơi ở của bà ấy, cũng chưa từng triệu hạnh bà ấy." Chân Chân lại hỏi: "Chẳng lẽ Cúc Phu nhân này không thích Tiên đế?" Cô bé cũng có chút bối rối: "Hình như cũng không phải. Muội nghe cô cô và các tỷ muội trong Tiên Thiều Viện bàn tán riêng, nói Cúc Phu nhân năm xưa rất để tâm quan sát sở thích của Tiên đế, thấy Tiên đế thích điểm trà, liền lặng lẽ học thủy đan thanh (vẽ tranh trên mặt nước trà); thấy Tiên đế viết chữ đẹp, rảnh rỗi là bà ấy lại ngày đêm luyện chữ... Nhưng bà ấy khác với các cung nhân khác, người khác thấy Tiên đế giỏi chữ Chân, Hành, Thảo, liền ra sức bắt chước học mấy kiểu chữ đó, còn Cúc Phu nhân lại dốc lòng nghiên cứu lối chữ Sâu kim mà Tiên đế không thích lắm." Chân Chân ngẫm nghĩ, nói: "Bà ấy biết những thứ Tiên đế giỏi thì khó mà vượt qua được, nên tìm lối đi riêng để luyện tập, học có thành tựu, ngược lại càng dễ thu hút sự chú ý của Tiên đế." Cô bé vỗ tay cười: "Hóa ra là vậy, trước giờ muội không nghĩ ra." Chân Chân bỗng nhớ tới người nương cũng biết viết chữ Sâu kim, bèn hỏi cô bé: "Muội có từng nghe nói về một cung nhân tên là Ngô Thu Nương không? Bà ấy cũng biết viết chữ Sâu kim." Cô bé ngẩn ngơ lắc đầu: "Ngô Thu Nương? Không biết, muội chưa từng nghe. Cung nhân muội biết viết chữ Sâu kim không nhiều, trong đó không có ai họ Ngô cả." Chân Chân thất vọng thở dài: "Vậy muội kể tiếp về Cúc Phu nhân đi." "Muội kể đến đâu rồi nhỉ?" Cô bé đưa tay lên trán, rồi nhớ ra, cười nói: "À đúng rồi, là nói Cúc Phu nhân có thích Tiên đế không. Muội cảm thấy là thích đấy, vì cô cô các bà ấy đều nói Cúc Phu nhân năm xưa vẫn luôn âm thầm chờ đợi Tiên đế nạp bà làm tần ngự, nhưng Tiên đế mãi không tỏ thái độ, Cúc Phu nhân liền thi thoảng giở tính khí nhỏ nhen, có một lần cãi lại Tiên đế mấy câu, Tiên đế phất tay áo bỏ đi, sau đó một tháng không tuyên triệu. Tiên đế không để ý đến bà ấy, bà ấy dứt khoát tuyệt thực, không ăn không uống, nằm liệt giường. Một hôm đúng dịp sinh nhật Hoàng hậu - tức là Hoàng thái hậu bây giờ, Tiên đế thấy nữ t.ử lĩnh vũ trong yến tiệc không phải Cúc Phu nhân, hỏi ra mới biết Cúc Phu nhân ốm thập t.ử nhất sinh. Kết quả Tiên đế không đợi tiệc tàn đã đến các của Cúc Phu nhân thăm bà ấy, sai Tư Thiện của mình lo liệu ăn uống cho bà, còn đích thân bưng t.h.u.ố.c cho bà. Cúc Phu nhân chê t.h.u.ố.c đắng, Tiên đế để dỗ dành bà ấy, lại tự mình uống trước một ngụm, rồi mới mớm cho bà ấy..." Chân Chân nghĩ đến tình cảnh lúc đó, có chút thắc mắc: "Mớm thế nào?" Cô bé bốn mắt nhìn nhau với nàng, mặt bỗng đỏ bừng: "Muội làm sao biết mớm thế nào..." Chân Chân cũng có chút ngượng ngùng, thu hồi ánh mắt, cười bảo cô bé kể tiếp. "Chuyện này truyền ra ngoài, Hoàng hậu đương nhiên không vui rồi, ngoài sáng trong tối làm khó Cúc Phu nhân. Cúc Phu nhân vốn là người có khí tính, dứt khoát xin xuất cung. Tiên đế cũng đồng ý, ban cho bà một khu vườn bên ngoài cung, để bà tự ở, nhưng thi thoảng cũng sẽ đến thăm bà..." Nói đến đây, ngoài cửa bỗng truyền đến tiếng phụ nữ gọi: "Hương Lê Nhi, Hương Lê Nhi..." Sắc mặt cô bé thay đổi, nhảy dựng lên: "Cô cô muội đến tìm muội rồi, muội phải về đây. Lần sau nói tiếp." Nàng nhảy chân sáo chạy ra cửa, bỗng nhiên lại quay đầu, hỏi Chân Chân: "Tỷ tỷ, tên tỷ là gì?" Chân Chân đáp: "Ta họ Ngô, tên là Chân Chân." Cô bé gật đầu: "Ngô tỷ tỷ, tên tỷ hay thật đấy." Rồi tự giới thiệu, "Muội tên ở nhà là Hương Lê Nhi, đại danh là Giang Chỉ Hề... chính là Giang (Sông), Chỉ (Cỏ thơm), Hề (Trợ từ) trong câu 'Hỗ Giang Ly dữ Tích Chỉ hề, Nhân Thu Lan dĩ vi bội' (Khoác trên vai cây Giang Ly cùng Tích Chỉ, kết Thu Lan làm ngọc bội đeo -Trích Ly Tao)." Thấy Chân Chân vẻ mặt mờ mịt, bèn cười nói: "Không biết nghĩa là gì phải không? Thật ra muội cũng không hiểu lắm... cái tên này, nghe nói là do Tiên đế đặt cho." Dứt lời, nàng mở cửa, cười gọi "Cô cô", chạy về phía người phụ nữ đang tìm mình. Chương 40 - Yến Văn Hỷ Trước đây Yến Văn Hỷ ở Biện Kinh thường được tổ chức tại Quỳnh Lâm Uyển, Quỳnh Lâm Uyển đối diện với hồ Kim Minh, ngày tổ chức Yến Văn Hỷ, hoa nở đầy đường hồ Kim Minh, quần hồng tranh nhau ngắm áo xanh (tân khoa), là một sự kiện trọng đại trong kinh thành. Nay địa điểm Yến Văn Hỷ ở Lâm An đổi sang Cống viện bộ Lễ ở phía tây cầu Quan Kiều, phía đông cầu Tân Trang, xây dựng dọc theo nhánh sông nhỏ, quy mô không thể so sánh với Quỳnh Lâm Uyển, nhưng trong viện ngoài điện các hành lang, cũng có hoa thơm cỏ lạ. Hồ cỏ mùa xuân, đình viện hái hoa, mang đậm phong vị vườn tược phương Nam. Hoàng đế thường không tham dự Yến Văn Hỷ, thường bổ nhiệm chủ khảo khóa này hoặc các thần liêu quan trọng khác làm Áp yến quan, cùng uống rượu với các tiến sĩ. Nhưng năm nay có chút khác biệt, Hoàng đế lại phá lệ để Thái t.ử đảm nhiệm chức Áp yến quan, đến gặp mặt các tân khoa tiến sĩ. Các Thượng Thực nội nhân lén lút truyền tai nhau tin tức này, suy đoán rằng: "Vì trong Tam giáp có con cháu tông thất, Quan gia rất vui, còn nói vị tiến sĩ đó là 'Ngô gia thiên lý mã' (ngựa thiên lý nhà ta), cho nên mới để Thái t.ử tham dự Yến Văn Hỷ, để thể hiện ân điển đặc biệt." Nghe nói vị con cháu tông thất đó là cháu đời thứ bảy của Hán Cung Hiến Vương - con trưởng của Thái Tông Hoàng đế, lần này vốn đỗ Trạng nguyên, nhưng Quan gia để tránh hiềm nghi, thể hiện sự công bằng với thiên hạ, tuân theo nguyên tắc "Khoa cử tiên hàn tuấn" (Khoa cử ưu tiên kẻ nghèo khó tài năng), đã đưa người đứng thứ hai là Tiêu Đĩnh lên làm Trạng nguyên, Trạng nguyên ban đầu liền thành Bảng nhãn. Chân Chân và Phượng Tiên nhớ tới Triệu Hoài Ngọc cũng là tông thất, không khỏi tò mò hơn, Phượng Tiên bèn hỏi thăm Lý Điển Thiện - người thường xuyên theo Bùi Thượng Thực ra vào tẩm điện Hoàng đế về tên của Bảng nhãn, câu trả lời nhận được quả nhiên là "Triệu Hoài Ngọc". Chân Chân nghe tin cười nói: "Muội thấy Triệu công t.ử đó coi tiền tài Di Bối Lâu như cỏ rác, liền biết huynh ấy ôm chí lớn, tuyệt không phải vật trong ao, nay huynh ấy quả nhiên đỗ cao rồi." Phượng Tiên chắp tay trước ngực, ánh mắt cũng lộ vẻ vui mừng. Ngày ban yến, người của Nghi Loan Ty và Thượng Thực Cục đợi cửa cung mở là đến ngay Cống viện bộ Lễ chuẩn bị. Giờ lành đã đến, Hoàng Thái tử, Quyền tri Cống cử dẫn đầu quan thuộc và các tiến sĩ đi vào, xếp hàng giữa sân, quay mặt về phía cung khuyết thiết hương án, trước sau vái mười vái. Sau đó Thái t.ử cùng các Áp yến quan và tiến sĩ đệ nhất giáp đi vào các Tinh Nghĩa trong viện, các tiến sĩ còn lại chia làm hai loại Chính tấu danh và Đặc tấu danh, lần lượt ngồi ở hành lang phía Đông và phía Tây. Cử nhân thông qua kỳ thi bình thường, Cống viện bộ Lễ tấu danh hợp lệ, gọi là "Chính tấu danh". Còn những người thi tiến sĩ nhiều lần không đỗ, bộ Lễ lập danh sách riêng dâng lên, được Hoàng đế cho phép thi phụ vào lúc thi Đình, đặc cách ban cho xuất thân khoa này, thì gọi là "Đặc tấu danh". Hai loại tiến sĩ này đều xếp theo độ tuổi, ngồi dưới hành lang. Đợi Thái t.ử và từ Trạng nguyên trở xuống vào cửa, Giáo phường liền tấu nhã nhạcChính An: "Đa sĩ tế tế, vu bỉ tây ung. Khâm túc uy nghi, diệc hữu tư dung. Chưng nhiên lai tư, tự tây hướng đông. Thiên tí nhĩ lộc, duy vương kỳ sùng." (Sĩ t.ử đông đúc, ở bên nhà học phía tây kia. Uy nghi kính cẩn, cũng có dáng vẻ này. Đông đảo kéo đến, từ tây sang đông. Trời ban bổng lộc cho ngươi, chỉ có nhà vua tôn trọng điều đó.) Thái t.ử dung sắc sáng ngời, tướng mạo tuấn tú, đối diện với mãn tọa áo mũ, ngồi ngay ngắn nghiêm trang ở ghế chủ tọa, lắng nghe nhã nhạc du dương, đôi môi mỏng dịu dàng khẽ mỉm cười, ánh mắt hướng về các thần liêu và tiến sĩ chia hàng hai bên tả hữu, ý thái thanh lãng tiêu sái, tư nghi lại có sự đoan ngưng trang trọng của bậc nhân chủ, tuy chưa nói lời nào, nhưng chỉ lẳng lặng ngồi đó đã như ôm cả trời đất vào lòng, rạng rỡ tỏa sáng. Các tiến sĩ ngồi dưới đất, ăn riêng từng bàn, trước mặt mỗi người đều có một chiếc bàn đen nhỏ, đệm ngồi màu xanh. Trên bàn mỗi người bày bốn đĩa hoa quả theo mùa, ngoài ra còn một đĩa quả tỉa hoa dùng để ngắm, gọi là "Vọng quả", cùng một bông hoa tươi cắm trong bình để trang trí, gọi là "Vọng hoa". Các loại gia vị như giấm, mắm... cũng được bày sẵn lên bàn theo đó. Yến Văn Hỷ tổng cộng chían tuần rượu, mỗi tuần rót rượu đều có khúc nhạc từng điệu khác nhau vang lên, để trợ hứng. Thái t.ử mỉm cười nâng chén đầu tiên, nhạc công chuyển đổi phong cách khúc nhạc, bắt đầu tấuTân Hưng Hiền Năng: "Minh minh thiên tử, suất do cựu chương. Tư lạc phán thủy, quang vu tứ phương. Bạc kỳ thái cần, dụng tân vu vương. Ngã hữu hảo tước, trí bỉ chu hành." (Thiên t.ử sáng suốt, noi theo phép tắc cũ. Nghĩ đến niềm vui bên dòng Phán Thủy, rạng danh bốn phương. Hái rau cần ở đó, dùng để làm khách của vua. Ta có tước vị tốt đẹp, đặt vào hàng ngũ triều đình kia.) Hai tuần rượu đầu chủ khách nâng chén chúc rượu, thi thoảng hàn huyên, ngoài hoa quả trên bàn, các Thượng Thực nội nhân tạm thời chưa lên món ăn, đến tuần rượu thứ ba, mới dâng một đĩa thịt ướp tươi "Toàn Trá", sau đó sáu tuần rượu đều có thức ăn nhắm rượu. Hết tuần rượu thứ năm, yến tiệc tạm nghỉ, cung nhân sẽ dâng lên bốn đóa hoa cung đình bằng lụa là do Hoàng đế ban cho thần liêu tiến sĩ, để họ cài lên khăn trùm đầu, đồng thời ban một hộp băng cung đình để giải nhiệt. Mọi người chia hàng đứng trong sân, lại vái tạ ơn, sau đó ngồi lại chỗ cũ, tiếp tục bốn tuần rượu sau. Trước tuần rượu thứ sáu, chén đĩa và vọng quả, vọng hoa trên bàn mỗi người phải thay mới toàn bộ. Thần liêu tiến sĩ trước đó dùng đài chén bạc uống, tuần thứ sáu bắt đầu đổi sang cốc bạc (ngân chi). Thái t.ử khác với mọi người, trước đó dùng đài chén vàng, tuần thứ sáu đổi sang cốc ngọc hình hoa sen (liên hoa ngọc chi) hắn quen dùng. Vọng quả được điêu khắc từ hoa quả tươi theo mùa, mỗi quả đều có hoa văn tinh tế cát tường, bày trong đĩa lại phải có tạo hình tổng thể, độ khó rất lớn, mỗi đĩa đều do vài nội nhân hoàn thành trước. Lần này chén cốc và vọng quả của Áp yến quan do Phùng Tịnh phụ trách, việc này vốn đã định từ hai tháng trước, gần đây mới biết Áp yến quan lại là Thái tử, nàng vô cùng khó xử, nhưng nhiệm vụ không tiện từ chối, cũng chỉ đành dốc lòng chuẩn bị, việc dâng rượu chén vọng quả thì sai nội nhân khác làm. Khi hành mỗi tuần rượu, các Thượng Thực nữ quan đều sẽ kiểm tra trước vài bước rượu nước món ăn sẽ lên sau đó. Món Toàn Trá của tuần thứ ba vừa xuống, Phùng Tịnh bắt đầu kiểm tra chén rượu và vọng quả mà Thái t.ử sẽ đổi ở tuần rượu thứ sáu sau khi ban hoa. Mở chiếc hộp gấm đựng cốc ngọc hoa sen ra, Phùng Tịnh thoáng chốc kinh hoàng: trong hộp trống không, không có bất kỳ chén cốc nào. Cốc ngọc hoa sen một bộ hai chiếc, trước đó do Tần Tư Thiện lấy ra, giao cho Phùng Tịnh mang từ trong cung đến Cống viện, trước khi khai yến nàng vẫn luôn canh giữ bên hộp gấm, sau khi mọi công tác chuẩn bị cho năm tuần rượu đầu xong xuôi, nàng mới rời đi một lát, đứng trong bóng râm dưới hành lang đối diện các Tinh Nghĩa, nhìn xa xa Thái t.ử đang nói cười vui vẻ nâng chén với các tiến sĩ, nào ngờ chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, cốc ngọc lại không cánh mà bay. Phùng Tịnh nhanh chóng tìm kiếm khắp nơi, các nữ quan xung quanh cũng rất nhanh phát hiện cốc ngọc bị mất, nhao nhao sai nội nhân cấp dưới tìm kiếm, nhưng sau một hồi náo loạn mọi người chẳng thu hoạch được gì, ngược lại có nội nhân phát hiện vọng quả chuẩn bị cho Thái t.ử không biết bị đổ vào góc bếp từ bao giờ, lại bị người ta giẫm đạp, đã nát bấy hết cả. Mặt mày Phùng Tịnh xám ngoét, nhìn chằm chằm vào đống vọng quả bị giẫm nát nhừ, thân hình mảnh mai lảo đảo muốn ngã. Chân Chân tiến lên đỡ lấy nàng, nói nhỏ bên tai: "Đừng vội, tỷ tìm kỹ lại cốc ngọc đi, muội đi xin chỉ thị của Tần Tư Thiện." Bùi Thượng Thực hôm nay vẫn ở trong cung hầu hạ Quan gia, Tôn Tư Thiện vẫn ở cung Từ Phúc, Tần Tư Thiện là nữ quan có phẩm hàm cao nhất trong Cống viện hôm nay, nãy giờ vẫn ngồi một bên phía dưới Thái tử, chịu trách nhiệm nếm thử trước đồ ăn thức uống dâng lên Thái tử. Chân Chân bàn bạc với nội nhân sắp vào các rót rượu, nhận lấy bình rượu của cô ấy, bưng bước vào trong các, đến sau lưng Tần Tư Thiện, mượn cớ rót rượu cho bà, thì thầm kể lại chuyện cốc ngọc và vọng quả cho Tần Tư Thiện nghe. Tần Tư Thiện nghe xong ánh mắt hơi khựng lại, nhưng thần sắc không đổi, nghiêng đầu ghé tai Chân Chân nói: "Mau đi báo cho Hoàng Thành Ty!" Dặn dò xong xuôi, bà ung dung quay đầu lại, khẽ nghiêng người về phía Thái t.ử đang nhìn mình, nở một nụ cười đoan trang không chê vào đâu được y hệt lúc hầu yến vừa nãy. Hoàng Thành Ty thống lĩnh cấm quân, chịu trách nhiệm bảo vệ Hoàng thành. Ngày Yến Văn Hỷ này cũng có hơn ngàn cấm vệ quân Hoàng Thành Ty đi theo, canh giữ trong ngoài Cống viện, để bảo vệ an nguy cho những người liên quan. Chân Chân theo chỉ thị của Tần Tư Thiện, tìm thấy vị Thân Tòng Quan (quan cận vệ thân tín) của Hoàng Thành Ty chỉ huy hôm nay bên ngoài các Tinh Nghĩa. Không ngờ đó lại là một thiếu niên trông chưa đến tuổi đội mũ (nhược quán - 20 tuổi), lại còn rất quen mặt. Chân Chân đi đến trước mặt hắn, chưa kịp mở miệng, người nọ đã cười với nàng: "Là cô à?" Tuy thiếu niên này mặc quân phục, khác hẳn với lúc gặp trước kia, nhưng nụ cười rạng rỡ ấy nhanh chóng lật mở ký ức bụi phủ của Chân Chân, nhận ra hắn chính là thiếu niên cùng đ.á.n.h cầu dưới nước với Triệu Ngai năm nào, người mà Triệu Ngai gọi là biểu đệ. "Ngài là, Ân Đề?" Chân Chân dùng cái tên Tần Tư Thiện nói để xác nhận với hắn. Hắn gật đầu: "Đúng vậy, ta là Ân Đề." Dừng một chút, lại khá vui vẻ bổ sung, "Biểu đệ của Nhị Đại Vương." Chân Chân tạm không có tâm trạng hàn huyên với hắn, hạ thấp giọng kể lại chuyện xảy ra ở hậu trù, cũng như lời dặn của Tần Tư Thiện. Ân Đề thay đổi vẻ mặt cười cợt vừa rồi, nghiêm túc nói: "Biết rồi. Nội nhân cứ yên tâm, ta sẽ đi sắp xếp." Chân Chân lập tức chạy về hậu trù. Dọc đường đi qua cảnh nước trong Cống viện, có hương thơm theo gió phả vào mặt, bước chân Chân Chân hơi chậm lại, ngước mắt nhìn sang, chỉ thấy lúc này trong hồ sen đang vươn cao trước gió, mặt lá xanh tròn, đình đình thanh tuyệt. Trở về gặp Phùng Tịnh, Chân Chân bảo nàng ta rằng Hoàng Thành Ty đã bố trí theo lời dặn của Tần Tư Thiện, sẽ truy cứu chuyện cốc ngọc hoa sen bị trộm, mà việc cấp bách trước mắt là tìm vật dụng thay thế cốc ngọc và chuẩn bị lại vọng quả. Phùng Tịnh lộ vẻ khó xử: "Dụng cụ uống rượu còn không ít, nhưng đều là đồ bạc. Yến tiệc long trọng thế này, đồ dùng của Thái t.ử không thể giống với thần liêu! Việc điêu khắc vọng quả tốn rất nhiều công sức, cái chuyên dùng cho Thái t.ử lại khác với người khác, tinh xảo hơn nhiều, chỉ trong thời gian hai tuần rượu này, mắt thấy là không kịp điêu khắc lại rồi." Chân Chân nhớ tới lá sen xanh biếc vừa thấy, trong lòng dần nảy ra một ý, nói với Phùng Tịnh: "Dụng cụ uống rượu muội có cách, muội đi chuẩn bị. Chỉ là vọng quả không có kế sách hay, còn mong Chưởng Thiện nghĩ thêm, tìm vật thay thế." Phùng Tịnh cân nhắc một lát, nói: "Hoặc là, ta có thể làm một mâm 'Khán bàn' (mâm cỗ ngắm) thay thế vọng quả." Khán bàn cũng là thứ dùng để bày biện ngắm nhìn trong yến tiệc, được xếp từ thức ăn. Phượng Tiên nghe vậy, tiến lên nói: "Điểm tâm ta phụ trách đã chuẩn bị xong, nếu Phùng Chưởng Thiện cần hỗ trợ, ta có thể giúp một tay." Mấy vị nữ quan và nội nhân đứng xem cũng nhao nhao tỏ thái độ, sẵn lòng hỗ trợ Phùng Tịnh làm khán bàn. Phùng Tịnh cảm tạ họ, nói ra những nguyên liệu cần thiết, mọi người lập tức chia nhau chuẩn bị. Chân Chân thấy thế thở phào nhẹ nhõm, lập tức ra cửa đi về phía hồ sen, hành động theo kế hoạch của mình. Phùng Tịnh lấy một chiếc đĩa bạc đặt lên hộp đá, nhỏ bơ lỏng tạo thành núi, dùng rau cần, lá hẹ và mầm liễu bố trí cảnh núi non xanh biếc, giữa núi dùng mật nhỏ ra dòng suối khe nước, lại lấy bách hợp đã ngâm nở, chọn những cánh kích cỡ phù hợp, từng cánh từng cánh ghép thành hình mấy đóa hoa mộc lan tím, dùng nước thanh mai nhuộm bên ngoài cánh hoa, khiến đóa hoa có màu tím phấn chuyển màu dần dần, y hệt hoa mộc lan thật. Hoa được cố định trên cành cây ăn quả nhỏ, c*m v** giữa núi trên đĩa bạc, trông hệt như cây hoa mộc lan. Lúc cắm cây hoa có vài cánh hoa bị chạm rơi, rụng xuống bên dòng suối, Phùng Tịnh đang định nhặt lên, nhưng mọi người vây xem đều thấy cảnh này tự nhiên, có ý thú hoa rơi hữu ý nước chảy vô tình, Phùng Tịnh liền giữ lại, không sửa đổi nữa. Khán bàn làm xong, nghi thức ban hoa trong sân đã xong, đúng lúc phải đổi chén đĩa trên bàn. Trên bàn khách khứa đã dọn dẹp xong, vọng hoa đã đổi, sắp dâng vọng quả. Nội nhân vốn được định dâng vọng quả cho Thái t.ử xin chỉ thị của Phùng Tịnh. Phùng Tịnh tập trung suy nghĩ, cuối cùng hạ quyết tâm, nói: "Để ta." Phùng Tịnh nâng khán bàn lên ngang mày, chậm rãi di chuyển gót sen, từ từ tiến vào các Tinh Nghĩa, dưới cái nhìn chăm chú của Thái tử, cúi người hành lễ, quỳ xuống đặt khán bàn lên bàn của hắn, đi bằng đầu gối lùi lại mấy bước, lại đưa tay lên trán, hành đại lễ lần nữa. Cảnh quan trên khán bàn là hình khối ba chiều, thần liêu hai bên phía dưới Thái t.ử đều có thể nhìn thấy. Thám hoa Phó Tuấn Dịch là một người trẻ tuổi hơn hai mươi, quan sát kỹ khán bàn này, chép miệng lấy làm lạ, thì thầm với Triệu Hoài Ngọc ngồi cách đó không xa: "Khí tượng nhà trời quả nhiên khác biệt, khán bàn này sống động như thật, tái hiện lại cảnh hoa phù dung nở giữa núi non." Triệu Hoài Ngọc mỉm cười, khẽ nói: "Thứ mà khán bàn đắp nặn, hình như là hoa mộc lan." "Sao lại thấy thế?" Phó Tuấn Dịch nói, "Nhìn màu sắc này, rất giống phù dung." Triệu Hoài Ngọc nói: "Cảnh quan trên khán bàn này, trông giống như được tạo nên dựa theo ý thơ bàiTân Di Ổtrong tậpVõng Xuyêncủa Vương Duy." "Đúng vậy, là hoa mộc lan." Trạng nguyên Tiêu Đĩnh ngồi ngay ngắn bên cạnh nghe họ bàn tán, cũng không nhịn được xen vào, ngâm nga câu thơ trongTân Di Ổ: "Mộc mạt phù dung hoa, Sơn trung phát hồng ngạc. Giản hộ tịch vô nhân, Phân phân khai thả lạc." (Đầu cành đóa phù dung, Trong núi nụ hồng nở. Khe suối vắng bóng người, Lả tả nở rồi rụng.) Họ nói chuyện rất nhỏ, nhưng trong lúc đổi chén nhạc tạm ngừng, trong các yên tĩnh, nên tiếng thì thầm của họ cũng lọt vào tai Thái t.ử và Phùng Tịnh. Thái t.ử nghe vậy, lẳng lặng nhìn về phía họ. Ba người kia lập tức im bặt, Thái t.ử lại cười nhạt, với tư thế tham gia thảo luận nói: "Là hoa mộc lan." Phó Tuấn Dịch như được khích lệ, cũng muốn thể hiện nhiều hơn trước mặt Thái tử, bèn hứng chí bừng bừng nương theo chủ đề nói: "Nhìn kỹ lại, cảnh này quả thực phù hợp với ý thơTân Di Ổ. Năm xưa bạn thân của Vương Duy là Bùi Địch cũng từng làm thơ họa lại." Hắn rất nhanh ngâm bài thơ của Bùi Địch: "Lục đê xuân thảo hợp, Vương tôn tự lưu ngoạn. Huống hữu tân di hoa, Sắc dữ phù dung loạn." (Đê xanh cỏ xuân biếc, Vương tôn tự ngắm chơi. Huống chi có hoa tân di, Sắc màu lẫn với phù dung.) Thái t.ử vẫn vương nét cười, chỉ là ánh mắt nhìn chăm chú vào khán bàn có chút ưu tư thẫn thờ. Một lát sau, hắn ngước mắt cười nhẹ với Phùng Tịnh, ôn tồn nói: "Cảnh này rất đẹp. Chưởng Thiện vất vả rồi." Phùng Tịnh cúi người cảm tạ, cố gắng cúi đầu thấp, không để ánh mắt mình bị hắn bắt gặp, rồi cáo lui. Thái t.ử gật đầu, khẽ nói với nàng một câu: "Bảo trọng." Khán bàn đặt xong, tiếp theo là phải đổi chén rượu. Chân Chân lúc này đi vào trong các, hành lễ xong từ từ đến gần bàn Thái tử, đặt chiếc chén rượu đã chuẩn bị lên bàn. Ngoài Thái t.ử ra, những người còn lại đều mở to hai mắt, nhìn chằm chằm vào "chén rượu" Chân Chân dâng lên, kinh ngạc không thôi. Chén rượu đó chẳng phải vàng cũng chẳng phải ngọc, mà là một chiếc lá sen tươi, được đặt trên một cái giá đỡ nghiên mực bằng gỗ t.ử đàn, lòng lá trũng xuống, lá sen được giá nghiên đỡ lấy, mép ngoài cuộn vào trong, hình thành dáng phễu, còn cuống lá được uốn cong như vòi voi, lỏng lẻo thắt một cái nút, đuôi hướng lên trên, chéo chéo vươn về phía Thái tử. Chân Chân nhấc bình rượu, rót rượu vào lòng lá, rượu như sương sớm lăn dọc theo mép lá sen vào lòng lá, tụ lại trong đó, trong veo thanh khiết. Chân Chân liền rút một chiếc trâm bạc trắng như tuyết bên cạnh giá nghiên, chọc thủng lòng lá, để rượu chảy vào trong cuống lá rỗng ruột. Sau đó lùi lại, thi lễ với Thái t.ử lần nữa, bắt đầu giải thích điển cố của dụng cụ uống rượu này: "Dụng cụ uống rượu này, tên làBích Đồng Bôi(Chén ống biếc). Tương truyền người nước Ngụy là Trịnh Khước... Trịnh Khước từng vào dịp Tam phục (những ngày nóng nhất mùa hè), dẫn quan khách tránh nóng ở... ở rừng Sứ Quân..." Điển cố về Bích Đồng Bôi, Chân Chân xem được trong thực phổ của Lâm Hoằng, nhưng chưa từng kể cho ai nghe. Lần này tình thế ép buộc, lâm thời quyết định dùng lá sen thay thế cốc ngọc hoa sen cho Thái t.ử dùng, thì nhất định phải nói rõ điển cố, để mong Thái t.ử lượng thứ. Chỉ là lúc này thực phổ không ở bên người, Chân Chân lại chưa từng học thuộc lòng từng câu từng chữ, vì thế chi tiết không rõ ràng lắm, lại thêm chút căng thẳng, nói năng liền trở nên ấp a ấp úng, thi thoảng ngập ngừng. "Năm Chính Thủy nhà Ngụy, Thứ sử Tế Châu là Trịnh Khước, vào dịp Tam phục, dẫn quan khách tránh nóng ở rừng Sứ Quân phía bắc Lịch Thành." Thái t.ử bỗng nhiên tiếp lời nàng, ung dung thay nàng nói tiếp, "Khi đó, Trịnh Khước lấy lá sen đặt lên giá nghiên, đựng ba thăng rượu, dùng trâm chọc thủng lá, khiến thông với cuống, uốn cọng như vòi voi, có thể hút rượu." Nói đến đây, hắn dừng lại một chút, ngước mắt nhìn các thần liêu hai bên đang lắng nghe hắn nói, lại mỉm cười, "Gần đây hơi nóng dần tăng, cho nên ta học theo chuyện thanh nhã của Trịnh Khước, sai Thượng Thực nội nhân dùng lá sen thay chén đựng rượu. Rượu ngon được thấm nhuần qua lá và cuống hoa sen, càng thấy thanh hương, lại có thể giải nhiệt. Đúng như người xưa đã nói:Tửu vị tạp liên khí, hương lãnh thắng vu thủy(Vị rượu lẫn khí sen, thơm lạnh hơn cả nước)." Chương 41 - Hài Vân Đầu Thái t.ử vừa dứt lời, Triệu Hoài Ngọc liền mỉm cười đáp lại: “Ngày hè dùng lá sen thay chén ngọc đựng rượu, vừa phong nhã lại vừa điểm thêm cho rượu vài phần hương sen. Tô Đông Pha cũng từng làm thơ vịnh về việc này: ‘Bích đồng thời tác tượng tị loan, Bạch tửu vi đới hà tâm khổ’ (Ống biếc uốn cong hình vòi voi, Rượu trắng vương chút vị đắng tâm sen). Thần năm xưa đọc đến câu này, trong lòng cũng thường nghĩ tới, chỉ là chưa từng có cơ hội học theo người xưa. Hôm nay tại yến Văn Hỷ thấy Điện hạ dùng Bích Đồng Bôi, thần như cảm nhận được hương sen thanh khiết, cũng coi như thỏa được ước nguyện bấy lâu.” Thái t.ử mỉm cười nói: “Nguyện vọng này cũng chẳng khó để thành toàn cho ngươi.” Nói đoạn, ngài sai Tần Tư Thiện bảo các Thượng Thực nội nhân chuẩn bị thêm vài chiếc Bích Đồng Bôi đựng rượu, dâng lên cho các vị quan trong các. Tần Tư Thiện truyền lời xuống, Chân Chân lui về hậu trù, dẫn theo vài nội nhân cùng đi hái lá sen làm Bích Đồng Bôi. Một lát sau, chén rượu đã chuẩn bị xong, Lý Điển Thiện chỉ định vài nội nhân, ra lệnh cho họ bưng Bích Đồng Bôi vào các Tinh Nghĩa. Đây là vinh dự lớn lao, những người được gọi tên ai nấy đều vui vẻ lĩnh mệnh, duy chỉ có một nội nhân mới vào cung tên là Vân Oanh Ca thần sắc khác thường, tuy cúi đầu vâng dạ nhưng đôi mày nhíu chặt, vẻ tràn đầy lo âu. Phượng Tiên ngày thường làm việc cùng nhóm với nàng ấy, thấy vậy bèn hỏi xem có gì không tiện nói ra chăng, Vân Oanh Ca ngập ngừng nói: “Muội... chưa từng gặp qua nhiều quý nhân như vậy, giờ chỉ thấy chân tay run rẩy, sợ rằng bưng rượu vào các sẽ xảy ra sơ suất.” Phượng Tiên bèn nói: “Vậy để ta thay muội bưng Bích Đồng Bôi vào các nhé?” Vân Oanh Ca mừng rỡ, cảm ơn nàng rồi đi xin Lý Điển Thiện đổi người. Lý Điển Thiện tuy không vui lắm, nhưng lúc này công việc bộn bề, cũng chẳng hơi đâu mà so đo, bèn gật đầu đồng ý. Các nội nhân lần lượt bưng Bích Đồng Bôi tiến vào các Tinh Nghĩa. Phượng Tiên đã sớm ghi nhớ chỗ ngồi trong các, tính toán kỹ thứ tự rồi đổi vị trí đứng với nội nhân khác, đảm bảo mình sẽ là người dâng rượu cho Triệu Hoài Ngọc. Khi nàng đến bên cạnh Triệu Hoài Ngọc, cụp mắt nâng Bích Đồng Bôi bằng hai tay dâng lên bàn hắn, nàng nghe thấy một tiếng thốt khe khẽ đè nén sự kinh ngạc của Triệu Hoài Ngọc: “Lăng...” Nàng từ từ ngẩng đầu, nở nụ cười nhạt chạm mắt hắn một cái, rồi lập tức nhún mình thi lễ, sau đó điềm nhiên như không, nhấc bình rượu rót đầy cho hắn. Triệu Hoài Ngọc cũng không nói thêm lời nào, chỉ lặng lẽ quan sát từng cử chỉ của nàng. Khi nàng sắp lui ra, hắn chắp tay vái chào để tạ ơn, hai người ăn ý không trao đổi với nhau nửa lời. Sau đó, chủ đề trong các xoay quanh chuyện rượu Bích Đồng thanh hương say lòng người ra sao, chén rượu độc đáo khéo léo thế nào. Các quan luân phiên tạ ơn, ca tụng Thái tử, hoàn toàn không nhận ra đằng sau quyết định đổi chén rượu này ẩn giấu những đợt sóng ngầm hung hiểm dường nào. Phượng Tiên lui về hậu trù, dọc đường cảm thấy bầu không khí khác thường. Cấm vệ quân Hoàng Thành Ty trong viện đông lên không ít, ai nấy sắc mặt nghiêm trọng. Người dẫn đầu là Ân Đề đang dắt một con ch.ó lớn cao to tuần tra quanh hậu trù, trong làn gió ấm áp bỗng nhiên nhiễm thêm vài phần sát khí tiêu điều. Bốn tuần rượu còn lại đều dùng kèm với sơn hào hải vị, nguyên liệu thượng hạng, công đoạn chế biến cầu kỳ như gỏi ngũ trân, canh mề ngỗng, canh thất bảo... xen kẽ giữa các món là điểm tâm và hoa quả kèm rượu. Phượng Tiên cùng các nội nhân chạy đi chạy lại, vô cùng vất vả, mãi đến khi món ăn cho tuần rượu cuối cùng được chuẩn bị xong, Phượng Tiên mới có chút thời gian để thở, bèn đi đến Đông thanh (nhà vệ sinh) để thay y phục. Đến Đông thanh, Phượng Tiên thấy Hách Cẩm Ngôn - vị nữ sử thường ngày dạy bảo mình, đang ở đó. Hôm nay các nữ quan đều đội khăn vuông thắt trên đầu như nam giới, mặc áo bào cổ tròn tay hẹp, lưng thắt đai đỏ, chân đi hài vân đầu (mũi giày hình mây). Hách nữ sử lúc này đã tháo hài vân đầu ra, đang nhăn nhó xoa bóp cổ chân, thấy Phượng Tiên bước vào liền cười áy náy, nói: “Đôi hài này của ta giặt xong phơi khô cất trong tủ, lâu ngày không đi, chẳng ngờ nó bị cứng lại. Đi suốt hơn nửa ngày trời, cảm thấy chật đi nhiều, cọ vào chân đau quá.” Vì nàng ấy là cấp trên của mình, Phượng Tiên xưa nay vẫn đối đãi rất cung kính, thấy vậy định tiến lên xoa bóp chân giúp nàng ấy. Hách Cẩm Ngôn vội rụt chân về, miệng liên tục nói nói “không cần”, rồi xỏ chân vào giày, thử đứng dậy, nhưng mới bước một bước đã nhíu mày kêu “Ái chà”, dường như đau đớn không chịu nổi. Phượng Tiên vội đỡ nàng ấy ngồi xuống, giúp tháo giày tất ra xem, quả nhiên thấy gót chân nàng ấy bị cọ đỏ ửng. Hách Cẩm Ngôn nhìn đôi hài của Phượng Tiên, khẽ khàng thương lượng: “Lát nữa ta còn phải bưng cơm kê vào các Tinh Nghĩa, nhưng chân bị cọ thế này, mỗi bước đi cứ như giẫm trên mũi dao. Cho nên... ta có một lời thỉnh cầu quá phận... Hôm nay hài chúng ta đi đều cùng một kiểu dáng, ta thấy kích cỡ hài của ngươi cũng trạc như ta, hay là đổi tạm cho ta một lúc? Đợi xong việc, chúng ta sẽ đổi lại.” Phượng Tiên nhận lời: “Chỉ cần tỷ tỷ không chê, hài của muội tỷ cứ dùng tự nhiên, về phòng nghỉ rồi chúng ta đổi lại.” Hai người bèn đổi hài vân đầu cho nhau. Kích cỡ hài quả thực y hệt, Phượng Tiên đi vào cũng không thấy khó chịu, Hách Cẩm Ngôn đứng dậy đi vài bước, vẻ mặt hớn hở: “Quả nhiên đỡ hơn nhiều rồi.” Việc này Phượng Tiên cũng không nghĩ ngợi nhiều, thay y phục xong liền cùng Hách Cẩm Ngôn lần lượt trở về hậu trù. Yến Văn Hỷ kết thúc, Thái t.ử cùng các đại thần, tiến sĩ lần lượt rời đi. Đợi người dự tiệc cuối cùng bước ra khỏi cửa lớn Cống viện, Ân Đề lập tức ra lệnh đóng chặt tất cả cửa viện. Tần Tư Thiện bảo các Thượng Thực nội nhân tập hợp giữa sân, cũng chẳng nói nhiều, trực tiếp đổ một ít rượu từ bình rượu của Thái t.ử ra, đưa cho Ân Đề. Ân Đề nhận lấy chén rượu, đưa đến dưới mũi con ch.ó đen hắn đang dắt cho nó ngửi. Con ch.ó đen ngửi xong, lập tức lao về phía các nội nhân, đi lại giữa đám đông ngửi hít, bỗng nhiên chồm lên, vồ ngã một nội nhân. Nội nhân kia hét lên một tiếng, khi ngã xuống chiếc khăn thắt trên đầu cũng rơi ra, chiếc cốc ngọc hoa sen giấu trong khăn liền lăn lông lốc ra ngoài, hiện ra trước mắt bao người. Con ch.ó đen vẫn tiếp tục lục soát, lại tìm ra thêm một nội nhân nữa giấu cốc ngọc hoa sen cũng đang giấu trong khăn. Chân Chân đứng xem, suy nghĩ một chút liền hiểu ra : Cốc ngọc hoa sen là chén rượu Thái t.ử thường dùng, đồ rượu bằng ngọc chạm trổ khó tránh khỏi có những vân đá nhỏ li ti. Thái t.ử thân thể yếu ớt, rượu ngài uống là do Tần Tư Thiện tỉ mỉ điều chế, khác hẳn rượu thường, lâu ngày đã thấm nhuần trong cốc ngọc khiến chén rượu ám mùi rượu thuốc, dù rửa đi rửa lại cũng khó mà hết được, cho nên ch.ó đen có thể dựa vào mùi rượu mà tìm ra cốc ngọc hoa sen kia. Tần Tư Thiện cười lạnh, sai Hoàng Thành Ty áp giải hai nội nhân này về cung, giao cho Cung Chính thẩm vấn. Lại mời Ân Đề dắt ch.ó đen đến chỗ Vọng quả của Thái t.ử bị giẫm nát để ngửi mùi, sau đó lệnh cho các nữ quan và nội nhân ngồi xuống, duỗi chân ra, để đế giày hướng ra ngoài, cho ch.ó đen phân biệt mùi. Có hai nội nhân sắc mặt lập tức biến đổi, co chân lại không muốn chìa đế giày ra, nhưng dù thế vẫn bị ch.ó đen phát hiện, nó chạy đến trước mặt họ sủa vang không dứt. Tần Tư Thiện bèn ra hiệu cho Ân Đề bắt họ đi. Lời chưa dứt, con ch.ó đen kia quay người, bỗng lao về phía Phượng Tiên. Con ch.ó ngửi hai cái bên chân Phượng Tiên rồi sủa lớn, ý bảo nàng cũng là kẻ đã giẫm đạp lên Vọng quả. Không đợi Tần Tư Thiện ra hiệu, hai tên cấm vệ đã lao đến bên nàng, hai bên trái phải giữ chặt lấy cánh tay, định lôi đi. Đột nhiên Phượng Tiên lại quát một tiếng: “Khoan đã!” Dưới cái nhìn sắc bén của Tần Tư Thiện, khuôn mặt Phượng Tiên trắng bệch, nàng cố nén nỗi sợ hãi, bất an và giận dữ trong lòng, nói ra sự thật: “Đôi hài tỳ thiếp đang mang, không phải của ta...” Nàng cũng đã hiểu ra nguyên nhân thực sự khiến Hách Cẩm Ngôn muốn đổi giày với mình, nghiêng đầu lạnh lùng nhìn về phía Hách Cẩm Ngôn, nói: “Là của Hách nữ sử.” Hách Cẩm Ngôn lập tức lớn tiếng chối bỏ: “Ăn nói hàm hồ! Ta xưa nay ưa sạch sẽ, người trong Thượng Thực Cục ai cũng biết, sao có thể đổi giày với người khác! Rõ ràng là ngươi giẫm nát Vọng quả của Thái tử, giờ tội lỗi bại lộ liền muốn vu oan giá họa cho ta!” Phượng Tiên ung dung kể lại chuyện xảy ra trong Đông thanh, mọi chi tiết, lời đối thoại của hai người so với sự thật không sai một ly. Tần Tư Thiện nghe xong chưa tỏ thái độ, chỉ hỏi Phượng Tiên: “Có nhân chứng không?” Phượng Tiên nhất thời cứng họng. Lúc đó trong Đông thanh chỉ có hai người bọn họ, nào có nhân chứng. Cuối cùng đành phải lắc đầu. Tần Tư Thiện ra lệnh cho cả Phượng Tiên và Hách Cẩm Ngôn đều cởi giày ra, để ch.ó đen ngửi lại lần nữa, kết luận đưa ra vẫn là: đôi giày Phượng Tiên cởi ra chính là đôi đã giẫm lên Vọng quả. Hai đôi hài đều là hài vân đầu kiểu dáng thống nhất của Thượng Thực nội nhân, bề ngoài và màu sắc chẳng có gì khác biệt, đến kích cỡ cũng y như nhau. Tần Tư Thiện đưa cho mấy vị Điển Thiện, Chưởng Thiện xem, họ cũng không ai phân biệt được đôi nào là của ai. Lúc này Chân Chân bỗng bước ra khỏi hàng, thi lễ với Tần Tư Thiện, thỉnh cầu: “Tư Thiện có thể cho tỳ thiếp mạn phép xem qua hai đôi hài này không?” Tần Tư Thiện cho phép, Chân Chân bèn cầm hai đôi hài lên xem xét kỹ càng. Một lát sau, nàng nhấc đôi hài Phượng Tiên vừa cởi ra lên, nói: “Đôi hài này không phải của Phượng Tiên tỷ tỷ, mà giống đồ dùng thường ngày của Hách nữ sử hơn.” Hách Cẩm Ngôn giận dữ nói: “Ngươi và Lăng Phượng Tiên đều xuất thân từ Phố Giang, vốn là tỷ muội, cho nên hùa nhau vu khống ta, lời ngươi nói nửa câu cũng không thể tin!” “Ta không nói chuyện tình cảm, chỉ nói lý lẽ.” Chân Chân thu lại ánh mắt từ trên người Hách Cẩm Ngôn, quay sang Tần Tư Thiện, nói: “Đôi hài đã giẫm lên Vọng quả này, mép ngoài gót của cả hai chiếc đều bị mài mòn. Tình trạng này thường là do người đi hài có thói quen đi bộ hướng mũi chân vào trong (chân vòng kiềng), khiến mép ngoài phần gót chịu lực trước, lâu dần dẫn đến mài mòn. Dáng đi của Phượng Tiên tỷ tỷ hoàn toàn bình thường, về cung Tư Thiện có thể kiểm tra tất cả giày của tỷ ấy, sẽ không có vết mòn như thế này. Còn tỳ thiếp khi mới vào cung, từng bị Tư Thiện phê bình dáng đi chưa đủ đoan trang, cho nên ta đã để tâm quan sát dáng đi của các nữ quan trong cung, phát hiện Hách nữ sử khi đi lại có thói quen hướng mũi chân vào trong. Vì vậy, nếu phải chọn chủ nhân của đôi hài này giữa Phượng Tiên và Hách nữ sử, ta cho rằng đó là Hách nữ sử.” Tần Tư Thiện nhìn kỹ lại đế của hai đôi hài, trầm ngâm rồi nói: “Lời này có lý. Tuy nhiên trong Thượng Thực Cục, người có thói quen đi mũi chân hướng vào trong chưa chắc chỉ có mình Hách nữ sử, chỉ dựa vào lời Lăng Phượng Tiên nói, cũng chưa thể kết luận là Hách nữ sử đã đổi giày với Lăng Phượng Tiên.” “Còn một cách nữa có thể nhận ra hài của tỳ thiếp.” Phượng Tiên bỗng xen lời, nói: “Sau khi nhận được đôi hài vân đầu này, ta từng theo sở thích riêng, tháo lót giày ra, rắc bột trầm đàn hương vào dưới đế rồi khâu lại như cũ, để giày tự tỏa hương thơm. Cho nên, xin hãy kiểm tra đôi hài Hách nữ sử cởi ra, tháo lót giày xem thử, nếu trong giày có bột trầm đàn hương, thì đó chắc chắn là của ta.” Hách Cẩm Ngôn nhớ lại lúc đổi giày với Phượng Tiên, quả thực từng ngửi thấy một làn hương trầm thoang thoảng, lại thấy Tần Tư Thiện đưa giày cho cấm vệ, sắp sửa rạch ra, trong lúc cuống quýt bèn cao giọng hô: “Cách này là do ta dạy cho Lăng Phượng Tiên, cho nên ả mới biết ta rắc bột hương trong giày.” Phượng Tiên quay sang Hách Cẩm Ngôn, bình thản hỏi: “Sao cơ, Hách nữ sử cũng khâu bột hương vào trong giày ư?” Hách Cẩm Ngôn nói: “Cách này ta dạy ngươi, dĩ nhiên ta cũng làm như vậy.” Phượng Tiên lại hỏi: “Tỷ chắc chắn bột hương trong đôi giày này là do tỷ tự tay bỏ vào?” “Đương nhiên.” Hách Cẩm Ngôn nói, “Trầm hương do chính tay ta tuyển chọn, bỏ vào đế giày rồi tự tay khâu lại.” “Vậy sao...” Phượng Tiên nở nụ cười với nàng ta, chậm rãi nói: “Thật xin lỗi, ta nhớ nhầm rồi. Hồi đó ta chỉ hun hương cho giày của mình, chứ chưa từng bỏ bột hương vào đế giày. Cho nên, nếu cấm vệ rạch đế giày ra mà thấy bột hương, thì đôi giày đó chắc chắn là của tỷ. Còn nếu không có... Tỷ nói xem, giày, rốt cuộc là của ai?” Chương 42 - Y Lạc Truyền Phương Hách Cẩm Ngôn cùng vài nội nhân liên quan bị Hoàng Thành Ty áp giải về cung, chuyển giao cho Cung Chính nữ quan họ Ngụy - người nắm giữ giới lệnh, thanh tra hậu cung, phán quyết các hành vi vi phạm pháp luật và xử phạt, thẩm vấn. Ngụy Cung Chính ra lệnh lục soát toàn bộ giày dép của Hách Cẩm Ngôn và Lăng Phượng Tiên, quả nhiên đúng như lời Chân Chân nói, giày của Hách Cẩm Ngôn phần gót ngoài đều có vết mài mòn ít nhiều, còn của Lăng Phượng Tiên mọi thứ như thường, không có gì lạ. Kết hợp với cuộc đối thoại trước đó của hai người, Cung Chính đã phán đoán tội nằm ở Hách Cẩm Ngôn. Sau một hồi thẩm vấn, Hách Cẩm Ngôn và mấy nội nhân lần lượt thú nhận tội lỗi. Thì ra năm ngoái chức Chưởng Thiện của Thượng Thực Cục bị trống, Hách Cẩm Ngôn vốn là người có khả năng thăng chức nhất, nào ngờ Phùng Tịnh không chút kinh nghiệm bỗng nhiên ở đâu trên trời rơi xuống, ngang nhiên cướp mất vị trí này. Hách Cẩm Ngôn ôm hận trong lòng, bèn liên kết với vài nội nhân cũng gai mắt Phùng Tịnh, thiết kế vụ việc lần này, mưu toan hãm hại Phùng Tịnh, khiến nàng ta bị cách chức. Ngụy Cung Chính tra hỏi đi tra hỏi lại xem có ai đứng sau sai khiến hay không, bọn họ đều một mực khẳng định là do tự mình làm, không ai thao túng, cũng không có nhân chứng vật chứng nào cho thấy người khác dính líu vụ án này. Ngụy Cung Chính bèn theo cung quy ra lệnh đ.á.n.h roi các nữ nhân này, định đuổi họ ra khỏi cung làm nữ đạo sĩ. Nhưng vì sự việc liên quan đến Thái tử, Ngụy Cung Chính xin chỉ thị của Đông cung về phán quyết này, Thái t.ử hồi đáp rằng hành động của họ tuy dụng tâm hiểm ác, nhưng dù sao chưa gây hậu quả nghiêm trọng, đã chịu đòn roi thì đuổi khỏi cung là được, không cần ép họ xuất gia, hủy hoại cả đời người. Chứng kiến việc này, Chân Chân lại thỉnh giáo thêm một số nữ quan, dần dần hiểu được việc trừng phạt cung nhân trong cung có hệ thống riêng, khác với bên ngoài. Cung nhân bình thường phạm lỗi do Cung Chính xét xử, nếu phạm trọng tội cực lớn mới để Ngự Sử Đài, Hình Bộ và Đại Lý Tự can thiệp. Chân Chân nhớ lại Thôi huyện lệnh từng nói nương nàng là cung nhân bỏ trốn, nghĩ bụng tội bỏ trốn hẳn thuộc phạm vi quản lý của Cung Chính, bèn dò hỏi các nội nhân xem hơn nửa năm nay Cung Chính có từng xử phạt cung nhân nào trốn khỏi cung hay không. Câu trả lời nhận được đều là không, rất nhiều người nói: “Trong cung cơm áo không lo, lại có nhiều cơ hội bay lên cành cao, kiểu gì cũng tốt hơn bên ngoài. Huống hồ Quan gia nhân hậu, Lệ Quý phi không tranh với đời, Liễu Tiệp dư đang được sủng ái cũng đối đãi với người dưới rất hòa nhã, đời sống cung nhân rất dễ chịu, chẳng ai muốn trốn ra ngoài cả. Cho dù thực sự muốn xuất cung lấy chồng, đợi vài ba năm, Quan gia kiểu gì cũng hạ chỉ cho phép cung nhân xuất cung, cho nên mấy năm nay chưa từng nghe nói có cung nhân bỏ trốn, càng đừng nói đến chuyện xử phạt.” Vài ngày sau, trong cung truyền tin: Tham tri chính sự Thẩm Hãn kén Thám hoa lang Phó Tuấn Dịch làm con rể, hôn lễ của Phó Tuấn Dịch và Thẩm gia tiểu nương t.ử sắp cử hành. Hoàng đế và Hoàng thái hậu đều ban trân bảo cho Thẩm thị thêm của hồi môn, đồng thời lệnh cho Thượng Thực Cục lo liệu yến tiệc hôn lễ. Dành cho Thẩm thị vinh dự hiếm có như vậy, tự nhiên là có nguyên do. Thẩm Hãn từng đảm nhiệm chức Giáo thụ tại Vương phủ của Hoàng đế trước khi ngài đăng cơ, không chỉ truyền đạo dạy nghề, mà còn thường xuyên chỉ đạo ngôn hành của Hoàng đế khi đó còn là Quận vương. Con trai ruột của Tiên đế c.h.ế.t yểu, sau đó vì mãi không sinh được, Tiên đế bèn chọn hai bé trai trong tông thất nuôi dưỡng trong cung, một trong số đó chính là Quan gia bây giờ. Đợi họ lớn hơn một chút liền phong làm Quận vương, mỗi người xuất cung lập phủ riêng. Đến khi cần chọn một người lập làm Trữ quân, Tiên đế muốn thử thách phẩm tính của hai người con, liền ban cho mỗi người mười cung nhân trẻ đẹp. Thẩm Hãn thấy vậy, liền răn dạy Quan gia chớ nên gần gũi mười cung nhân này, nên lấy lễ kế mẫu mà đối đãi. Quan gia hiểu ý, làm theo lời thầy dạy, đối với các mỹ nhân cung kính lễ phép, kính nhi viễn chi. Ít lâu sau, Tiên đế quả nhiên triệu hồi hai mươi cung nhân, sai y quan kiểm tra, phát hiện những người ban cho Quan gia vẫn còn nguyên vẹn, mà mười người ban cho vị kia đã không còn là xử nữ. Tiên đế từ đó hạ quyết định, để Quan gia kế thừa đại thống. Hoàng đế khắc ghi ơn này, sau khi lên ngôi trọng dụng Thẩm Hãn, bây giờ Thẩm Hãn đã làm quan đến chức Phó tướng. Thẩm gia tiểu nương t.ử Nhu Nhiễm sắp xuất giá lần này là con gái út của Thẩm Hãn. Ông con cái không ít, nhưng Nhu Nhiễm nhỏ tuổi nhất, thông minh lanh lợi, nên ông vô cùng trân quý, một lòng muốn chọn cho con một lang quân hoàn mỹ. Kén cá chọn canh bao năm đều không như ý, năm nay gặp Thám hoa lang cuối cùng cũng hài lòng: Phó Tuấn Dịch trẻ tuổi anh tuấn, tài học xuất chúng, ăn nói phi phàm, đã đỗ Thám hoa thì tiền đồ vô lượng. Thế là sau khi tan Yến Văn Hỷ, ông liền mời Phó Tuấn Dịch đến tư dinh bàn chuyện cưới xin. Phó Tuấn Dịch cũng ngưỡng mộ đại danh Thẩm Hãn đã lâu, liền nhận lời ngay, mưu đầu ý hợp với nhau, mối hôn sự này cứ thế mà được định đoạt. Lệ Quý phi theo ý Hoàng đế, triệu kiến Thẩm phu nhân và Thẩm Nhu Nhiễm tại Hậu uyển, báo cho họ biết việc Hoàng đế và Thái hậu ban thưởng, đồng thời để Bùi Thượng Thực gặp gỡ nương con Thẩm thị, bàn bạc chi tiết hôn yến. Hôm ấy ánh mai trong trẻo, gió xuân hiền hòa, Lệ Quý phi mời nương con Thẩm thị đến đình “Y Lạc Truyền Phương” bên Tiểu Tây Hồ trong Hậu uyển ngắm hoa mẫu đơn, truyền gọi Tiên Thiều Viện tấu nhạc trợ hứng, cũng không thiếu hoa quả trà bánh, y hệt một buổi tiểu yến nơi hậu cung. Lý Điển Thiện chỉ tên chọn vài nội nhân dâng đồ ăn đến Y Lạc Truyền Phương, trong đó có Vân Oanh Ca. Nào ngờ Vân Oanh Ca lại ấp a ấp úng không muốn nhận lệnh, Lý Điển Thiện lập tức nổi giận, mắng nàng: “Ngươi lại định nói sợ gặp quý nhân chân tay bủn rủn à? Ai vào cung mà chẳng phải hầu hạ quý nhân? Ngươi vất vả thi vào đây chẳng lẽ không phải để làm việc, mà là đợi làm quý nhân chắc?” Vân Oanh Ca không giải thích, một dòng nước mắt lập tức trào ra, tủi thân thút thít khóc. Chân Chân thấy Vân Oanh Ca giống như có nỗi khổ khó nói, liền tiến lên xin thay nàng dâng đồ ăn vào Hậu uyển. Lý Điển Thiện thở dài, phẩy tay cho Chân Chân đi. Thượng Thực Cục nằm ở phía nam Đại nội, cách Hậu uyển phía bắc rất xa. Đây là lần đầu tiên Chân Chân bước vào khu vườn này, chỉ thấy Tiểu Tây Hồ nước xanh biếc nằm ở giữa, rộng chừng hơn mười mẫu, bên hồ mô phỏng Phi Lai Phong ở Linh Ẩn, xếp đá làm núi, chắc hẳn chính là “Vạn Tuế Sơn” mà các cung nhân thường nhắc đến. Trong uyển có các khu vực riêng trồng hoa mai, mẫu đơn, thược dược, sơn trà, mộc hương, quế hoa, quýt, trúc, tùng..., mỗi nơi đều thiết lập đình đài lầu các để phục vụ việc du ngoạn thưởng hoa. Bên cạnh khóm hoa bụi trúc là những tảng đá kỳ lạ xếp hàng, khoe vẻ tú lệ, so với phong cách thanh nhã đạm mạc của khu vườn Vấn Tiều Dịch nhà Lâm Hoằng, nơi này có vẻ phồn thịnh hoa lệ hơn nhiều. Chân Chân nương theo tiếng sáo trúc vọng lại từ Y Lạc Truyền Phương, từ từ bước vào đình tạ bên khóm mẫu đơn ấy. Lệ Quý phi ngồi ở ghế chủ tọa là một phụ nữ ngoài ba mươi, khác với hình dung trước đó của Chân Chân, dung mạo bà không quá xinh đẹp, tuy mặc chiếc áo khoác rộng thùng thình, vẫn khó giấu được thân hình khá đẫy đà. Gò má chảy xệ, bất kỳ người qua đường nào cũng có thể nhận ra thời gian đã lướt qua làn da bà một cách tàn nhẫn thế nào. Bà luôn giữ nụ cười trên môi, nhưng trong ánh mắt thi thoảng lộ vẻ mệt mỏi chán chường, dường như chỉ giây tiếp theo sẽ ngã xuống ngủ say. Chân Chân dâng hoa quả trên tay lên, rồi dùng khóe mắt quan sát những người còn lại trong tiệc. Thẩm phu nhân đoan trang, hơi gầy yếu, con gái bà lại cao ráo đĩnh đạc, đôi mắt sáng ngời, thần thái rạng rỡ. Bùi Thượng Thực ngồi ngay ngắn ở ghế cuối, hơi cúi đầu, giữ tư thái kiên nhẫn lắng nghe, ít nói cười. Còn đối diện bà lại là một vị hoạn quan... Chân Chân không khỏi mở to mắt: cách biệt nửa năm, nàng vẫn liếc mắt một cái là nhận ra ngay, người này chính là vị hoạn quan từ Kinh thành đến mà nàng từng gặp ở buổi hương ẩm. Tại buổi hương ẩm, Thôi huyện lệnh chưa từng giới thiệu tên họ thân phận của hoạn quan này với nàng, sau đó cũng chỉ nói mơ hồ là ông ta họ Trình. Chân Chân sau khi vào cung không nghe ngóng được tin tức của nương, cũng từng thử tìm vị hoạn quan họ Trình này, nhưng hoạn quan trong cung hàng ngàn hàng vạn, nàng ngay cả tên đầy đủ cũng không biết, muốn tìm chẳng khác nào mò kim đáy bể, không ngờ lúc này lại gặp ở đây. Trình Uyên đến để truyền đạt ý chỉ và lời chúc phúc của Hoàng thái hậu cho nương con Thẩm thị, nói cười vui vẻ, vô cùng nho nhã. Ông ta cũng cảm nhận được ánh nhìn nóng rực của Chân Chân, nhàn nhạt đối mắt với nàng một cái, nhưng coi như không thấy, lập tức quay đầu, lại mỉm cười đối thoại với Thẩm phu nhân, không nhìn Chân Chân nữa. Chân Chân lui ra ngoài cửa, cùng các Thượng Thực nội nhân khác lẳng lặng đợi tiệc tan. Cuối cùng cũng kết thúc, Lệ Quý phi, nương con Thẩm thị và Trình Uyên lần lượt rời đi, Bùi Thượng Thực đứng dậy dặn dò các nội nhân vào trong dọn dẹp. Chân Chân lĩnh mệnh đi vào, nhanh chóng thu dọn một phần chén đĩa, làm xong việc trong phận sự liền vội vàng chạy ra ngoài, muốn đuổi theo Trình Uyên đã đi trước. Hậu uyển đường hoa quanh co, hang động sâu thẳm, Chân Chân đuổi theo một lúc, chẳng những không tìm thấy bóng dáng Trình Uyên, còn lạc lối giữa những tảng đá lởm chởm, không tìm thấy đường về. Đang lúc lòng nóng như lửa đốt, bỗng cảm thấy có vật gì tròn tròn không nặng không nhẹ ném trúng vai nàng một cái, rồi rơi xuống chân, lăn đi. Chân Chân cúi đầu nhìn, phát hiện đó là một quả đào xanh nhỏ xíu, lại nhìn về hướng quả đào ném tới, thấy Triệu Ngai đang đứng sừng sững nơi ánh sáng loang lổ của giữa tảng đá, nheo mắt cười híp mí về phía ánh mặt trời đang dát một lớp vàng lên hàng mi hắn. “Đã lâu không gặp, nàng vẫn khỏe chứ? Đại nội này có giống như nàng tưởng tượng không?” Triệu Ngai hỏi. Nhưng Chân Chân lòng đầy ý nghĩ về Trình Uyên vừa biến mất, không trả lời câu hỏi của Triệu Ngai, bước nhanh về phía trước hỏi hắn: “Ngài có biết Trình tiên sinh ở cung Thái hậu không?” “Trình Uyên?” Triệu Ngai nói, “Đương nhiên biết, ông ta ở trong cung cũng là nguyên lão ba triều rồi.” “Nghe nói, nương ta bị ông ta đưa về cung.” Chân Chân gấp gáp hỏi, “Ngài có từng nghe nói chuyện nương ta bị xử phạt hay gì đó không?” Triệu Ngai lắc đầu: “Thực ra, lần trước ở Phố Giang nghe chuyện nhà nàng xong, ta đã dò hỏi tung tích nương nàng. Nương nàng đã bị Trình Uyên đưa đi, vậy chắc chắn là cung nhân của Tiên đế, hiện giờ thuộc quyền quản lý của cung Từ Phúc, Cung Chính của Đại nội không có quyền can thiệp. Mà ở cung Từ Phúc, ta cũng chưa từng nghe nói có chuyện xử phạt cung nhân bỏ trốn nào cả.” Chân Chân ngẩn ngơ nói: “Vậy nương ta rốt cuộc có ở cung Từ Phúc hay không?” Triệu Ngai đáp: “Ta không nghe nói cung Từ Phúc nửa năm nay có cung nhân bỏ trốn bị bắt về, nhưng cũng chưa tra xét kỹ, bởi vì ta không có tư cách tra cứu danh sách cung nhân cung Từ Phúc, thậm chí ngay cả Quan gia cũng không thể đi tra. Cung Từ Phúc không nằm trong Đại nội, Quan gia xưa nay hiếu kính Thái hậu, sẽ không nhúng tay vào việc của cung Từ Phúc, cho nên cung Từ Phúc muốn thưởng hay phạt cung nhân, đều có thể tự mình quyết định, không cần báo cáo Đại nội, chuyện của người cung Từ Phúc, Đại nội cũng không biết hết được.” “Nói cách khác,” Chân Chân cau mày, “Nếu cung Từ Phúc xử phạt cung nhân của mình, thậm chí ban c.h.ế.t, cũng không cần thông báo cho Cung Chính của Đại nội?” Triệu Ngai gật đầu: “Đúng vậy. Theo thông lệ của Quốc triều, cung nhân của Thái thượng hoàng và Hoàng thái hậu không thuộc sự quản lý của Thượng Thư nội tỉnh Đại nội, Cung Chính chỉ có thể xử lí cung nhân của Đại nội... Trong lịch sử từng có nữ quan có quyền xử lý tất cả cung nhân của hai cung, nhưng từ khi Tiên đế lên ngôi đến nay không còn chức vụ đó nữa.” “Nữ quan có quyền lực như vậy gọi là gì? Hiện tại vì sao không đặt nữa?” Chân Chân truy hỏi. “Nữ quan như vậy, tên làTư Cung Lệnh.” Triệu Ngai đáp, “Chánh tứ phẩm, đứng trên tất cả các nữ quan. Nắm giữ mọi việc trong cung, có quyền xử phân đối với công việc của Lục Thượng và tất cả cung nhân. Tiên đế thờ Mẫu hậu cực hiếu, không muốn nhúng tay vào nội vụ cung Thái hậu, nên không lập Tư Cung Lệnh. Nay Quan gia cũng theo lệ Tiên đế, không chức này, công việc hậu cung để Lục Thượng và Cung Chính chia nhau quản lý, càng không can thiệp nội vụ cung Từ Phúc.” Chương 43 - Chương 43 Hôm ấy Vân Oanh Ca bị Lý Điển Thiện xử phạt, yêu cầu một mình quét dọn đại trù của Thượng Thực Cục. Đến lúc tắt đèn Vân Oanh Ca vẫn chưa làm xong, nàng lại không dám thắp đèn, đành phải nương theo ánh trăng mờ nhạt tiếp tục quét dọn. Chân Chân và Phượng Tiên thấy vậy, bèn rủ nhau cùng đến, lặng lẽ giúp Vân Oanh Ca hoàn thành nốt công việc. Ba người mò mẫm trong bóng tối, khó khăn lắm mới lau sạch sẽ những chỗ cần làm, cuối cùng vai kề vai ngồi nghỉ dưới khung cửa sổ đầy ánh trăng, ai nấy đều kiệt sức. Phượng Tiên nghỉ một lát, quay sang nói với Vân Oanh Ca: “Lần này muội chịu phạt thực ra rất oan uổng. Hai lần giao nhiệm vụ cho muội chẳng qua là dâng thức ăn cho quý nhân, có gì khó đâu? Hà tất cứ năm lần bảy lượt từ chối, để đến nỗi vất vả thế này.” Vân Oanh Ca không giải thích, gục đầu vào đầu gối im lặng hồi lâu, lại bắt đầu thút thít. Chân Chân vỗ nhẹ vai nàng an ủi: “Muội có nỗi khổ tâm gì, đừng ngại nói cho bọn ta, biết đâu bọn ta có thể nghĩ cách giúp muội. Cho dù không giúp được muội giải quyết vấn đề, nhưng ít nhất bọn ta biết nguyên nhân, lần sau cũng có thể kịp thời giúp muội ứng phó với nhiệm vụ tương tự.” Vân Oanh Ca vẫn im lặng không nói. Phượng Tiên bèn nói: “Thôi được rồi, chắc hẳn muội muội có chỗ khó xử, không tiện nói rõ với người khác. Vậy thế này đi, sau này nếu muội có việc gì không muốn làm, thì bảo trước với bọn ta, bọn ta sẽ xin phép các nữ quan, làm thay cho muội.” Vân Oanh Ca quệt nước mắt, nghẹn ngào nói: “Hai vị tỷ tỷ muội tin được, muội sẵn lòng kể hết chuyện của mình cho các tỷ nghe, chỉ là chuyện này nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ, lòng muội rối như tơ vò, không biết phải làm sao... Tóm lại, còn mong các tỷ giúp muội giữ bí mật, tạm thời đừng nói cho người khác biết.” Thấy Chân Chân và Phượng Tiên đều gật đầu nhận lời, Vân Oanh Ca mới bắt đầu kể lể: “Muội là người Minh Châu, là con gái duy nhất trong nhà. Cha muội thời trẻ làm nghề kỳ lưng ởHương Thủy Hành(nhà tắm công cộng) để kiếm sống, sau này có chút vốn liếng, bèn tự mở một Hương Thủy Hành, dần dần làm ăn phát đạt, nay ở Minh Châu cũng coi như có chút tiếng tăm.” Chân Chân hỏi: “Có phải Hương Thủy Hành ‘Vân Nhất Oa’ không?” Vân Oanh Ca đáp phải, Chân Chân liền nói: “Ta có nghe nói. Ở Minh Châu đó là Hương Thủy Hành đứng đầu, còn mở mấy chi nhánh nữa.” Vân Oanh Ca tiếp tục: “Nương muội là một đầu bếp nữ, trước kia làm việc cho nhà giàu, sau gả cho cha muội, liền cùng ông lo liệu việc kinh doanh trong tiệm, rảnh rỗi thì dạy muội nấu nướng, nên từ nhỏ muội đã biết nấu ăn. Nhưng cha nương chưa bao giờ để muội ra ngoài làm đầu bếp, còn mời thầy dạy muội đọc sách viết chữ và âm luật, trước sau đều nuôi dạy muội như tiểu thư con nhà t.ử tế, một lòng mong muốn chọn cho muội một tấm chồng tốt, thoát khỏi số phận ‘tạp loại’ bị người ghẻ lạnh của bọn họ.” Phượng Tiên thở dài: “Cha nương muội đối với muội thật tốt, chắc chắn lo lắng rất nhiều cho hôn sự của muội nhỉ?” Vân Oanh Ca gật đầu, nói: “Từ năm muội mười bốn tuổi, họ đã nhờ bà mối khắp nơi dò hỏi nhà đàng hoàng, muốn gả muội vào nhà tốt một chút. Nhưng chẳng có nhà sĩ nào chịu kết thông gia với công thương tạp loại, huống hồ nhà muội còn là nơi mở nhà tắm... Sau này, bà mối được mời nói rằng, có một người đọc sách tuổi tác và dung mạo tương xứng với muội, gia thế trong sạch, người lại thông minh, tương lai nhất định thi đỗ Tiến sĩ, chỉ là hiện giờ gia cảnh bần hàn, đi học cần người tài trợ, chi bằng nhà muội kết mối thân này với hắn, chu cấp cho hắn ăn học, sau này hắn đỗ cao, muội tự nhiên cũng thành phu nhân của sĩ đại phu. Cha nương muội liền hẹn người đó gặp mặt, muội cũng lén nhìn hắn sau bình phong, hắn sinh ra quả thực tuấn tú, ngôn hành cử chỉ cũng phong nhã, cho nên, hôn sự này rất nhanh được định đoạt, hẹn sau khi hắn tham gia Cống cử (thi Hội) sẽ thành thân.” Chân Chân lờ mờ hiểu ra: “Vậy nên, hắn là một vị Tiến sĩ trong Yến Văn Hỷ? Đã thi đỗ, chẳng phải là cả nhà cùng vui sao? Nhưng tại sao muội lại vào Thượng Thực Cục?” Vân Oanh Ca ảm đạm nói: “Nói ra rất dài. Sau khi bọn muội đính hôn, hắn thường xuyên viết thư cho muội, còn hẹn muội lén gặp hắn mấy lần. Bọn muội đều ưng ý dung mạo tính tình của nhau, thư hắn viết cũng luôn tình ý triền miên, muội một lòng nhận định hắn là người trong mộng, nài nỉ cha nương ngoài việc chu cấp hắn ăn học, còn để hắn dọn vào nhà mới, mỗi tháng đưa hắn một khoản tiền lớn cho hắn tiêu dùng... Phàm là thứ hắn cầu, không gì không đáp ứng. Hắn cũng không phụ kỳ vọng của bọn muội, trong kỳ Giải thí (thi Hương) đỗ đầu châu phủ, một bước thành Giải nguyên.” Phượng Tiên hiểu rõ: “Lần này thanh danh vang dội, e là hắn muốn thay lòng đổi dạ rồi.” Vân Oanh Ca gật đầu: “Hắn vốn là gã thư sinh nghèo chẳng ai ngó ngàng, sau khi đỗ Giải nguyên, nhà hắn bỗng nhiên tấp nập như chợ vỡ, kẻ đến nhận họ hàng, người đến nịnh bợ, kẻ muốn bỏ tiền cho hắn lên kinh ứng thi, lại còn có người đến làm mối... Hắn tỏ ý đã đính hôn, người ta hỏi đến, biết người hắn sắp cưới là muội, đều cười khẩy, bảo hắn sẽ một bước lên mây, sao có thể kết thông gia với tạp loại, sau này đồng liêu hỏi tới, biết bố vợ hắn là kẻ kỳ lưng cho người ta, còn không biết sẽ sỉ nhục hắn thế nào... Những lời như vậy nghe nhiều, hắn cũng tự thấy bất an, liền đến nhà muội, khéo léo lộ ra ý muốn từ hôn. Nhưng cha muội vừa nghe đã nổi giận, mắng tới tấp vào mặt hắn là kẻ vong ân bội nghĩa, mắng đến bốc hỏa, còn cởi cả ủng ra định đ.á.n.h hắn, bảo hôn sự này tuyệt đối không hủy, nếu hắn kiên quyết muốn hủy, cùng lắm thì đ.á.n.h c.h.ế.t gã bạc tình này, ông đền hắn một mạng cũng không oan. Thấy cha muội cứng rắn như vậy, hắn cũng không dám nhắc lại chuyện từ hôn, cười làm lành nói vài câu hay ho, rồi chuồn mất.” Chân Chân khinh bỉ nói: “Tên này tâm địa bất chính, đã có ý từ hôn, ắt sẽ không chịu bỏ qua như vậy, nhất định sẽ động tà tâm.” Vân Oanh Ca vành mắt lại đỏ, che miệng kìm nén tiếng khóc nghẹn nơi cổ họng, hồi lâu sau mới điều chỉnh được giọng điệu, tiếp tục nói: “Sau đó, hắn lại viết thư cho muội, hẹn muội gặp mặt ở một nơi vắng vẻ ven sông gần cây cầu, dặn muội đừng nói cho ai biết, hãy đi một mình. Muội xưa nay tin tưởng hắn, giấu cha nương, lén lút đi một mình. Khi gặp hắn, hắn mang bộ dạng sầu t.h.ả.m thê lương, nói nương hắn lấy cái c.h.ế.t ra ép, không cho hắn thành thân với muội. Muội nói muội cũng hết cách, cha không nghe bất kỳ ai khuyên, hễ nhắc từ hôn là ông đòi liều mạng. Hắn nói: Chúng ta tiến thoái lưỡng nan như vậy, đằng nào cũng là bất hiếu, sống trên đời cũng chẳng có ý nghĩa gì, chi bằng cùng xuống suối vàng, dưới cửu tuyền yên ổn làm uyên ương. Muội nhất thời ma xui quỷ khiến, cảm thấy hắn nói gì cũng có lý, lại bị hắn nói đến nỗi bi thương dâng lên, cũng chẳng thiết sống nữa, bèn đồng ý cùng c.h.ế.t với hắn. Hắn bèn nắm tay muội đi ra giữa cầu, kéo muội nhảy xuống nước.” Phượng Tiên cười lạnh: “Hắn biết bơi? Còn muội chắc chắn là không.” “Tỷ tỷ nói đúng, sự thật chính là như vậy. Đáng tiếc lúc đó muội còn chưa hiểu, hay nói đúng hơn là không muốn tin...” Vân Oanh Ca nức nở nói, “Sau khi muội rơi xuống nước thì bắt đầu giãy giụa, tay cào cấu tứ tung, nhưng căn bản không chạm được vào hắn. Có một khoảnh khắc ngoi lên mặt nước, nhìn thấy hắn đang bơi đi, muội muốn kêu cứu, nhưng nước rất nhanh nhấn chìm muội, suýt chút nữa thì bỏ mạng dưới sông... May mà mạng chưa tận, sau một hồi đuối nước thì được một người lái đò đi ngang qua cứu vớt. Đợi muội tỉnh lại, người lái đò tốt bụng hỏi rõ chỗ ở, đưa muội về nhà.” Chân Chân hỏi: “Vậy cha muội có đi truy cứu tội lỗi của vị hôn phu kia không?” Vân Oanh Ca nói: “Cha đến nhà hắn tìm, nhưng hắn không về nhà, nương hắn ngược lại một mực khẳng định là muội dụ dỗ hắn đi nhảy sông, khóc lóc đòi nhà muội đền mạng. Khi đó hắn sống không thấy người c.h.ế.t không thấy xác, cha cũng không biết rốt cuộc hắn đã c.h.ế.t hay chưa, cho nên cũng không tiện truy cứu nữa. Từ đó, hắn không còn xuất hiện ở Minh Châu, cha nương muốn tìm cho muội mối lương duyên khác, nhưng trải qua chuyện này, muội đối với hôn nhân đã chẳng còn chút mong đợi nào, lòng nguội lạnh như tro tàn, u uất rất lâu. Sau này nghe nói Thượng Thực Cục muốn tuyển nội nhân vào cung, muội bỗng nhớ ra nếu hắn còn sống nhất định sẽ lên kinh ứng thí, trong lòng khẽ động, liền đi báo danh ứng tuyển, không ngờ lần tuyển chọn này thực sự chỉ nhìn trù nghệ không nhìn xuất thân, muội quả nhiên được chọn vào Thượng Thực Cục...” Phượng Tiên nhớ lại chuyện hôm Yến Văn Hỷ, nói: “Muội không muốn dâng thức ăn vào các Tinh Nghĩa, chứng tỏ vị hôn phu kia của muội đang ở trong các.” Chân Chân cũng nói: “Còn không muốn đối mặt với nương con Thẩm thị, chứng tỏ vị hôn phu của muội có liên quan đến Thẩm thị.” “Đúng vậy,” Vân Oanh Ca thở dài một tiếng, “Vị hôn phu kia của muội, chính là Thám hoa Phó Tuấn Dịch.” Lời vừa thốt ra, ba người rơi vào một sự im lặng ngắn ngủi. Một lát sau, Phượng Tiên hỏi Vân Oanh Ca: “Sự việc đã đến nước này, muội có dự tính gì?” Vân Oanh Ca nói: “Chính vì không biết nên lòng muội mới rối như tơ vò. Muội thân cô thế cô, khi có cha bên cạnh còn chẳng làm gì được hắn, nay hắn đã đỗ Thám hoa, sắp kết thông gia với thiên kim Phó tướng, muội chỉ là một nội nhân nhỏ bé không đáng nhắc tới, có thể làm gì được? Chỉ có thể trơ mắt nhìn hắn ôm ấp vợ đẹp, đai vàng áo tía mà thôi.” “Hắn rủ muội đi c.h.ế.t, bản thân lại bỏ trốn, rõ ràng là cố ý mưu sát, đã phạm luật pháp, không thể dễ dàng buông tha hắn.” Chân Chân nghiêm mặt nói, “Việc này nên công bố cho thiên hạ biết, để hắn chịu sự trừng phạt thích đáng. Loại tiểu nhân ác độc nhường này, nếu để hắn một bước lên mây, sau này còn không biết sẽ họa quốc hại dân thế nào.” “Tuy là vậy,” Phượng Tiên hỏi Vân Oanh Ca, “Muội có bằng chứng hắn mưu hại muội không?” Vân Oanh Ca chần chừ nói: “Muội có thư từ hắn viết cho muội, bao gồm cả bức thư hẹn muội gặp mặt bên sông. Muội đều mang đến Kinh thành cả rồi.” “Chỉ hẹn muội gặp mặt bên sông thì chưa đủ,” Phượng Tiên nói, “Hắn có thể biện minh rằng, chỉ hẹn muội gặp mặt từ biệt, không ngờ muội sẽ nhảy sông sau khi hắn đi. Hoặc là, hắn thực sự cùng muội nhảy sông tìm c.h.ế.t, chỉ là giống như muội, được người ta cứu lên... Hắn có rất nhiều lý do để biện bạch.” Vân Oanh Ca nói: “Đây cũng là điều muội lo ngại.” Phượng Tiên nói: “Nếu không muốn tiếp tục nhẫn nhịn, để hắn xuân phong đắc ý, việc cấp bách trước mắt là ngăn cản hắn cưới con gái Thẩm Tham chính.” Chân Chân gật đầu tán đồng, lại nói: “Chúng ta rất khó gặp Thẩm Tham chính. Ta thấy Thẩm gia tiểu nương t.ử kia là một cô nương khá lanh lợi, chi bằng tìm cách nói chuyện này cho nàng ấy biết trước. Việc liên quan đến cả đời nàng ấy, chắc hẳn nàng ấy cũng không mong nửa đời sau bị hủy hoại trong tay loại người này.” Vân Oanh Ca đáp: “Chỉ là, chúng ta nói thẳng ra, chưa chắc nàng ấy đã tin, đến lúc đó nếu bảo chúng ta vu khống phu quân nàng ấy, lại càng khó giải thích.” Chân Chân ngẫm nghĩ, nói: “Hai ngày nữa là Đoan Ngọ, hôm nay ta nghe thấy Lệ Quý phi mời nương con Thẩm thị hôm đó vào cung tham dự ‘Bài Đương’ (yến tiệc) tết Đoan Ngọ. Có lẽ, chúng ta có thể nghĩ một cách, khéo léo báo cho Thẩm cô nương biết chuyện này...” Chú thích: Hương Thủy Hành - Nhà tắm công cộng dành cho đại chúng thời Nam Tống. Chương 44 - Đoan Ngọ Trong cung năm nay Đoan Ngọ náo nhiệt hơn mọi năm, không chỉ mời tông thất, họ hàng ngoại thích, quyến thuộc đại thần tham dự tiệc rượu “Bài Đương”, mà còn mô phỏng phong tục dân gian đua thuyền rồng trong Tiểu Tây Hồ ở Hậu uyển. Hoàng đế cho nội thị và nội nhân mặc trang phục dân gian, đóng giả làm bách tính, bày bán những vật phẩm Đoan Ngọ bên hồ hoặc trên thuyền nhỏ giữa hồ, ví dụ như chỉ ngũ sắc, dây trường mệnh, hổ ngải, bùa trâm, túi thơm..., mang ý nghĩa vui cùng dân chúng. Yến tiệc đã chuẩn bị xong, trước khi khai tiệc, các Thượng Thực nội nhân rảnh rỗi liền mang theo ít loại bánh trái Đoan Ngọ đã chuẩn bị sẵn như bánh chưng, bánh bột viên, quả mơ, táo rừng và mứt quả... đến Hậu uyển, tham gia phiên chợ cung đình hiếm thấy này. Chân Chân, Phượng Tiên và Oanh Ca mỗi người mang theo một ít bánh trái Đoan Ngọ đến bên hồ, tản bộ, thi thoảng ngóng nhìn ra giữa hồ, cho đến khi thấy một chiếc thuyền hái sen, ở giữa căng màn vải xanh đang trôi về phía họ, mấy cô gái nhìn nhau, đều lộ vẻ vui mừng. Thuyền cập bờ, có một cô gái từ trong khoang thuyền bước ra, chính là Phùng Tịnh. Thiếu niên chèo thuyền cho nàng ta trước đó trông chưa đến tuổi nhược quán, lúc này chậm rãi đi đến bên cạnh nàng ấy, lấy tay áo che bàn tay,lại đưa cánh tay ra cho Phùng Tịnh nắm, lịch sự đỡ nàng ta lên bờ. Phùng Tịnh lên bờ xong mỉm cười với nhóm Chân Chân: “Ta đã hứa tìm cho các muội một chiếc thuyền nhỏ, không ngờ hôm nay đông người như vậy, thuyền trong hồ đã bị mượn hết từ sớm. Ta hỏi khắp nơi, may mà gặp được vị tiểu ca này, ta vừa nói cậu ấy liền đồng ý cho chúng ta lên thuyền.” Nhóm Chân Chân bèn tạ ơn thiếu niên nọ. Cậu ta mặc áo xanh lam giống thư sinh bình thường, đầu đội khăn mềm (nhuyễn cước phúc đầu), dung mạo thanh tú, làn da có lẽ không thường thấy ánh nắng, trắng như ngọc, nhưng lại hiện lên vẻ nhợt nhạt khác thường. Nghe các cô gái nói lời cảm tạ, cậu ta tỏ vẻ bẽn lẽn, rủ mi mắt xuống, ngượng ngùng cười một cái, trên mặt mới ửng lên một rặng mây đỏ. Chân Chân trong lòng đoán thầm, cho rằng cậu ta là tiểu hoàng môn cải trang thành sĩ nhân, chia cho cậu ta khá nhiều đồ ăn trên tay, rồi hỏi thuê chiếc thuyền này tốn bao nhiêu tiền. Cậu ta lắc đầu, nói: “Cho tôi chỗ bánh trái Đoan Ngọ này là đủ rồi, không cần trả tiền nữa.” Cậu ta mời nhóm Chân Chân lên thuyền. Chiếc thuyền hái sen này nhỏ nhắn, ngoại trừ thiếu niên chèo thuyền, trong thuyền chỉ chứa được bốn người. Trong màn vải xanh trang trí khá tinh xảo, có bàn nhỏ và đệm ngồi, đều rất thanh nhã sạch sẽ, trên bàn còn đốt hương trầm Hải Nam mang mùi thơm mật hoa. Phùng Tịnh để ba cô gái vào trong, bản thân không lên thuyền nữa. Thiếu niên chèo thuyền rời bến, theo lời dặn của Chân Chân, trôi dọc theo bờ hồ. Chân Chân đứng ở mũi thuyền nhìn ra bốn phía. Lúc này trên Tiểu Tây Hồ cũng giống như cảnh sĩ phu dân chúng dạo hồ, hàng chục chiếc thuyền lớn nhỏ đang trôi, trên thuyền đều có nội nhân rao bán đồ ăn thức uống, vật phẩm bán ra ngoài bánh chưng, bánh đoàn trắng, còn có canh, hoa quả theo mùa, sứa, ốc, rượu mới nấu, kẹo hình sư tử, kẹo hình trẻ nhỏ, không thiếu thứ gì. Thẩm Nhu Nhiễm cùng nương đang dạo bước bên hồ, một chiếc thuyền hoa chạm trổ tinh xảo đi đến gần họ, nội nhân trong thuyền cao giọng chào mời: “Trên thuyền chúng con có rượu ‘Thanh Bích Hương’, ‘Tư Đường Xuân’, ‘Tuyên Tứ’, ‘Tiểu Tư’ mới nấu, đều là rượu Lệ Quý phi thích uống, phu nhân và tiểu nương t.ử chi bằng lên nếm thử.” Nương con Thẩm thị thấy chiếc thuyền hoa điêu khắc tinh xảo, lại nghe nội nhân nhắc đến Lệ Quý phi vừa gặp cách đây không lâu, nhìn nhau cười, đang định lên thuyền, lại nghe thấy Chân Chân trên chiếc thuyền hái sen gần đó lanh lảnh nói: “Trên thuyền chúng tôi có mơ ngào, món mơ ngào Trang Hiếu Minh Ý Đại Trưởng Công chúa thích ăn nhất.” Mơ ngào cũng là một loại bánh trái Đoan Ngọ. Dùng nước muối ngâm xương bồ, gừng, mơ, mận, tía tô, phơi khô thái thành sợi nhỏ, rồi ngâm mật, sau đó nhồi vào trong vỏ quả mơ, liền thành món mơ ngào thơm ngọt. Thẩm Nhu Nhiễm kia tuy sắp xuất giá, nhưng vẫn còn tâm tính thiếu nữ, thích đồ ngọt, vừa nghe Chân Chân nói vậy liền mỉm cười nhìn sang, có vẻ rất hứng thú. Nội nhân trong thuyền hoa thấy thế lại nói: “Trên thuyền chúng ta không chỉ có rượu ngon trà bánh, còn có ca cơ Tiên Thiều Viện ca múa trợ hứng, ngoài uống rượu thưởng trà, còn có thể chơi trò uống rượu nghe hát, thuyền cũng đủ rộng, thích hợp nhất cho quý khách du ngoạn.” Chân Chân nghe vậy ung dung nói với nương con Thẩm thị: “Trong thuyền họ có ca múa, trên thuyền chúng tôi kể ‘Ngân Tự Nhi’, chuyện xưa tích cũ, truyền kỳ linh quái, phàm là chuyện các cô nương thích nghe, chúng tôi đều biết kể.” Thứ nàng chỉ chính là một hình thức kể chuyện đang thịnh hành hiện nay, người kể chuyện kể lại câu chuyện, bên cạnh có người thổi sáo ống bạc đệm nhạc, nên gọi là “Ngân Tự Nhi”. Sáo ống bạc còn gọi là Ngân tự tất lật, âm sắc vừa có thể cao vút trong trẻo, lại có thể trầm hùng thê lương. Chân Chân vừa dứt lời, Oanh Ca trong thuyền đã giơ cao cây sáo tất lật, khẽ hé môi son, bắt đầu thổi. Tiếng nhạc du dương, uyển chuyển vấn vương, tựa như đang kể một câu chuyện bi thương diễm lệ. Thẩm Nhu Nhiễm động lòng, hỏi Chân Chân: “Các ngươi biết kể chuyện về Trang Hiếu Minh Ý Đại Trưởng Công chúa không?” Chân Chân tự tin đáp: “Biết chứ, nếu không sao biết bà ấy thích ăn mơ ngào.” Thẩm Nhu Nhiễm bèn nắm tay nương, định lên thuyền, Chân Chân cười áy náy, chỉ vào khoang thuyền nói: “Thuyền chúng tôi nhỏ, chỉ có thể mời một vị quý khách vào trong.” Thẩm Nhu Nhiễm dừng bước, nhưng vẫn ngó vào trong thuyền, có vẻ lưu luyến. Nương nàng bèn cười nói: “Con muốn nghe Ngân Tự Nhi thì đi đi, nương lên chiếc thuyền hoa bên cạnh. Lát nữa, chúng ta vẫn gặp nhau ở đây.” Thẩm Nhu Nhiễm bèn vui vẻ đồng ý, sau khi tạm biệt nương liền dưới sự giúp đỡ của Chân Chân nhẹ nhàng bước lên thuyền. Thẩm Nhu Nhiễm ngồi xuống trong thuyền, Phượng Tiên điểm trà cho nàng, dâng lên mơ ngào, Chân Chân tay cầm một chiếc quạt xếp Cao Ly, khi gấp khi mở, phối hợp với vẻ mặt lúc buồn lúc vui, dưới sự đệm nhạc của tiếng sáo Ngân tự của Oanh Ca, bắt đầu kể cho Thẩm gia tiểu nương t.ử nghe câu chuyện về Trang Hiếu Minh Ý Đại Trưởng Công chúa: gặp phải cuộc hôn nhân không như ý thế nào, chí hướng không hợp với phò mã ra sao, dưới miệng lưỡi thế gian bị buộc phải chia lìa với nội thị bầu bạn từ nhỏ, cuối cùng u uất mà c.h.ế.t. Nghe đến nỗi Thẩm Nhu Nhiễm than ngắn thở dài, đợi Chân Chân kể xong, nói: “Ta từng nghe cha nhắc đến vị công chúa này, nói bà ấy phóng túng tùy hứng, tranh cãi với nhà chồng, giận quá nửa đêm về cung, vào cấm trung khóc lóc kể lể, khiến cổng cung phải mở lúc nửa đêm, bị các quan ngôn luận đả kích. Ta rất tò mò, hỏi cha sự tích chi tiết của bà ấy, cha lại không chịu nói nhiều. Hôm nay nghe cô nương kể Ngân Tự Nhi, mới biết ngọn nguồn trong đó. Cô nương không hổ là nội nhân trong cung, bí mật nhà trời thế này cũng biết.” Chân Chân nói: “Thực ra ta vào cung chưa lâu, chuyện cũ trong cung cũng chỉ biết mỗi chuyện này. Chuyện cổng cung mở lúc nửa đêm là nghe Tư Thiện nhắc đến khi giảng giải cung quy Đại nội, không khỏi tò mò, dò hỏi các tỷ tỷ, mới biết đầu đuôi câu chuyện. Ta xuất thân dân gian, nghe được những câu chuyện nơi ngõ hẻm cửa tre còn nhiều hơn chuyện nơi lầu son gác tía, trong đó có khá nhiều chuyện ly kỳ khúc chiết, đáng để suy ngẫm, kể ra cũng rất hay đấy.” Thẩm Nhu Nhiễm hứng thú bừng bừng bảo nàng kể tiếp, Chân Chân gật đầu, ra hiệu cho Oanh Ca, đợi tiếng sáo tất lật của Oanh Ca lại vang lên, nàng xòe quạt xếp ra, lại lanh lảnh nói: “Lại nói triều trước, chính thông người hòa, quốc thái dân an. Lưỡng Chiết giàu có, thợ thủ công buôn bán thường có người chăm chỉ mà có chút tiền của. Ở Minh Châu có một thiếu niên họ Ngọc, vì gia cảnh bần hàn, từ nhỏ làm việc ở Hương Thủy Hành. Chàng ta làm việc chắc chắn, xưa nay chịu thương chịu khó, đối đãi với người lại chân thành, vì thế rất được chủ và khách hàng thưởng thức, dần dần tích cóp được chút vốn liếng, sau này tự mở một Hương Thủy Hành, đặt tên là ‘Ngọc Nhất Thoa’, lại cưới một nương t.ử thanh mai trúc mã, vợ chồng hòa thuận ân ái, chẳng bao lâu sinh được một mụn con gái, tên chữ là Oanh Nhi...” Nàng mượn tên họ Ngọc, kể lể câu chuyện của Oanh Ca, miêu tả chi tiết vẻ đẹp và sự lương thiện của Oanh Nhi, lại khắc họa sâu sắc tâm lý tự ti vì xuất thân và hy vọng con gái nhờ hôn nhân thoát khỏi thân phận tạp loại của vợ chồng họ Ngọc. Vì thế khi kể đến đoạn chàng thư sinh nghèo được họ tài trợ thi đỗ Giải nguyên xong muốn từ hôn, cha Oanh Nhi giận dữ cởi giày đ.á.n.h thư sinh, hận không thể liều mạng, Thẩm Nhu Nhiễm cũng cảm thấy như chính mình trải qua, theo đó thở dài thườn thượt. Chân Chân tiếp tục kể, nói đến đoạn thư sinh hẹn Oanh Nhi đến trên cầu, lấy cớ tuẫn tình để lừa nàng nhảy xuống nước, Thẩm Nhu Nhiễm không khỏi cau mày, không nhịn được mắng: “Kẻ này uổng công đọc bao nhiêu sách thánh hiền, lại không sửa được tâm tính sài lang!” Khúc nhạc Oanh Ca thổi càng thêm ai oán nức nở, tiếng nhạc dần nhỏ đi, như khóc như than. Sau đó nội dung Ngân Tự Nhi là Oanh Nhi rơi xuống nước, thấy thư sinh bơi đi xa, lúc ngàn cân treo sợi tóc may có người lái đò đi ngang cứu vớt, về nhà xong cha nàng tìm khắp nơi không thấy tung tích thư sinh. Oanh Nhi cắt đứt tơ tình, ứng tuyển vào cung, làm nội nhân. Nào ngờ trong buổi yến tiệc gặp lại thư sinh đã trở thành Thám hoa lang, mà thân phận khác của thư sinh lúc đó, đã là rể hiền của Tể tướng... Chân Chân kể đến đây, gấp chiếc quạt xếp trong tay lại, tạm ngừng kể chuyện, khúc nhạc của Oanh Ca cũng im bặt. Thẩm Nhu Nhiễm vẫn luôn chăm chú lắng nghe, những biểu cảm giận dữ, nghi hoặc, kinh ngạc lần lượt hiện lên rồi tan đi, sau đó liền một mực im lặng, cúi đầu không tỏ thái độ gì nữa. Cuối cùng thấy Chân Chân dừng lại, mới bình tĩnh ngước mắt nhìn nàng, hỏi: “Sao không kể tiếp?” Chân Chân nghiêng mình thi lễ với nàng, nói: “Câu chuyện này vẫn chưa viết xong, ta tạm thời cũng không biết nên kể tiếp thế nào.” Thẩm Nhu Nhiễm mắt sáng long lanh, đưa mắt lần lượt nhìn kỹ các cô gái trong thuyền, rồi bình tĩnh nói: “Nói đi, trong các cô, ai là Oanh Nhi.” Oanh Ca rụt rè nhìn Chân Chân, Chân Chân gật đầu với nàng, nàng mới lấy hết can đảm thừa nhận: “Tôi chính là Oanh Nhi trong câu chuyện, tên thật là Vân Oanh Ca.” Thẩm Nhu Nhiễm đ.á.n.h giá nàng từ đầu đến chân, hồi lâu sau mới hỏi: “Cô chỉ trích Phó lang bạc tình phụ nghĩa, có bằng chứng không?” Oanh Ca lấy ra những tấm thiếp ghi rõ tên húy ba đời của hai bên dùng để đính hôn năm xưa, cùng với rất nhiều bức thư do chính tay Phó Tuấn Dịch viết, từng cái từng cái dâng lên trước mặt Thẩm Nhu Nhiễm. Thẩm Nhu Nhiễm từ từ mở ra, xem kỹ từng trang một, cuối cùng nhìn thấy bức thư tình Phó Tuấn Dịch viết cho Oanh Ca năm xưa, không kìm được cười lạnh: “Quả nhiên là Phó Tuấn Dịch viết, không những nét chữ y hệt, ngay cả những câu từ miêu tả tình cảm nhớ nhung này, cũng chẳng khác gì những lời chàng ta viết cho ta.” Nàng lại hỏi kỹ Oanh Ca chuyện trong nhà Phó Tuấn Dịch, Oanh Ca trả lời rành rẽ, không sai lệch với sự thật chút nào. Trong lòng Thẩm Nhu Nhiễm đã tin đến bảy tám phần, trầm ngâm giây lát, nàng nói với Oanh Ca: “Hiện giờ những tấm thiếp và thư từ này, chỉ có thể chứng minh Phó Tuấn Dịch và cô từng có hôn ước, còn về chuyện cô rơi xuống nước, bằng chứng không đủ, vẫn chưa thể kết luận chàng ta cố ý hại tính mạng cô. Ta ngược lại có một cách, có thể nhìn ra manh mối sự việc, chỉ là cần cô phối hợp, không biết cô có bằng lòng không.” Oanh Ca tỏ ý sẵn sàng phối hợp, Thẩm Nhu Nhiễm bèn bảo Oanh Ca ghé tai lại, thì thầm dặn dò nàng phải làm thế nào. Dứt lời thấy vẻ mặt Oanh Ca nghiêm trọng, lại lạnh lùng nghiêm nghị nói: “Việc này hệ trọng, nếu cô có nửa lời gian dối, việc này sẽ không làm được, nếu không ắt sẽ rước họa vào thân, vạn kiếp bất phục.” Oanh Ca trịnh trọng thi lễ với nàng, nói: “Ta xin thề những lời ta nói đều là sự thật, cũng cam tâm tình nguyện làm theo lời cô nương dặn bảo.” Thẩm Nhu Nhiễm gật đầu, nói với Chân Chân: “Được rồi, Ngân Tự Nhi nghe xong rồi, các cô đưa ta lên bờ đi.” Về đến bờ, Thẩm Nhu Nhiễm thấy nương đã đợi ở chỗ cũ, sắc mặt như thường đi về phía nương, trong lời nói không hề nhắc đến chuyện trên thuyền hái sen. Lúc sắp rời đi, Thẩm Nhu Nhiễm quay đầu nhìn nhóm Chân Chân, mỉm cười thi lễ nói: “Hẹn ngày tái ngộ.” Thiếu niên chèo thuyền vẫn lấy tay áo che tay, để ba cô gái vịn vào lên bờ. Chân Chân thấy cậu ta dọc đường đi vẫn luôn lặng lẽ chèo thuyền, không nói nhiều lời, lúc này lại tỏ ra rất có phong thái quân tử, không khỏi nảy sinh hảo cảm, nghĩ bụng hôm nay nhận phần ân tình này của cậu ta, sau này kiểu gì cũng phải trả. Cậu ta trông tính tình có vẻ yếu đuối, e là khó tránh khỏi bị những nội thị cường thế bắt nạt, mình nếu quen biết cậu ta, sau này biết đâu có thể giúp đỡ đôi chút, bèn hỏi cậu ta: “Cậu làm việc ở đâu?” Thiếu niên cúi đầu mỉm cười, nhưng không đáp lời. Chân Chân lại truy hỏi: “Có thể cho ta biết tên cậu không?” Thiếu niên kia hơi do dự, cuối cùng vẫn nói: “Tôi họ Ân, tên Kỳ.” “Ân Kỳ?” Chân Chân cảm thấy cái tên này dường như đã nghe ở đâu đó, nghe rất quen tai, còn đang suy nghĩ nhớ lại, mà Phượng Tiên đứng sau lưng nàng vẻ mặt đã sớm biến sắc, nhìn chằm chằm Ân Kỳ, vẻ mặt đầy kinh ngạc. Chương 45 - Chương 45 Chân Chân từ biệt với Ân Kỳ. Thấy chẳng còn ai muốn đi thuyền, Ân Kỳ bèn bỏ lại thuyền con, nhảy lên bờ. Vừa mới bước về phía Chân Chân được hai bước, từ giữa những tán hoa phía trước bỗng nhiên vọt ra hai hàng người, nhanh chóng vây quanh Ân Kỳ. Kẻ thì cầm quạt che nắng dâng ghế ngồi, người thì bưng trà rót nước, lại có một thị nữ quỳ xuống bên cạnh, hai tay nâng chậu bạc, cung kính đợi chàng rửa tay. Hai thị nữ khác thì một người bưng khay đựng khăn tay, một người bưng khay đựng "Vĩnh Hòa Công Chúa Hương Táo Đậu" – loại bột rửa tay được điều chế từ bạch chỉ, đào nhân, hạnh nhân, trầm hương, bồ kết, lộc giác giao... tất cả đều dâng đến trước mặt chàng để tùy ý sử dụng. Dưới ánh mắt kinh ngạc của đám Chân Chân, Ân Kỳ thản nhiên rửa tay, rồi đón lấy chén nước uống một ngụm, thần thái tự nhiên, cử chỉ ung dung, cứ như thể chốn Hậu uyển đại nội này là tư dinh nhà mình vậy. Lúc này, một vị quý phu nhân trạc tứ tuần bước tới, áo lụa dệt kim, tóc mây cài trâm ngọc, trang phục tinh xảo chẳng kém gì Lệ Quý phi. Bà vừa thấy Ân Kỳ liền âu yếm dùng khăn lụa lau lớp mồ hôi mỏng trên trán chàng, dịu dàng nói: "Già Lam nhi, chèo thuyền lâu như vậy, chắc con mệt rồi nhỉ? Hoàng thái hậu vừa nhắc đến con đấy, mau theo nương đi thỉnh an Thái hậu." Dưới sự dỗ dành nửa lôi nửa kéo của nương, Ân Kỳ đứng dậy, ngoan ngoãn như một đứa trẻ để bà dắt về phía điện các của Thái hậu. Khi đi ngang qua nhóm Chân Chân, chàng khẽ dừng bước, mỉm cười với các nàng. Thấy vậy, nương chàng liếc mắt ra hiệu cho thị nữ phía sau. Lập tức có thị nữ bưng khay đựng mấy chiếc trâm cài đầu dâng lên trước mặt Chân Chân, Phượng Tiên và Oanh Ca. "Chút quà mọn dịp Đoan Ngọ, mong các cô nương vui lòng nhận cho, đa tạ các cô nương đã bầu bạn cùng khuyển t.ử dạo hồ." Nương của Ân Kỳ mỉm cười nói với nhóm Chân Chân. Mấy cô gái cứ ngỡ là quà tặng Đoan Ngọ bình thường, tạ ơn phu nhân rồi nhận lấy mấy chiếc trâm cài đầu. Đợi khi tiễn nương con Ân Kỳ đi khuất, nhìn kỹ món quà trong tay, họ mới phát hiện những chiếc bùa nhỏ trên trâm cài không phải cắt từ lụa màu, mà là những lá vàng được dát mỏng tinh xảo. Các cô gái nhìn nhau ngơ ngác, không ai ngờ vị phu nhân này lại coi hành động gần như được thuê mướn của họ là bầu bạn với Ân Kỳ, lại còn ra tay hào phóng đến thế. Món quà hậu hĩnh này cũng thu hút sự chú ý của các nội nhân xung quanh. Trong đó có Đường Ly, một nội nhân vào Thượng Thực Cục từ năm tám tuổi, am hiểu nhân sự trong cung, cười khẩy với họ: "Ta còn lạ sao các ngươi lại to gan lớn mật, đến mạng nhỏ cũng không cần mà dám lên thuyền của Ân đại công tử, hóa ra là vì phần thưởng của Trần Quốc phu nhân." Nói xong, nàng ta bĩu môi khinh khỉnh bỏ đi. Phượng Tiên nắm tay Chân Chân, vội vàng đuổi theo sau lưng Đường Ly. Đến chỗ vắng vẻ, Phượng Tiên vòng lên trước mặt Đường Ly, cười làm lành: "Chúng tôi vào cung chưa lâu, người không biết, việc không hay, phải nhờ tỷ tỷ nhắc nhở mới không phạm sai lầm lớn. Hôm nay chúng tôi mơ màng mà lên chiếc thuyền đó, chỉ là ham chơi, vốn không biết thân phận vị công t.ử chèo thuyền, càng không biết Trần Quốc phu nhân. Nếu việc gặp với Ân đại công t.ử và Trần Quốc phu nhân có điều gì cấm kỵ, mong tỷ tỷ chỉ giáo cho. Chiếc trâm cài này, nếu tỷ tỷ không chê, xin hãy nhận lấy, coi như chút lòng thành cảm tạ." Phượng Tiên hai tay dâng trâm cài cho Đường Ly, Chân Chân cũng lập tức lấy phần của mình ra đưa tặng. Đường Ly từ chối, nhưng hai người kiên quyết muốn tặng, cuối cùng nàng ta nhận lấy cái của Phượng Tiên, rồi rút cây trâm ngọc trên đầu đưa lại cho Phượng Tiên, nói: "Coi như chúng ta tặng quà Đoan Ngọ cho nhau đi." Thấy Phượng Tiên nhận trâm ngọc, sắc mặt nàng ta hòa hoãn hơn, bắt đầu giải thích ngọn ngành cho hai người: "Vị Ân đại công t.ử đó là trưởng t.ử của Diên Bình Quận vương - em trai Hoàng thái hậu. Nương hắn là Trần Quốc phu nhân, cháu gái trưởng của Tề Thái sư triều trước. Diên Bình Quận vương sinh ra tuấn tú, tính tình ôn hòa, xưa nay rất được Hoàng thái hậu và Tiên đế yêu thương, Tề Thái sư khi còn sống lại là Tể tướng được Tiên đế trọng dụng, cho nên gia đình Diên Bình Quận vương hiển hách tôn quý, gia sản kếch xù, trong đám ngoại thích không ai sánh bằng. Chỉ hiềm một nỗi, Ân đại công t.ử năm năm-sáu tuổi không biết bị kinh hãi gì, mà mắc chứngcuồng hãn..." "Chứngcuồng hãn?" Chân Chân không kìm được xen vào, "Nhưng hôm nay chúng tôi nói chuyện với ngài ấy, thần thái ngài ấy bình thường, ôn nhu lễ độ, hoàn toàn không giống người mắc bệnh." Đường Ly nói: "Bệnh của hắn không phải ngày nào cũng phát tác, lúc tốt lúc xấu. Khi tỉnh táo thì chẳng khác gì người thường, nhưng nếu bị kích động sẽ điên cuồng mất kiểm soát. Năm ngoái hắn đến Đông cung dự tiệc, thích một món điểm tâm trên bàn tiệc, quan Đề cử Đông cung bèn điều nội nhân làm món đó sang phủ Diên Bình Quận vương hầu hạ hắn. Nào ngờ chẳng bao lâu sau, bệnh tình hắn phát tác, hắn lại rút kiếm của em trai Ân Đề đ.â.m c.h.ế.t nội nhân đó." Phượng Tiên lập tức hiểu ra, chính vì chuyện này mà Lăng Tam cô nương thà bỏ trốn chứ không chịu gả cho Ân Kỳ. Nghĩ đến chuyện hôn nhân, Phượng Tiên lại hỏi Đường Ly: "Vậy Ân đại công t.ử bây giờ đã thành gia chưa?" Đường Ly lắc đầu: "Những nhà quyền quý môn đăng hộ đối trong kinh chẳng ai muốn kết thân với hắn. Năm ngoái nghe nói đã định hôn với con gái một võ tướng trấn thủ biên cương, nhưng gần đến ngày cưới, chắc nhà gái nghe được phong thanh gì đó, cứ lần lữa mãi không chịu đưa con gái đến thành thân. Năm nay lại bảo muốn hoãn ngày cưới, Trần Quốc phu nhân nổi giận, cách đây không lâu kiên quyết bắt Diên Bình Quận vương hủy bỏ hôn ước." Phượng Tiên thầm thở phào nhẹ nhõm. Đường Ly tiếp tục nói: "Kể ra Ân đại công t.ử cũng có chút đáng thương, đã hai mươi hai tuổi rồi mà hôn sự vẫn chưa đâu vào đâu." "Ngài ấy hai mươi hai tuổi rồi sao?" Chân Chân ngạc nhiên, "Trông ngài ấy khá trẻ, tôi tưởng chỉ mười bảy mười tám thôi chứ." "Vì có bệnh, từ nhỏ bị nhốt trong phủ Quận vương, ít khi ra ngoài, nên da dẻ trắng bệch, vóc dáng cũng không cao lớn bằng em trai Ân Đề, trông cứ như trẻ con. Đứng cạnh Ân Đề, ai cũng tưởng Ân Đề cao lớn oai phong mới là anh trai." Đường Ly kiên nhẫn giải thích, "Ân Đề tuổi trẻ tài cao đã làm Thân Tòng Quan của Hoàng Thành Ty, còn Ân Kỳ chỉ có thể ru rú trong nhà, việc thường làm nhất là luyện chữ, cho nên chữ viết của hắn ngược lại rất đẹp." Chân Chân gật đầu: "Dáng vẻ nho nhã thư sinh của ngài ấy quả thực rất giống người đọc sách." Đường Ly cười nhạt: "Dáng vẻ hắn thì đẹp, giống hệt Diên Bình Quận vương thời trẻ, nhưng các người đừng quên hắn là người bệnh, chẳng biết lúc nào sẽ phát tác. Mỗi lần hắn vào cung, các nội nhân đều tránh như tránh tà, may mà hắn ít khi vào cung, một năm cũng chỉ một hai lần. Hôm nay hắn bảo muốn dạo hồ một mình, Trần Quốc phu nhân bèn tìm một chiếc thuyền cho hắn, lại ngầm sai người trên các thuyền khác hộ vệ xung quanh. Chúng ta đều tránh xa thuyền của hắn, chỉ có mấy người các ngươi ngớ ngẩn, thấy thuyền trống là leo lên, lại còn rủ rê Thẩm gia tiểu nương t.ử lên cùng, ta nhìn mà toát mồ hôi hột thay cho các ngươi. May mà hôm nay hắn không phát bệnh, nếu không các ngươi đừng hòng sống sót xuống thuyền." Hai ngày sau, Bùi Thượng Thực truyền tin xuống: Thẩm gia tiểu nương t.ử nói vừa gặp Vân Oanh Ca đã thấy thân thiết như người quen cũ, yêu cầu ngày cử hành hôn lễ Vân Oanh Ca phải đến Thẩm trạch, lo liệu việc ăn uống trong phòng tân hôn. Vân Oanh Ca nhận lệnh, đồng thời thỉnh cầu Bùi Thượng Thực cho Lăng Phượng Tiên và Ngô Chân Chân, những người vốn phối hợp ăn ý với mình cùng đi. Bùi Thượng Thực đồng ý, điền tên hai người này vào danh sách nội nhân đến Thẩm trạch vào ngày cưới. Ngày vui chớp mắt đã đến. Tân lang Phó Tuấn Dịch mặc áo xanh lục, đầu đội khăn hoa, cưỡi con tuấn mã cao lớn, theo đoàn nhạc quan đ.á.n.h trống thổi sáo, cùng đoàn người rước dâu bưng bình hoa, nến hoa, cầu hương, đồ rửa mặt Sa La, hộp trang điểm, đài gương, rương váy, tráp áo, bách kết, lọng xanh và ghế giao ỷ, huyên náo tưng bừng trong tiếng nhạc vui tươi tiến đến Thẩm trạch. Người nhà gái chặn cửa đòi tiền lì xì,ngâm thơ rằng: "Tiên nga phiêu miểu hạ nhân hoàn, Chỉ xích vinh quy động phủ gian. Kim nhật môn lan đa hỷ sắc, Hoa tương lợi thị bất hứa khan." (Tiên nga thướt tha xuống cõi trần, Vinh quy gang tấc động phủ gần. Hôm nay cửa ngõ bừng sắc hỷ, Lì xì hòm hoa chớ keo kiệt.) Phó Tuấn Dịch cười tươi như hoa sai tùy tùng dâng lên một ít. Cửa mở, một vị Khắc Trạch Quan (quan chọn ngày giờ) cầm đấu hoa khoan t.h.a.i bước ra, tung ngũ cốc, đậu, tiền, quả màu trong đấu hoa về phía cửa, để lũ trẻ con đứng xem náo nhiệt ở cổng tranh cướp, hành động này gọi là "Rắc ngũ cốc", nhằm trấn áp "Tam sát" – Thanh Dương (Dê xanh), Ô Kê (Gà đen), Thanh Ngưu (Trâu xanh) – những thứ được cho là sẽ cản trở tân nhân vào cửa. Lúc này mây đen cuồn cuộn nơi chân trời, che khuất mặt trời rực rỡ, ánh sáng dần mờ đi, tựa hồ sắp có mưa to. Phó Tuấn Dịch nhíu mày, nhưng thấy đám trẻ nhặt ngũ cốc vẫn hứng chí bừng bừng, cười nói không ngớt, lòng hắn cũng an tâm đôi chút, rảo bước vào trong. Người đàng gái đón tân lang vào phòng, trước tiên treo ngang một dải lụa màu trên khung cửa phòng, đợi tân lang bước vào, mọi người liền tranh nhau giật dải lụa, gọi là "Lợi thị kiểu môn" (Lì xì qua cửa), để cầu dính chút hỷ khí, lấy điềm lành. Phó Tuấn Dịch vào cửa xong quay đầu nhìn lại, thấy mọi người vẻ mặt háo hức, trăm tay tranh giành, không khỏi đắc ý dạt dào, ung dung đi vào phòng ngồi xuống, chờ đến giờ lành. Giờ lành đã điểm, lễ quan mời Phó Tuấn Dịch và tân nương ra giữa sảnh đường. Tân nương mặc áo tay rộng thêu kim tuyến, váy dài lụa đỏ, đầu trùm khăn che mặt thêu kim tuyến, dung mạo tạm thời không thấy rõ, nhưng vóc dáng yểu điệu, mỗi bước đi đều thướt tha yêu kiều. Phó Tuấn Dịch nhớ đến nhan sắc của Thẩm Nhu Nhiễm, lòng tràn đầy vui sướng, khóe môi luôn giữ nét cười. Một dải lụa màu hồng lục được tết thành nút đồng tâm, Phó Tuấn Dịch tay cầm hốt gỗ hòe, treo một đầu dải lụa, đầu kia do tân nương cầm trên tay, Phó Tuấn Dịch đi lùi, dắt tân nương ra giữa sảnh, nghi thức này gọi là "Dắt khăn" (Khiên cân). Hai vị tân nhân đứng yên vị giữa sảnh, theo thông lệ, lúc này sẽ do một người phụ nữ phúc hậu được chọn từ họ hàng nhà trai dùng gậy hoặc thoi dệt khều khăn che mặt của tân nương lên, để lộ dung nhan như hoa, sau đó hai tân nhân mới bái lạy gia thần và họ hàng. Nhưng Phó Tuấn Dịch lấy lý do xa quê, thời gian gấp gáp nên không mời họ hàng bên mình đến dự lễ, việc khều khăn che mặt đành nhờ nữ quyến nhà họ Thẩm làm thay. Phó Tuấn Dịch mỉm cười nhìn chằm chằm khăn che mặt của tân nương, cây gậy nhỏ trên tay người phụ nữ nọ nhẹ nhàng luồn vào dưới khăn, từ từ nâng lên, chầm chậm để lộ chiếc cằm trắng ngần tú lệ của tân nương. Cây gậy khựng lại một chút, rồi tiếp tục đưa lên, đôi môi được tô vẽ tỉ mỉ với độ cong tuyệt mỹ của tân nương dần hiện ra. Phó Tuấn Dịch cùng quan khách cả sảnh nín thở, tiếp tục chờ đợi. Cây gậy hơi đưa xuống, dừng lại một thoáng rồi đột ngột hất lên cao, hoàn toàn vén mở chiếc khăn che mặt. Tân nương hơi cúi đầu, thứ Phó Tuấn Dịch chú ý đầu tiên là chiếc mũ miện kết bằng châu ngọc của nàng, giây lát sau nhìn xuống theo những đóa hoa trang trí bốn mùa trên mũ, mới chạm phải ánh mắt nàng đang nhìn về phía mình. Trên không trung, đám mây đen trĩu nặng một cơn mưa chực chờ trút xuống, tiếng sấm thi thoảng rền vang, trong sảnh tối sầm lại. Phó Tuấn Dịch nhìn tân nương chằm chằm, nụ cười trên môi cứng đờ, hắn ra sức chớp mắt liên tục, cố gắng chứng minh mình bị hoa mắt nhất thời, người hắn nhìn thấy không phải là cố nhân kia. Một tia chớp bất thình lình x.é to.ạc màn đêm, ánh sáng trắng bệch soi rõ khuôn mặt tân nương, mày mắt ấy rõ ràng là nàng trong ký ức, chỉ là đôi mắt đen thẳm chất chứa ngàn vạn oán hờn, đôi môi đỏ thắm ngậm sự quyết tuyệt lạnh lẽo nhất, làn da dưới ánh chớp trắng bệch một cách quỷ dị không chút hơi ấm, mà tóc mái trước trán nàng ướt đẫm, dường như vừa ngâm trong nước, thậm chí còn có một giọt nước, trượt dài trên trán nàng lăn xuống. Phó Tuấn Dịch toàn thân nổi da gà, bất giác lùi lại, còn vị tân nương kia mặt lạnh như tiền, từng bước từng bước ép sát về phía hắn. Phó Tuấn Dịch run rẩy lùi ra ngoài sảnh, cuối cùng không kìm nén được nỗi sợ hãi trong lòng, quay đầu bỏ chạy về phía cổng lớn, nhưng gần cửa vẫn còn vương vãi những hạt ngũ cốc mà Khắc Trạch Quan vừa rãi lúc nãy, hắn giẫm phải mấy hạt, trượt chân ngã sóng soài ra đất. Vừa mới chống tay ngồi dậy, chưa kịp đứng lên, tân nương kia đã áp sát trước mặt, cúi người dùng ngón tay lạnh lẽo lướt qua mặt hắn, u uất gọi một tiếng: "Phó lang..." Phó Tuấn Dịch hét lên t.h.ả.m thiết, liều mạng co rúm người lại về phía sau, hai hàm răng đ.á.n.h vào nhau cầm cập, trong cơn kinh hãi tột độ thốt lên một tiếng ai oán: "Oanh Ca!" Chương 46 - Thượng Thực Oanh Ca nhìn hắn chăm chú, vẻ mặt thê lương, không đáp lại, cũng tạm thời chưa có hành động gì khác. Gió lạnh lùa qua, cơn mưa đã tích tụ từ lâu bắt đầu trút xuống, những hạt mưa to tướng quất vào người vào mặt Phó Tuấn Dịch, tuy thưa thớt nhưng lực rất mạnh. Hắn cảm thấy lạnh hơn, co rúm người lại, vùi đầu vào đầu gối, giấu mặt đi để tránh sự xâm lấn của nước mưa và ánh mắt bức bách của Oanh Ca. Bỗng nhiên có một giọt nước ấm áp rơi xuống gáy Phó Tuấn Dịch đang phơi ra trong gió, so với nước mưa lạnh lẽo, giọt nước ấy thậm chí còn nóng hổi. Hắn nhận ra sự khác thường, ngơ ngác ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy Oanh Ca trước mặt đôi mắt long lanh, trên mặt vẫn còn vết nước mắt lăn dài. "Oanh Ca?" Hắn dò xét khẽ gọi một tiếng, hàng mi Oanh Ca rủ xuống, hai giọt lệ lập tức rơi theo. Phó Tuấn Dịch đưa tay chạm vào giọt lệ trượt xuống cằm nàng, lần nữa cảm nhận được hơi ấm trong đó. Hắn lập tức hiểu ra, Oanh Ca trước mắt không phải oan hồn đòi mạng, mà là người sống sờ sờ. Cảm giác kinh hãi tan biến trong nháy mắt, ngọn lửa giận dữ bùng lên trong lồng ngực, hắn đứng dậy túm chặt lấy cánh tay Oanh Ca, lôi nàng vào giữa sảnh, đẩy mạnh xuống đất, quát: "Ả điên ở đâu ra, dám làm loạn hôn lễ Thám hoa!" Oanh Ca ngẩng đầu, nén giận nhìn hắn, còn vợ chồng Thẩm Hãn và quan khách đều ngơ ngác, dường như hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra, tiếng nhạc trong sảnh tạm ngừng, ngoại trừ tiếng mưa gió ngoài cửa, chỉ còn lại sự im lặng đầy lúng túng. Phó Tuấn Dịch lại quát Oanh Ca: "Tại sao ngươi lại giả làm tân nương? Thẩm gia tiểu nương t.ử đâu?" "Ta ở đây." Giọng nói của Thẩm Nhu Nhiễm vang lên từ sau tấm rèm bên cạnh. Mọi người nhìn về phía phát ra tiếng nói, thấy Thẩm Nhu Nhiễm khoan t.h.a.i bước ra, mặc y phục thường ngày, tay cầm mấy cuộn văn thư. Đi đến giữa Phó Tuấn Dịch và Vân Oanh Ca, Thẩm Nhu Nhiễm giơ hai cuộn văn thư trong đó lên trước mặt Phó Tuấn Dịch, nói: "Cô nương này nói, có hôn ước với chàng, đây là thảo thiếp và tế thiếp (giấy tờ đính hôn) được lập lúc bàn chuyện cưới xin năm xưa. Chàng hãy nói xem, có phải hay không." Nàng lập tức mở hai cuộn thiếp ra, từ từ giơ lên cho mọi người xung quanh xem, sau đó nhìn chằm chằm Phó Tuấn Dịch mặt xám ngoét như màu đất, cười lạnh ném tập văn thư xuống chân hắn. Phó Tuấn Dịch liếc qua tập văn thư, mồ hôi lạnh trên trán lại túa ra, nhất thời lòng rối như tơ vò, nhưng vẫn cố trấn tĩnh, chối bay chối biến: "Thảo thiếp tế thiếp gì chứ! Sau khi xướng danh bảng vàng, thường có người đến xin kết giao, trao đổi bút mực với ta. Thơ văn ta viết lưu truyền trong kinh không ít, e là bị kẻ có tâm tìm được, bắt chước bút tích ta viết ra hai tấm thiếp này, rồi đưa cho nương t.ử để vu oan cho ta, hòng phá hoại lương duyên của chúng ta. Mong nương t.ử minh xét, chớ trúng gian kế của kẻ tiểu nhân." Hắn lúc này lén quan sát người trong sảnh, thấy người quen cùng quê chỉ có mỗi Oanh Ca, đoán nàng thiếu nhân chứng, bèn quyết tâm làm liều, định vu khống nàng hãm hại, chỉ cần thuyết phục được cha con Thẩm thị đồng ý hoàn thành hôn lễ này, đêm nay động phòng hoa chúc xong xuôi, ngày mai dù sự thật bại lộ, cha con Thẩm thị cũng đành phải bảo vệ hắn. Thẩm Nhu Nhiễm bất động thanh sắc, tiếp tục chất vấn: "Lúc nãy ta nghe chàng gọi tên tục của cô ấy là Oanh Ca, khi thấy cô ấy lại kinh hoàng như thế, chắc hẳn cô ấy đối với chàng, không phải là người xa lạ chứ?" Phó Tuấn Dịch làm bộ do dự, lát sau thở dài thườn thượt: "Vị cô nương này, quả thực ta có quen biết. Khi ở Minh Châu, cha cô ta dẫn cô ta đến nhà bái phỏng, nhờ ta dạy cô ta đọc sách biết chữ, nhưng mà nam nữ thụ thụ bất thân, ta không đồng ý, nhưng vì lễ nghĩa, những câu hỏi cô ta đưa ra, ta cũng từng giải đáp vài lần. Vị cô nương này từ đó nảy sinh chút tình ý viển vông, thường xuyên quấy rầy ta. Ta để tránh thị phi, đã sớm lên kinh ứng thi, không ngờ nay cô ta lại đuổi tới tận kinh thành, làm giả những văn thư này, lừa gạt nương tử, thật là to gan lớn mật!" Thẩm Nhu Nhiễm nhớ lại bức thư tình Oanh Ca đưa ra, tự biết nét chữ văn phong không khác gì thư hắn viết cho mình, không thể nào có người bắt chước giống thật đến mức đó, đối với kẻ bạc tình này vô cùng khinh bỉ, chuẩn bị vạch trần bộ mặt thật của hắn trước mắt bao người, chỉ là đối mặt với sự giảo biện này của hắn, nhất thời không tiện nói ra nội dung thư tình hắn viết cho hai người con gái, nên tạm thời chưa mở miệng. Lúc này trong sảnh vang lên giọng nói lanh lảnh của một nữ tử, nói tiếng địa phương Minh Châu: "Ái chà, Phó Thám hoa năm xưa đỗ Giải nguyên phủ Minh Châu, biết bao bà mối đến cầu thân, trở về đều nói Phó Giải nguyên đã sớm đính hôn với con gái chủ tiệm Hương Thủy Hành Vân Nhất Oa, cảm thán Giải nguyên cưới vợ cưới hiền, một lòng ái mộ Vân gia cô nương Oanh Ca, mà không bị trói buộc bởi quan niệm môn đăng hộ đối, chuyện này ở Minh Châu chúng tôi được truyền tụng là giai thoại đấy. Sao bây giờ Thám hoa lại không thừa nhận từng đính hôn với Vân cô nương rồi?" Mọi người nhìn theo hướng tiếng nói, thấy người lên tiếng là Chân Chân trong trang phục nội nhân. Nàng vốn đứng chờ hầu tiệc bên ngoài sảnh, chẳng biết vào từ lúc nào, ẩn mình một góc, lúc này mới từ trong đám đông bước ra, nhìn thẳng vào Phó Tuấn Dịch nói những lời này. Thu Nương thường có giao dịch làm ăn với người Minh Châu, trong nhà cũng từng thuê người giúp việc quê Minh Châu, cho nên Chân Chân từng học tiếng địa phương của họ. Nàng mồm mép lanh lợi, mấy câu này nói giống y như thật, ngay cả Phó Tuấn Dịch cũng không nghe ra sơ hở, cứ tưởng nàng là người Minh Châu thật, trong lòng thầm kêu khổ, liếc nhìn Thẩm Hãn đang nhìn mình chằm chằm bên cạnh, lại không dám tỏ ra yếu thế, trong lòng nhanh chóng xoay chuyển, đoán chắc Chân Chân là đồng bọn của Oanh Ca, do Oanh Ca đưa đến làm chứng, bèn lập tức quỳ lạy trước mặt Thẩm Hãn, khẩn thiết nói: "Vị cô nương vừa nói, ta không hề quen biết, nhưng Vân Oanh Ca hôm nay dám làm loạn trong hôn lễ, ắt hẳn đã mưu tính từ lâu, sẽ mang theo đồng đảng tiếp ứng. Tham chính mắt sáng như đuốc, nhất định sẽ không bị bọn tiểu nhân này che mắt, chỉ vì vài lời phiến diện mà tin lời chúng. Tham chính là rường cột quốc gia, ta tuy bất tài, cũng nhờ ơn thiên t.ử mênh mông, đứng trong hàng ngũ đệ nhất giáp, chúng ta có duyên trở thành cha vợ con rể, ắt khó tránh khỏi có kẻ ghen ghét, vì thế cấu kết hai ả này hãm hại ta, mưu toan hủy hoại danh dự và con đường làm quan của Tham chính, cũng chưa biết chừng. Mong Tham chính minh xét, chớ nghe lời xúi giục, đuổi hai ả này ra ngoài, để hôn lễ tiến hành đúng giờ, đừng phụ giờ lành ngày tốt." Chân Chân nghe vậy bước lên một bước, nói với Thẩm Hãn: "Việc liên quan đến cả đời lệnh ái, xin Tham chính nhất định phải minh xét, đừng giao lầm lệnh ái cho kẻ bạc tình này. Huống hồ, việc làm của Phó Tuấn Dịch, không chỉ giới hạn ở đó... Tham chính không muốn biết vì sao Thám hoa lang thấy Vân Oanh Ca lại hoảng loạn thất thố đến thế sao?" "Câm miệng!" Phó Tuấn Dịch quát lớn cắt ngang lời Chân Chân, lại cầu xin Thẩm Hãn, "Ả này lòng dạ khó lường, nói gì cũng không đáng tin. Xin hãy sai người đ.á.n.h đuổi ả và Vân Oanh Ca ra ngoài, đừng để chúng tiếp tục tung tin đồn nhảm." Chân Chân cười nhạt, nhìn sang Thẩm Nhu Nhiễm. Thẩm Nhu Nhiễm hiểu ý, tự mình mở lời với cha mình: "Hôn nhân đại sự, không phải trò đùa. Phó lang nếu trước đó đã có hôn ước với Vân cô nương, thì hôn sự với con sẽ không có hiệu lực. Con không muốn gả chồng mà trong lòng còn nghi hoặc, trước khi việc này được tra rõ, con không thể thành hôn với hắn." "Hôn nhân đại sự, không phải trò đùa..." Thẩm Hãn nãy giờ vẫn im lặng nhìn con gái từ từ mở miệng, ý kiến đưa ra lại ngoài dự liệu của các cô gái, "Hôn sự của con và Thám hoa lang tuân theo lệnh cha nương, lời mối mai, vấn danh nạp cát, đủ cả lễ nghi, sao có thể vì hai tờ giấy lai lịch bất minh mà đã mặc định là vô hiệu?" Thẩm Nhu Nhiễm nhất thời cứng họng, ánh mắt Thẩm Hãn lại lướt qua mặt Vân Oanh Ca và Chân Chân: "Hai vị cô nương này rõ ràng là chỗ quen biết cũ, bạn thân khuê phòng, lời nói ra, không thể làm bằng chứng cho nhau. Hôm nay xem ra, hai vị chắc chắn không có tâm trạng uống chén rượu mừng này, đã vậy, hai vị hà tất miễn cưỡng..." Rồi cao giọng hô, "Người đâu, mời hai vị cô nương này ra khỏi cửa." Lập tức có tớ gái tiến lên, giữ c.h.ặ.t t.a.y Oanh Ca và Chân Chân, định lôi đi. Trong lúc hai cô gái giãy giụa, lại có tiếng nói vang lên từ đám đông, là giọng nữ trầm thấp hơi có vẻ già nua, âm lượng không lớn, ngữ điệu bình thản, nhưng lời nói ra lại lạnh lùng nghiêm túc, mang sự uy nghiêm: "Khoan đã. Lão thân ở đây cũng có một văn bản, Tham chính xem qua rồi hãy đuổi hai nội nhân đi cũng chưa muộn." Thẩm Hãn ngạc nhiên nhìn sang, nơi ánh mắt hướng tới, Bùi Thượng Thực từ từ ngẩng đầu, nhìn lại ông. Bùi Thượng Thực tuy nhận lệnh chủ quản công việc hôn yến, nhưng không cần đích thân nấu nướng, mấy ngày trước chưa từng xuất hiện ở Thẩm trạch, mãi đến trước khi hôn lễ bắt đầu nửa canh giờ mới đến, trước đó đối với chuyện trong sảnh cũng chỉ lạnh lùng đứng xem, thấy Thẩm Hãn định đuổi hai cô gái đi, mới quyết định lên tiếng. Dưới cái nhìn chăm chú của mọi người, bà chậm rãi đi đến trước mặt Thẩm Hãn, giơ một tay lên, cho ông xem văn bản trong tay. Thẩm Hãn nhận lấy xem kỹ, không khỏi cau mày. Bùi Thượng Thực không để mọi người xung quanh chờ đợi quá lâu, nói thẳng nội dung văn bản: "Đây là một tờ khế ước nhà,chủ hộ ghi là Vân Oanh Ca." Phó Tuấn Dịch nhìn chằm chằm tờ khế ước nhà, sắc mặt dần dần như tro tàn. Bùi Thượng Thực khép hờ mi mắt, nói: "Ngôi nhà này, là do chủ tiệm Hương Thủy Hành Vân Nhất Oa mua làm của hồi môn cho con gái, mà hiện nay, người đang ở trong đó là..." Bà lúc này mới lạnh lùng liếc nhìn Phó Tuấn Dịch, nói, "Nương của Thám hoa lang." "Cái này, cái này... là Vân thị, là Vân thị..." Phó Tuấn Dịch lại muốn giảo biện, nhưng nhất thời không tìm được lý do thuyết phục. Bùi Thượng Thực vặn lại: "Là Vân thị tặng cho ngươi? Ừm, Vân thị xem ra vô cùng tôn sư trọng đạo, chỉ mới được Thám hoa lang dạy bảo vài lần, đã dâng tặng cả ngôi nhà." Phó Tuấn Dịch tuy không biết thân phận bà, nhưng nhìn trang phục khí độ, đã hiểu bà không phải người tôn quý bình thường, cũng không dám tùy tiện phản bác, đành phải im lặng, lộ rõ vẻ chán nản. Bùi Thượng Thực lại quay sang nói với Thẩm Hãn: "Vân Oanh Ca đó, là nội nhân của Thượng Thực Cục ta. Lần này hai lần từ chối hầu tiệc cho Tiến sĩ nhất giáp và quyến thuộc Tham chính, thậm chí còn dám chịu phạt vì việc đó, ta biết được không khỏi nghi hoặc. Vừa khéo trong cung có hoạn quan vì việc công đi Minh Châu, ta bèn nhờ ông ấy thuận tiện nghe ngóng lai lịch Vân Oanh Ca. Hoạn quan đến Vân gia, dăm ba câu đã hỏi ra chuyện cũ của Oanh Ca. Cha nương cô ấy nhắc đến Phó Tuấn Dịch, vô cùng căm phẫn, nói thẳng hối hận năm xưa sau khi đính hôn đã dùng tiền muôn bạc vạn và nhà đất để nuôi dưỡng, lại nuôi ra tên bạc tình bạc nghĩa thế này. Sau đó nhờ hoạn quan chuyển giao khế ước nhà cho Oanh Ca, nói đây là tài sản của cô ấy, dù cô ấy đi đâu, cuối cùng vẫn là của cô ấy." Thẩm Hãn mặt lạnh tanh, hạ giọng hỏi: "Cho nên, Vân Oanh Ca diễn màn kịch này, là do Thượng Thực bày mưu?" Bùi Thượng Thực lắc đầu: "Ta cũng mới sáng nay nghe hoạn quan kể chuyện Vân Oanh Ca, khế ước nhà nhận được trước khi lên đường, bèn mang theo bên người, vốn chỉ định khi gặp Oanh Ca sẽ đưa cho cô ấy, không ngờ sự việc đến nước này, lại có thể làm chút bằng chứng bổ sung." Chân Chân lộ vẻ vui mừng: "Đã như vậy, vị hoạn quan kia cũng đã kể chuyện Phó Tuấn Dịch mưu hại Oanh Ca cho Thượng Thực nghe rồi chứ?" Bùi Thượng Thực không đáp, nhưng nhìn về phía Oanh Ca, dặn dò: "Ngươi tự mình nói đi." Oanh Ca cúi người vâng mệnh, bèn kể lại chuyện Phó Tuấn Dịch lừa nàng nhảy sông trước mặt mọi người. Quan khách chép miệng than thở, ánh mắt ném về phía Phó Tuấn Dịch tràn đầy sự khinh bỉ vô hạn. Phó Tuấn Dịch trong cơn hoảng loạn lại định chối, chỉ tay vào Vân Oanh Ca, quát: "Ăn nói hàm hồ..." "Thám hoa lang," Bùi Thượng Thực nhìn hắn với vẻ uy nghiêm không giận tự uy, trầm giọng nói, "Lão thân là người trong cung, thường hầu hạ bên cạnh Quan gia, nếu sau này Quan gia hỏi đến chuyện hôm nay, lão thân tất sẽ bẩm báo đúng sự thật những gì mắt thấy tai nghe. Bất luận Thám hoa lang muốn nói gì, xin hãy cân nhắc kỹ từng chữ, nếu có một lời không thật, khó tránh khỏi tội khi quân." Ánh mắt vốn sắc bén của Phó Tuấn Dịch khựng lại, chán nản cúi đầu, nuốt xuống tất cả những lời định bác bỏ Oanh Ca. Chương 47 - Bạc Tình Người trong sảnh kẻ thì thầm to nhỏ, người tò mò lén quan sát biểu cảm của người nhà họ Thẩm. Sau một hồi im lặng đầy khó xử, Thẩm Hãn chậm rãi bước ra giữa sảnh, vái dài chào các quan khách, nói: "Thật hổ thẹn, Thẩm mỗ chọn rể không tinh tường, đã gây ra chuyện như hôm nay, làm phiền chư vị quý khách bớt thì giờ đến đây, lại phải chứng kiến cảnh tượng thế này. Hôn lễ dừng tại đây, Thẩm mỗ không còn mặt mũi nào tiếp tục làm phiền chư vị, ngày khác sẽ đến tận nhà tạ lỗi." Dứt lời ông quay người vội vã tránh vào hậu viện. Phó Tuấn Dịch thấy Thẩm Hãn rõ ràng đã từ bỏ việc bảo vệ mình, tất cả đều tan thành tro bụi, không chịu nổi ánh mắt chế giễu soi mói của người xem, lủi thủi cúi gằm mặt đi về phía cửa, muốn chen đám đông trốn ra ngoài. Nào ngờ người chặn đường hắn lại là Chân Chân, hắn nhìn chằm chằm xuống đất cũng không nhìn rõ, khẽ nói một câu "Làm phiền" rồi đưa tay định gạt Chân Chân ra, Chân Chân cười khẩy: "Thế này là muốn chuồn đi sao?" Rồi lập tức thúc cùi chỏ vào n.g.ự.c hắn, Phó Tuấn Dịch không kịp đề phòng, bị đ.á.n.h lùi lại mấy bước. Cú lùi này lại đụng trúng Phượng Tiên đang đứng một bên, Phượng Tiên ánh mắt lộ vẻ giận dữ, không đợi Phó Tuấn Dịch quay lại nhìn mình đã tung cước đá một cái, khiến Phó Tuấn Dịch hoàn toàn không phòng bị ngã sấp mặt giữa sảnh. Phó Tuấn Dịch chưa kịp hoàn hồn đã liên tiếp bị đ.á.n.h hai lần, nằm rạp trên mặt đất hoa mắt chóng mặt, còn đang th* d*c, lại thấy trước mắt một tà váy lụa đỏ như mây trôi tới. Oanh Ca cúi người về phía hắn, khẽ nói: "Ngươi hại ta đến nông nỗi này, ngay cả một câu nhận sai xin lỗi cũng không nói, mà đã muốn chạy rồi?" Phó Tuấn Dịch ngẩng đầu nhìn nàng, định dịu dàng gọi nàng một tiếng, rồi ngon ngọt dỗ dành, nào ngờ chữ "Oanh" vừa ra khỏi miệng, một cái tát nảy lửa đã giáng thẳng xuống, âm thanh vang lên trên mặt hắn giòn tan. Sau một thoáng im lặng, người trong sảnh nhao nhao vỗ tay, cười lớn khen Oanh Ca đ.á.n.h hay lắm. Phó Tuấn Dịch nhất thời không biết làm sao, chỉ ôm lấy nửa bên mặt bị đ.á.n.h ngẩn ngơ nhìn chằm chằm Oanh Ca. Oanh Ca giơ tay định đ.á.n.h tiếp vào bên mặt kia, lại nghe sau lưng có giọng nữ t.ử ôn tồn khuyên can: "Đừng đ.á.n.h vào mặt hắn nữa... Cẩn thận đau tay." Oanh Ca ngoái lại, thấy người nói là Phùng Tịnh. Nàng ấy vốn ở hậu trù cùng các nội nhân chuẩn bị yến tiệc, sau nghe trong sảnh ồn ào, Thẩm phu nhân lại sai người thông báo hỷ yến tạm dừng, Phùng Tịnh bèn cùng mấy nội nhân cũng đến sảnh xem thử, chứng kiến cảnh Phó Tuấn Dịch hiện nguyên hình. Phùng Tịnh lặng lẽ quay đầu, nhìn một nội nhân đứng sau lưng vẫn đang cầm cây cán bột, người trước đó còn đang làm mì, cô nương đó hiểu ý, gọi Oanh Ca một tiếng, rồi ném cây cán bột trong tay cho nàng. Oanh Ca đón lấy, vung cây gậy gỗ giáng mạnh xuống lưng Phó Tuấn Dịch, đ.á.n.h cho Thám hoa lang đang định bò dậy lại nằm sấp xuống lần nữa. Phó Tuấn Dịch kêu ai oán, thấy Oanh Ca lại giơ gậy, cũng không kịp đứng dậy, liền ôm đầu lăn sang một bên. Oanh Ca lại đ.á.n.h về phía hắn né tránh, nhớ lại chuyện cũ trước kia, cùng với thái độ không biết hối cải, mưu toan vu khống ngược lại của hắn lúc nãy, Oanh Ca bi phẫn tột cùng, đỏ hoe đôi mắt giơ cao gậy gỗ từng nhát từng nhát đ.á.n.h mạnh vào kẻ bạc tình trước mặt bao người. Thấy Phó Tuấn Dịch rên la t.h.ả.m thiết, chật vật không chịu nổi, tiếng reo hò của người xem theo đó vang lên liên tiếp, chỉ có Bùi Thượng Thực cau mày lắc đầu: "Làm càn!" Phùng Tịnh nghe bà dường như có ý trách móc, không khỏi có chút lo lắng, đang tự kiểm điểm xem mình và các nội nhân có hành xử thất thố hay không, lần trừng phạt Thám hoa lang này liệu có liên lụy Thượng Thực bị Hoàng đế trách phạt không, lại nghe Bùi Thượng Thực thong thả than rằng: "Đáng tiếc, đáng tiếc, cây cán bột này là lão thân tỉ mỉ chọn gỗ tốt làm thành, bị các ngươi cầm đi đập bừa vào quần áo người ta, sau này còn dùng được không hả?" Mặc dù hỷ yến bị hủy bỏ, Bùi Thượng Thực vẫn đâu ra đấy sắp xếp nội nhân thu dọn nguyên liệu, dụng cụ bếp núc, quét dọn sạch sẽ nhà bếp của Thẩm trạch, mới theo lễ đến bái biệt vợ chồng Thẩm Hãn. Thẩm phu nhân đột ngột chứng kiến chuyện Phó Tuấn Dịch, tức đến đau ngực, đã sớm về phòng nằm nghỉ dưỡng, vì vậy người gặp mặt từ biệt Bùi Thượng Thực trước khi về cung chỉ có một mình Thẩm Hãn. Thẩm Hãn vẫn không tin Bùi Thượng Thực chỉ là tình cờ mang khế ước nhà của Vân Oanh Ca đến, khi bốn mắt nhìn nhau, ông không kìm được nói thẳng: "Thượng Thực có gì bất mãn với lão phu, lúc gặp nhau trước đó cứ việc mở miệng trách mắng. Hôm nay vốn là ngày đại hỷ của tiểu nữ, khách khứa đầy nhà, Thượng Thực lại dẫn theo đám nội nhân có chuẩn bị mà đến, làm ầm ĩ một trận như vậy, lão phu sau này còn mặt mũi nào đối diện với quân vương đồng liêu?" Bùi Thượng Thực nhàn nhạt nói: "Tham chính quả nhiên coi trọng con đường làm quan. Giờ này không thấy may mắn vì lệnh ái tránh được một kiếp nạn, không rơi vào hang hùm, mà lại lo lắng thể diện của mình trên quan trường." Thẩm Hãn tức giận nói: "Con gái ruột của mình, lão phu sao có thể không quan tâm? Chuyện Phó Tuấn Dịch, nếu các người biết trước, hoàn toàn có thể nói cho ta biết trước, lão phu tự có tính toán của mình. Đằng này các người lại công khai hành vi của hắn ngay trong hôn lễ, chuyện này ắt sẽ truyền khắp kinh thành, sẽ khiến Nhu Nhiễm trở thành trò cười lúc trà dư tửu hậu của người đời." "Người lựa chọn công khai là lệnh ái." Bùi Thượng Thực bình tĩnh nói ra sự thật này, "Cô nương ấy biết trước chân tướng, không chuyển lời cho Tham chính, mà lại tỉ mỉ bố trí, để Vân Oanh Ca giả làm tân nhân, một là muốn dọa Phó Tuấn Dịch lộ ra sơ hở, để quan khách cả sảnh làm chứng, hai là, trong lòng cũng biết rõ, nếu nói cho Tham chính trước, Tham chính vì muốn chiêu mộ Thám hoa lang làm con rể hiền, biết đâu sẽ ém nhẹm chuyện này xuống, coi như chưa từng xảy ra, vẫn gả cô ấy cho kẻ có lòng lang dạ sói kia." Thẩm Hãn liên tục lắc đầu, nói: "Đây chỉ là suy đoán của Thượng Thực." Nhưng cũng không phản bác kỹ càng. "Trước khi Oanh Ca nói ra chuyện Phó Tuấn Dịch mưu hại cô ấy, Tham chính thậm chí còn muốn khuyên lệnh ái hoàn thành hôn lễ, phần lớn cho rằng đàn ông bạc tình một chút, phụ lòng một chút chẳng là gì, chẳng qua là tuổi trẻ phong lưu, không ảnh hưởng đại cục. Con đường làm quan thênh thang, tiền đồ xán lạn mới là quan trọng nhất." Bùi Thượng Thực than rằng, "Quốc triều tôn sùng người đọc sách, một khi bảng vàng đề danh, bách tính đua nhau kén rể áo xanh, Tham chính cũng không tránh khỏi tục lệ. Nhưng mà sách thánh hiền ấy à, người ta dù có thuộc làu, cũng chưa chắc đều đọc vào trong lòng. Có bao nhiêu yêu ma quỷ quái, mượn một tấm áo xanh, liền ngụy trang thành tài t.ử lương thần, một bước lên mây. Loại người như Phó Tuấn Dịch, nếu cứ để hắn che giấu tội ác, nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, nhẹ thì hại cả đời con gái nhà lành, nặng thì mượn danh phận Thám hoa hại nước hại dân. Người đời thường nói cưới vợ cưới hiền, đến lúc Cống cử chọn lương thần cho đất nước, ngoài thi học thức của sĩ tử, liệu có phương t.h.u.ố.c hay nào cũng khảo nghiệm được phẩm hạnh của họ chăng?" Thẩm Hãn im lặng, cuối cùng cười gượng gạo: "Thượng Thực không hổ là quý nhân trong cung, hầu bên cạnh hai đời quân chủ bao năm, kiến thức vượt xa người thường, thảo nào nay thân cư cao vị, đặc biệt được Quan gia trọng dụng." "Tham chính quá khen. Lão thân rốt cuộc cũng chỉ là tỳ nữ nấu cơm, tuy rèn luyện trong cung nhiều năm, bất luận kiến thức, thân phận, hay sự ưu ái của quân vương, đều khó mà so bì với Tham chính. Nay nghĩ lại, điểm duy nhất có thể so sánh với Tham chính, chỉ có một..." Bùi Thượng Thực ngước mắt nhìn Thẩm Hãn, một nụ cười lạnh tự giễu lướt qua nơi khóe môi, "Đó là mắt nhìn đàn ông." Trở về Thượng Thực Cục, các nội nhân vẫn vây quanh Oanh Ca hỏi han đủ điều, lại kể chuyện Phó Tuấn Dịch cho những nội nhân và tiểu hoàng môn không đến Thẩm trạch nghe, ríu ra ríu rít, cười nói không ngớt, chỉ có Phượng Tiên không tham gia bàn tán, làm việc trong bếp cũng có vẻ suy tư, đôi khi Chân Chân nói chuyện với nàng cũng phải gọi thêm hai tiếng nàng mới nghe thấy. Chân Chân ở cùng phòng với nàng, buổi đêm khi Chân Chân trở về thấy Phượng Tiên quay lưng về phía mình đang nương theo ánh đèn như hạt đậu trong phòng xem cái gì đó. Chân Chân rón rén đi đến sau lưng nàng, phát hiện Phượng Tiên đang xem là một tờ giấy viết thư, nhất thời tính trẻ con nổi lên, rút phắt tờ giấy từ tay Phượng Tiên ra, cười nói: "Ai gửi thư cho tỷ thế?" Phượng Tiên luống cuống, nhảy dựng lên đưa tay giành lại. Chân Chân cũng không thực sự tranh giành, để mặc nàng cướp thư về, thấy Phượng Tiên đỏ mặt gấp kỹ bức thư, mới sán lại hỏi nàng: "Xem ra bức thư này không phải do người nhà tỷ gửi, chẳng lẽ là tiểu hoàng môn nào đó động lòng phàm..." "Đừng nói bậy." Phượng Tiên lập tức phủ nhận. Thấy Chân Chân không buông tha tiếp tục truy hỏi, chần chừ mãi, mới khẽ nói cho nàng biết: "Người viết thư, là Triệu Hoài Ngọc Triệu công tử." Chân Chân sững sờ, lúc này mới nhớ ra hôm nay trong số khách khứa dự đám cưới có nhìn thấy Triệu Hoài Ngọc từ xa, chàng ta là Bảng nhãn đồng niên, cũng nằm trong danh sách khách mời, chỉ là lúc đó nàng một lòng chú ý đến Oanh Ca và Phó Tuấn Dịch, không để ý nhiều đến chàng ta. "Hôm nay tỷ nói chuyện với huynh ấy à?" Chân Chân hỏi Phượng Tiên. Phượng Tiên khẽ lắc đầu: "Đông người như vậy, bao nhiêu con mắt nhìn vào, bọn ta sao có thể... Chỉ là lúc khách khứa tản đi, ta cũng phải về bếp, ngài ấy đi vội vàng, lướt qua người ta, dường như vô tình va phải cánh tay ta, rồi giả vờ cúi người xin lỗi ta, lén đưa thư cho ta." Chân Chân tò mò tột độ, liên tục hỏi Phượng Tiên chàng ta viết gì. Phượng Tiên trả lời bâng quơ: "Không có gì. Chỉ nói ngài ấy sắp rời kinh, đến Tín Châu nhậm chức." "Tân khoa Tiến sĩ phần lớn phải đi các châu phủ làm quan vài năm, với tài năng của huynh ấy, chắc không bao lâu Quan gia sẽ triệu hồi về kinh nhậm chức thôi." Chân Chân trầm ngâm, rồi cười nói, "Huynh ấy đây là muốn tỷ bảo trọng, đợi huynh ấy về." Phượng Tiên không nói gì, nhớ đến câu cuối cùng Triệu Hoài Ngọc thì thầm với nàng trước khi từ biệt mà nàng đã giấu không kể: "Bồng Sơn tuy xa, ta sẽ ngược dòng tìm đến." (Ý nói dù xa xôi cách trở vẫn một lòng hướng về nàng). "Triệu công t.ử là người rất tốt nha," Chân Chân cười phân tích, "Xuất thân cao quý, học thức hơn người, tiền đồ vô lượng, lại còn biết nấu ăn, xứng đáng để tỷ tỷ trao thân gửi phận." "Ừ, ngài ấy là người rất tốt." Phượng Tiên cũng khẳng định theo, nói xong bỗng nhiên nhón lấy tờ giấy viết thư, đưa đến bên ngọn đèn, để ngọn lửa l.i.ế.m láp trang giấy, đợi cháy rụi, ngón tay buông lỏng, mặc cho chút giấy trắng cuối cùng vương vấn ngọn lửa rơi xuống đất, hóa thành bướm đen. Chân Chân kinh ngạc nhìn, khó hiểu hỏi: "Bức thư này huynh ấy khó khăn lắm mới đưa được đến tay tỷ tỷ, tỷ tỷ không giữ lại làm kỷ niệm sao?" Phượng Tiên dứt khoát lắc đầu, nói: "Nay thân phận tỷ muội ta đã khác, đã làm cung nhân, thì không thể qua lại với nam t.ử bên ngoài. Bức thư này nếu sau này bị người khác nhìn thấy, khó tránh khỏi trở thành tai họa, cho người ta bằng chứng về việc chúng ta lén lút." Chuyện Phó Tuấn Dịch quả nhiên truyền khắp kinh thành, rất nhanh có quan viên Đài Gian (Ngự sử đài và Gián viện) đứng ra đàn hặc, liệt kê hàng loạt tội trạng xấu xa của hắn. Hoàng đế lập tức hạ chỉ, tước bỏ công danh của Phó Tuấn Dịch, đuổi về Minh Châu. Còn cha của Vân Oanh Ca cũng đệ đơn kiện ở Minh Châu, buộc tội Phó Tuấn Dịch tội mưu sát con gái mình. Hoạn quan đến phủ Minh Châu thông báo chuyện Phó Tuấn Dịch không quên nhắc nhở Tri châu, đây là vụ án kinh động đến Quan gia, Tri châu Minh Châu hiểu ý, bày tỏ nhất định sẽ chấp pháp công bằng. Phó Tuấn Dịch không khỏi phải đối mặt với cảnh tù tội. Hoàng đế không hề tỏ vẻ không vui với hành vi của các cô gái Thượng Thực Cục hôm đó, còn bảo Bùi Thượng Thực an ủi Oanh Ca. Tuy nhiên, Cung Chính vẫn chuyển lời, thái độ có chút không hài lòng của Thái hậu đến Bùi Thượng Thực: Phó Tuấn Dịch tuy có tội, nhưng lúc đó dù sao cũng đang mang công danh trên người, lại ở trong dinh thự đại thần, nội nhân đ.á.n.h đập Phó Tuấn Dịch có thể coi là hành vi vi phạm cung quy. Mấy nội nhân đó xuất thân dân gian, mang theo vài phần hoang dã chưa được thuần hóa, làm ra chuyện này không có gì lạ, nhưng Bùi Thượng Thực chẳng những không kiềm chế, còn dung túng cho họ đ.á.n.h người, quả thực không hợp lí lắm. Bùi Thượng Thực cúi người chịu giáo huấn, tự xin Cung Chính trừng phạt, Cung Chính lại cười nói: "Thượng Thực là cung nhân hai triều, đạo lý nên hiểu tự nhiên đều hiểu. Thái hậu cũng không có ý truy cứu trách nhiệm, chỉ là nhắc nhở đôi chút, mong Thượng Thực sau này suy nghĩ kỹ trước khi làm." Quan gia bình thường không hỏi đến nhân sự cung Từ Phúc, Thái hậu cũng rất ít khi can thiệp chuyện Đại nội, xưa nay đối với người bên cạnh Hoàng đế đều rất lễ độ, lần này lại nhờ Cung Chính truyền lời, chứng tỏ Thái hậu lần này thực sự nhìn không thuận mắt, chỉ là nể mặt Quan gia, không tiện ra mặt trừng phạt. Bùi Thượng Thực vâng dạ với Cung Chính, lại khôi phục dáng vẻ quen thuộc: cụp mắt cúi mày, ít nói ít cười, giấu kín mọi thứ trong lòng. Chương 48 - Đình Hoán Khê Sáu mươi nội nhân Thượng Thực Cục tuyển từ dân gian lần này vào cung đã được một thời gian, nhưng Hoàng đế mãi không cho phép họ vào hầu hạ quý nhân trong cung cấm, Thái hậu mấy lần khéo léo thúc giục, Hoàng đế mới nói rõ rằng Đại nội không cần thêm nhiều Thượng Thực nội nhân như vậy, giữ lại một nửa, còn lại chia ba mươi người sang cung Từ Phúc, để Thái hậu sai sử. Hoàng đế còn thỉnh Thái hậu phái người đến chọn người vào hầu cung Từ Phúc trong số sáu mươi nội nhân trước, Thái hậu cũng không từ chối, rất nhanh sai Trình Uyên đến Thượng Thực Cục chọn người. Bùi Thượng Thực xin ý kiến Trình Uyên, có cần các nội nhân trổ tài để tuyển chọn không, Trình Uyên lại bảo không cần, chỉ cần để các nội nhân xếp hàng trong sân Thượng Thực Cục, ông ta chọn mặt là được. Cuộc tuyển chọn diễn ra theo lời ông ta. Trình Uyên đi lại giữa các nội nhân, ánh mắt dò xét nhìn kỹ từng người từ đầu đến chân, rất ít khi mở miệng hỏi họ điều gì, thi thoảng có hỏi, cũng chỉ là người ở đâu, bao nhiêu tuổi..., tuyệt nhiên không có câu nào liên quan đến ăn uống nấu nướng. Ông ta chẳng mấy chốc đã chọn ra hai mươi chín người, những cô gái này bước ra khỏi hàng đứng sang một bên, so sánh hai bên không khó nhận ra, những người ông ta chọn đều là những người dung mạo kém hơn một chút, còn ba mươi mốt người còn lại ai nấy đều nhan sắc diễm lệ, khí chất bất phàm, Phượng Tiên, Oanh Ca và Chân Chân đều nằm trong số đó. Chỉ còn lại một suất vào cung Từ Phúc, Chân Chân thấy Trình Uyên lúc này đang đ.á.n.h giá hai nội nhân khác,lại sợ mất đi cơ hội cuối cùng, bèn tự mình bước ra khỏi hàng, vái chào Trình Uyên thật sâu, nói: "Nội nhân Ngô Chân Chân nguyện vào cung Từ Phúc, hầu hạ Hoàng thái hậu, mong Trình tiên sinh thành toàn." Trình Uyên nghe tiếng quay lại nhìn nàng, trong mắt vẫn phẳng lặng như nước giếng cổ, không một gợn sóng cảm xúc. Nhìn nàng chăm chú một lúc, Trình Uyên mới hỏi: "Tại sao ngươi muốn vào cung Từ Phúc?" Chân Chân đáp: "Thái hậu đức cao vọng trọng, thần dân xưa nay vẫn hết lời ca tụng, Chân Chân trước kia sống ở chốn thị thành, đã nghe nhiều sự tích hiền đức của Thái hậu, vô cùng ngưỡng mộ, từ khi vào cung, vẫn luôn vô phúc hầu hạ Thái hậu, thường cảm thấy tiếc nuối. Nay đã có cơ hội tốt này, tự nhiên không muốn bỏ lỡ. Mong Trình tiên sinh thấu hiểu tấm lòng ngưỡng mộ của Chân Chân đối với Thái hậu, cho phép thần thiếp vào cung Từ Phúc." Khổ nỗi nàng không có cơ hội tiếp cận Trình Uyên, dò la tung tích của nương, cho nên mới mong vào cung Từ Phúc, những lời ngưỡng mộ Thái hậu vân vân chỉ là cớ tùy tiện bịa ra, thực tế nàng biết rất ít về Thái hậu, nếu Trình Uyên lúc này yêu cầu nàng kể ra hai ba chuyện, e là sẽ lộ tẩy. May mà Trình Uyên không hỏi nhiều, trầm ngâm một chút, liền đồng ý thỉnh cầu của nàng, chọn nàng là Thượng Thực nội nhân cuối cùng vào hầu cung Từ Phúc. Phượng Tiên cho rằng hành động này của Chân Chân quá mạo hiểm, "Sư nương bị Trình Uyên đưa đi, sống c.h.ế.t chưa rõ. Trình Uyên nắm đại quyền cung Từ Phúc, muốn xử c.h.ế.t một cung nhân dễ như trở bàn tay, nếu ông ta là kẻ gian ác, muội đi lần này chẳng khác nào tự chui đầu vào lưới. Chi bằng ở lại cung cấm, sau này may mắn hầu hạ người có địa vị cao, muốn tra xét chuyện cung Từ Phúc cũng không khó." Chân Chân lắc đầu: "Tỷ muội ta vào cung đến nay, chuyện cung cấm này, ít nhiều cũng nghe được một chút. Quan gia là con nuôi của Tiên đế, không phải con ruột Thái hậu, từ khi lên ngôi, chỉ sợ người ngoài nói mình bất hiếu, nên đối đãi với Thái hậu cực kỳ lễ độ, hiếu thuận hết mực, bình thường sẽ không hỏi đến nội vụ cung Từ Phúc. Quan gia còn như vậy, muội có thể trông cậy vị quý nhân nào sẽ giúp muội thâm nhập cung Từ Phúc, dò la tung tích nương muội đây? Bây giờ vào cung Từ Phúc hiển nhiên sẽ có thể nguy hiểm, nhưng đi rồi sẽ có hy vọng biết được chân tướng, nếu không đi, ngày sự việc sáng tỏ sẽ xa vời vợi." Chân Chân nhanh chóng thu dọn hành lý, cùng hai mươi chín nội nhân khác chuyển sang cung Từ Phúc. Cung Từ Phúc nằm ở phía bắc cung thành, người trong kinh còn gọi là "Bắc Đại nội", quy mô bố cục lầu các bên trong tương tự cung cấm, kiến trúc sân vườn lại càng tinh xảo hơn. Số lượng hoạn quan nội nhân ở Bắc Đại nội này cũng xấp xỉ cung cấm, chỉ riêng người hầu hạ ăn uống cho một mình Thái hậu đã không dưới trăm người, nhóm người mới của Chân Chân vừa vào cung đương nhiên không đến lượt họ đến trước mặt Thái hậu hầu hạ, bị Trình Uyên giao cho Tôn Tư Thiện quản giáo. Họ là những đầu bếp trẻ tuổi được tuyển chọn kỹ lưỡng từ các nơi, ai nấy tay nghề bất phàm, nhưng Thái hậu dường như không có hứng thú thưởng thức tay nghề của họ, chưa từng truyền lệnh cho họ nấu ăn. Tôn Tư Thiện trông có vẻ hiền lành hay nói, hòa ái dễ gần, không giống Bùi Thượng Thực và Tần Tư Thiện thường lạnh lùng với người khác, nhưng đối với những nội nhân mới này, bà ta dường như cũng không có kế hoạch dạy bảo nghiêm túc, công việc thường ngày giao cho họ chẳng qua chỉ là rửa rau thái rau, làm chân chạy vặt. Chân Chân vừa đến cung Từ Phúc liền tìm đủ mọi cách hỏi thăm cung nhân ở đây về tin tức của Thu Nương, kết quả vẫn là con số không, xem ra người có thể giải đáp nghi vấn này chỉ có Trình Uyên thôi. Từ khi vào cung Từ Phúc, Chân Chân chưa gặp lại Trình Uyên, Trình Uyên ở đây có thể nói là quyền cao chức trọng, Chân Chân chỉ là một tiểu nội nhân không phẩm cấp, muốn gặp ông ta đương nhiên rất khó. Sau nhiều ngày chờ đợi trong sự giày vò, cuối cùng Chân Chân cũng tìm được một cơ hội hỏi chuyện với ông ta. Trưa hôm đó, Thái hậu chợp mắt trong tẩm các, Tôn Tư Thiện hầu hạ bên ngoài. Đang giữa mùa hè, thời tiết nóng bức, nữ quan Vương Chưởng Thiện thuộc hạ của Tôn Tư Thiện chuẩn bị một ít đồ ngọt giải nhiệt, bảo mấy nội nhân mỗi người cầm một bát đưa đến tẩm các Thái hậu. Sau khi mấy nội nhân xuất phát, Vương Chưởng Thiện lại lấy ra một bát chè thuỷ tinh ướp lạnh, sai Chân Chân đưa cho Tôn Tư Thiện. Chân Chân bưng bát chè đến cung Từ Phúc, khi đó mấy nội nhân đi trước đã đi xa, Chân Chân không rõ tẩm các Thái hậu ở đâu, đành phải hỏi thăm cung nhân gặp trên đường, vừa đi vừa tìm. Ngặt nỗi cung uyển này xây dựng theo phong cách vườn tược phương Nam, đâu đâu cũng đường mòn quanh co, cây cối xen kẽ, núi đá chập chùng, ngàn khe vạn rãnh, Chân Chân đi chưa bao xa đã mất phương hướng. Vòng qua mấy hòn giả sơn, trước mặt bỗng hiện ra một rừng hải đường rộng lớn, giữa rừng có khe nước róc rách chảy qua, mà giữa vườn hoa dựng một đình nghỉ mát, cao chừng vài trượng, giống như một đài cao thưởng hoa, dưới mái đình treo một tấm biển, trên đề hai chữ "Hoán Khê". Một người đàn ông mặc trường sam, đội khăn mềm, dáng người gầy gò đang múa bút bên trong đình, dường như đang đề chữ hoặc vẽ tranh. Chân Chân nhìn kỹ, nhận ra người đó chính là Trình Uyên. Cuộc gặp gỡ bất ngờ này khiến nàng trong nháy mắt nảy ra một ý, liền bưng bát chè thuỷ tinh đi về phía tiểu hoàng môn đang đứng hầu dưới đình tạ, nói với tiểu hoàng môn: "Tôn Tư Thiện sai tôi dâng bát chè này cho Trình tiên sinh giải nhiệt, phiền tiểu ca thông báo giúp." Tiểu hoàng môn kia nghi ngờ nhìn nàng một cái, nói: "Trình tiên sinh chưa bao giờ ăn chè thuỷ tinh." Chè thuỷ tinh được nấu từ hạt bồ mễ ngâm nở. Bồ mễ là nhân hạt bồ kết, ngâm nước sẽ nở ra, ở dạng keo bán trong suốt, còn gọi là tuyết liên tử. Nữ quyến trong kinh thường ngâm với nước đường làm thành một món điểm tâm, nghe nói có thể dưỡng tâm thông mạch, đẹp da nhuận sắc, nhưng Trình Uyên vốn không thích ăn món này. Chân Chân sững sờ, nhanh chóng tìm được lời đối đáp: "Tôn Tư Thiện nói, ăn uống không có mùi vị cố định, vừa miệng là quý. Trước đây Trình tiên sinh không thích chè thuỷ tinh, có thể là cách làm không hợp khẩu vị ngài ấy. Bát này hôm nay, chúng tôi nêm nếm khác với trước kia, biết đâu sẽ hợp ý tiên sinh." Tiểu hoàng môn bất đắc dĩ, đưa tay định nhận khay, miệng nói: "Đưa cho ta đi, ta mang lên cho Trình tiên sinh." Chân Chân lập tức lùi lại một chút, tránh tay tiểu hoàng môn, nói: "Tôn Tư Thiện bảo tôi phải đích thân dâng món chè thuỷ tinh này cho Trình tiên sinh, để tiện lắng nghe ý kiến của ngài ấy." Tiểu hoàng môn đành bảo Chân Chân đợi một lát, tự mình lên lầu xin chỉ thị Trình Uyên, một lát sau quay lại, ra hiệu cho Chân Chân đi lên. Trình Uyên đang múa bút viết chữ thảo, nghe thấy Chân Chân đi vào, cũng không ngẩng đầu nhìn nàng, vừa viết chữ vừa cười nói: "Bát chè thuỷ tinh này không phải do Tôn Tư Thiện chuẩn bị đâu nhỉ?" Trình Uyên không ăn tuyết liên tử, Tôn Tư Thiện đương nhiên biết rõ, tuyệt đối không có lý nào dâng món này cho ông ta. Lại nghe câu "Ăn uống không có mùi vị cố định, vừa miệng là quý", Trình Uyên đã đoán được người đến gặp ông ta là Chân Chân, đối với mục đích của nàng càng biết rõ trong lòng bàn tay. Chân Chân cũng không nói nhiều, đặt bát chè thuỷ tinh xuống, vội vàng hành lễ với Trình Uyên xong liền hỏi thẳng: "Năm xưa Trình tiên sinh đến Phố Giang, đã đưa nương tôi đi. Chân Chân to gan xin hỏi tiên sinh, nương tôi hiện giờ đang ở đâu? Có bình an không?" Trình Uyên không đáp, nhưng chỉ vào chữ vừa viết, mỉm cười ra hiệu cho nàng xem: "Nội nhân xem thử, chữ ta viết thế nào." Chân Chân đến gần bàn viết, ngắm nghía chữ của Trình Uyên một chút, thấy viết một bài thất ngôn tứ tuyệt: "Lâu hạ thùy gia thiêu dạ hương, Ngọc sênh ai oán lộng sơ lương. Lâm phong hữu khách ngâm thu phiến, Bái nguyệt vô nhân kiến vãn trang." (Dưới lầu nhà ai đốt dạ hương, Sáo ngọc ai oán trêu hơi lạnh đầu mùa. Trước gió có khách ngâm thơ quạt thu, Bái nguyệt không người thấy trang điểm muộn.) Ý tứ trong thơ Chân Chân không hiểu lắm, chỉ thấy chữ viết rất đẹp, còn đẹp ở chỗ nào, bản thân cũng không nói lên được, nhất thời cũng không nghĩ ra từ ngữ hoa mỹ nào để khen ngợi, khi Trình Uyên hỏi ý kiến nàng lần nữa, nàng đành khen đại khái: "Chữ của tiên sinh rồng bay phượng múa, viết đẹp thật đấy." Thực ra Trình Uyên viết lối Hành Thảo, phóng khoáng tú dật, nhưng bút pháp lạnh lùng kiềm chế, chưa đạt đến mức "rồng bay phượng múa". Nghe lời khen không đâu vào đâu của Chân Chân, Trình Uyên cũng không để ý, chuyển sang hỏi nàng: "Bài thơ này, nội nhân từng nghe qua chưa?" Chân Chân ngơ ngác lắc đầu. Trình Uyên giải thích: "Là tác phẩm của Đông Pha cư sĩ." "Hóa ra là Đông Pha cư sĩ, tôi biết ông ấy..." Chân Chân chợt hiểu ra, có cảm giác như nghe nhắc đến người quen, rồi thở dài, "Có điều tôi biết món ăn của ông ấy, nhiều hơn thơ từ của ông ấy." Trình Uyên không nhịn được, bật cười thành tiếng. Chân Chân đợi tiếng cười của ông ta ngớt, tiếp tục truy hỏi: "Thân mẫu của tỳ thiếp đang ở đâu, còn mong tiên sinh nói rõ." Trình Uyên vẫn không đáp, nhắc sang chuyện khác: "Hôm kia Trần Quốc phu nhân đến thỉnh an Thái hậu, nói đầu bếp làm điểm tâm trong phủ bà ấy không được vừa ý lắm, Thái hậu bèn quyết định chọn một người trong số Thượng Thực nội nhân cung Từ Phúc cho bà ấy. Ta nghe nói điểm tâm ngươi làm khá ngon, chi bằng ngươi đến phủ Diên Bình Quận vương đi." Chân Chân sững sờ nói: "Ta còn chưa gặp được nương tôi, bây giờ không thể rời khỏi cung Từ Phúc." Trình Uyên cười khẩy: "Ta đâu có hỏi ý kiến của ngươi." Chân Chân im lặng, lát sau lại hỏi: "Vậy là, tiên sinh sẽ không nói cho tỳ thiếp biết tung tích của thân mẫu của ta?" "Ngươi không có tư cách đặt câu hỏi cho ta." Trình Uyên nhìn nàng với vẻ hiền từ, nhưng lời nói ra lại chẳng mang chút hơi ấm nào, "Ngươi chỉ là một tiểu nội nhân không đáng nhắc tới, còn ta quản lý củacung Từ Phúc, trong cái cung này trừ Thái hậu ra, ai cũng phải nhìn sắc mặt ta mà làm việc. Bình thường chỉ có ta hỏi người khác, người khác ngoài hỏi han ân cần, đâu dám hỏi ta cái gì, nếu hỏi, ta cũng không đáp. Ngươi không cần thử nữa, ta sẽ không trả lời bất kỳ câu hỏi nào của ngươi. Hiện giờ việc ngươi có thể làm, chỉ có ngoan ngoãn thu dọn hành lý, đến phủ Diên Bình Quận vương làm đầu bếp, nếu không muốn, hoặc nói nhiều, ta đành phải xử lý theo cung quy." Chân Chân nhận ra sự lạnh lùng và quyết tuyệt trong mắt ông ta, hiểu rằng nói nhiều vô ích, việc này không thể vãn hồi, cũng không tranh cãi nữa, nhưng vẫn hỏi Trình Uyên câu hỏi cuối cùng: "Nếu có một ngày, ta xuất hiện trở lại trong cung, không còn là một tiểu nội nhân không đáng nhắc tới nữa, vậy thì tiên sinh có nói cho ta biết nơi ở của nương ta không?" Ánh mắt Trình Uyên dịu lại, khóe môi mỉm cười, đáp lại gần như thân thiết: "Ngươi có thể thử xem." Chương 49 - Chương 49 Tôn Tư Thiện lập tức theo ý Trình Uyên, xử lý xong xuôi mọi việc điều chuyển Chân Chân sang phủ Diên Bình Quận vương, lệnh cho Chân Chân ngày hôm sau lên đường ngay. Thấy lịch trình sắp xếp nhanh chóng như vậy, Chân Chân có chút ngạc nhiên. Tôn Tư Thiện tưởng rằng nàng cảm thấy hụt hẫng vì bị đuổi khỏi cung, đặc biệt an ủi nàng: "Tuy nói phủ Diên Bình Quận vương thuộc gia đình quan lại,nhưng cũng khác với những nơi khác. Sự tôn vinh mà Diên Bình Quận vương được hưởng, đứng đầu trong đám ngoại thích, từ Thái t.ử trở xuống, các Đại vương gặp ngài ấy đều phải hành gia lễ. Đời sống trong phủ không thua kém bất kỳ tông thất nào, cho dù so với Bắc Đại nội này... haiz, không cần nói nhiều, ngươi vào đó sẽ hiểu." Những chuyện này Chân Chân từ khi vào cung đã nghe nói. Diên Bình Quận vương Ân Ninh kém Thái hậu gần mười tuổi, từ nhỏ tuấn tú đáng yêu, lớn lên ôn nhu như ngọc, Thái hậu và Tiên đế đặc biệt yêu thương. Tiên đế còn làm chủ, cho chàng cưới Trần Quốc phu nhân - cháu gái trưởng của Tề Tuân, vị Thừa tướng, Thái sư quyền khuynh nhất thời bấy giờ. Trần Quốc phu nhân cũng là người tốt số cả đời. Vợ Tề Tuân là Vương thị ghen tuông điên cuồng, bản thân không sinh nở, cũng không cho phép Tề Tuân nạp thiếp sinh con, cuối cùng nhận nuôi con riêng của em rể và nhân tình, đổi tên là Tề Hi, coi là con đích tôn của Tề Tuân. Con gái cả của Tề Hi chính là Trần Quốc phu nhân, thân là cháu gái trưởng của Tề Thái sư, từ nhỏ đã thường xuyên ra vào cung đình, Tiên đế thấy nàng xinh xắn lanh lợi, nói năng lại vô tư vô lự, cực kì ngây thơ đáng yêu, cũng rất thích, khi nàng sáu bảy tuổi đã phong làm Quốc phu nhân, vì thế người trong kinh thường gọi nàng là "Đồng phu nhân" (Phu nhân trẻ con). Về vị Đồng phu nhân này, trong thành Lâm An còn lưu truyền một giai thoại: Đồng phu nhân hồi nhỏ từng nuôi một con mèo sư tử, một hôm con mèo này nhân lúc người trông coi ngủ gật, lẻn ra khỏi phủ, không biết đi đâu mất. Đồng phu nhân biết chuyện khóc lớn, nhất quyết đòi tìm lại con mèo này. Tề Thái sư bèn lệnh cho phủ Lâm An phái người đi tìm kiếm, vì việc này mà bắt giữ cả trăm người bị nghi ngờ bắt hoặc giấu mèo sư tử. Lục soát khắp thành bắt về hơn trăm con mèo, Đồng phu nhân kiểm tra từng con, phát hiện đều không phải con mèo mình mất, không khỏi lại khóc lóc ầm ĩ. Tề Thái sư lại sai họa sĩ dựa theo miêu tả vẽ hàng trăm bức chân dung mèo sư tử, dán khắp các trà phường, quán rượu trong thành, treo thưởng ngàn vàng tìm kiếm, thế nhưng mèo sư t.ử vẫn bặt vô âm tín, có điều "năng lực" khiến một giọt nước mắt kinh động cả phủ Lâm An của Đồng phu nhân từ đó ai ai trong kinh cũng biết. Tề Tuân nắm giữ ấn tướng nhiều năm, cấu kết bè đảng quyền khuynh triều dã, Tiên đế cũng khá kiêng dè. Sau này Tề Tuân mắc bệnh nặng, lúc lâm chung còn muốn nâng đỡ con trai mình là Tề Hi kế nhiệm Thừa tướng, nhưng Thái t.ử lúc bấy giờ, tức Quan gia Triệu Vĩ ngày nay đã kịp thời phát giác, báo cho Tiên đế biết mưu đồ của họ Tề. Tiên đế bèn lấy danh nghĩa thăm bệnh, dẫn theo cấm quân thân tín đích thân đến Tề phủ, giám sát cha con họ Tề, đồng thời lệnh cho đại thần soạn thảo chiếu thư cho cha con họ Tề về hưu. Đợi Tề Tuân tắt thở, liền tuyên bố cha con họ Tề đồng thời về hưu, thu hồi tất cả thực quyền của Tề Hi, chỉ cho ông ta một hư hàm "Thiếu sư", làm một người giàu sang nhàn rỗi. Chẳng bao lâu sau Tề Hi cũng u uất mà c.h.ế.t, bè đảng họ Tề tan đàn xẻ nghé, Tiên đế cũng thu hồi dinh thự xa hoa bậc nhất kinh thành của Tề Tuân, tu sửa mở rộng thành cung uyển để ở lúc tuổi già, chính là cung Từ Phúc hiện nay. Sau khi Tề Hi c.h.ế.t, Tề gia ngày càng suy vi, nhưng hầu như không ảnh hưởng đến Đồng phu nhân đã gả cho Diên Bình Quận vương. Tiên đế thích nàng, có lẽ dựa trên dáng vẻ không chút toan tính, ngây thơ lãng mạn mà nàng thể hiện, điều này hoàn toàn trái ngược với ông nội và cha nàng. Vì nàng từ nhỏ ra vào cung đình, Quan gia hiện tại cũng quen biết nàng, coi nàng như em gái, đối đãi vô cùng thân thiện. Hai đời Hoàng đế thậm chí có chút tâm lý bù đắp cho nàng, ân sủng ban cho Tề gia có không ít sau này đều chuyển sang cho nàng. Tiên đế băng hà, Kim thượng lên ngôi, tôn sùng ưu đãi gia tộc Thái hậu, Ân Ninh tiếp tục được thăng quan tiến chức, tuy đều là hư hàm không có thực quyền, nhưng bổng lộc ban thưởng nhận được lại vô cùng hậu hĩnh, trong đám ngoại thích không ai sánh bằng. Sự phú quý của phủ Diên Bình Quận vương, Chân Chân trước kia chỉ nghe người ta nhắc đến, mãi đến khi đích thân bước vào trong đó, mới cảm thấy mọi lời đồn đại chỉ là những nét phác thảo nhạt nhòa, mọi sự tưởng tượng hư cấu đều không sống động và rực rỡ bằng thực tế. Dinh thự này rất lớn, nhưng cũng chưa lớn đến mức có thể so sánh với cung Từ Phúc và cung cấm, tuy có lầu son gác tía, đình đài thủy tạ, nhưng nếu luận về khí tượng hoa lệ trang nghiêm, cũng không thể đ.á.n.h đồng với cung uyển. Tuy nhiên hoa cỏ cây cối trong vườn rất sum suê, cảm giác dây leo chằng chịt, hoa trúc xen cài ấy ngược lại có nét tương đồng thú vị với khu vườn của Lâm Hoằng. Trong vườn cũng xếp đá dẫn nước tạo cảnh, đá dùng đều là loại đá quý lạ, hình thù đủ loại, xếp bên hồ thành một ngọn núi giả cao hơn cả lầu các, trong núi có động phủ ẩn hiện, mà trên đỉnh núi một dòng suối trong vắt đổ xuống, chảy vào trong hồ, tiếng như ngọc va leng keng, bọt nước tung bay, khiến người qua đường cảm thấy vô cùng mát mẻ. Chân Chân thấy nước ấy cực kỳ trong trẻo, nhìn thấu đáy hồ, không có lấy một con cá, không kìm được thốt lên lời khen: "Nước này trong thật đấy." Thị nữ dẫn nàng vào nghe tiếng nói: "Đương nhiên rồi. Nước này là nước suối dẫn từ núi Phượng Hoàng về, trong vắt ngọt lành, cơm nước trong phủ đều dùng nước này." "Núi Phượng Hoàng?" Chân Chân ngạc nhiên hỏi, "Tuy núi Phượng Hoàng cách đây không xa, nhưng muốn dẫn nước về cũng chẳng dễ dàng gì, chắc phải đào nhiều mương rãnh lắm?" Thị nữ kia lắc đầu: "Không phải đào mương, nghe nói là dùng rất nhiều ống tre lớn... cụ thể làm thế nào tôi cũng không rõ." Lúc này có tiếng đàn du dương vọng lại, cắt ngang dòng suy nghĩ của Chân Chân. Khúc nhạc này Chân Chân từng nghe Lâm Hoằng đàn qua, nhận ra là khúcLưu Thủy, ngước mắt nhìn quanh, bốn phía không thấy người gảy đàn, cũng không biết tiếng nhạc bay tới từ đâu. Chân Chân thấy thị nữ dẫn đường đang quan sát dáng vẻ nghe đàn của mình, bèn cười nói: "Bên bờ nước nghe khúcLưu Thủythật là trùng hợp, vô cùng hợp cảnh." "Đâu phải trùng hợp," thị nữ nhàn nhạt giải thích, "Trong phủ Quận vương chúng ta nuôi rất nhiều nhạc kỹ, tuân theo dặn dò của Trần Quốc phu nhân, ngày thường tản mát trong vườn, nhưng chỉ được ẩn mình sau hoa cỏ, núi đá, thấy có người đến, liền tấu lên khúc nhạc tương ứng với tình cảnh lúc đó, để người dạo chơi tiêu khiển." Chân Chân sau đó âm thầm để ý, phát hiện quả nhiên như lời thị nữ nói, mỗi khi đi đến một nơi, tiếng sáo tiếng đàn lại thay đổi theo, đều là những khúc nhạc tôn lên vẻ đẹp của cảnh sắc, nhạc cụ sử dụng ngoài đàn cầm, còn có tiêu, sáo, sênh, tranh, đàn nguyệt và tỳ bà không thiếu thứ gì, mà nhạc kỹ hoàn toàn ẩn thân, không lộ chút dấu vết. Điều khiến Chân Chân thán phục nhất là sự sắp xếp chức vụ của phủ Quận vương dành cho nàng. Nhà bếp của phủ Diên Bình Quận vương nằm trong mấy dãy sân riêng biệt, chiếm diện tích rất rộng, nghe thị nữ giới thiệu không ngớt khi đi qua các gian phòng, Chân Chân đại khái hiểu được đại trù này chia thành các tiểu trù khác nhau, phân quản rượu, thịt, món chay, hoa quả, mắm muối..., bố cục dường như tương tự Thượng Thực Cục, nhưng không chỉ dừng lại ở đó. Chân Chân cuối cùng đi đến sảnh đường, gặp được nữ đầu bếp Diêm Thập Nhất Nương - người quản lý đại trù. Chân Chân vốn tưởng theo lời Trình Uyên, chắc sẽ để nàng làm điểm tâm, đầu bếp làm điểm tâm của phủ Diên Bình Quận vương có vẻ không được việc lắm, nhưng giờ nàng dần phát hiện ra không phải như vậy. Diêm Thập Nhất Nương thấy Chân Chân đến, chẳng hề vui vẻ, ngược lại như nhìn thấy một gánh nặng. Bà ta lấy ra một cuốn danh sách dày như sổ cái lật hồi lâu, mới cau mày nói: "Các bếp cơ bản đều đủ người rồi, chỉ còn Bếp bánh bao thiếu một chân, ngươi đến Bếp bánh bao đi." Chân Chân vâng lời, dò xét hỏi: "Vậy sau này tôi chủ yếu phụ trách làm bánh bao?" "Làm bánh bao tạm thời chưa đến lượt ngươi." Diêm Thập Nhất Nương cười khẩy, "Ngươi đi tỉa sợi hành trước đi." Dựa vào thái độ của Diêm Thập Nhất Nương, Chân Chân đoán được việc nàng chuyển đến đây, cung Từ Phúc không dặn dò gì đặc biệt với phủ Diên Bình Quận vương, cho nên Diêm Thập Nhất Nương coi nàng như tỳ nữ phạm lỗi bị đày đến đây, nên chẳng có sắc mặt tốt. Tuy nhiên Chân Chân tùy cảnh mà an, cũng không cho rằng việc không được trọng dụng trong bếp là chuyện khó chấp nhận đến mức nào, ngược lại rất tận hưởng sự nhàn hạ mà chức vụ tỉa sợi hành này mang lại. Lần đầu tiên Chân Chân thấy khái niệm "tỉa sợi hành", là trong cuốnNgọc Thực Phêcủa Lưu Tư Thiện, sau đó được nàng bắt chước, để Phượng Tiên và mọi người làm ra bữa tiệc từ hôn xa hoa chấn động Phố Giang. Sau này biết Tư Thiện vốn là người lo liệu ăn uống cho hoàng gia, cũng hiểu được vì sao các món ăn trong đó lại xa xỉ đến mức ấy. Nhưng sau khi vào cung lại phát hiện, ẩm thực cung đình tuy tinh tế, nhưng theo những gì nàng thấy hiện tại, dường như không khoa trương như mấy món Lưu Tư Thiện liệt kê, Thượng Thực Cục cũng không đặt người chuyên trách tỉa sợi hành, chẳng ngờ ở phủ Quận vương này lại được mở mang tầm mắt. Du nhị tẩu quản lý Bếp bánh bao là một phụ nữ ngoài bốn mươi, tính tình dễ chịu, đối đãi với Chân Chân khá thân thiện, còn đích thân dạy Chân Chân làm thế nào để tách hành ra mảnh như sợi tóc, cũng như dạy nàng khắc các hoa văn mây như ý, vạn tự, thụy thảo, bảo tướng hoa và triền chi hoa... Chân Chân không nhịn được hỏi: "Hoa văn của sợi hành này đâu có ảnh hưởng đến mùi vị bánh bao, thực sự có người xem sao?" "Có chứ. Năm xưa khi Tề Thái sư mở tiệc chiêu đãi tân khách, sẽ dặn dò chúng ta tỉa sợi hành. Trên bàn tiệc cũng sẽ không nhắc nhở khách, đợi khách tự mình phát hiện, tự nhiên sẽ tán thán sự phú quý của phủ Thái sư." Du nhị tẩu nói, "Bây giờ Diên Bình Quận vương ngược lại không coi trọng những thứ này, nhưng phu nhân vẫn kiên trì để người chuyên trách tỉa sợi hành. Tuy nói khi đãi khách không dùng cái này nữa, phu nhân lại thi thoảng sai người làm, tự mình ngắm nghía." Chân Chân cảm ơn Du nhị tẩu đã chiếu cố mình, cũng tự động giúp nhị tẩu làm việc. Thấy bà ấy có thói quen ăn khuya, bèn thường xuyên hỏi bà muốn ăn gì, buổi tối tự mình làm ở bếp rồi đưa đến cho bà. Một đêm nọ, Du nhị tẩu nói muốn ăn Tô Nhi Ấn, Chân Chân bèn một mình chiên trong bếp nhỏ. Mùi thơm dầu bơ nóng hổi lan tỏa, khiến Chân Chân không kìm được tự mình nếm thử hai miếng. Mùi vị ngọt thơm như nàng tưởng tượng, nhưng lát sau Chân Chân lại cảm thấy ăn món này ban đêm có thể sẽ khô miệng háo nước, bèn cán thêm ít vỏ bánh mỏng, tận dụng chỗ thịt tươi còn thừa làm bánh bao ban ngày gói mấy cái hoành thánh, thả vào trong canh có thêm tôm khô và rong biển, rắc lên chút sợi hành, sau đó đi tìm hộp đựng thức ăn, định múc xong đưa cho Du nhị tẩu. Chợt nghe phía sau cách đó không xa có tiếng động nhẹ, quay đầu nhìn lại, thấy một nam t.ử thanh tú đứng bên cửa, Chân Chân nhìn kỹ, nhận ra đó là Ân Kỳ từng có duyên gặp một lần trong cung. Ân Kỳ áo bào rộng thùng thình, không thắt đai, cũng không đội khăn, tóc xõa tung, trông như vừa tỉnh mộng, ánh mắt chàng d.a.o động vô định, vẻ mặt mờ mịt, còn đang thở hổn hển, dường như đã chạy một mạch đến đây. Ân Kỳ nhìn chằm chằm đĩa Tô Nhi Ấn đầy ắp trên bàn hồi lâu, lát sau, mới quay sang nhìn Chân Chân. Khi nhìn rõ nàng, đôi mắt chàng sáng bừng lên, như gặp lại cố nhân. Chân Chân nghĩ bụng vị công t.ử này mắt mũi cũng tốt thật, mới gặp một lần đã nhận ra mình. Bèn nở một nụ cười, đang định hành lễ, gọi chàng là "Đại công tử", Ân Kỳ lại sải bước lao đến trước mặt nàng, đôi tay hơi run rẩy nắm lấy một ống tay áo của Chân Chân, đưa lên trước mặt, vùi đầu vào, ngửi mùi hương trong tay áo nàng. Chân Chân giật mình kinh hãi, vội rút tay áo khỏi tay chàng, lùi lại một bước. Ánh mắt Ân Kỳ như ánh trăng, dịu dàng lướt qua nàng, giây lát sau, trên mặt lộ ra nụ cười sáng trong thuần khiết như trẻ thơ, "Cô cô." Chàng khẽ gọi nàng. Chân Chân ngẩn người — chưa từng ai dùng tôn xưng như vậy với nàng — rồi lúng túng nói: "Đại công t.ử hà tất khách khí như vậy, người trong phủ đều gọi tên ta..." "Cô cô," Ân Kỳ bỏ ngoài tai, lại gọi một tiếng, sau đó bước lên phía trước, dang rộng vòng tay ôm lấy vai Chân Chân, cúi đầu thì thầm bên tai nàng, "Người cuối cùng cũng về rồi." Nói xong, chàng như trút được gánh nặng ngàn cân, nhẹ nhàng tựa đầu vào vai nàng, mang theo nụ cười điềm tĩnh nhắm mắt lại. Chương 50 - Lưu Tư Thiện Cái ôm bất ngờ này khiến Chân Chân luống cuống không biết phải làm sao, nghi ngờ đây là hành động cợt nhả của kẻ háo sắc, thẹn quá hóa giận đang định đẩy hắn ra, bỗng cảm thấy một giọt nước ấm nóng rơi xuống dưới cổ mình. Vừa nghiêng đầu nhìn, Chân Chân phát hiện đó là giọt lệ rơi xuống từ mắt Ân Kỳ, dưới hàng mi rủ xuống của hắn vẫn còn vương vấn giọt lệ long lanh. Hắn vẫn mỉm cười, nhưng nụ cười nhàn nhạt ấy dưới ánh lệ trong veo lại lộ ra vẻ thê lương khôn xiết. Mang theo nỗi sợ hãi của kẻ vừa tìm lại được báu vật đã mất chỉ lo sẽ lại vuột mất lần nữa, đôi tay hắn ôm lấy Chân Chân vô cùng mạnh mẽ. Một chút nghi hoặc lặng lẽ nảy sinh trong lòng: Có phải hắn đã nhận nhầm người không? Liên tưởng đến vẻ mặt hoảng hốt của hắn và tiếng gọi "cô cô" kia, suy đoán này càng thêm hợp lý. Chân Chân bèn nhẹ nhàng gỡ tay hắn ra, lùi lại hai bước, cố ý nhắc nhở: "Đại công tử, ta là Ngô Chân Chân." Ân Kỳ nhìn nàng, mỉm cười gọi: "Cô cô." Chân Chân tiếp tục giải thích: "Ta là nội nhân Ngô Chân Chân, ngày Đoan Ngọ, chúng ta từng gặp nhau một lần trên thuyền ở Hậu uyển." "Ừ." Ân Kỳ ngoan ngoãn gật đầu, đôi mắt tràn đầy vẻ ngây thơ thay cho đôi tay ấm áp ôm lấy nàng. Chân Chân không chắc hắn có thực sự nghe hiểu hay không, lại nói: "Cho nên, ta không phải cô cô của ngài, ta là Ngô Chân Chân, ngài đã biết chưa?" "Biết rồi." Ân Kỳ vẫn nhìn nàng tha thiết, "Cô cô." Chân Chân hết cách, thở dài, mời hắn ngồi xuống bên bàn, lấy một ít tô nhi ấn mời hắn: "Đã đến đây rồi, Đại công t.ử nếm thử chút bánh rồi hãy đi." Ân Kỳ rất vui vẻ nhón lấy một miếng. Chân Chân nhìn bát hoành thánh trên bếp, nghĩ bụng thứ này để lâu sẽ không ngon, chi bằng cũng cho Ân Kỳ ăn luôn, lát nữa sẽ nấu bát khác cho Du nhị tẩu. Bèn qua bưng bát hoành thánh đến trước mặt Ân Kỳ. Nào ngờ Ân Kỳ vừa nhìn rõ bát hoành thánh trước mặt, miếng tô nhi ấn trên tay lập tức rơi xuống, hắn như bị bỏng nhảy dựng lên, rảo bước lùi lại phía sau, đồng thời ôm đầu thét lên những tiếng kinh hoàng chói tai. Chân Chân cũng bị dọa giật mình, vội hỏi hắn làm sao vậy. Ân Kỳ không đáp, tiếp tục lùi lại, cho đến khi chạm vào bếp lò, hắn hoảng hốt quay đầu nhìn, rồi vung tay gạt phăng tất cả nồi niêu bát đĩa trên đó xuống đất. Tiếng va chạm chói tai của nồi niêu xoong chảo hòa lẫn với tiếng hét "a, a" của hắn x.é to.ạc sự tĩnh mịch của đêm trăng nơi phủ Quận vương. Một lát sau, tiếng bước chân rầm rập như thủy triều từ xa vọng lại, các đầu bếp nữ, nô tỳ trực đêm, thị nữ của Ân Kỳ nhao nhao chạy tới. Người cuối cùng xuất hiện ngoài cửa là Trần Quốc phu nhân, lúc này bà đã tẩy sạch lớp trang điểm, đoán chừng là nhận được tin báo trước khi đi ngủ, vội vã chạy đến. Khi Trần Quốc phu nhân bước vào, nhà bếp đã bừa bộn khắp nơi, sớm đã có tớ gái trói Chân Chân lại, bắt nàng quỳ dưới đất chờ xử phạt. Còn với Ân Kỳ, mọi người muốn kiềm chế nhưng không tiện dùng vũ lực, chỉ đành đi theo hắn, khi hắn đập phá đồ đạc thì cố gắng ngăn cản giành giật, tránh để hắn tự làm mình bị thương. Trần Quốc phu nhân lao đến trước mặt Ân Kỳ, nắm lấy tay hắn ra sức dỗ dành, dỗ ngon dỗ ngọt hồi lâu Ân Kỳ mới dần bình tĩnh lại. Trần Quốc phu nhân sai người đưa Ân Kỳ về phòng, lúc này mới có thời gian nhìn quanh, lập tức nhìn thấy bát hoành thánh trên bàn, đôi mày liễu dựng ngược, chỉ tay vào bát hoành thánh quát lớn: "Thứ này là ai làm?" Ngay lập tức có tớ gái vỗ vào lưng Chân Chân: "Chính là con nha đầu này." Trần Quốc phu nhân nhìn sang Chân Chân, thoáng sững sờ trong giây lát, có lẽ là nhớ lại lần gặp mặt trong cung. "Ném vào chuồng ngựa trước đã, ngày mai tính." Trần Quốc phu nhân ra lệnh, rồi liếc nhìn bát hoành thánh kia, lại mắng: "Các ngươi mù cả rồi sao? Sao còn chưa đổ đi?" Đám đầu bếp nữ vâng vâng dạ dạ, tranh nhau cướp lấy bát hoành thánh mang ra ngoài đổ. Chuồng ngựa tốt hơn một chút so với dự liệu của Chân Chân, họ nhốt nàng một gian trống, không phải ở chung với bầy ngựa, tránh được kiếp nạn bị giẫm đạp. Tuy nhiên bên trong ẩm ướt bừa bộn, nồng nặc mùi hôi hám, nàng lại bị trói, không thể né tránh, dựa nghiêng vào góc tường, cảm thấy bức tường bên cạnh trơn tuột nhớp nháp, cũng không biết là thứ gì bám trên đó, muốn đứng dậy cũng không được. Chuồng ngựa bốn bề lộng gió, ban đêm vô cùng lạnh lẽo, Chân Chân khổ sở chịu đựng hơn nửa đêm, mới kiệt sức thiếp đi. Ngày hôm sau có người cởi trói cho nàng, giục nàng dậy. Chân Chân vừa đứng lên đã thấy đầu nặng chân nhẹ, đầu óc choáng váng, họng sưng đau, khó phát ra tiếng. Mới đi được hai bước thì tối sầm mặt mũi, ngã xuống đất ngất xỉu. Cũng không biết qua bao lâu, mơ màng chỉ lờ mờ cảm thấy có người lau người, thay y phục cho mình, để mình nằm trên chiếc giường êm ái ấm áp, bón t.h.u.ố.c cho uống. Cuối cùng nàng cũng có sức mở mắt ra, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt là bóng dáng của Ân Kỳ. Hắn đứng trước giường nàng, thấy nàng mở mắt, bèn ngồi xuống mép giường, mỉm cười hỏi nàng: "Đỡ hơn chút nào chưa?" Hắn ăn mặc chỉnh tề, mày mắt thanh tú hiền hòa, nghiễm nhiên là một vị công t.ử văn nhã phong lưu, nào còn chút dấu vết điên cuồng đêm qua. Chân Chân ngẩn ngơ nhìn hắn hồi lâu, bỗng nhiên cúi đầu nhìn bộ y phục mới được người ta thay cho mình, sắc mặt lập tức thay đổi, kéo chăn che kín vai, cau mày trừng mắt nhìn Ân Kỳ: "Ngài..." Ân Kỳ dường như hiểu suy nghĩ trong lòng nàng, liếc nhìn người phụ nữ trung niên phía sau, bà ta lập tức tiến lên, nói với Chân Chân: "Ta là nhũ mẫu La thị của Đại công tử. Sáng nay Đại công t.ử bảo ta đi mời cô nương, cô nương bị nhiễm phong hàn, hôn mê suốt. Ta bèn sai thị nữ lau người thay y phục cho cô nương, t.h.u.ố.c cũng là do ta bón cho cô nương uống. Đại công t.ử không yên tâm, qua đây thăm cô, vừa khéo cô nương tỉnh lại." Chân Chân cảm tạ La thị, nhìn lại Ân Kỳ, vẫn còn sợ hãi trong lòng, bất giác co người lùi lại phía sau. Ân Kỳ mỉm cười vái chào: "Thật xin lỗi, nghe nói tối qua ta thất thố, làm cô nương sợ hãi rồi." Giọng điệu hắn nhẹ nhàng, thần thái ôn hòa, lễ tiết và sự tôn trọng dành cho Chân Chân không chê vào đâu được. Chân Chân nhớ lại người đã gặp đêm qua, chỉ cảm thấy như hai linh hồn khác biệt đã chọn cùng một thể xác với Ân Kỳ trước mắt. Ân Kỳ để Chân Chân ở lại dưỡng bệnh trong gian phòng bên hông được bài trí trang nhã trong viện của mình, thi thoảng lại đến thăm nàng, đồng thời mang cho nàng rất nhiều điểm tâm và hoa quả. Sự chăm sóc dành cho nàng vô cùng tỉ mỉ. Có lần hắn mang đến những quả cam mới thu hoạch năm nay, sai thị nữ bổ ra, lại dâng lên một ít muối tinh, xát lên cam để bớt vị chua chát, làm nổi bật vị ngọt. Khi thị nữ dâng muối lên, hắn nếm thử một chút, liền hỏi thị nữ kia: "Đây không phải muối Ngô (Ngô diêm) chứ?" Thị nữ kia sững sờ, thừa nhận muối Ngô trong viện đã hết, chưa kịp xuống bếp lấy, bèn dùng loại muối nơi khác sản xuất. Ân Kỳ ôn tồn bảo nàng ta đi lấy, quay đầu thấy Chân Chân trố mắt nhìn mình, bèn cười: "Muối Ngô sắc trắng như tuyết, vị lại thanh đạm, thích hợp nhất để phối với hoa quả, nhẹ nhàng giảm bớt vị chua của quả." Chân Chân lặng thinh không nói, hắn lại cười tự giễu: "Múa rìu qua mắt thợ, là ta thất lễ rồi." Chân Chân liền hỏi hắn: "Ngài biết ta là ai rồi sao?" Hắn gật đầu: "Ta biết, Ngô nội nhân." Bệnh phong hàn của Chân Chân dưỡng vài ngày là khỏi hẳn, nhưng Ân Kỳ dường như không có ý định để nàng dọn đi, từ nhũ mẫu La thị trở xuống, mọi người đều đối đãi với nàng khách sáo. Điều này ngược lại khiến Chân Chân cảm thấy không thoải mái, biết rõ với thân phận của mình thật không nên nhận sự ưu đãi như này, bèn tỏ ý với Ân Kỳ muốn quay lại Bếp bánh bao, Ân Kỳ bảo nàng: "Mấy ngày cô ốm đã có người thế vào chỗ đó rồi." Thế là Chân Chân đành phải ở lại, chủ động giúp thị nữ trong viện làm việc, giặt giũ quét tước vô cùng chăm chỉ, khiến La thị nhìn mà không nhịn được cười: "Cô làm hết thế này, thì đám nha đầu kia làm gì đây?" Chân Chân kể lể nỗi khổ tâm vì nhàn rỗi không có việc gì làm. La thị bèn gợi ý: "Ta có một việc, là nếm trước đồ ăn thức uống của Đại công t.ử trước khi ngài ấy dùng bữa. Gần đây đường ruột ta không tốt lắm, ăn gì cũng thấy vô vị, sợ không nếm ra ngon dở, hay là cô thay ta nếm thử nhé?" Chân Chân lập tức đồng ý, cười nói: "Việc này nội nhân Thượng Thực Cục chúng ta đều phải học, nếm trước thiện thực, để tránh thức ăn có độc hại đến quý nhân." La thị nói: "Phủ Quận vương chúng ta không so được với trong cung, hầu như không có chuyện hạ độc đâu, nhưng nếm trước độ mặn nhạt nóng nguội cho quý nhân là điều cần thiết. Vị giác và khứu giác của Đại công t.ử đều rất nhạy bén, cho nên khâu nếm trước này đặc biệt quan trọng, không được qua loa chút nào. Sau này phải nhờ cậy cô nương nhọc lòng rồi." Chân Chân luôn cảm kích thiện ý Ân Kỳ dành cho mình, đã nhận việc này, liền hoàn thành vô cùng tận tâm. Mỗi món ăn thức uống sau khi nếm thử cảm thấy không có vấn đề gì mới dâng lên cho Ân Kỳ, nếu Ân Kỳ cảm thấy chỗ nào không ổn, nàng liền dụng tâm ghi nhớ, lần sau độ mặn nhạt ấm nóng sẽ phán đoán theo sở thích của Ân Kỳ. Ân Kỳ còn có một điểm khác người: mỗi ngày đều phải uống thuốc. Nghe nói hắn từ nhỏ thể yếu ớt nhiều bệnh, Trần Quốc phu nhân khi hắn còn nhỏ thường đưa hắn đi cầu thần bái phật, nên đặt tên cúng cơm cho hắn là "Già Lam nhi" (Con của Phật). Sau này hắn phát bệnh cuồng hãn, phu nhân liền không dám cho hắn ra ngoài, thường xuyên mời danh y vào phủ chẩn trị, trong viện của Ân Kỳ cũng quanh năm phảng phất mùi thuốc, hầu như ngày nào cũng phải uống t.h.u.ố.c vài lần. Mà Ân Kỳ ghét nhất chính là uống thuốc, thường xuyên tìm đủ cớ để không phải uống, đôi khi La thị và mọi người khuyên nhiều hắn còn nổi cáu đập vỡ cả bát thuốc, đây là cảm xúc mãnh liệt nhất hắn bộc lộ khi không phát bệnh. Vì để hắn chịu uống thuốc, Chân Chân đã vắt óc nghiên cứu thành phần, thời gian sắc của từng thang thuốc, nếm thử hết lần này đến lần khác, cảm nhận độ đậm nhạt ấm nóng, để tìm ra khẩu vị dễ chấp nhận nhất. Có khi nghiên cứu cả ngày, uống t.h.u.ố.c nhiều quá, bản thân cũng hoa mắt chóng mặt, thậm chí nôn mửa, nhưng hễ đến giờ Ân Kỳ uống thuốc, nàng lại xốc lại tinh thần, hăng hái bưng bát t.h.u.ố.c đặt trước mặt Ân Kỳ, nói: "Đại công tử, canh t.h.u.ố.c hôm nay khác hôm qua đấy, mùi vị ngon hơn nha. Nếu ngài uống xong mà nếm ra chỗ nào khác biệt, ta sẽ thưởng cho ngài một miếng mật ong mới cắt." Một hôm, nàng hầu hạ Ân Kỳ uống t.h.u.ố.c xong, từ trong phòng hắn đi ra, chưa về đến chỗ ở đã thấy buồn nôn, vội vàng đi đến bên bồn hoa, nôn thốc nôn tháo toàn là nước thuốc. La thị ở cách đó không xa nhìn thấy, vội chạy lại vuốt lưng giúp nàng thuận khí, rồi dẫn nàng về phòng mình, lấy nước cho nàng súc miệng. Thấy sắc mặt Chân Chân dịu lại, bà mới thở phào nhẹ nhõm, cảm thán: "Cô đúng là một đứa trẻ tốt, thảo nào hôm đó Đại công t.ử nhận nhầm cô thành Lưu cô cô của ngài ấy, cái nết tận tâm hầu chủ này của cô, quả thực rất giống..." Chân Chân lập tức nhớ lại cảnh Ân Kỳ gọi nàng là "cô cô", tò mò tột độ, kéo tay La thị liên tục hỏi Lưu cô cô là ai. La thị do dự hồi lâu, cuối cùng cũng kể cho nàng nghe: "Vị Lưu cô nương đó vốn là con gái của một đầu bếp nữ trong nhà Tề Thái sư triều trước, theo nương học nấu nướng từ nhỏ, rất có thiên phú. Sau này Trần Quốc phu nhân gả cho Diên Bình Quận vương, cô ấy cũng theo làm thị nữ hồi môn đến phủ Quận vương, thức ăn dặm của Đại công t.ử lúc còn ẵm ngửa trên tay đều do cô ấy lo liệu. Có một lần Tiên đế giá lâm phủ Quận vương, nếm thử món ăn Lưu cô nương làm, cảm thấy rất ngon, khen không dứt miệng. Diên Bình Quận vương hiểu ý, lập tức đưa Lưu cô nương vào cung, vào Thượng Thực Cục." Chân Chân chợt hiểu ra: "Vị Lưu cô nương này chính là Lưu Tư Thiện phải không?" La thị cũng giật mình: "Cô biết cô ấy à?" Chân Chân vội xua tay, che giấu: "Chỉ nghe cung nhân già nhắc qua một lần, chỉ biết từng có vị Tư Thiện họ Lưu, còn lại không biết gì cả." La thị gật đầu, lại nói: "Cô ấy ban đầu cũng chỉ làm từ nội nhân, nhưng Tiên đế cho cô ấy bái Lưu nương t.ử - vị Thượng Thực mà ngài tin tưởng nhất làm nương nuôi, theo Lưu nương t.ử học nghề." Vị Thượng Thực Lưu nương t.ử kia quả là nhân vật có tiếng trong cung, nghe nói là người cũ trong cung ở Biện Kinh, trù nghệ xuất thần nhập hóa, Tiên đế luôn trọng dụng, bà giữ chức Thượng Thực nhiều năm, nhưng sau này mắc bệnh nặng, đã qua đời trước khi Kim thượng lên ngôi. Chân Chân nhớ lại điều này, nói với La thị: "Lưu nương t.ử Thượng Thực đó cả đời ở trong cung, chắc chắn không có con ruột, đối với người con nuôi này hẳn là rất trân quý, sẽ dốc hết tuyệt kỹ bình sinh ra truyền dạy." "Quả đúng như vậy." La thị nói, "Trù nghệ của Lưu cô nương ngày càng tiến bộ, chẳng bao lâu sau Tiên đế liền cho cô ấy thường xuyên hầu hạ bên cạnh, nếm thức ăn cho ngài. Lưu cô nương hiểu rõ nhiệm vụ này có ý nghĩa gì, cô ấy không chỉ tỉ mỉ phân biệt mùi vị từng loại thức ăn, mà còn chủ động nếm thử mùi vị của các loại độc dược, ví dụ như thạch tín, đoạn trường thảo..." "A..." Chân Chân không kìm được kinh ngạc, "Nếm thử mấy thứ này sơ sẩy một chút là mất mạng như chơi." "Chứ còn gì nữa," La thị than thở, "Cô nương này tâm địa thật thà, cho rằng phải biết trước mùi vị của độc thì sau này mới dễ phân biệt, cho nên nếm thử hết lần này đến lần khác, tuy nói là vừa đưa vào miệng cảm nhận được mùi vị liền nhổ ra, nhưng khó tránh khỏi độc tố còn sót lại... Mấy lần trúng độc, cô ấy thoi thóp sắp c.h.ế.t, may mà Tiên đế triệu tập các thái y giỏi nhất chẩn trị cho cô ấy, mới kéo cô ấy từ quỷ môn quan trở về." Chân Chân liên tục cảm thán: "Bội phục, bội phục! Tận chức như vậy ta thật không dám mơ tới." La thị tỏ vẻ đồng tình: "Người trong thiên hạ chẳng mấy ai làm được như cô ấy. Cho nên, Tiên đế đặc biệt coi trọng cô ấy, để cô ấy tuổi còn trẻ đã làm đến chức Tư Thiện. Lưu Tư Thiện này và Cúc phu nhân của Tiên Thiều bộ, là hai cung nhân năm xưa tuy không nằm trong hàng tần ngự, nhưng thánh ân cũng chẳng kém gì các nương nương, có thể gọi là đôi ngọc bích một thời." Chân Chân nhớ lại phong thái Cúc phu nhân mà Hương Lê Nhi từng kể, không nhịn được lại hỏi La thị: "Lưu Tư Thiện sinh ra có đẹp không?" "Không đẹp bằng Cúc phu nhân, nhưng cũng xinh xắn... Cô ấy rất hay cười, khi cười mắt cong cong như trăng lưỡi liềm, vô cùng ngọt ngào." La thị đáp, bỗng nhiên chăm chú ngắm nhìn Chân Chân, rồi nói, "Dáng vẻ cô khi cười có vài phần giống cô ấy, có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Đại công t.ử tối hôm đó nhận nhầm cô thành Lưu Tư Thiện." Chương 51 - Vương Tôn Thiếp "Sau khi Lưu Tư Thiện vào cung, Đại công t.ử còn thường xuyên gặp được bà ấy không? Đại công t.ử đối với bà ấy hình như rất thân quen." Nhớ lại sự quyến luyến Ân Kỳ bộc lộ với mình sau khi nhận nhầm người đêm đó, Chân Chân liền hỏi La thị. La thị nói: "Khi cô ấy vào cung Đại công t.ử mới hai tuổi, theo lý mà nói ký ức không sâu, nhưng thân là quý thích, Đại công t.ử thường xuyên vào cung chơi đùa với các hoàng tử, nên cũng thường xuyên gặp gỡ Lưu Tư Thiện. Lưu Tư Thiện rất thích Đại công tử, lần nào cũng cho ngài ấy ăn đủ loại điểm tâm cô ấy làm, có khi Đại công t.ử còn theo cô ấy vào bếp xem cô ấy làm việc, đặc biệt thích ngửi mùi thơm bánh trái vương trên y phục cô ấy." Chân Chân trong nháy mắt hiểu ra vì sao đêm đó Ân Kỳ lại bất ngờ kéo tay áo nàng lên ngửi, đây có lẽ cũng là một cách hắn xác nhận thân phận Lưu Tư Thiện trong lúc mơ hồ. La thị cười than: "Đại công t.ử từ nhỏ không thích nói chuyện lắm, nhưng Lưu Tư Thiện tính tình hoạt bát, đặc biệt biết trêu đùa trẻ con, họ ở bên nhau thường cười nói vui vẻ, phu nhân khi đó thường cảm thán Đại công t.ử thân thiết với Lưu Tư Thiện còn hơn cả với bà ấy." "Cảm giác Lưu Tư Thiện là người rất được lòng mọi người." Chân Chân nói, "Trung thành hầu chủ, thân thiện với người khác, lại rất yêu trẻ con, người trong cung chắc hẳn đều rất thích bà ấy... Nhưng sau này bà ấy đi đâu? Sao bây giờ trong cung hiếm có ai nhắc đến bà ấy?" "Cái này... Ờ thì, sau này cô ấy cùng người, trốn khỏi cung rồi." La thị ấp úng trả lời qua loa. Chân Chân vô cùng kinh ngạc: "Tiên đế coi trọng bà ấy như vậy, bà ấy còn bỏ trốn, vậy người bà ấy yêu chắc chắn không phải tầm thường nhỉ?" "Thôi không nói nữa, mấy chuyện lằng nhằng này, đám con gái các cô nghe không tốt." La thị nói xong đứng dậy, "Đại công t.ử đến giờ ngủ trưa rồi, ta đi xem ngài ấy thế nào." Đi được vài bước, La thị lại quay đầu nhìn Chân Chân, có chút do dự nhấn mạnh: "Phải rồi, có chuyện này ta phải nhắc nhở cô: Đừng nhắc đến hai chữ 'hoành thánh' trước mặt Đại công tử, càng không được làm món đó, đây là đại kỵ của phủ Quận vương." Điều này thực ra Chân Chân đã ý thức được từ sau khi Ân Kỳ phát bệnh, chỉ là mãi không ai giải thích nguyên do cho nàng, mà giờ đây La thị cũng chẳng có ý định giải thích, nói xong liền vội vã đi đến chỗ Ân Kỳ, căn bản không cho nàng cơ hội đặt câu hỏi. Chân Chân hầu hạ Ân Kỳ ăn uống, lại không ngờ rằng, trong việc phân biệt mùi vị tinh tế của thức ăn, hắn lại có thể làm thầy của nàng. Một tối nọ, trong các món ăn mà nhà bếp dâng lên có một món thịt dê nướng, Chân Chân nếm thử xong, lấy riêng một ít ra đĩa bạc dâng cho Ân Kỳ, nhớ tới việc Ân Kỳ sai người đổi muối Ngô chấm cam, bèn múc một ít muối Ngô đặt lên bàn, để hắn dùng nêm nếm. Ân Kỳ thấy vậy, ôn tồn bảo nàng dọn muối Ngô xuống, đổi sang dùng muối xanh Tây Hạ (Tây Hạ thanh diêm). Chân Chân có chút ngạc nhiên, rồi giải thích: "Ta tưởng công t.ử thích muối Ngô hơn." Ân Kỳ nói: "Muối Ngô sắc trắng vị nhạt, thích hợp phối với hoa quả. Còn muối xanh Tây Hạ thuần hậu vị ngọt, càng làm dậy mùi thịt hơn." Chân Chân để ý quan sát, thấy muối Ngô trắng mịn, hạt cực nhỏ, còn muối xanh tinh thể to hơn, màu sắc ánh xanh. Nàng tò mò rắc một ít lên thịt dê đưa vào miệng, muối xanh không tan ngay, chạm vào răng, có thể cảm nhận rõ ràng độ giòn của tinh thể. Khi hạt muối vỡ vụn trong miệng lưỡi, vị mặn lan tỏa cùng mùi thơm của thịt ẩn hiện dưới lớp mỡ béo ngậy hòa quyện vào nhau trong nháy mắt, hương vị nồng nàn mà gần như yêu mị bắt đầu nhảy múa trên đầu lưỡi, quyến rũ khiến nàng nóng lòng muốn thử miếng tiếp theo. Từ nhỏ trong nhà thường dùng muối Ngô, tuy Thu Nương cũng dùng muối hồ Giải, muối Xuyên Thiểm và các loại muối nơi khác, nhưng Chân Chân hầu như chưa từng để ý cách dùng khác nhau của các loại muối, cũng không nhận ra sự khác biệt tinh tế có thể tồn tại trong mùi vị của chúng. Buổi tối Ân Kỳ sai thị nữ lấy ra một bộ bình lưu ly, bên trong đựng các loại tinh thể muối với màu sắc và độ thô mịn khác nhau. "Muối phân theo nguồn gốc, có muối biển, muối hồ, muối giếng, muối vách đá hoặc muối mỏ; phân theo hình dạng, có loại như trân châu, lưu ly, san hô, pha lê, bông tuyết, thạch nhũ, bảo tháp; phân theo màu sắc, có đỏ, tím, xanh, đen, trắng mấy loại; phân theo nơi sản xuất, thì càng nhiều hơn nữa..." Ân Kỳ mỉm cười đề nghị với Chân Chân, "Chi bằng chúng ta chơi một trò chơi: Chúng ta cùng bịt mắt lại, sau đó nếm loại muối thị nữ chọn, xem ai nói đúng tên loại muối đó." Chân Chân vội xua tay lia lịa: "Ta chưa từng phân biệt kỹ càng, đâu dám so với ngài." Ân Kỳ cũng không miễn cưỡng, tính khí rất tốt nói: "Vậy cô bịt mắt ta lại, xem ta phân biệt có đúng không." Chân Chân làm theo lời hắn, dùng khăn lụa bịt mắt Ân Kỳ, sau đó dùng thìa bạc lấy một ít hạt muối màu đỏ óng ánh từ trong một bình lưu ly, đưa cho Ân Kỳ nếm thử. Ân Kỳ rất nhanh đưa ra kết luận: "Không mặn lắm, hạt khá thô, nếm kỹ có chút mùi kim loại nhè nhẹ, đây là muối hồ của Tây An Châu." Dừng một chút, lại bổ sung, "Là màu đỏ phải không?" Chân Chân đáp phải, lại lấy một ít hạt muối trắng tinh long lanh, tinh thể hình chóp nhọn cho hắn nếm tiếp. Một lát sau, Ân Kỳ bình phẩm: "Đây là muối biển, vị thanh khiết dịu nhẹ, còn mang theo chút hương hoa, đây là một loại muối của nước Phất Lâm (Đế quốc Đông La Mã) do thương nhân Đại Thực (Ả Rập) mang tới." Thị nữ vừa lấy bình muối đã lộ nụ cười tán thán. Chân Chân tự lấy một ít nếm kỹ, tuy thấy độ mặn hơi khác, nhưng mùi kim loại nhè nhẹ hay hương hoa gì đó thì chịu c.h.ế.t không nếm ra được. Bèn tỏ vẻ vô cùng khâm phục vị giác nhạy bén của Ân Kỳ, Ân Kỳ tháo khăn lụa bịt mắt xuống, mỉm cười nói: "Ta ít khi ra ngoài, ngày nào cũng rất rảnh rỗi, nên có thời gian lặp đi lặp lại những việc vô vị này... Cô nương sau này nếm nhiều, cũng sẽ nhận ra sự khác biệt trong đó thôi." Sau đó hắn đề nghị Chân Chân bịt khăn lụa: "Khi mắt cô không nhìn thấy, lưỡi sẽ nhạy cảm hơn, dễ dàng nếm ra sự khác biệt nhỏ nhặt của thức ăn hơn." Chân Chân thử một chút, quả nhiên thấy nếm lại hạt muối, có thể nhận ra hương vị phong phú hơn rồi. "Cách này hay thật," Chân Chân cười nói, "Sao Đại công t.ử nghĩ ra được vậy?" Nụ cười của Ân Kỳ dần tắt, lát sau, rủ mắt buồn bã nói: "Là Lưu cô cô dạy ta." Hắn dường như không muốn nhắc nhiều đến Lưu cô cô, không tiếp tục nói chuyện này với Chân Chân nữa. Tuy nhiên trò chơi bịt mắt đoán vị này hắn và Chân Chân sau đó thường xuyên chơi, ngoài muối, còn phân biệt các loại tương, mắm, đường, trà, nếu ai đoán sai sẽ bị bên thắng phạt một hình phạt nho nhỏ, hai người thường chơi đến quên cả trời đất. Một ngày nọ Trần Quốc phu nhân đến thăm Ân Kỳ, vừa vào đến viện đã nghe trong phòng Ân Kỳ tiếng cười nói không ngớt. Bà không đợi thị nữ thông báo liền rảo bước vào trong, đúng lúc thấy Ân Kỳ cười tươi như hoa quay đầu lại, trên khuôn mặt sáng như trăng rằm của hắn chễm chệ hai vệt râu mép vẽ bằng mực, còn Chân Chân đối diện hắn đang giơ bút lên cười nói: "Nét này vẽ chưa đẹp, vẽ lại!" Trần Quốc phu nhân sa sầm mặt: "Thế này là ra thể thống gì!" Ân Kỳ và Chân Chân vội thu lại nụ cười, bước tới hành lễ. Ân Kỳ vái dài chào Trần Quốc phu nhân, không quên nói đỡ cho Chân Chân: "Là con muốn chơi trò đoán trà với Ngô nội nhân. Con uống ít trà, thua cô ấy, hình phạt này cũng là do con nghĩ ra, có chơi có chịu, không phải lỗi của cô ấy." Trần Quốc phu nhân nhìn Chân Chân từ đầu đến chân, cũng không nói gì nhiều. Một lúc sau, bà nắm lấy tay con trai, âu yếm lau lớp mồ hôi mỏng trên trán hắn, dịu dàng nói: "Con thấy vui là được. Chỉ là lát nữa vết mực này phải rửa ngay đi, đừng để lại dấu vết trên mặt." La thị lo Trần Quốc phu nhân vì chuyện này mà không vui, sau đó lại đi giải thích với Trần Quốc phu nhân, nói tuy trò chơi kiểu này không phân tôn ti trật tự, có chút không thỏa đáng, nhưng tâm trạng Đại công t.ử gần đây rất vui vẻ, sắc mặt cũng tốt hơn trước nhiều. Trần Quốc phu nhân trầm ngâm suy nghĩ, rồi nói với La thị: "Ngô Chân Chân này tuy không biết lễ nghĩa lắm, nhưng Đại ca nhi lại khá hợp với nó. Ta thấy dung mạo nó cũng được, chi bằng để Đại ca nhi thu nhận thông phòng đi." La thị cười nói: "Phu nhân suy tính chu toàn. Hiếm có nha đầu nào Đại công t.ử để mắt tới, sớm ngày thu nhận, cũng tốt để sớm khai chi tán diệp cho Đại công tử, để phu nhân bế cháu." Trần Quốc phu nhân cười nhạt. Nghĩ đến hôn sự của Ân Kỳ cao không tới thấp không thông, kéo dài đến nay vẫn xa vời vợi, không khỏi lại nhíu mày, thầm thở dài. La thị được Trần Quốc phu nhân ra lệnh, truyền đạt ý này cho Chân Chân và Ân Kỳ, Chân Chân giật nảy mình, lập tức từ chối khéo. La thị khuyên nàng: "Trong đám quý thích nếu luận về độ thân sơ với thiên gia, địa vị tôn quý, ai có thể sánh bằng Quận vương? Cô gả vào phủ Quận vương là phúc phận tu từ kiếp trước, huống hồ Đại công t.ử luận về nhân phẩm, dung mạo, cũng là nhân tài bậc nhất, sẽ không để cô nương chịu thiệt thòi đâu." Chân Chân viện cớ mình xuất thân thấp hèn, không xứng với Đại công tử. La thị lại nói: "Nói thật, với xuất thân của cô nương, thì không thể làm chính thất của Đại công tử, nhưng cô dù sao cũng là nội nhân từ trong cung ra, làm thiếp của công t.ử là dư sức. Vì Đại công t.ử chưa thành thân, hiện tại tạm thời không tiện cho cô nương danh phận cao, nhưng Trần Quốc phu nhân nói rồi, đợi khi công t.ử cưới vợ, sẽ bẩm báo Quan gia, đến lúc đó xin ngài ban cho cô cái phong hiệu Huyện quân, Quận quân, cũng chẳng phải việc khó gì." Chân Chân bất lực, đành phải lấy cớ nói lúc xuất cung Tôn Tư Thiện bảo cho nàng ra ngoài rèn luyện, biết đâu lúc nào cung Từ Phúc thiếu người, vẫn sẽ triệu nàng về. La thị bèn cười lạnh: "Cô nương lại coi lời đó là thật à. Nội nhân trong cung này ban cho thần liêu, chưa nghe nói có ai được triệu về cả. Đã ban rồi, ý vốn cũng là cho bề ta làm thiếp hầu, làm gì có lý nào lại triệu hồi những thê thiếp này về cung." Chân Chân sững sờ, nghĩ bụng một khi đã xuất cung, trong mắt người trong cung khó đảm bảo sự trong sạch, quả thực khó mà quay về, đây e rằng chính là ý định của Trình Uyên khi đưa nàng vào phủ Quận vương. Trong lòng càng thêm khó chịu, không tranh biện nữa, nhưng mặc cho La thị khuyên giải thế nào cũng chỉ im lặng không nói, nhất quyết không đồng ý. Đợi sau khi La thị đi khỏi, Ân Kỳ bảo những người khác lui ra, ôn tồn hỏi Chân Chân: "Cô không đồng ý, là ghét ta sao?" Chân Chân lắc đầu, buồn bã nói: "Đại công t.ử rất tốt, chỉ là ta có nỗi khổ riêng, lúc này không thể lấy chồng." Ân Kỳ hỏi có nỗi khổ gì, Chân Chân chần chừ nói: "Ta còn phải tìm nương ta." Nàng kể sơ qua với Ân Kỳ chuyện nương mất tích, Ân Kỳ nói: "Tên nương cô, ta cũng chưa từng nghe, nhưng ta có thể giúp cô nghe ngóng." Rồi ngẫm nghĩ, lại mỉm cười nói, "Nhưng chuyện này đâu có cản trở việc cô lấy chồng. Cô gả cho ta, ta nhờ cha nương ta giúp cô tìm cùng, chẳng phải dễ dàng hơn sao?" Chân Chân cứng họng, hồi lâu sau thở dài một tiếng, nói với Ân Kỳ: "Có người từng nói với ta, nếu ta có thể xuất cung, hy vọng Trung thu ta đến tìm người ấy, cùng người ấy ngắm trăng." Ân Kỳ khựng lại: "Cô đồng ý với người ta rồi?" Chân Chân nói: "Chưa nhận lời ngay, nhưng trong lòng ta... trong lòng ta thì..." Ân Kỳ lặng lẽ nhìn nàng chăm chú, không biết nhớ tới chuyện gì, hơi thở dần trở nên dồn dập, ánh mắt cũng bắt đầu tan rã. Chân Chân nhận ra sự khác thường, gọi một tiếng "Đại công tử", Ân Kỳ không đáp, ánh mắt di chuyển trên mặt Chân Chân, nàng lại không dám chắc hắn đang nhìn mình. "Tại sao, các người đều phải xuất cung, đều phải rời bỏ ta?" Ân Kỳ lẩm bẩm. Chân Chân rất sợ hắn lại phát bệnh, dè dặt đưa tay ra nắm lấy tay hắn, muốn cho hắn chút an ủi. Ân Kỳ mạnh mẽ hất tay nàng ra, bỗng nhiên đứng dậy, lồng n.g.ự.c phập phồng, m.á.u nóng dồn lên não, trong đôi mắt nhìn chằm chằm Chân Chân có lửa giận, nhưng cũng ngập tràn một tầng lệ quang: "Tại sao phải ra ngoài? Ngươi không biết bên ngoài rất nguy hiểm sao? Có rất nhiều người muốn hại ngươi, hại ngươi..." Hắn run rẩy, thở hổn hển, một giọt nước mắt lăn xuống từ khóe mắt. Chân Chân lấy khăn tay của mình ra, lại gần hắn, muốn lau cho hắn. Nhưng chiếc khăn tay vải bông vừa chạm vào mặt hắn, hắn lập tức hét lên một tiếng kinh hãi, đẩy mạnh nàng ra, đôi mắt ngay sau đó lại nhìn chằm chằm vào chiếc khăn tay kia, đồng t.ử co rút không tự chủ, chứa đầy sự sợ hãi tột độ. Chương 52 - Vườn Thích An Ân Kỳ run lên bần bật không tự chủ được, c.ắ.n chặt môi dưới, đôi mắt thất thần, bộ dạng như người mất hồn. Chân Chân nhất thời không biết làm thế nào, lại không dám cao giọng gọi người khác đến, sợ làm hắn kinh động. Lặng lẽ đứng chôn chân hồi lâu, thấy Ân Kỳ vẫn bất động, nhưng mồ hôi lạnh rịn ra hai bên thái dương, bèn nhấc bình nước trên bàn trà rót một cốc nước ấm, dùng khăn tay lót dưới đáy cốc thử đưa cho hắn, muốn làm dịu bầu không khí một chút. Nào ngờ một tiếng "Đại công tử" ôn hòa vừa thốt ra, cốc nước kia liền bị hắn vung tay hất bay, hắn lập tức tóm lấy cổ tay phải của nàng, kéo nàng đến trước mặt mình, đôi mắt vằn đỏ b.ắ.n ra tia nhìn sắc bén, đ.â.m thẳng vào nàng: "Ngươi, lại muốn hại ai?" Lúc này giọng nói hắn khàn khàn trầm thấp, khác hẳn với lúc trước như hai người xa lạ, bàn tay bóp cổ tay nàng cũng dần tăng lực, xương cổ tay Chân Chân suýt nữa bị hắn bóp nát. Trạng thái cả người hắn thay đổi đột ngột, vẻ mặt sợ hãi mang vài phần khiếp nhược vừa rồi biến mất không còn tăm tích, ánh mắt nhìn Chân Chân hiện tại lạnh lùng tàn khốc dị thường, trong đó nhảy nhót ngọn lửa giận dữ chực chờ phun trào, dường như coi nàng là con mồi sắp bị xé xác. Và hắn cũng thực sự bắt đầu hành động, trước khi Chân Chân kịp mở miệng kêu cứu đã giơ hai tay lên, bóp chặt lấy cổ nàng. Hắn không ngừng dùng sức, trong cơn mê loạn mất hồn lạc phách muốn bóp nát sự sống của Chân Chân. Chân Chân liều mạng giãy giụa, muốn gỡ đôi tay đang khóa chặt cổ họng mình ra, nhưng đôi tay ấy như gọng kìm sắt siết chặt lấy nàng, nàng dốc hết sức bình sinh vẫn không lay chuyển được chút nào. Chân Chân rũ rượi ngã xuống đất, trước khi mất đi ý thức, bàn tay buông thõng vô lực bỗng chạm phải chiếc chén bị Ân Kỳ hất rơi lúc nãy, linh cơ chợt lóe, nàng dùng hết sức bình sinh duỗi chân, đá đổ chiếc bàn trà nhỏ cách đó không xa, bình nước và chén trà bằng bạc trên đó rơi loảng xoảng, va đập xuống đất tạo ra tiếng động cực lớn. Rất nhanh, đám tỳ nữ và La thị ở gian ngoài nghe thấy tiếng động, lần lượt chạy tới. La thị thấy cảnh tượng này kinh hãi tột độ, lập tức lao tới, giơ tay tát vào má Ân Kỳ một cái, quát: "Ông tổ ta ơi, mau tỉnh lại đi!" Ân Kỳ ngẩn ngơ, dần dần buông lỏng bàn tay đang bóp cổ Chân Chân. Các tỳ nữ vội vàng xúm lại kéo Chân Chân ra khỏi Ân Kỳ. Chân Chân bị bóp cổ đến nỗi trên cổ đầy vết bầm tím, họng sưng đau, khó phát ra tiếng, người cũng mê mê tỉnh tỉnh, nằm liệt giường hai ngày. Ngày thứ ba La thị đến thăm nàng, thấy t.h.ả.m trạng của Chân Chân thì có một tia thương xót, cố ý an ủi, nói với Chân Chân: "Chuyện lần này, mong cô nương lượng thứ, đừng oán hận Đại công tử. Ngài ấy bị bệnh, không biết mình đang làm gì đâu." Chân Chân im lặng, lát sau, cố gắng dùng giọng khàn đặc hỏi La thị: "Cho nên, trong cung đồn đại Đại công t.ử từng g.i.ế.c c.h.ế.t tỳ nữ, là thật phải không?" La thị không trả lời, chỉ thở dài một tiếng thật dài. Chân Chân đỏ hoe mắt, muốn quay mặt vào trong để La thị không nhìn thấy biểu cảm của mình, nhưng cổ vừa động đậy lại đau thấu tim gan, trong lòng càng cảm thấy tủi thân, không kìm được rơi nước mắt. La thị giải thích: "Lần đó, là do vị nội nhân từ Đông cung đến không biết điều kiêng kỵ, làm hoành thánh cho Đại công tử, Đại công t.ử vung tay hất đổ, nước canh b.ắ.n lên người một ít, nội nhân đó rút khăn tay ra lau cho ngài ấy, lại khơi dậy tâm bệnh của ngài ấy, cho nên mới phát điên..." "Tại sao, hoành thánh và khăn tay lại..." Chân Chân truy hỏi. La thị nhìn quanh, thấy trái phải không người, mới hạ thấp giọng kể cho Chân Chân: "Năm xưa Lưu Tư Thiện bỏ trốn với người ấy, sau này bị người của Thái sư bắt được, áp giải về phủ Thái sư. Hôm đó Trần Quốc phu nhân đúng lúc đưa Đại công t.ử về nhà mẹ đẻ, Đại công t.ử nhìn thấy Lưu Tư Thiện, liền chạy tới ôm lấy cô ấy, trong lòng hiểu rõ những người áp giải Lưu Tư Thiện này sẽ hại cho cô ấy, nhất quyết không chịu buông tay, khóc lóc đòi cô ấy về phòng mình, ai định lôi Lưu Tư Thiện đi ngài ấy liền như con thú nhỏ đ.ấ.m đá c.ắ.n xé họ. Những người đó đành phải nể mặt Đại công t.ử và Trần Quốc phu nhân, để ngài ấy đưa Lưu Tư Thiện đi. Đại công t.ử và Lưu Tư Thiện nói chuyện suốt nửa đêm, vẫn luôn giữ cô ấy bên cạnh, muốn bảo vệ cô ấy. Nhưng đến đêm khuya, Đại công t.ử vừa đói vừa buồn ngủ, gà gật mơ màng nói muốn ăn hoành thánh, Lưu Tư Thiện liền đi làm cho ngài ấy, chuyến đi này, liền một đi không trở lại..." Chân Chân đốn ngộ: "Cho nên, Đại công t.ử cảm thấy là lỗi của mình, từ đó sợ nhìn thấy hoành thánh." "Haiz, không chỉ có thế... nghiệp chướng..." La thị thở dài nặng nề, "Đại công t.ử ngủ một lúc tỉnh lại, không thấy Lưu Tư Thiện, liền lén chạy xuống bếp tìm cô ấy, kết quả nhìn thấy..." Bà lắc đầu, cau mày than thở không thôi, tạm thời không nói tiếp. Chân Chân hiểu ra vài phần: "Ngài ấy nhìn thấy Lưu Tư Thiện bị hại?" La thị gật đầu, lát sau bổ sung: "Bị trói trên ghế dài trong bếp, có người dùng khăn bông tẩm nước ướt đẫm từng tờ từng tờ dán lên mặt cô ấy..." Chân Chân rùng mình ớn lạnh, nhíu chặt mày nhắm mắt lại, hai tay ngầm bấu chặt lấy chăn, dường như cảm nhận được sự đau đớn và tuyệt vọng của Lưu Tư Thiện năm xưa. La thị lại nói với Chân Chân: "Lúc đó Đại công t.ử mới sáu tuổi, nhìn thấy chuyện như vậy, sự đả kích lớn đến mức nào có thể tưởng tượng được... Khóc lóc ầm ĩ sốt cao mấy ngày xong, ngài ấy liền mắc cái bệnh cuồng hãnnày, chịu chút kích động là phát điên, khi phát bệnh thì không nhận ra người đâu, không phải cố ý làm hại cô nương, đợi tỉnh lại, nếu biết từng đối xử với cô nương như vậy, còn không biết sẽ đau lòng tự trách thế nào đâu." Chân Chân than: "Ta hiểu mà, sẽ không trách Đại công tử." "Ta biết cô nương thấu tình đạt lý, sẽ không để bụng." La thị nắm lấy một bàn tay Chân Chân, vỗ nhẹ, lại dặn dò, "Có điều những chuyện này, cô nương tự mình biết là được, ngàn vạn lần đừng nhắc với Đại công t.ử hay người khác, nếu không, e sẽ sinh sự." Đêm nay Chân Chân ngủ đến nửa đêm tỉnh dậy, nương theo ánh nến chưa tắt trong phòng, kinh hoàng phát hiện có một người đang ngồi trước giường mình. Chân Chân giật mình kinh hãi, bật dậy ngồi thẳng, người kia thấy nàng tỉnh, lập tức nở nụ cười thuần khiết như trẻ thơ: "Cô cô, người tỉnh rồi?" Trong ánh nến, khuôn mặt Ân Kỳ dịu dàng tú mỹ, ánh mắt chan chứa tình cảm nhìn nàng, hoàn toàn không có chút dấu vết bạo lực nào. Hắn lấy ra một gói điểm tâm bọc giấy dầu, cẩn thận mở ra, như dâng bảo vật đưa đến trước mặt Chân Chân: "Cô cô, người có đói không, con còn một miếng tô nhi ấn này, người nếm thử đi?" Mắt hắn vẫn có chút mờ mịt, như phủ một lớp sương mỏng, nhưng nụ cười ấm áp hắn dành cho Chân Chân, chờ đợi sự phản hồi của nàng, vẻ mặt trẻ con ấy gần như là lấy lòng. Chân Chân nhớ tới chuyện xưa của hắn và Lưu Tư Thiện, nỗi bi thương vô cớ dâng lên trong lòng, hai giọt nước mắt lập tức trào ra. Ân Kỳ sững sờ, buông thõng tay đặt điểm tâm xuống, hỏi Chân Chân: "Cô cô, sao người lại khóc?" Chú ý đến vết bầm tím trên cổ Chân Chân, hắn tỏ vẻ lo lắng, quan tâm hỏi: "Cô cô sao lại bị thương thế này? Ai đ.á.n.h người?" Thấy Chân Chân không đáp, hắn dứt khoát đứng dậy, nói: "Con đi tìm bọn họ." Cũng chẳng biết là đi tìm ai, hắn quay người định đi, Chân Chân vội kéo hắn lại, ôn tồn nói: "Không sao không sao, không ai đ.á.n.h cô cô cả, cô cô chỉ lơ đễnh, làm dính mực vẽ mày lên cổ thôi." Hắn lại ngồi xuống, ngây ngốc nhìn cổ Chân Chân hồi lâu, rồi đưa tay cẩn trọng chạm nhẹ vào một vết thương, hỏi: "Có đau không?" Chân Chân lắc đầu, nhẹ nhàng ôm lấy hắn như ôm một đứa trẻ. Ba mươi nội nhân Thượng Thực Cục mới đến ở lại trong cung trong thời gian này cũng đã có nơi chốn. Hoàng đế không triệu kiến họ, chỉ xem danh sách tên, tùy tiện chọn bốn người giao cho Bùi Thượng Thực quản giáo, sau này phụ trách việc Ngự thiện, số còn lại lệnh cho Thượng Thực Cục tự phân chia cho các Hoàng t.ử và Nương t.ử sai bảo. Bùi Thượng Thực thấy Vân Oanh Ca trù nghệ tinh xảo, bình thường hành xử cũng cẩn trọng dè dặt, liền phái nàng đến Đông cung. Còn nghe nói Phượng Tiên làm d.ư.ợ.c thiện tốt, liền có ý để nàng đến hầu hạ Lệ Quý phi vốn thể hư sức yếu. Khi tuyên bố quyết định này với Phượng Tiên, Bùi Thượng Thực cảm nhận được sự im lặng rõ rệt của Phượng Tiên, không giống các nội nhân khác lập tức tạ ơn, vui vẻ lĩnh mệnh. "Ngươi không muốn đi sao?" Bùi Thượng Thực hỏi thẳng Phượng Tiên. Phượng Tiên vội cúi người hành lễ: "Hầu hạ bất kỳ quý nhân nào cũng là phúc phận to lớn của chúng nô tỳ, Phượng Tiên tự nhiên sẵn lòng. Tạ ơn Thượng Thực ban ân." Bái tạ xong, nàng lại cúi đầu, khẽ bổ sung: "Điều này khi Tần Tư Thiện đến Phổ Giang chọn nội nhân, đã từng nói với chúng con, Phượng Tiên luôn khắc ghi lời dạy của Tần Tư Thiện." Nghe nàng cố ý nhắc đến Tần Tư Thiện, Bùi Thượng Thực nghiêng đầu nhìn Tần Tư Thiện đứng bên cạnh, cau mày. Đợi các nội nhân lui xuống, Tần Tư Thiện lập tức tiến lên, cúi người nói với Bùi Thượng Thực: "Nơi đến của Lăng Phượng Tiên, còn mong Thượng Thực cân nhắc thêm. Nàng ấy và Nhị Đại Vương, dường như có chút duyên phận..." Ngày hôm sau Phượng Tiên nhận được bổ nhiệm mới, chủ nhân nàng sắp phải hầu hạ đổi thành Triệu Ngai. Trong các của Liễu Tiệp dư cũng được phân hai nội nhân Thượng Thực Cục. Nàng ta nhận hai người này, rồi lập tức chọn hai người trong số nội nhân cũ ở bếp nhỏ của mình, bảo họ đến hầu hạ Trình Uyên. Trình Uyên không dám nhận, đích thân đến bái kiến Liễu Tiệp dư, khéo léo từ chối. Liễu Tiệp dư cười nói: "Quan gia ban cho các của ta thêm hai nội nhân, đây là ân trạch thiên gia, ta tự nhiên vui mừng, chỉ là bếp của ta nhỏ hẹp, vốn cũng chẳng cần nhiều người. Gần đây nghe nói tiên sinh mới mua một khu vườn cạnh Khúc Viện ở Tiểu Tân Đê Tây Hồ, chắc hẳn nô tỳ hầu hạ còn thiếu, nên chọn hai người giỏi việc bếp núc trong số người cũ, muốn mời tiên sinh nhận cho. Tiên sinh cứ nhận lấy họ, thêm chút hơi người cho khu vườn mới, thuận tiện, cũng giúp ta bớt đi vài nhân sự." Trình Uyên nói: "Ý tốt của nương tử, thần xin ghi nhận. Nhưng người trong các nương t.ử cũng là nội nhân của thiên gia, sao có thể ban cho hoạn quan dùng riêng. Việc này vạn vạn không thể." Liễu Tiệp dư nói: "Hai người đó không phải nội nhân biên chế, là đầu bếp nữ ta mang vào cung, không có trong sổ sách cung đình, tiên sinh cứ yên tâm." Trình Uyên kiên quyết từ chối không nhận. Liễu Tiệp dư bất đắc dĩ, đành đổi lời: "Xem ra họ vô phúc, đành phải tiếp tục ở lại trong cái bếp nhỏ này của ta thôi. Tuy nhiên chuyện vui tiên sinh tậu nhà, nhất định phải chúc mừng. Đền Hậu Thổ ở Dương Châu có một cây hoa Quỳnh nổi tiếng thiên hạ, sau khi Quốc triều khai quốc, từng di thực đến Biện Kinh, nhưng hoa Quỳnh không hợp thủy thổ, qua một năm là héo, bèn lại chuyển về Dương Châu. Hôm trước ta tình cờ nhắc chuyện này với Quan gia, Quan gia tưởng lầm ta muốn ngắm hoa Quỳnh, bèn lén hạ lệnh, sai người chuyển hoa đến vườn của ta. Ngặt nỗi dù ta chăm sóc thế nào, cây hoa này vẫn không phát triển tốt, mắt thấy sắp khô héo rồi. Ta nghĩ, hoa Quỳnh là vật có tình, nếu gặp người yêu hoa, chắc sẽ sống lại được. Nghe nói Trình tiên sinh xưa nay yêu quý hoa cỏ, trong vườn cây cối xanh tốt, trồng đầy hoa thơm cỏ lạ, chi bằng đưa cây hoa Quỳnh này về đi. Có tiên sinh tận tâm chăm sóc, cây hoa này ắt sẽ khô mộc phùng xuân, bừng bừng sức sống." Lần này Trình Uyên không kiên quyết từ chối nữa, sau một hồi đẩy đưa, ông tạ ơn Liễu Tiệp dư, nhận lấy cây hoa Quỳnh này. Sau khi xuất cung, ông không về ngay cung Từ Phúc, mà ra lệnh cho tiểu hoàng môn đ.á.n.h xe, chạy về hướng Khúc Viện ở Tiểu Tân Đê, dừng lại bên ngoài khu vườn mới "Thích An Viên" của ông, rồi một mình bước vào trong vườn. Khu vườn này diện tích không tính là rộng lớn, nhưng thiết kế tinh xảo, núi đá tú lệ kỳ vĩ, mỗi bước đi là một cảnh đẹp, trong đó lại có lan can đỏ suối ngọc, đê biếc cầu vẽ, hàng trăm cây liễu dung bên bờ, bóng in xuống nước, như trải gấm thêu hoa. Trình Uyên men theo cây cầu nhỏ giữa hồ, đi sang bờ bên kia, đối diện là ngọn núi nhỏ xếp bằng đá Thái Hồ, trên đỉnh núi có một tòa lầu nhỏ tường trắng ngói đen, một góc mái cong vươn ra về phía vầng trăng màu mây nhàn nhạt trên bầu trời xanh thẫm trước hoàng hôn. Chắc là trong lầu ánh sáng đã mờ, có người bên trong thắp nến, trên cửa sổ hắt lên bóng dáng mờ ảo chập chờn của một nữ tử. Trình Uyên chăm chú nhìn cái bóng quen thuộc đó, trong lòng ấm áp, khóe miệng vô thức nở nụ cười dịu dàng. Ông rảo bước nhanh hơn, leo lên từng bậc thang. Chương 53 - Chương 53 Đến trước cửa lầu, Trình Uyên chỉnh lại y phục, dang tay nhìn trái nhìn phải, xác định toàn thân không có vấn đề, mới nhẹ nhàng gõ cửa. Trong các im lặng giây lát. Trình Uyên đứng ngoài cửa cúi người hướng vào trong, từ tốn nói: "Nhiều ngày không gặp, phu nhân vẫn khỏe chứ?" Bên trong cuối cùng cũng có tiếng đáp lại: "Vào đi." Trình Uyên ẩn ý cười, lấy từ trong túi gấm mang theo người ra một chiếc chìa khóa, mở ổ khóa treo trên cửa. Một nữ t.ử vóc dáng thướt tha im lặng ngồi một mình bên cửa sổ, ngắm nhìn vầng trăng lưỡi liềm trắng xóa nơi chân trời, đợi ông đến gần, mới hơi nghiêng đầu về phía ông, dung quang không tì vết sáng trong như trăng, khiến ông lập tức cảm thấy bụi trần thế tục nhiễm phải ban ngày tan biến trong nháy mắt, ý cảnh nhờ đó mà trong trẻo sáng ngời, một luồng nhu tình bất giác lan tràn trong đáy mắt. Ông lại vấn an bà lần nữa, lễ phép gọi bà là "Cúc phu nhân", bà lạnh nhạt quay đầu đi, nhìn về phương xa nói: "Ta là Ngô Thu Nương." Trình Uyên cười một cái, cũng không tranh luận chuyện này, liếc nhìn bát đĩa vẫn đầy ắp thức ăn trên bàn, hỏi Thu Nương: "Những món ăn này, vẫn chưa vừa ý phu nhân sao?" Thu Nương không trả lời. Trình Uyên lại ôn tồn nói: "Đầu bếp nữ trong vườn tay nghề cực tốt, phu nhân muốn ăn gì, cứ bảo người nói với bọn họ, họ sẽ làm đúng giờ." Thu Nương không khỏi cười lạnh, "Ta có thể bảo ai? Nô tỳ trong cái vườn này, không điếc thì câm, lại còn không biết chữ, bình thường ta muốn lấy một vật không thông dụng, đều phải khoa tay múa chân nửa ngày, muốn nhờ họ truyền đạt tâm ý, khó hơn lên trời." Bà quay người đối diện với Trình Uyên, nụ cười lạnh lùng thêm vài phần châm chọc, "Trình tiên sinh có thể yên tâm rồi." Nụ cười của Trình Uyên vẫn vô cùng nho nhã, tư thái khiêm cung không chê vào đâu được: "Phu nhân cần gì, lúc này nói với ta, cũng như nhau cả thôi." "Vậy thì," Thu Nương đưa ra một yêu cầu, "Đừng khóa cửa các, để ta mỗi ngày đi dạo trong vườn, ba bữa một ngày, cũng để ta tự làm." Trình Uyên ôn tồn nói: "Nếu ta không ở đây, phu nhân xuống lầu dạo vườn, nô tỳ trong vườn thô thiển, sợ là hầu hạ không chu đáo, dễ sinh chuyện. Chi bằng đợi hôm khác trời quang mây tạnh, ta đích thân mời phu nhân xuống lầu, cùng phu nhân thưởng hoa. Hơn nữa, phu nhân thân ngọc cành vàng, vốn nên ở nơi lầu quỳnh gác ngọc, nay ở khu vườn nhỏ này, đã là ủy khuất phu nhân rồi, ta sao dám lấy chuyện bếp núc làm phiền phu nhân, để bàn tay ngọc ngà vốn nên gảy đàn thổi sáo của phu nhân phải dính nước xuân lạnh lẽo." Trình Uyên lại hỏi nàng cần ăn uống gì, Thu Nương không trả lời. Trình Uyên đi đến bên cửa sổ, phóng tầm mắt ngắm cảnh vườn, lại nghiêng người hỏi Thu Nương: "Phu nhân xưa nay yêu thích hoa thơm cỏ lạ, nay những thứ trong vườn này, có thứ nào từng lọt vào mắt phu nhân chăng?" Thu Nương vẫn không đáp lời, dứt khoát nhắm mắt lại. "Gần đây, ta mới có được một cây hoa vô cùng có tiếng, là cây hoa Quỳnh mà nhiều năm trước phu nhân từng nhắc tới với Tiên đế." Ông dừng lại một chút, thấy Thu Nương không có ý định mở mắt, lại tiếp tục, "Hoa Quỳnh rời khỏi Dương Châu, cực khó sống sót. May mà những năm nay ta rảnh rỗi liền nghiên cứu làm vườn, cũng có chút thành tựu, chắc lần này có thể trồng sống cây hoa Quỳnh này." Ông chỉ tay vào một chỗ bên hồ trong vườn, mời Thu Nương xem, "Chỗ trồng ta đã định rồi, chính là ở đó." Thu Nương không mở mắt như ý ông, chỉ có khóe môi nhếch lên một độ cong lạnh lẽo thể hiện sự khinh thường của bà. Trình Uyên bất lực, khẽ thở dài, ngâm nga như tự giễu: "Ghét ta cũng chẳng sao, ngay cả hoa quýt trước nhà, cũng không thèm ngắm ư?" Câu nói nhẹ nhàng bâng quơ này lại khiến hàng mi Thu Nương khẽ run, nàng mở mắt ra, ánh mắt nhìn Trình Uyên chứa đựng sự mê mang và một nỗi đau khó nói thành lời. Một lát sau, nàng ngước mắt nhìn ra giữa hồ nước ngoài lầu, mặc cho hồ nước thu bị gió chiều thổi nhăn nheo kia, cuốn nàng vào một giấc mộng cũ. Nàng không biết cha nương mình là ai, từ khi hiểu chuyện đã sống trong Tiên Thiều Viện, được nhiều nhạc kỹ vũ kỹ nhận nuôi. Vì sinh vào mùa thu hoa cúc nở rộ, có người đặt cho nàng cái tên là "Cúc An". Nương nuôi thay đổi quá thường xuyên, nàng không rõ nên theo họ ai, cũng từ chối theo họ bất kỳ ai trong số họ, thế là mọi người đều chỉ gọi tên nàng mà không kèm họ. Những người mẹ nuôi lương thiện nàng gặp không nhiều, phần lớn coi nàng như tỳ nữ sai vặt, một lời không hợp là đ.á.n.h mắng, thi thoảng dạy chút ca múa âm luật, mới dần dần phát hiện nàng có thiên phú kinh người về phương diện này. Nhận thức được ưu điểm này của mình, nàng càng chủ động khổ luyện ca múa, vừa né tránh đòn roi của các mẹ nuôi, vừa âm thầm quan sát học hỏi dáng múa của vũ kỹ đẹp nhất Tiên Thiều bộ, thường xuyên đợi mẹ nuôi ngủ say liền lẻn ra khỏi phòng, một mình múa đi múa lại dưới ánh trăng tĩnh mịch. Cuối cùng có một ngày, khi mẹ nuôi lại giơ gậy lên định đ.á.n.h nàng, nàng giơ tay chặn cây gậy gỗ lại, trừng mắt với mẹ nuôi nói: "Nghe nói Doãn Bộ đầu bị bệnh, ngày mai không thể múa điệu Lương Châu trước mặt Quan gia, Tiên Thiều sứ đang cuống cuồng lên. Hiện giờ cả Tiên Thiều Viện ngoài Doãn Bộ đầu ra chỉ có mình ta biết múa điệu Lương Châu, bà mà đ.á.n.h ta bị thương, e là không dễ ăn nói với Tiên Thiều sứ và Quan gia đâu." Mẹ nuôi sững sờ, cánh tay giơ gậy lập tức mềm nhũn xuống. Ngày hôm sau, với tư cách là người thay thế Doãn Bộ đầu, nàng được Tiên Thiều sứ đưa vào điện Thiên t.ử với tâm trạng được ăn cả ngã về không. Nàng múa dưới ánh nhìn rực lửa của quan khách cả sảnh, tiếng nhạc êm dịu lượn lờ, hoa bay đầy tay áo, múa đến lúc say sưa, nàng cảm thấy tà áo bay bổng, chân tay nhẹ bẫng, khoảnh khắc đó dường như sắp hóa thân thành thần nữ trên bích họa, theo gió bay đi. "Nào, nào, giữ nàng lại." Nàng nghe thấy Quan gia trên ngai vàng cười khẽ. Có vũ công nam tiến lên giữ lấy dải lụa đang bay múa của nàng, nàng dần dần dừng bước nhảy. Quan gia ôn tồn hỏi tên nàng, nàng nói mình tên là "Cúc An", "Họ gì?" Ngài lại hỏi. Nàng lẳng lặng ngước mắt đón nhận ánh nhìn của ngài: "Không họ, cứ gọi là Cúc An." Ngài ngẩn người, rồi nhanh chóng tìm lại nụ cười nhạt ấy, dặn dò tả hữu: "Ban cho Cúc Cơ một bộ áo dệt kim, một hộc ngọc Đông châu, sáu viên mực vẽ mày." Năm ấy, nàng mới mười lăm tuổi. Sau điệu múa thành danh ấy, Quan gia thường triệu nàng đến trước ngự tiền ca múa, ngâm thơ thưởng trăng, cũng thường lệnh cho nàng hầu hạ, nàng nói muốn đọc sách tập viết, ngài thậm chí còn đích thân chỉ điểm. Trong mắt người ngoài, ân sủng nàng nhận được chẳng kém gì Quý phi nương t.ử được Quan gia sủng ái nhất, thế nhưng Quan gia chưa từng triệu hạnh hay lâm hạnh nàng, nàng cứ thế năm này qua năm khác trong sạch bầu bạn bên ngài, múa cho ngài xem, cho đến khi thăng lên làm người đứng đầu Tiên Thiều Viện, Cúc Bộ đầu lừng danh, nàng được người ta tôn xưng là "Cúc phu nhân", cũng vẫn chưa được ngài nạp vào hàng tần ngự. Dù vậy, nàng vẫn không thể tránh khỏi cảm nhận được sự thù địch từ Hoàng hậu, hành vi chịu đủ mọi sự kiềm chế, nếu không có lệnh triệu, không cho phép nàng đến gần điện Phúc Ninh, cầu kiến Quan gia. Không đi thì không đi, đằng nào ngài ấy cũng sẽ đến tìm ta. Cúc An ngửa mặt đón ánh nắng ấm áp đầu xuân, lười biếng rủ xuống hàng mi được dát một lớp vàng ròng ấm áp. Có lẽ vì nể mặt Hoàng hậu, Quan gia đã lâu không đến tìm nàng. Nàng đợi mãi đợi mãi, dần sinh oán hận, khi Quan gia cuối cùng cũng sai Trình Uyên đến tuyên triệu, nàng nói mình cơ thể mệt mỏi, dung sắc kém tươi, không kham nổi việc hầu hạ trước ngự tiền, cự tuyệt không nhận lệnh. Cứ như thế ba lần, Cúc An trước sau không chịu đáp lại lời tuyên triệu của Quan gia, Trình Uyên vô cùng lo lắng nàng chọc giận Quan gia, vắt óc tìm lời lẽ uyển chuyển giải thích thay nàng, nhưng Quan gia lại không để ý, nói với Trình Uyên: "Cúc Cơ vốn khác với người thường, dù có mặt lạnh hướng lên trời, cũng khiến người ta thương, hà tất bắt nàng ngày ngày phải cười vui theo đám đông." Dứt lời, ngài nhìn ra ngoài rèm, chỉ thấy trong sân hoa nở như gấm, cảnh tượng tươi đẹp, bèn cười, sai Trình Uyên lấy bút mực, trên một tờ giấy hoa tiên Bích Vân Xuân Thụ viết vài chữ ngắn gọn, gấp kỹ lại, và đính kèm một cành hoa anh đào, sai Trình Uyên đưa cho Cúc Cơ. Cúc An mở bức thư hoa, thầm đọc những chữ trên đó trong lòng: "Ghét ta cũng chẳng sao, ngay cả hoa quýt trước nhà, cũng không thèm ngắm ư?" Ánh mắt nàng lướt đi lướt lại trên tờ thư hoa, v**t v* dịu dàng, nhất thời tâm tình hoảng hốt, trong lòng ấm áp, mất đi sức mạnh để cự tuyệt. Khi Trình Uyên mời nàng đến điện Phúc Ninh lần nữa, nàng không từ chối. Trong điện Phúc Ninh, Quan gia mỉm cười gọi nàng lại gần, cho lui hết nội thị, cùng nàng ngồi riêng dưới mái hiên ngắm hoa, kể cho nàng nghe điển cố trong đó: "Hôm trước ta triệu kiến sứ thần từ Nhật Bản đến, bàn về thơ ca hai nước, hắn dâng lên mấy quyển tập thơ, nói là kinh điển trong nước họ. Ta mở ra xem, chợt thấy một câu trong đó thanh lệ đáng yêu, hôm nay lại hợp với tình cảnh này, bèn viết lên thư, cùng nàng thưởng thức." Nói đến đây, ngài lại đứng dậy, bảo, "Mấy quyển thơ đó vẫn còn trong điện của ta, ta đi lấy cho nàng xem." Ngài vừa quay người, Cúc An liền đứng dậy theo, từ phía sau ôm lấy eo ngài, áp một bên má vào lưng ngài, giọng nói yếu ớt gần như nức nở: "Giữ thiếp lại, bên cạnh ngài." Nàng cảm thấy thân thể ngài bỗng nhiên cứng đờ, nhưng ngài rất nhanh hồi thần, gỡ đôi tay nàng khỏi eo mình, chuyển sang nắm lấy tay phải của nàng, dịu dàng nói: "Chữ Sâu kim (Thư pháp Tống Huy Tông) của nàng luyện thế nào rồi? Nào, viết cho ta xem." Chương 54 - Chương 54 Kể từ đó Quan gia vẫn thường xuyên triệu kiến Cúc An, họ hoặc múa bút mực thư pháp, hoặc cạn chén ngâm nga, hay đơn giản chỉ là vai kề vai ngồi dưới mái hiên, im lặng ngắm hoa nở hoa tàn, chẳng nói một lời, bình yên lắng nghe thời gian theo tiếng gió khẽ khàng trôi qua. Nàng luôn tìm cách kéo dài thời gian bên ngài hết mức có thể, nhưng ngài vẫn giữ nguyên tắc của mình, cứ đến hoàng hôn là sai người đưa nàng về, chưa từng cho phép nàng ở lại. Những ngày tháng này so với cuộc đời trước khi gặp ngài đã đủ tốt đẹp, nhưng nàng vẫn lo được lo mất, trong lòng ẩn chứa nỗi bất an. Với nàng, ngài là tia sáng đầu tiên chiếu rọi vào mười lăm năm cuộc đời tăm tối, nàng vừa kinh ngạc vừa vui sướng đắm mình trong sự che chở dịu dàng của ngài, nhưng khi vươn tay ra lại chẳng thể nắm bắt được. Rời xa ngài, tâm trạng nàng cũng theo màn đêm dần buông mà chìm vào bóng tối vô tận, nàng mong chờ cuộc gặp gỡ tiếp theo với ngài, như mong chờ ánh bình minh. Ngài có không ít sủng phi, như Đại Lưu Quý phi, Tiểu Lý Tiệp dư, đều có thể ngày đêm bầu bạn bên cạnh. Nàng tự thấy phẩm hạnh dung mạo tài nghệ đều không thua kém hai người kia, vậy cớ sao người thêm hương lúc đêm thâu, lại không thể thêm một mình nàng? Một hôm nàng lại được triệu vào điện Phúc Ninh, nàng múa bút viết chữ Sâu kim, Quan gia đứng bên cạnh, thi thoảng bình phẩm đôi câu. Một lát sau Hoàng hậu bước vào, thấy nét chữ dưới ngòi bút nàng, thoáng sững sờ, nhưng rất nhanh lấy lại tinh thần, nhún mình hành lễ với Quan gia. Quan gia hàn huyên với Hoàng hậu vài câu, rồi mời bà ngồi xuống xem, bản thân vẫn tiếp tục chỉ điểm Cúc An luyện chữ. Hoàng hậu im lặng nhìn hồi lâu, rồi mỉm cười nói: "Thiếp đã bảo mà, Cúc Bộ đầu xưa nay hiếu học, đặc biệt thích nghiên cứu bút mực, Quan gia yêu tài, cũng vui lòng chỉ điểm. Đây vốn là giai thoại đẹp, ngặt nỗi trong cung có mấy kẻ rỗi hơi, cứ thế mà đặt điều, nói Cúc Bộ đầu thường xuyên đến điện Phúc Ninh, là muốn dùng sắc đẹp mê hoặc chủ thượng, chen chân vào hàng tần ngự. Lần sau nếu thiếp còn nghe thấy những lời đồn đại này, nhất định sẽ nghiêm trị kẻ tung tin, trả lại sự trong sạch cho Cúc Bộ đầu." Quan gia nghe xong nói: "Cũng chẳng cần to chuyện làm gì. Tin đồn vô căn cứ, cứ coi như gió thoảng qua tai, nghe rồi bỏ đó là được." Cúc An dừng bút, ánh mắt lướt qua Hoàng hậu vẫn đang mỉm cười, nhàn nhạt nói: "Nếu không phải tin đồn thì sao?" Nụ cười trên môi Hoàng hậu cứng đờ, hồi lâu không nói nên lời, sau đó đứng dậy cáo từ, lấy cớ có hẹn dạo vườn với Quý phi, vội vã rời khỏi điện Phúc Ninh. Đợi bóng dáng Hoàng hậu khuất hẳn, Quan gia thở dài với Cúc An: "Hà tất phải thế, nàng ấy là chủ hậu cung, nàng đắc tội với nàng ấy, ngày sau e là sẽ khó sống." Cúc An đáp: "Thiếp không quan tâm... ngài sẽ bảo vệ thiếp." Quan gia cười cười, ôm nhẹ vai nàng. Cúc An thuận thế vòng tay ôm eo ngài, ngẩng đầu tha thiết nhìn ngài, thốt lên câu hỏi đã day dứt trong lòng bấy lâu: "Tại sao không cho thiếp làm nương t.ử của ngài?" Quan gia nắm lấy đôi tay nàng, đẩy nàng ra một khoảng cách bằng một cánh tay, rồi mỉm cười với nàng, dịu dàng nói một câu: "Ta coi nàng, như em gái." "Cúc phu nhân..." Chợt nghe có người gọi, Thu Nương bừng tỉnh, lúc này mới cảm thấy gò má lạnh buốt, đưa tay chạm vào, phát hiện đó có vết nước mắt đã rơi từ bao giờ. Nàng lau nước mắt, nghiêng đầu nhìn Trình Uyên đang gọi mình, lại khôi phục vẻ mặt lạnh lùng như trước. Nàng kìm nén cảm xúc, cố gắng dùng giọng điệu bình thản nói với Trình Uyên: "Sự quan tâm của Trình tiên sinh dành cho ta bao năm nay, ta xin ghi lòng tạc dạ. Nay Tiên đế đã băng hà nhiều năm, ta đối với Thái hậu mà nói, chẳng qua chỉ là một con hát không đáng nhắc tới, nếu tiên sinh không nhắc, e là bà ấy cũng chẳng nhớ ra, tiên sinh hà tất giam giữ ta ở chốn này, lãng phí biết bao gấm vóc ngọc ngà. Nếu tiên sinh khai ân, cho phép ta về quê, ta nguyện một đời cảm niệm ân đức tiên sinh, ngày ngày cầu phúc cho tiên sinh đến hết cuộc đời." "Chỉ ở chỗ ta ngài mới an toàn." Trình Uyên nở nụ cười trấn an, khẽ nói, "Phu nhân tự mình cũng biết, ngài trong mắt Thái hậu khác với những người khác. Sau khi Tiên đế băng hà, Thái hậu lập tức sai người đưa các tần ngự xuất cung, bắt họ xuất gia sống nốt phần đời còn lại, duy chỉ có ngài và Lưu Tư Thiện là bà ấy không thể buông bỏ, nói các nàng đã là cung nhân được Tiên đế trân quý nhất, chắc hẳn Tiên đế cũng không nỡ bỏ lại các nàng, để các nàng lẻ loi chốn hồng trần, cho nên hạ lệnh truy bắt các nàng... Lệnh này, đến nay vẫn còn hiệu lực. Những năm qua phu nhân trút bỏ phấn son, áo vải trâm gai ẩn cư nơi thôn dã, tuy có thể tránh được nhất thời, nhưng Ngô Chân Chân tuổi tác dần lớn, hành sự lại ngông cuồng, việc lộ hành tung của phu nhân chỉ là chuyện sớm muộn. Cho nên ta mạo muội mời phu nhân lánh nạn nơi này, phu nhân hãy yên tâm ở lại dài lâu, cái ăn cái mặc, tuyệt đối sẽ không kém lúc Tiên đế còn tại thế, và ta cũng sẽ dốc hết sức mình, đảm bảo phu nhân một đời bình an." "Chân Chân..." Nghe ông ta nhắc đến tên con gái, trong mắt Thu Nương lại phủ một tầng sương mờ, trầm ngâm giây lát, nàng quay người vái chào Trình Uyên, nói: "Tiên sinh đưa ta đến kinh thành, mà không giao nộp ta cho Thái hậu, chắc hẳn đối với ta cũng có vài phần thương xót, ta vô cùng cảm kích. Còn mong tiên sinh rủ lòng thương, cho phép ta về nhà, ta sẽ đưa con gái rời khỏi Phố Giang, tìm nơi thâm sơn cùng cốc ẩn danh mai danh mà sống." Trình Uyên bước lại gần nàng hai bước, dùng giọng nói thấp gần như thì thầm nói với nàng: "Muộn rồi. Ngô Chân Chân vì tìm ngài đã đến Lâm An, vào Thượng Thực Cục làm nội nhân..." Thu Nương nghe vậy mở to mắt nhìn ông ta, hơi thở dần trở nên dồn dập. "Càng không may là..." Ánh mắt Trình Uyên nhìn Thu Nương dường như chứa sự thương hại, nhưng khóe môi lại nhếch lên nụ cười lạnh nhạt, "Hiện giờ, chắc nó đã biết sự tồn tại của Lưu Tư Thiện rồi." Thu Nương nén giận nhìn ông ta, lồng n.g.ự.c phập phồng, một bàn tay run rẩy s* s**ng trên bàn bên cạnh, vớ được một chiếc lư hương sứ xanh, lập tức chộp lấy, ném thẳng vào mặt Trình Uyên. Trình Uyên nghiêng người tránh, lư hương đập vào vai phải ông ta, rồi rơi xuống đất, phát ra tiếng vỡ chói tai, tro hương bên trong văng ra phủ đầy nửa người Trình Uyên. Trình Uyên cũng không giận, phủi bụi tro trên người, lùi ra cửa, vẫn giữ lễ nghi vái dài từ biệt, rồi mới quay người rời đi. Dưới sự chăm sóc tận tình của Chân Chân và mọi người, Ân Kỳ dần hồi phục trạng thái bình thường, chỉ là đối với Chân Chân càng thêm quyến luyến, muốn nàng cả ngày túc trực bên cạnh. Trần Quốc phu nhân thấy vậy lại nhắc chuyện nạp thiếp, khuyên bảo Chân Chân mấy lần, Chân Chân vẫn không đồng ý. Trần Quốc phu nhân bất lực, hậm hực bỏ đi, nhưng không quên dặn dò nhũ mẫu của Ân Kỳ và đám nô tỳ, nhất định phải canh chừng Chân Chân thật kỹ, không cho nàng bước ra khỏi phủ Quận vương nửa bước. Chẳng bao lâu sau Chân Chân nghe được phong thanh, Trần Quốc phu nhân đã ngầm cho người chuẩn bị việc nạp thiếp, nói với Quận vương rằng, cùng lắm thì bẩm báo Thái hậu, xin Thái hậu đích thân cho phép Ân Kỳ nạp Chân Chân làm thiếp, như vậy, Chân Chân cũng không thể từ chối. Chân Chân thấy tình thế bắt buộc, không khỏi lo lắng như lửa đốt, đã từng nghĩ đến việc trốn khỏi phủ Quận vương, nhưng hiện giờ canh phòng bốn phía nghiêm ngặt, nàng rốt cuộc không thể thoát thân. Một hôm, bỗng nghe người hầu bẩm báo, Nhị Đại Vương đích thân đến phủ Quận vương thăm Đại công tử. Ân Kỳ dẫn Chân Chân ra cửa chính đón tiếp, quả nhiên thấy Triệu Ngai xuống ngựa đi vào, phía sau có vài nội nhân đi theo, lại có mấy nội thị khiêng một chiếc rương gỗ lớn, ước chừng là quà tặng cho Ân Kỳ. Triệu Ngai nhìn thấy Chân Chân sau lưng Ân Kỳ, ý cười hiện lên trong đáy mắt, nhưng trước tiên vẫn chào hỏi Ân Kỳ theo lễ, hai người hàn huyên sánh vai đi vào, tạm thời chưa nói gì với Chân Chân. Chân Chân đi theo họ vào trong, bỗng có một nội nhân do Triệu Ngai dẫn theo rảo bước đuổi kịp, đến gần Chân Chân, khẽ gọi tên nàng. Chân Chân quay đầu nhìn, vui mừng khôn xiết khi phát hiện nội nhân đó chính là Phượng Tiên. Vào đến sảnh đường, Triệu Ngai sai người lấy quà từ trong rương gỗ ra, hóa ra là một bàn cờ búng (đàn kỳ) được chế tác từ ngọc thạch. Bàn cờ búng thông thường hình vuông, ở giữa nhô cao như bụng ếch, bốn phía bằng phẳng như đe đá, còn cái này hình chữ nhật, ở giữa ngọc thạch điêu khắc thành núi non sông suối, có khe rãnh hẳn hoi, quân cờ tròn bằng gỗ, hai màu đen trắng, bốn góc bàn cờ có lỗ hổng, hai bên chơi dùng khăn búng quân cờ, quân cờ có thể men theo khe rãnh lăn vào lỗ. Ân Kỳ khen bàn cờ này vô cùng tinh xảo, khí tượng núi non hùng vĩ bất phàm. Triệu Ngai cười nói: "Người trong nước phần nhiều không thích cờ búng, thấy đơn giản vô vị. Ta bèn cho người sửa đổi hình dáng bàn cờ, dáng vẻ bây giờ đẹp hơn, hơn nữa chơi cũng khó hơn loại thường. Ngươi ở nhà nhiều, có thể dùng cái này tiêu khiển." Ân Kỳ cảm tạ Triệu Ngai, hai người liền hứng chí bừng bừng bày quân cờ, mỗi người cầm một chiếc khăn, thay phiên nhau búng quân cờ của mình va vào quân cờ đối phương, để quân cờ đối phương lăn vào lỗ. Chơi được một lúc, Triệu Ngai dừng lại, nói với Ân Kỳ: "Cứ chơi thế này hơi chán, chi bằng đặt chút tiền cược." Ân Kỳ đồng ý. Triệu Ngai lập tức sai tùy tùng lấy ra một số châu báu, đặt giữa sảnh. Ân Kỳ thấy thế chỉ vào hòn non bộ bằng san hô cắm trong bình vàng bày trong sảnh, nói: "Nếu ta thua, đồ vật trong sảnh này, Đại vương ưng cái nào cứ việc lấy." Hai người tiếp tục đấu. Kỹ nghệ của Ân Kỳ rõ ràng không thuần thục bằng Triệu Ngai, rất nhanh thua ván đầu. Triệu Ngai chỉ vào cây san hô đỏ thắm trong sảnh, nói: "Lấy cái này được không?" Ân Kỳ mắt cũng chẳng thèm chớp, sai người mau chóng lấy san hô đựng vào hộp gấm giao cho nội thị của Triệu Ngai, rồi giục Triệu Ngai chơi tiếp ván thứ hai. Ván thứ hai Ân Kỳ vẫn thua, lại chẳng thèm nhìn để mặc Triệu Ngai chọn một hòn non bộ trầm hương. Ván thứ ba Ân Kỳ xốc lại tinh thần, đấu với Triệu Ngai rất hăng, kiên trì đến phút cuối cùng, quân cờ duy nhất còn lại đứng trơ trọi trên đỉnh núi, Triệu Ngai mỉm cười, búng chiếc khăn nhanh như chớp vào một quân đen của mình, quân cờ bật ra, bay về phía đỉnh núi va vào quân cờ của Ân Kỳ, quân cờ kia rơi xuống, men theo khe rãnh lăn vào lỗ. "Xin lỗi nhé, ván này, vẫn là ta thắng." Triệu Ngai mỉm cười nói với Ân Kỳ. Ân Kỳ ra hiệu cho hắn lấy thêm phần thưởng, Triệu Ngai từ từ đưa mắt nhìn quanh những người trong sảnh, cuối cùng ánh mắt dừng lại trên người Chân Chân. "Cho ta cô thị nữ này." Hắn đưa ra yêu cầu, hàm ý mệnh lệnh. Lần này Ân Kỳ ngẩng đầu lên, nghiêm túc nhìn Chân Chân và Triệu Ngai, rất nhanh từ chối: "Không được." Triệu Ngai cười nói: "Ta là Nhị Đại Vương, ngươi không nên tuân mệnh ta sao?" Ân Kỳ bình tĩnh đáp: "Ta là biểu thúc của Nhị Đại Vương, Đại vương chắc chắn sẽ không đoạt người mà bậc tôn trưởng yêu thích." Triệu Ngai cười lớn, không tiện tiếp tục kiên trì chuyện này, cũng không nhắc đến phần thưởng nữa, chỉ mời Ân Kỳ chơi thêm một ván. Lát sau, Chân Chân thấy hai người chơi say sưa không rảnh quan tâm chuyện khác, bèn nhẹ nhàng kéo tay áo Phượng Tiên, ra hiệu cho nàng đi theo mình ra ngoài. Chân Chân đưa Phượng Tiên về phòng mình, hai người mới ôm chầm lấy nhau, vừa khóc vừa cười bày tỏ niềm vui hội ngộ. Nói về tình hình gần đây của nhau, Phượng Tiên kể sơ qua chuyện mình được phân công hầu hạ Nhị Đại Vương, rồi gặng hỏi tình cảnh hiện tại của Chân Chân, Chân Chân bèn kể lại phần lớn chuyện xảy ra sau khi vào phủ Quận vương, bao gồm bệnh tình của Ân Kỳ và chuyện Trần Quốc phu nhân đề nghị nạp thiếp, chỉ giấu chuyện về Lưu Tư Thiện không nói. Không phải cố ý giấu giếm, mà cảm thấy chuyện này tàn khốc lại phức tạp, không muốn nhắc tới lúc này. Phượng Tiên nghe xong hỏi Chân Chân: "Vậy muội định ở lại đây gả cho người bệnh đó thật sao?" Chân Chân lắc đầu: "Ân Đại công t.ử là người tốt, nhưng muội không có tình cảm nam nữ với ngài ấy, tâm nguyện tìm nương chưa thành, muội sẽ không lấy chồng." Phượng Tiên nói: "Nhị Đại Vương cũng có nghe phong thanh chuyện này, cho nên hôm nay đưa tỷ đến xem sao. Nay xem ra, Ân Kỳ khá chấp niệm với muội, e là sẽ không dễ dàng buông tay, chúng ta chỉ có thể tìm cách để muội thoát thân." Chân Chân than thở: "Trần Quốc phu nhân cho người giám sát hành tung của muội, muốn trốn ra ngoài không dễ. Huống hồ Ân Đại công t.ử đối xử với muội rất tốt, không từ mà biệt cũng không phải đạo." Phượng Tiên cau mày nói: "Chuyện quan trọng cả đời, không thể vì mềm lòng nhất thời mà để muội chôn vùi nửa đời người ở đây." Nàng chậm rãi đi lại trong phòng. Suy tư hồi lâu, lại hỏi Chân Chân: "Lúc nãy muội nói Ân Kỳ không thể nhìn thấy hoành thánh, nếu không sẽ phát điên?" Chân Chân đáp phải. Phượng Tiên lại hỏi: "Chuyện này người trong cung có biết không?" Chân Chân nói: "Nghe nhũ mẫu Ân Kỳ nói, đây là bí mật được giữ kín của phủ Quận vương, chưa từng tiết lộ với người ngoài." "Vậy thì tốt..." Phượng Tiên trầm ngâm, rồi như đã hạ quyết tâm, nói với Chân Chân, "Năm ngày nữa là sinh nhật Thái tử, Đông cung nhất định sẽ mời Ân Kỳ tham dự tiệc sinh nhật. Muội nhất định phải khuyên Ân Kỳ đi dự tiệc, và mang muội theo. Trong tiệc muội hãy để ý nhất cử nhất động của Ân Kỳ, đừng để ngài ấy làm muội bị thương. Những việc còn lại, để tỷ lo liệu." Chương 55 - Cò Trắng Phượng Tiên không nói rõ kế hoạch của nàng, trước khi đi vẫn không quên dặn đi dặn lại, bảo Chân Chân nhất định phải giữ bí mật, không được tiết lộ nửa chữ với bất kỳ ai trong phủ Quận vương, nghiêm túc cảnh cáo Chân Chân: "Nếu muốn sớm thoát khỏi phủ Quận vương, đây là cơ hội tốt nhất, e rằng cũng là cơ hội duy nhất. Muội cứ giả vờ như chưa từng nghe tỷ nói những lời này, mọi việc đợi đến hôm tiệc Đông cung tùy cơ ứng biến. Nhưng nếu mấy ngày này muội nhắc chuyện này với người khác, ắt sẽ sôi hỏng bỏng không, đến lúc đó muội đành phải sống cả đời với người bệnh mà muội không thích." Dừng một chút, lại nói, "Khi hầu tiệc, muội đừng đứng quá gần Ân Kỳ, nhưng cũng đừng quá xa, chú ý bảo vệ bản thân." Với trí thông minh của Chân Chân, nhớ lại những lời trước sau của Phượng Tiên không khó đoán ra việc nàng định mưu tính: Hoành thánh sẽ k*ch th*ch Ân Kỳ phát bệnh, Phượng Tiên có lẽ sẽ liên hệ với Vân Oanh Ca hiện đang làm việc ở Đông cung, thêm món hoành thánh vào thực đơn yến tiệc, đợi Ân Kỳ vì thế mà phát bệnh, làm loạn lên, gây nguy hiểm cho mình đang hầu hạ bên cạnh, Phượng Tiên sẽ nhờ Nhị Đại Vương nói đỡ với Thái tử, xin Thái t.ử ra mặt giải cứu. Kế này chắc chắn khả thi, bởi Thái t.ử tấm lòng nhân hậu, trước đây từng giúp Chân Chân, hẳn là có ấn tượng với nàng, hơn nữa trước đây người mà Ân Kỳ ngộ sát chính là cung nhân do Đông cung ban tặng, Thái t.ử chắc chắn sẽ không để bi kịch tương tự tái diễn. Tuy nhiên nếu làm theo kế này, Chân Chân lại cảm thấy có lỗi với Ân Kỳ. Từ lần phát bệnh trước đến nay, Trần Quốc phu nhân lại mời danh y chẩn trị cho hắn, mỗi ngày hắn phải uống rất nhiều thuốc, uống đến buồn nôn, thường nôn thốc nôn tháo cả nước t.h.u.ố.c lẫn thức ăn vừa ăn vào, nay sắc mặt tiều tụy, người cũng gầy rộc đi, nếu lại k*ch th*ch hắn phát bệnh, chẳng khác nào tra tấn hắn gấp đôi cả về thể xác lẫn tinh thần, liệu có thể hồi phục như lần này hay không cũng khó nói. Lời mời của Đông cung quả nhiên đến đúng hẹn, mời huynh đệ Ân Kỳ cùng cha nương đến dự tiệc. Trần Quốc phu nhân hỏi ý kiến Ân Kỳ, hắn mỉm cười nói: "Được ạ, hai hôm nay con thấy tinh thần sảng khoái, cũng đang muốn ra ngoài đi dạo." Đợi sau khi Trần Quốc phu nhân đi khỏi, hắn đón lấy bát t.h.u.ố.c Chân Chân dâng lên, uống một hơi cạn sạch, sau đó nôn khan mấy cái, nước mắt trào ra, nhưng hắn lấy tay áo che miệng, cuối cùng kìm nén được, không để t.h.u.ố.c trào ra. Chân Chân vuốt lưng cho hắn, lại quạt mát cho hắn, khuyên nhủ: "Nếu khó uống thì chia làm mấy ngụm nuốt từ từ, không cần uống gấp như vậy." Ân Kỳ lắc đầu, nói: "Ta muốn mau chóng khỏe lại..." Lát sau mỉm cười thì thầm với Chân Chân: "Cô theo ta đến Đông cung, chắc sẽ gặp được nhiều bạn bè quen biết cũ ở Thượng Thực Cục. Cô đến phủ Quận vương đã lâu, lại không được ra ngoài, chắc buồn chán lắm, nhân cơ hội này đi giải khuây một chút." Chân Chân sững sờ, lúc này mới nhận ra hắn khác thường tích cực uống t.h.u.ố.c như vậy là muốn điều dưỡng tốt trạng thái, tránh vì bệnh mà vắng mặt trong buổi tiệc, khiến nàng mất đi cơ hội gặp gỡ bạn cũ. "Lần trước ta bị bệnh, dọa cô sợ rồi phải không?" Ân Kỳ nhìn Chân Chân đang ngẩn ngơ, bỗng hỏi. Chân Chân bất giác lại mở to mắt: "Ngài biết..." "Khi ta phát bệnh, ta không biết mình đang làm gì," Ân Kỳ rủ mắt xuống, buồn bã nói, "Hôm kia ta ngủ trưa vô tình nghe thấy thị nữ hầu hạ trong phòng bàn tán, mới biết ta suýt chút nữa làm cô bị thương." Nói xong hắn đứng dậy, dắt tay Chân Chân đi vào nội thất, "Ta có món đồ muốn tặng cô." Hắn cho lui hết thị nữ, đợi trong phòng chỉ còn hắn và Chân Chân mới mở tủ, lấy từ trong một chiếc rương khóa kỹ ra một cây trâm ngọc đưa cho Chân Chân xem. Chân Chân ngắm nghía, thấy cây trâm trắng muốt bóng loáng, đầu trâm hình vân mây, đường nét mềm mại tinh tế, nhưng điểm khác biệt là, đuôi trâm được mài vô cùng sắc nhọn, như một món vũ khí sắc bén đủ để làm người ta bị thương. "Trong phòng ta không có bất kỳ vật sắc nhọn nào, nhưng bọn họ không biết, ta đã lén mài cái này." Ân Kỳ cười tinh nghịch như đứa trẻ bày trò trêu chọc sau lưng cha nương, "Giờ tặng cho cô." Chân Chân nói trâm ngọc quý giá, muốn từ chối không nhận, Ân Kỳ không nói không rằng cầm lấy tay nàng, nhét cây trâm vào lòng bàn tay nàng: "Cô cứ nhận lấy, sau này cài lên tóc. Nếu ta lại phát bệnh, cô cứ rút trâm ra đ.â.m ta." Lúc này đôi mắt hắn trong veo như trẻ thơ, tha thiết nhìn nàng, một lòng mong đợi nàng nhận lấy món quà có thể làm tổn thương hắn trong tương lai này. Vô cớ cảm thấy sống mũi cay cay, Chân Chân lắc đầu, đưa cây trâm trả lại cho Ân Kỳ: "Ngài chịu khó uống t.h.u.ố.c điều dưỡng, sẽ không có chuyện gì nữa đâu, cây trâm này ta không dùng đến." Ân Kỳ nhận lấy trâm, rồi nhẹ nhàng cài lên búi tóc Chân Chân, ôn tồn nói: "Dùng cho tốt. Nếu cô bị ta làm ngộ thương, biết đâu ta còn đau hơn bị trâm đâm." Cứ như vậy, Chân Chân càng cảm thấy tiến thoái lưỡng nan. Hiểu rõ lời Phượng Tiên nói, tiệc sinh nhật Thái t.ử là cơ hội tốt để thoát khỏi phủ Quận vương, nhưng vì thế mà làm tổn thương Ân Kỳ tuyệt đối không phải điều nàng muốn. Nghĩ đến thiện ý Ân Kỳ dành cho mình, nàng gần như đã từ bỏ ý định thoát thân, mượn cớ muốn khuyên Ân Kỳ không đến Đông cung dự tiệc, nhưng Ân Kỳ lại nói: "Cha đã hồi đáp Đông cung là ta sẽ đến dự, nhất thời từ chối là đại bất kính... Huống hồ, lâu rồi không gặp Thái tử, ta cũng muốn tụ tập với anh em họ một chút." Thế là Chân Chân hết đường xoay xở, nhất thời không nghĩ ra cách nào để hắn tránh được tổn thương có thể xảy ra. Hôm sau Chân Chân cùng Ân Kỳ đi dạo trong vườn, lúc đó ý thu đang nồng, ngoài núi giả bên hồ mấy tầng phong, thích, hoàng lô lá đỏ như lửa, nhuộm bóng nước trong veo thành màu ráng chiều. Gió thu làm lá rụng xào xạc bay tới, con đường mòn vốn xanh um giờ đã đầy hoa vàng lá úa. Hai người đang đi, bỗng nghe sau tảng đá bên cạnh có vật gì rơi xuống, rơi trên đống lá khô, phát ra tiếng sột soạt kéo dài. Chân Chân đưa Ân Kỳ vòng ra sau tảng đá, phát hiện một con cò trắng đang vỗ cánh giãy giụa trên mặt đất, toàn thân nó trắng muốt, cổ, mỏ, chân đều dài, dáng vẻ cực kỳ ưu nhã, tuy nhiên chân dường như bị thương, rỉ ra một vệt m.á.u đỏ tươi. Chân Chân tiến lên kiểm tra, nói với Ân Kỳ: "Trông như bị tên b.ắ.n sượt qua. Chắc là sau khi trúng tên nó cố bay thêm một đoạn, kiệt sức mới rơi xuống đây." Ân Kỳ xem kỹ vết thương của cò trắng, nói: "May mà không nặng." Rồi nhờ Chân Chân lấy khăn tay ra, hắn đón lấy tự mình băng bó cho cò trắng, rồi đặt nó xuống đất. Cò trắng đi khập khiễng được hai bước, vẫn không đủ sức, lại ngã xuống đất. Ân Kỳ bèn v**t v* lông nó nói: "Đến đây là khách, mày cứ yên tâm ở nhà tao dưỡng thương cho khỏe rồi hãy đi." Ân Kỳ vốn định giao cò trắng cho đầu bếp nữ nuôi gia cầm, Chân Chân liên tưởng đến hạc trắng trong vườn Lâm Hoằng, tỏ ý không ổn, loài chim quý thế này không thể ở chung với gà vịt. Hai người bèn tỉ mỉ chọn một bãi đất trống có núi đá che chắn bên hồ, bế cò trắng đến đó nghỉ ngơi, lại xuống bếp lấy ít ngũ cốc cho ăn. Chân Chân nhìn quanh, lại nói: "Còn phải vây cho nó một hàng rào, kẻo nó vỗ cánh chạy lung tung, hoặc bị con vật nhỏ khác quấy nhiễu." Nàng nhanh chóng mượn dụng cụ của người làm vườn, tự chặt ít trúc dựng xong hàng rào nơi cò trắng trú ngụ, kiểm tra kỹ càng thấy không có sơ hở gì mới cùng Ân Kỳ rời đi. Nào ngờ đêm đó một trận mưa bão ập đến, Chân Chân ngủ mê mệt, gần sáng bị tiếng mưa gió đ.á.n.h thức, nằm yên một lát, bỗng nhớ tới cò trắng bên hồ, giật mình thon thót, thầm kêu "không ổn", vội khoác áo vùng dậy, che ô chạy ra hồ. Hàng rào vừa dựng quả nhiên đã bị mưa to gió lớn thổi tan tành, còn cò trắng bên trong đã không thấy tăm hơi. Một lát sau, Ân Kỳ cũng chạy tới, cùng Chân Chân tìm kiếm hồi lâu, mới phát hiện xác cò trắng trôi nổi trên mặt hồ, phần nhiều là do hàng rào đổ, cò trắng bị mưa gió cuốn xuống hồ, vì bị thương không thể thoát ra nên rơi xuống nước c.h.ế.t đuối. Chân Chân vô cùng khó chịu, ảm đạm nói với Ân Kỳ: "Ta nên nghe lời ngài, đưa nó vào lồng gia cầm nuôi dưỡng, hoặc là dựng hàng rào chắc chắn hơn một chút... Đều là lỗi của ta." Ân Kỳ tuy cũng buồn, nhưng vẫn ôn tồn an ủi Chân Chân: "Cô đã cứu nó, tận tâm sửa sang hàng rào cho nó, nó ở trên trời nhất định cũng sẽ rất cảm kích cô. Mưa bão là thiên tai không thể tránh khỏi, không liên quan đến cô, không phải lỗi của cô, đừng quá để tâm." Chân Chân nghe vậy ngẩn ngơ nhìn Ân Kỳ, thấy ánh mắt hắn chan chứa tình cảm, đều là ý an ủi. Nàng ngẫm nghĩ lời hắn, trong lòng chợt động, quay sang hướng về phía cò trắng trên mặt hồ, chắp tay trước ngực, nhắm mắt thầm cầu nguyện. Hai ngày sau, Ân Kỳ đề nghị chơi trò bịt mắt đoán vị với Chân Chân lần nữa, Chân Chân vui vẻ đồng ý, nhưng yêu cầu đổi thành nàng làm vài món điểm tâm, để Ân Kỳ bịt mắt nếm thử, rồi nói ra là món gì. Ân Kỳ cười nói: "Thế thì dễ quá." Chân Chân lắc đầu: "Chưa chắc đâu. Ta học được cách làm rất nhiều loại điểm tâm ở Thượng Thực Cục, ngài chưa chắc đã từng thấy hết, có một hai món không đoán ra được cũng là bình thường." Ân Kỳ đồng ý, theo yêu cầu của Chân Chân, bữa tối không cho người khác ở bên cạnh, yên tĩnh nếm thử điểm tâm Chân Chân làm. Chân Chân buổi tối xuống bếp làm, lấy cớ bảo mật từ chối các đầu bếp nữ khác xem, làm xong mấy món điểm tâm rồi đựng vào hộp, mang đến phòng Ân Kỳ. Ân Kỳ cho phép nàng dùng khăn lụa bịt mắt mình, Chân Chân liền mở hộp thức ăn, lấy ra một món điểm tâm, dùng đũa gắp một miếng đưa đến bên môi Ân Kỳ. Ân Kỳ c.ắ.n nhẹ một miếng, nhai qua một chút liền cười: "Là bánh bao thịt cua." Chân Chân vui vẻ tuyên bố hắn đã đoán đúng, lại lấy món khác, cho hắn nếm tiếp. Việc này đối với Ân Kỳ quả thực dễ như trở bàn tay: "Đây là bánh hạt dẻ Cao Ly." Sau đó hắn tiếp tục với tâm trạng thoải mái ung dung đoán trúng phóc từng đáp án: tô nhi ấn, bánh mẫu đơn, màn thầu gói hấp, bánh chưng nhỏ hấp, mì tôm rưới sốt... cho đến món cuối cùng. Khi Chân Chân dùng thìa đưa một chiếc hoành thánh nhỏ vào miệng hắn, nụ cười nắm chắc phần thắng trong tay của hắn vụt tắt, ngậm chiếc hoành thánh không nhai nữa, vẫn giữ tư thế bịt mắt, nhưng thân thể hắn không tự chủ được bắt đầu run rẩy, trên mặt cũng ửng lên một trận nóng bừng. Chân Chân kịp thời đặt thìa xuống, nắm lấy tay hắn: "Lần này, là món gì?" "Là, là..." Ân Kỳ mờ mịt lặp lại, n.g.ự.c phập phồng, bắt đầu th* d*c, nội tâm giằng xé dữ dội, là trả lời câu hỏi của nàng hay để mặc cảm xúc đang cuộn trào trong lòng bùng nổ trong nháy mắt. "Đây là một món điểm tâm bình thường không thể bình thường hơn." Chân Chân khẽ nói bên tai hắn, "Là món ăn ngài trước đây, bây giờ và sau này đều có thể gặp phải. Chỉ là thức ăn, chỉ đại diện cho tâm ý của người nấu muốn gửi gắm đến ngài, sẽ mang lại cho ngài sự ấm áp và an ủi, chứ không làm hại ngài." Ân Kỳ giật phắt chiếc khăn lụa bịt mắt xuống, nhổ chiếc hoành thánh trong miệng ra, hoảng hốt nhìn chằm chằm bát trước mặt, thở hổn hển, lẩm bẩm: "Cô cô, cô cô..." "Ngài nói, mưa bão thổi bay hàng rào, không phải lỗi của ta." Chân Chân lại đặt tay lên mu bàn tay đang nổi gân xanh của Ân Kỳ trên mặt bàn, "Chuyện của cô cô cũng vậy, hoàn toàn không phải lỗi của ngài." Chương 56 - Tiệc Đông Cung Thế nhưng Ân Kỳ bỏ ngoài tai, tiếng thở càng lúc càng dồn dập, thân thể run lên bần bật không kìm chế được, như đang trải qua một cơn rét run cầm cập. Chân Chân gọi hắn lần nữa, hắn ngơ ngác nhìn Chân Chân, ánh mắt lại tan rã, lại là dáng vẻ mất hồn lạc phách. th* d*c nặng nề một lúc, hắn bỗng nhiên đau đớn ôm đầu, há miệng, mắt thấy sắp thét lên một tiếng kinh hoàng, Chân Chân không kịp nghĩ nhiều, lao ngay ra sau lưng hắn, dang rộng vòng tay, một tay ôm cổ hắn, một tay bịt miệng hắn, ngăn không cho hắn phát ra tiếng hét dữ dội. Ân Kỳ giãy giụa, Chân Chân dốc hết sức bình sinh, cố gắng kìm kẹp hắn trong vòng tay mình. Ân Kỳ giơ tay nắm lấy cổ tay Chân Chân, muốn thoát khỏi sự trói buộc của nàng, trong lúc Chân Chân chống đỡ, tay áo phất qua mặt Ân Kỳ, một mùi hương quen thuộc lập tức chui vào mũi hắn, ấm áp và ngọt ngào, giống như mùi điểm tâm nướng vương trên y phục. Ân Kỳ ngẩn người dừng mọi động tác, im lặng giây lát, rồi nhẹ nhàng vịn tay Chân Chân, cúi đầu về phía tay áo nàng, tìm kiếm mùi hương trong ký ức. Chân Chân sững sờ, cảm nhận được sự dịu dàng của hắn lúc này, lại không biết có nên buông tay hay không. Mà hai giọt nước mắt nóng hổi của Ân Kỳ đã rơi xuống tay áo nàng, "Cô cô..." Hắn nhắm mắt khẽ gọi, nức nở như một đứa trẻ. Rõ ràng hắn lại trong lúc thần trí mơ hồ nhận nhầm Chân Chân thành Lưu Tư Thiện. Chân Chân ý thức được điều này, bầu không khí căng thẳng giương cung bạt kiếm vừa rồi tan biến, tiếng gọi "cô cô" này khiến lòng nàng mềm nhũn. Nàng từ từ vòng ra trước mặt hắn, dùng tay áo chấm nhẹ từng chút nước mắt đầy mặt Ân Kỳ, khi Ân Kỳ nắm lấy tay nàng, gọi nàng là "cô cô" lần nữa, nàng nở nụ cười ôn hòa với Ân Kỳ: "Ừ, cô về rồi đây, Già Lam nhi." Trong niềm vui sướng của Ân Kỳ hiện lên vẻ mờ mịt: "Cô đi đâu vậy, cô cô?" "Cô đi làm điểm tâm cho con." Chân Chân bày từng món điểm tâm vừa cho hắn đoán lúc nãy ra trước mặt hắn, "Tô nhi ấn, bánh mẫu đơn, màn thầu gói hấp, bánh chưng nhỏ hấp, mì tôm rưới sốt... Con thích ăn món nào nhất?" "Con thích ăn nhất, thích ăn nhất..." Ân Kỳ lặp lại, ánh mắt vô thức trôi về phía bát hoành thánh mà Chân Chân không điểm tên, mặt trắng bệch nhìn chằm chằm, nhưng không nói nổi tên món ăn này. "Hoành thánh." Chân Chân nói thay hắn, thuận thế đẩy bát hoành thánh đến dưới mắt hắn, "Đây là hoành thánh nước gà cô nấu hôm nay, con nếm thử xem, có khác gì với hoành thánh lần đầu tiên con ăn cô làm không." Ân Kỳ ngước mắt nhìn Chân Chân, lại cúi xuống nhìn bát hoành thánh, suy nghĩ đắn đo mãi, dưới sự khuyên bảo nhẹ nhàng của Chân Chân, cuối cùng cũng cầm thìa, đưa một chiếc hoành thánh vào miệng. Chân Chân kiên nhẫn đợi hắn nhấm nháp kỹ càng, đợi hắn nuốt xuống, mới mỉm cười hỏi cảm nhận. Lúc này Ân Kỳ đã bình tĩnh hơn nhiều, cũng có thể ung dung trả lời câu hỏi của nàng: "Rất giống lần đầu tiên ăn, hồi đó, cô cô làm cũng là hoành thánh nước gà." Chân Chân nhớ hồi nhỏ mình thường ăn hoành thánh nước gà nương làm, đoán Lưu Tư Thiện nếu làm cho Ân Kỳ lúc nhỏ, phần lớn cũng sẽ dùng nước gà, không ngờ quả nhiên đoán đúng, lập tức cười tươi rói, truy hỏi Ân Kỳ: "Còn nhớ lần đầu tiên ăn loại hoành thánh này là khi nào không?" "Là một bữa tiệc," Ân Kỳ rủ mi mắt, chìm vào ký ức ấu thơ, "Con vừa ốm dậy, miệng đắng lưỡi tê, trên bàn tiệc toàn là món con không thích... Con lén chạy đi, đi qua nhà bếp, ngửi thấy bên trong có mùi canh gà thơm nức, bước vào, thì nhìn thấy cô cô..." Chân Chân lập tức hiểu ra: "Cho nên cô cô nấu cho con hoành thánh nước gà, mềm mượt dễ ăn, lại tẩm bổ tỳ vị." Ân Kỳ vẫn chìm đắm trong hồi ức ấm áp, nở nụ cười trong trẻo như trẻ thơ: "Ngoài hoành thánh, cô cô còn cho con ăn bánh ngon, hát cho con nghe... Cô cô bảo con đừng sợ uống thuốc, cười nói, lúc nào con uống t.h.u.ố.c đắng cứ việc đến tìm cô cô, cô cô sẽ cho con điểm tâm ngọt ngào... Nhưng mà, con thích nhất vẫn là hoành thánh cô cô làm..." Nói đến đây, lời hắn nghẹn lại, trong mắt dâng lên màn sương, bỗng nhiên cau mày, nắm chặt lấy cổ tay trái của Chân Chân: "Tại sao họ lại hại cô? Nếu con không đòi bát hoành thánh đó, có phải cô sẽ không bị bắt đi không?" Chân Chân đặt tay phải lên tay hắn đang nắm lấy mình, nhìn thẳng vào đôi mắt hoảng hốt của Ân Kỳ, lắc đầu: "Thứ mang cô cô đi là vận rủi khó tránh, không phải bát hoành thánh con đòi." "Vận rủi?" Ân Kỳ lẩm bẩm lặp lại. Chân Chân tiếp tục nhẹ nhàng khuyên giải: "Cơn bão ập đến chúng ta có ngăn cản được không? Tai họa của cô cô cũng giống như cơn bão, là t.a.i n.ạ.n không thể tránh khỏi, con đã cố hết sức xây hàng rào cho cô cô rồi, tuy bị bão phá hủy, nhưng đó không phải lỗi của con, cô cô sẽ mãi mãi nhớ rằng, đã từng được con bảo vệ tận tâm như thế." Ân Kỳ gục đầu xuống bàn, bắt đầu khóc hu hu. Chân Chân lặng lẽ đứng bên cạnh, đợi hắn bình tĩnh lại một chút, mới nhẹ nhàng vỗ lưng hắn, ôn tồn nói: "Hãy để những ký ức không vui bị cơn bão hôm qua thổi bay đi. Bát hoành thánh này còn nhiều lắm, cái nào cũng chứa đựng tâm ý của cô cô. Nào, ăn hết đi, giữ lại sự quan tâm cô cô dành cho Già Lam nhi trong lòng." Dứt lời, Chân Chân cầm thìa lại đưa một chiếc hoành thánh đến bên môi Ân Kỳ. Ân Kỳ lặng lẽ nhìn nàng hồi lâu, cuối cùng mở miệng, lần lượt tiếp nhận tất cả thức ăn nàng đút cho mình. Ân Kỳ ăn xong hoành thánh liền nhanh chóng đi nghỉ, hôm sau tỉnh dậy nhìn Chân Chân cũng nhận ra ngay, không gọi nàng là "cô cô" nữa, dáng vẻ thần trí minh mẫn. Chân Chân không chắc bóng ma hoành thánh đã tan biến hay chưa, lát sau lại làm một bát lặng lẽ dâng cho hắn, và Ân Kỳ cũng yên lặng thưởng thức, không có bất kỳ dấu hiệu phát bệnh nào. Thế là Chân Chân thở phào nhẹ nhõm, thầm mừng sự việc phát triển như ý mình mong muốn, tâm bệnh này của hắn coi như đã được giải quyết xong. Tuy nhiên phiền não mới lại kéo đến. Trần Quốc phu nhân lại nhắc lại chuyện nạp thiếp, chắc là thấy mấy ngày nay Chân Chân và Ân Kỳ chung sống hòa thuận, bèn nhen nhóm hy vọng. Chân Chân vẫn từ chối, Trần Quốc phu nhân mất mặt, không kìm được mắng Chân Chân không biết điều, Chân Chân im lặng không nói, Ân Kỳ đứng giữa khuyên giải, Trần Quốc phu nhân phất tay áo bỏ đi, Chân Chân nghĩ đến thế cục khó giải hiện tại, khó tránh khỏi lo âu. Ân Kỳ nhìn thấy sự khó xử của nàng, cũng trầm mặc rất lâu, có lẽ trong lòng cũng rất khó chịu. Tiệc sinh nhật Thái t.ử chớp mắt đã đến, Ân Kỳ quả nhiên như Phượng Tiên dự liệu, quyết định đưa Chân Chân đi cùng. Hôm đó tiệc Đông cung khách khứa phần lớn là tông thất và họ hàng ngoại thích, trước đó Hoàng đế có mặt, uống một tuần rượu rồi vội vã rời đi, nói là có việc nước quan trọng cần bàn với Tể tướng. Quan gia không có mặt, khách khứa còn lại ngược lại thoải mái hơn nhiều, huynh đệ thân vương và các biểu ca biểu đệ chuyện trò rôm rả, nâng chén chúc tụng cười nói không ngớt. Nhị hoàng t.ử Triệu Ngai và Tam hoàng t.ử Triệu Hạo lần lượt ngồi một bên dưới ghế Thái tử, còn huynh đệ Ân Kỳ ngồi ở vị trí đối diện, Chân Chân đứng hầu sau lưng Ân Kỳ, ngước mắt nhìn sang, liền phát hiện Phượng Tiên cũng ở đó, đang đứng sau lưng Triệu Ngai, lúc này cũng đang nhìn nàng. Ánh mắt hai người chạm nhau, Phượng Tiên mỉm cười, khẽ gật đầu với Chân Chân, như ám chỉ mọi việc đã sắp xếp ổn thỏa. Tiệc Đông cung cũng giống như Ngự yến, tổng cộng chín tuần rượu, mỗi tuần rượu dâng lên vài món ngon, xen kẽ là tấu nhạc múa hát, các trò tạp kỹ. Ca múa phối hợp với bốn tuần rượu đầu đều dùng sênh, tiêu, sáo làm nhạc, trước tiên có ca sĩ hát giọng trung, sau đó nam nữ vũ kỹ và đội múa thiếu nhi lần lượt vào, hiến nghệ trước mặt quan khách. Đến tuần rượu thứ năm tiếng nhạc đột ngột thay đổi, chiêng trống leng keng, lúc này xuất hiện là hai đội nghệ sĩ nam mặc quân phục, múa kiếm theo nhịp điệu nhạc với những thanh bảo kiếm chưa khai phong (mài sắc). Cùng lúc đó, thức ăn nhắm rượu tuần thứ năm cũng lần lượt được dâng lên: Quần tiên chích (thịt nướng), bánh thiên hoa, bánh thịt hoa sen, Thái Bình tất la (bánh nướng)... còn một món trông như canh, đựng trong một chiếc liễn bạc nhỏ có nắp, tạm thời không biết là gì. Mỗi món ăn này đều do nội nhân Đông cung đưa đến trước, Chân Chân nhận lấy, rồi dâng lên bàn Ân Kỳ, nội nhân đưa liễn bạc nhỏ đến khi đi ngang qua Chân Chân khẽ gọi tên nàng, Chân Chân nghe tiếng nhìn lại, phát hiện chính là Vân Oanh Ca. Oanh Ca chuyền liễn bạc nhỏ cho Chân Chân, mỉm cười với nàng, thì thầm dặn dò: "Cẩn thận chút... đừng để bỏng tay." Chân Chân lờ mờ đoán được là gì, nhận lấy liễn bạc xong nhìn về phía Phượng Tiên, quả nhiên thấy nàng ấy cũng đang quan sát mình, ánh mắt lập tức chuyển sang chiếc liễn bạc. Tim Chân Chân đập thình thịch, khi đặt liễn bạc nhỏ xuống bàn trước mặt Ân Kỳ tay không khỏi run lên, khiến chiếc liễn bạc va chạm với mặt bàn tạo ra tiếng động khe khẽ nhưng đủ rõ ràng. Ân Kỳ quay đầu nhìn nàng, rồi chuyển sang nhìn chiếc liễn bạc nhỏ, không đợi Chân Chân phản ứng đã tự mình mở nắp liễn ra. Ánh mắt đang d.a.o động của hắn trong nháy mắt đông cứng lại. Thái t.ử chú ý đến hành động của Ân Kỳ, bèn mỉm cười giải thích lai lịch món ngon này cho hắn: "Loại hoành thánh này là do nội nhân Vân thị mới vào Đông cung sáng tạo, lấy thịt gà làm nhân, thêm hạt thông hạt dẻ, nêm nếm tỉ mỉ, hương vị không tồi. Ta rất thích, nên cho phép đưa vào thực đơn hôm nay, chia sẻ cùng chư quân." Em trai Ân Kỳ là Ân Đề vừa nghe hai chữ "hoành thánh", mặt mày lập tức xám ngoét, cau mày lo lắng nhìn anh trai ngồi cách đó không xa, nhưng trước mắt bao người, lại không tiện lập tức làm hành động ngăn cản anh trai tiếp xúc với hoành thánh. Ân Kỳ vẫn không nói không rằng, chỉ cụp mắt nhìn chằm chằm bát hoành thánh nhỏ nhắn tinh xảo trên bàn, vẻ mặt bình thản, không giống bộ dạng bị kích động như trước kia. Chân Chân hơi yên tâm, thầm tự an ủi: Tâm bệnh về món này của hắn trước đó đã giải trừ, chắc không sao đâu... Nào ngờ giây tiếp theo Ân Kỳ đập bàn đứng dậy, trong tiếng trống nhạc chưa dứt nhảy vào sàn múa, giật phắt thanh trường kiếm trong tay một nam nghệ sĩ không hề phòng bị, sau đó quay người chĩa kiếm, bước lên vài bước, mở to đôi mắt vằn đỏ, đ.â.m kiếm về phía Chân Chân lúc này đã kinh ngạc đến ngây người. Chương 57 - Hoàn Quân Ngọc Trâm Bất ngờ phát hiện mũi kiếm chĩa thẳng vào mình, đầu óc Chân Chân trống rỗng, trong cơn kinh ngạc hoàn toàn không kịp né tránh. May mà ngay khoảnh khắc kiếm của Ân Kỳ sắp chạm vào n.g.ự.c nàng, một chiếc chén rượu từ chỗ ngồi đối diện hắn bay tới, đập trúng lưỡi kiếm, tiếng kim loại va chạm vang lên, hổ khẩu (kẽ tay cái và trỏ) Ân Kỳ tê rần, kiếm tuột khỏi tay, rơi xuống đất cùng chén rượu. Ân Đề lập tức nhảy dựng lên, lao tới chộp lấy thanh kiếm, rồi quay đầu nhìn về hướng chén rượu bay tới, thấy người ném chén là Triệu Ngai đang cau mày nhìn chằm chằm Ân Kỳ. Tiếng kim loại và đá vỡ vụn sắc nhọn x.é to.ạc cảnh tượng thái bình trong điện, Thái t.ử chứng kiến việc này, không khỏi kinh ngạc đứng dậy, Vương Mộ Trạch - Nhập nội Phó đô tri, quan Đề cử Đông cung đứng hầu bên cạnh Thái t.ử lập tức cao giọng gọi nội thần trong điện hộ vệ Thái tử. Ân Kỳ thấy kiếm bị Ân Đề đoạt mất, thuận tay vớ lấy bình rượu trên bàn, đập mạnh vào cột nhà sau lưng cho vỡ, cầm nửa chiếc bình sứ có cạnh sắc nhọn, lại vung về phía Chân Chân. Chân Chân nhanh chóng xoay người, chạy ra ngoài. Cũng chưa kịp nhìn rõ phía trước là gì, chạy được vài bước, đ.â.m sầm vào n.g.ự.c một người, ngẩng lên nhìn, đập vào mắt là Triệu Ngai vừa ném chén rượu xong đã phi thân chạy tới. Triệu Ngai kéo Chân Chân một cái, để nàng xoay ra sau lưng mình, bản thân bước lên phía trước, đón đầu Ân Kỳ. Mà trong chớp mắt ấy nửa bình rượu của Ân Kỳ đã ập đến trước mặt, Triệu Ngai che chở Chân Chân nghiêng người né tránh, tay Ân Kỳ c.h.é.m xéo xuống, mảnh sứ sắc nhọn theo đó rạch toạc tay áo trái của Triệu Ngai. Triệu Ngai thấy trên tay rỉ máu, theo bản năng dùng tay phải bịt vết thương. Ân Kỳ cũng khựng lại một thoáng, nhưng rất nhanh lại giơ bình rượu lên, mắt thấy lại sắp bổ xuống Triệu Ngai. Không kịp nghĩ nhiều, Chân Chân rút cây trâm ngọc trên tóc xuống, từ sau lưng Triệu Ngai bước ra, ngược lại chắn Triệu Ngai ở phía sau, nắm chặt cây trâm hướng đầu nhọn hoắt ra ngoài, quát lớn với Ân Kỳ: "Dừng tay!" Cây trâm ngọc này từ khi Ân Kỳ tặng nàng thực ra nàng rất ít dùng, chỉ có hôm nay cài lên tóc, nói là để phòng ngừa Ân Kỳ làm hại mình, chi bằng nói là để vào cung chọn một món trang sức thể diện, không ngờ rốt cuộc vẫn phải dùng đến nó như Ân Kỳ dự tính. Ân Kỳ nghe tiếng sững sờ, nhìn mũi trâm Chân Chân chĩa vào mình, hàng mi run lên, ánh mắt vụt tắt, thê lương cùng cực, cánh tay giơ cao bình rượu cũng bắt đầu hạ xuống. Triệu Ngai lập tức giơ tay nắm lấy cổ tay Ân Kỳ, nhanh như chớp giật đoạt lấy nửa bình rượu vỡ nát kia. Ân Đề lao tới bên cạnh anh trai, dang tay kìm kẹp hắn lại, mà mấy nội thần dưới sự ra hiệu của Vương Mộ Trạch đã rảo bước tới, vây chặt anh em họ Ân. Thấy Ân Kỳ đã bị khống chế, Thái t.ử thở phào nhẹ nhõm, sai thái y hầu cận mau chóng chữa trị băng bó cho Triệu Ngai. Phượng Tiên nghe vậy chạy đến bên Triệu Ngai, trước tiên cau mày lo lắng nhìn vết thương của hắn, rồi khẽ mời hắn ngồi xuống. Triệu Ngai đi về phía trước mặt Chân Chân, cười trấn an nàng vẫn đang hồn xiêu phách lạc, mới từ từ lùi lại, về chỗ ngồi của mình, để thái y kiểm tra và băng bó vết thương. Lát sau, Trần Quốc phu nhân trước đó ngồi cùng Thái t.ử phi ở tiểu điện dành cho nữ quyến nghe tin chạy tới, vẻ mặt kinh hoàng quỳ rạp trước mặt Thái tử, năm lần bảy lượt thay con tạ tội, lại quay sang lạy Triệu Ngai, khẩn cầu họ nể tình bệnh tình của Ân Kỳ mà xử nhẹ. Thái t.ử đã ngồi lại vào ghế chủ tọa, khôi phục vẻ mặt điềm tĩnh thường ngày, lặng lẽ nhìn Ân Kỳ, Chân Chân và Triệu Ngai một lúc, ngài ôn tồn nói với Trần Quốc phu nhân: "Bệnh của Đại công t.ử chúng ta đều biết. Hắn bị tâm bệnh vây hãm, thần trí không tỉnh táo, làm bị thương Nhị ca, vốn không phải ý muốn của hắn, ta nghĩ Nhị ca sẽ không trách hắn đâu. Cũng tại ta suy nghĩ không chu toàn, chưa hỏi kỹ phu nhân về tình hình gần đây của hắn, đã mạo muội mời đến, đồ ăn thức uống trên bàn tiệc có lẽ lại phật ý hắn, mới gây ra chuyện này. Lát nữa ta sẽ bẩm báo rõ với Quan gia, chắc hẳn Quan gia cũng sẽ không trách phạt hắn đâu." Trần Quốc phu nhân rưng rưng nước mắt bái tạ, liên tục ca tụng Quan gia và Thái t.ử nhân đức. Thái t.ử quay sang nhìn Chân Chân. Trong khoảnh khắc bốn mắt nhìn nhau, Chân Chân cảm nhận được vẻ hòa nhã ngài dành cho mình, lập tức nhận ra ngài nhớ mình. Thái t.ử thu hồi ánh mắt, lại nói với Trần Quốc phu nhân: "Nếu ta nhớ không lầm, cô nương mà Đại công t.ử tấn công hôm nay vốn là nội nhân Thượng Thực Cục." Trần Quốc phu nhân gật đầu: "Vâng ạ. Vị Ngô Chân Chân này là Thượng Thực nội nhân do cung Từ Phúc phái đến phủ Quận vương." Thái t.ử lại nói: "Đại công t.ử bản tính hiền lành, dễ bị người lạ việc lạ làm kinh động, để đảm bảo an khang, thực sự không nên để người hắn không quen thân cận hầu hạ, lo liệu ăn uống. Trước đây, Đông cung đã phạm một sai lầm, cũng trách ta sơ suất, chưa truyền đạt chuyện này đến cung Từ Phúc." Trần Quốc phu nhân trong lòng hiểu rõ Thái t.ử ám chỉ chuyện cung nhân Đông cung ban tặng bị Ân Kỳ ngộ sát trước kia, mồ hôi lạnh túa ra ròng ròng, cúi đầu hổ thẹn nói: "Là thiếp thân dạy con không nghiêm, phụ ân đức Thái tử..." "Phu nhân bao năm qua tận tâm chăm sóc Đại công tử, trên dưới Đại nội nghe nói, ai nấy đều cảm thán tấm lòng yêu con của phu nhân, phu nhân có tội gì đâu?" Thái t.ử ôn tồn an ủi, tiếp đó lại khuyên giải, "Chỉ là bệnh tình Đại công t.ử chưa ổn định, ăn uống chải đầu, vẫn nên chọn người làm việc nhiều năm trong phủ Quận vương kiên nhẫn hầu hạ, đừng để người lạ đến gần hắn, k*ch th*ch hắn tái phát tâm bệnh. Vì vậy..." Ngài đưa mắt nhìn Chân Chân, gợi ý với Trần Quốc phu nhân, "Vị nội nhân này, phu nhân có thể cho phép cô ấy quay về Thượng Thực Cục không? Phủ Quận vương chắc hẳn không thiếu một người này sai bảo, nếu giữ cô ấy lại trong phủ, ngày sau lại chọc Đại công t.ử nổi giận, ngược lại trái với ý tốt ban đầu của cung Từ Phúc." Trần Quốc phu nhân liên tục vâng dạ, đâu dám giữ Chân Chân lại, nói thẳng nguyện để nàng quay về Thượng Thực Cục. Thái t.ử gật đầu, dặn dò Vương Mộ Trạch bẩm báo với Kim thượng chuyện xảy ra ở Đông cung, đồng thời đặc biệt nhắc đến, nếu Kim thượng không phản đối, thì hãy truyền lệnh cho Thượng Cung và Thượng Thực Cục, đón Ngô Chân Chân về cung. Diên Bình Quận vương hôm đó vì nhiễm phong hàn không đến dự tiệc, nghe tin dữ cũng chẳng màng bệnh thể, nhanh chóng vào cung, cởi bỏ quan phục ủng đen, trải chiếu rơm trước điện Phúc Ninh chờ chịu tội, dập đầu xin chịu tội thay con. Hoàng đế sau khi xem xét vết thương của Triệu Ngai,cũng phản hồi tương tự Thái tử, nói hành động của Ân Kỳ là do tâm bệnh, không thể truy cứu như người thường, may mà vết thương trên tay Triệu Ngai không nặng, Quận vương không cần chịu phạt thay con, nhưng hãy quản thúc Ân Kỳ nghiêm ngặt, hạn chế hành động của hắn, không được để hắn làm hại người khác nữa. Sau đó Hoàng đế chuẩn y lời thỉnh cầu của Thái tử, đồng ý đón Chân Chân về. Thượng Cung và Thượng Thực Cục nhận được tin, lập tức sắp xếp việc điều Chân Chân về cung. Dưới sự chỉ đạo của Thái tử, Hoàng Thành Ty phái người chuyên trách hộ tống Chân Chân về phủ Diên Bình Quận vương thu dọn đồ đạc cá nhân trong phủ, rồi đưa nàng về cung. Chân Chân thu dọn xong đồ đạc trong phủ, sắp sửa ra cửa, ngoái nhìn nơi ở của Ân Kỳ, nghĩ đến sự thân thiện hắn dành cho mình ngày trước, không khỏi thoáng buồn, bèn rút cây trâm ngọc Ân Kỳ tặng xuống, đến trước tẩm các của Ân Kỳ hiện đang bị nội thị canh phòng nghiêm ngặt, xin gặp nhũ mẫu La thị của Ân Kỳ, nhờ La thị trả lại trâm cho Ân Kỳ, nói sau này sẽ không bao giờ dùng đến nữa, vật quý giá như vậy, mình không nên mang đi. La thị mang trâm đi gặp Ân Kỳ, một lát sau lại đi ra gọi Chân Chân đang định rời đi lại, đưa cho nàng một chiếc hộp gỗ, nói: "Đây là Đại công t.ử tặng cho cô, bên trong là những loại muối ngày xưa các người từng nếm thử." Trong lòng Chân Chân ngũ vị tạp trần, tạm thời chưa nhận hộp gỗ, nhìn về phía tẩm các Ân Kỳ. Lúc này rèm trúc rủ xuống dưới mái hiên hành lang tẩm các, không nhìn thấy cửa sổ, nhưng mép dưới rèm trúc cách mặt đất chừng hai thước, nhìn vạt áo lộ ra, có người đang đứng sau rèm. Đó là bộ y phục màu xanh lục Ân Kỳ thường mặc, Chân Chân đoán, có lẽ hắn đang đứng sau rèm dõi theo nàng. Khóe mắt cay cay. Chân Chân nín thở nghiêng đầu, giấu đi ý muốn khóc, đưa tay lên trán, khuỵu gối hành đại lễ về hướng Ân Kỳ, khẽ nói: "Đa tạ công t.ử thành toàn." Khi ngẩng đầu lên, nàng thấy vạt áo dưới rèm xoay đi, người nọ đã ẩn mình vào trong các. Chân Chân nhận lấy quà của Ân Kỳ từ tay La thị, ra khỏi cổng phủ lên xe bò, theo người Hoàng Thành Ty về cung. Hai bên đường Ngự trồng nhiều hoa cỏ, thi thoảng có mùi hoa quế ngọt ngào bay vào trong xe, khiến nàng bừng tỉnh khỏi trạng thái ngẩn ngơ, chợt giật mình nhận ra, chỉ vài ngày nữa là đến Tết Trung thu rồi. Nàng xuống xe trước cổng cung, theo sự chỉ dẫn của nội thần từng bước đi vào trong cung. Lúc đó ráng chiều tà dương đang độ rực rỡ nhất, đã đến giờ đóng cổng cung. Giám môn sứ thần hô một tiếng, cấm vệ hai bên đóng cổng lại. Chân Chân nghe tiếng quay đầu, chỉ thấy hai cánh cổng cung từ từ khép lại, ánh sáng lọt vào từ ngoài cửa dần thu hẹp thành một tia nhỏ, cuối cùng theo tiếng đóng sầm nặng nề của hai cánh cửa, tia sáng này cũng biến mất. Trong lòng Chân Chân nhói lên một cái, chỉ cảm thấy tia hy vọng chôn sâu trong lòng mình cũng theo cánh cổng cung khép lại này mà chìm vào vực thẳm. Trở về Thượng Thực Cục, Bùi Thượng Thực vốn định theo sắp xếp trước đó để Chân Chân đến cung Từ Phúc, nhưng Thái hậu dường như không hài lòng với việc triệu hồi Chân Chân từ phủ Diên Bình Quận vương, truyền lời rằng cung Từ Phúc không thiếu nội nhân, chi bằng giữ Ngô Chân Chân ở lại Đại nội hoặc Đông cung, phục vụ nội đình. Thế là Bùi Thượng Thực muốn đưa Chân Chân đến Đông cung, đoán Thái t.ử đã cam tâm mạo hiểm đắc tội Thái hậu để cứu Chân Chân, chắc hẳn có cái nhìn khác biệt với Chân Chân, lẽ ra nên thuận nước đẩy thuyền, thành toàn cho việc này. Nào ngờ Đông cung hồi đáp rằng lần trước đã nhận Vân thị và các nội nhân khác do Thượng Thực Cục phân đến, hiện tại nhân sự lo liệu ăn uống đã đủ, không cần gửi thêm nội nhân đến nữa, Thượng Thực cứ tùy theo nhu cầu của các các trong hậu cung mà sắp xếp nơi đi cho Ngô Chân Chân. Lần phân phái nội nhân trước, các nương t.ử có danh phận về cơ bản mỗi người đã nhận một hai người, duy chỉ có Lệ Quý phi không nhận lứa nội nhân Thượng Thực Cục này, lúc đó bà nói nội nhân trong các mình rất nhiều, đủ để sai bảo, khéo léo từ chối tăng thêm nhân sự. Bùi Thượng Thực bàn bạc với Tần Tư Thiện, Tần Tư Thiện nói: "Tháng trước trong các của Lệ Quý phi có nội nhân vì bệnh xin xuất cung, Quan gia và Quý phi đã đồng ý, hiện giờ ngược lại đang thiếu một chỗ..." Bùi Thượng Thực có chút chần chừ: "Việc này ta cũng biết, chỉ là Ngô Chân Chân do Thái t.ử cứu về cung, nếu để nàng ta đến các của Lệ Quý phi, Thái t.ử mà biết, chẳng phải..." Thái t.ử không thích Lệ Quý phi, trong cung ai cũng biết. Tần Tư Thiện trầm ngâm, một lát sau nói: "Thái t.ử nhân đức, cực kỳ hiểu chuyện. Nay Quan gia không nhận lứa nội nhân này, lại chỉ có các của Lệ Quý phi thiếu người, Thượng Thực cứ căn cứ vào đó mà phái Ngô Chân Chân đi, Thái t.ử hẳn sẽ hiểu, không nghĩ nhiều đâu. Huống hồ ngài ấy ra tay cứu giúp trong tiệc, không phải có ý với Ngô Chân Chân, chẳng qua là lòng dạ nhân hậu, không nỡ thấy nàng ta bị Ân Đại công t.ử làm hại, đổi lại là bất kỳ nội nhân nào, Thái t.ử cũng sẽ cứu như vậy, Thượng Thực không cần vì thế mà lo lắng." Bùi Thượng Thực suy đi tính lại, cũng thấy lời Tần Tư Thiện có lý, bèn bẩm báo Lệ Quý phi, nhắc lại chuyện phái Thượng Thực nội nhân vào các Quý phi. Lúc này nội nhân bị bệnh trong các Quý phi đã xuất cung, Lệ Quý phi cũng không từ chối nữa, đồng ý để Ngô Chân Chân vào các hầu hạ việc ăn uống cho bà. Chương 58 - Nguyệt Nham Vọng Nguyệt Lệ Quý phi ngụ tại các Lai Phượng. Tuy thân là Quý phi, luận về danh phận địa vị chỉ đứng sau Hoàng hậu, nhưng bà tính tình giản dị, chi tiêu trong các rất ít, nội thần thị nữ cũng không nhiều, trước khi Chân Chân đến, người chuyên trách hầu hạ việc ăn uống cho bà chỉ vỏn vẹn hai ba người. Quý phi tính tình ôn hòa, nhưng trông thần sắc luôn kém tươi, nghe nói khẩu vị cũng không tốt. Chân Chân mới đến, chưa thể hầu hạ gần gũi, chỉ phụ giúp Hồ Điển Thiện thái rau, rửa bát đũa trong bếp nhỏ của Quý phi. Hồ Điển Thiện trạc ba mươi tuổi, hẳn là đầu bếp lâu năm của Lệ Quý phi, món ăn làm ra trông rất ngon mắt, nhưng mỗi ngày sau khi Quý phi dùng bữa, thị nữ bưng về bếp khá nhiều đồ thừa, có món thậm chí còn nguyên xi, dường như Quý phi chưa hề động đũa. Tết Trung thu chớp mắt đã đến. Tối hôm đó, trong cung mở tiệc "Diên Quế Bài Đương" tại các Ỷ Quế, các quý nhân tụ họp một nhà, cũng như nhà dân thường thưởng thức bánh trung thu, ngắm hoa quế, thưởng trăng sáng. Trong các đèn đuốc sáng trưng, soi rọi những gương mặt cười nói tràn ngập hỷ khí đoàn viên. Ca kỹ ca múa liên miên, tiếng nhạc thiên tiên lãng đãng, vang vọng khắp trong ngoài hoàng thành. Lệ Quý phi dẫn theo nhiều nội nhân trong các đi dự tiệc, Hồ Điển Thiện cũng mang theo phụ bếp đi giúp việc, Chân Chân vì tư lịch còn thấp nên Hồ Điển Thiện không cho đi theo, nàng cũng vui vẻ hưởng sự thanh nhàn, một mình ngồi trong sân bếp nhỏ, ngửa đầu nhìn vầng trăng tròn vành vạnh ngẩn ngơ hồi lâu, rồi thở dài một tiếng, trở về phòng, lấy ra lọ hoa mơ ngâm đường nàng tự làm ở Vấn Tiều Dịch mùa đông năm ngoái mang theo, nhón vài bông pha một chén nước mật ong thơm lừng hương mơ, rồi nâng chén mời trăng, khẽ nói: "Thầy Lâm, nương con vẫn chưa có tin tức, hẹn ước Trung thu, con đành phải lỡ hẹn rồi. Đêm nay lấy mơ thay rượu, từ xa chúc thầy sinh thần vui vẻ, bình an khang ninh, mỗi việc thầy muốn hoàn thành, đều có thể làm được viên mãn như vầng trăng hiện tại." Nàng đối trăng độc ẩm, hồi lâu sau nghe bụng réo vang, mới nhận ra mình chưa ăn tối, giờ bụng đói meo. Bèn xuống bếp nhỏ tìm đồ ăn, trong bếp có khá nhiều bánh trung thu tinh xảo, nhưng nàng chẳng có hứng thú gì, trong lòng cứ nhớ đến Lâm Hoằng, ánh mắt lại chạm phải đống khoai sọ trong góc, bèn nhanh chóng quyết định, rửa sạch hai củ khoai, hâm nóng bình rượu vàng, lấy giấy và bã rượu ra, bắt đầu làm ướt giấy bọc khoai, chuẩn bị nướng món "Thổ Chi Đan" mà Lâm Hoằng từng dạy. Bọc khoai xong, lại nhóm lửa trấu trong lò đất, đang định vùi khoai vào tro nóng, bỗng có người xách đèn lồng từ bên ngoài thong thả bước vào, đ.á.n.h giá nàng và vật trong tay nàng, cười nói: "Hôm nay ngày lành có tiệc lớn, sao nàng lại đáng thương thế này, ngồi đây nướng khoai sọ." Chân Chân không ngẩng đầu, chỉ nghe tiếng đã biết là Triệu Ngai, vừa tiếp tục vùi khoai, vừa gắt gỏng nói: "Ta là người nhà quê, vô phúc hưởng thụ tiệc lớn, có khoai ăn là mãn nguyện lắm rồi." Triệu Ngai đặt chiếc đèn lồng cung đình xuống đất, mỉm cười ngồi xổm xuống, tự lấy kìm sắt giúp nàng gạt tro để nàng vùi khoai, cũng không nói gì, động tác phối hợp với nàng lại vô cùng ăn ý. Chân Chân thấy hắn mặc hoa phục tay rộng, rõ ràng là từ bữa tiệc đi ra, bèn hỏi: "Diên Quế Bài Đương kéo dài đến tận đêm khuya, sao Đại vương lại ra đây rồi?" "Trong tiệc uống vài chén rượu, thấy ngột ngạt nên ra ngoài đi dạo. Đến trước cửa viện của nàng, thấy trong bếp có ánh đèn, lại ngửi thấy mùi bã rượu thơm, hứng chí bèn vào xem thử, không ngờ gặp được nàng." Triệu Ngai trả lời, rồi ôn tồn nói với Chân Chân, "Khi chỉ có hai ta, nàng không cần gọi ta là Đại vương, nghe xa lạ lắm. Ta nghe còn chẳng bằng nàng cứ gọi thẳng ngươi ngươi ta ta cho tự nhiên." "Vậy... ta nên gọi ngài là gì?" Chân Chân hỏi. Triệu Ngai ngẫm nghĩ, nói: "Nhị ca? Người nhà ta đều gọi ta như vậy." Thế sao được, ta đâu phải người nhà ngài. Chân Chân nghĩ thầm, nhưng nhớ đến ý tốt cứu giúp của hắn trong tiệc sinh nhật Đông cung, cũng không muốn nói chuyện gay gắt với hắn nữa, bèn nhìn sang cánh tay trái của hắn, đổi sang câu hỏi muốn hỏi ngay từ khi thấy hắn bước vào: "Vết thương của ngài, giờ thế nào rồi?" "Không ổn." Triệu Ngai thu lại nụ cười, nghiêm mặt nói, "Hôm đó chảy nhiều m.á.u lắm, mấy ngày rồi vẫn sưng đỏ, vết thương rất sâu, còn có xu hướng lở loét nữa." Chân Chân cau mày, bỗng một tay nắm lấy cổ tay trái hắn, một tay vén tay áo rộng của hắn lên, rất nhanh vết sẹo của hắn phơi bày dưới sự kiểm tra của nàng. Trái ngược với lời hắn nói, vết thương không sâu, dường như mảnh sứ chỉ vừa rạch rách da, không tổn thương đến cơ bắp. Vết thương cũng không dài, lúc này đã đóng vảy, không hề có dấu hiệu lở loét. Chân Chân thở phào nhẹ nhõm, rụt tay về. Triệu Ngai kéo tay áo xuống, lại cười nói: "Nàng có còn là con gái không đấy? Có biết nam nữ thụ thụ bất thân không? Lại dám ngang nhiên vén tay áo ta xem tay ta." "Lúc này trong mắt ta ngài không phải đàn ông." Chân Chân bình thản đáp, "Ta vén tay áo ngài xem vết thương, cũng giống như ta mở nắp vại xem giá đỗ mới ủ có bị đỏ hay không thôi, đều là dùng con mắt nhìn rau củ." Triệu Ngai đưa tay lên trán: "Lúc nãy mới vào, ta cứ tưởng nàng sẽ khóc lóc bái tạ ta, quan tâm hỏi han vết thương của ta, ta còn chuẩn bị đầy một bụng lời lẽ bảo không sao đâu, nào ngờ nàng dường như chẳng có ý áy náy gì cả, ta đành phải phóng đại vết thương lên, nếu không sau này muốn nàng báo đáp, biết mở miệng thế nào đây?" "Áy náy thì có áy náy..." Chân Chân cúi đầu chọc chọc củ khoai trong đống tro, "Nhưng ngài luôn có bản lĩnh biến lòng biết ơn của người ta thành sự bực mình." Triệu Ngai chỉ cười không nói, ngồi đối diện Chân Chân gạt tro một lúc, mới hỏi nàng: "Tối nay nàng ngắm trăng chưa?" Chân Chân nói: "Vừa nãy có ngắm ở trong sân. Cảm thấy cũng chẳng có gì đặc biệt, giống trăng rằm mọi khi thôi." "Vậy ta đưa nàng đi xem một cái đặc biệt." Triệu Ngai kéo nàng đứng dậy, "Ở trên núi Phượng Hoàng, từ Hậu uyển có thể đi lên. Khoai này nướng một chốc một lát cũng chưa chín đâu, chúng ta đi lên núi ngắm trăng, lúc về khoai chắc cũng chín rồi." Chân Chân gạt tay hắn ra, không muốn đi, nhưng Triệu Ngai năm lần bảy lượt mời mọc, nói đó là kỳ cảnh trong núi hắn phát hiện ra, đẹp như mộng ảo, cuối cùng Chân Chân không kìm nén được sự tò mò, đồng ý đi cùng hắn. Triệu Ngai xách lại đèn lồng, lại định nắm tay Chân Chân ra cửa. Chân Chân nghĩ ngợi, tự lấy một chiếc giỏ tre đan, bỏ vào đó vài chiếc bánh trung thu, một bình nước và bát đũa, mới xách theo cùng Triệu Ngai đi ra ngoài. Hoàng thành Lâm An sát ngay núi Phượng Hoàng, Hậu uyển nối liền với thân núi, đình đài lầu các xây dựng nương theo địa thế nhấp nhô, bậc thang khá nhiều. Chân Chân xách giỏ tre đi sau Triệu Ngai, cố ý giữ khoảng cách chừng một trượng với hắn. Triệu Ngai xách đèn lồng đi trước, bỗng dừng lại, quay người đưa tay về phía Chân Chân: "Đưa giỏ cho ta." Chân Chân lắc đầu. Triệu Ngai yêu cầu lần nữa, nàng mới nói nguyên do: "Ta không khách sáo với ngài đâu. Cái giỏ này thực ra là đạo cụ của ta, dù sao ta cũng không phải thị nữ của ngài, đêm hôm khuya khoắt thế này nếu có ai nhìn thấy chúng ta đi cùng nhau, e là sẽ sinh ra lời da tiếng vào. Nhưng nếu có giỏ thức ăn này, người ta nhìn thấy sẽ cho rằng Nhị Đại Vương muốn ngắm trăng, nên sai ta là Thượng Thực nội nhân mang theo bánh trái đi theo hầu hạ. Nếu ngài xách giỏ còn ta tay không, bọn họ lại sinh nghi." Triệu Ngai mỉm cười hỏi: "Cô nương từ khi nào lại để ý đến danh dự của ta và nàng thế?" Chân Chân đáp: "Ta chỉ là một tiểu nội nhân xưa nay không biết lễ nghĩa, mặc kệ họ nói gì thì nói. Nhưng ngài dù sao cũng là Thân vương, nhất cử nhất động có bao nhiêu người nhìn vào, nếu vì chuyện này mà bị người ta nghi ngờ phẩm hạnh, nói ngài khinh bạc, đắm chìm trong nữ sắc thì không hay đâu." Nghe câu cuối cùng, Triệu Ngai bỗng bật cười thành tiếng. Chân Chân liên tưởng đến việc trước đây Lâm Hoằng mượn bức tranh "Đạm Mặc Sĩ Nữ" để trêu chọc nàng không có nhan sắc, lập tức cảm thấy Triệu Ngai e là cũng đang cười nàng như vậy, mặt đỏ bừng lên. Thực ra câu này là do Bùi Thượng Thực nhắc đến khi dạy bảo các nàng, yêu cầu các nàng cẩn trọng lời nói việc làm trước mặt Thân vương, tuyệt đối không được phóng túng đùa giỡn hay có hành động thân mật, kẻo làm liên lụy thanh danh Thân vương, khiến người ta nghi ngờ ngài ấy đắm chìm trong nữ sắc. "Đắm chìm trong nữ sắc..." Triệu Ngai lặp lại, rồi hỏi Chân Chân, "Ta giống người như vậy sao?" Chân Chân có chút giận vì tiếng cười vừa rồi của hắn, bèn đáp thẳng: "Giống." "Được rồi, vậy sự nghi ngờ này cũng không sai." Ánh mắt hắn như gió xuân mưa phùn lướt qua mắt Chân Chân, "Ta quả thực đắm chìm trong nhan sắc của nàng." Nhân lúc Chân Chân đang ngẩn người không nói nên lời, hắn không nói không rằng giật lấy chiếc giỏ tre trong tay nàng. May mà tối nay cung nhân trong Hậu uyển phần lớn tụ tập trong ngoài các Ỷ Quế, người nhìn thấy hai người đi cùng nhau không nhiều, thi thoảng gặp vài nội thị trực đêm dọc đường, cũng chỉ cung kính hành lễ với Triệu Ngai, không nói nhiều lời. Nơi Triệu Ngai đưa Chân Chân đến ngắm trăng nằm ở lưng chừng núi. Hai người đi qua một rừng đá tú lệ, một vách đá dựng đứng cao chừng vài trượng hiện ra trước mắt. Vách đá có những đường nét tròn trịa như mây trôi, đứng sừng sững bên cạnh một hồ nước trong vắt. Gần đỉnh đá có một lỗ hổng, đường kính chừng hơn một thước, hình dáng giống như vầng trăng tròn, nhìn qua lỗ tròn này, có thể thấy sắc trời lúc bấy giờ. "Vách đá này, tên làNguyệt Nham(Vách đá trăng)." Triệu Ngai giới thiệu. Chân Chân ngửa đầu tìm kiếm bóng dáng mặt trăng, chắc là bị vách đá hoặc cây cối trên núi che khuất, tạm thời không nhìn thấy. "Trăng đâu?" Chân Chân hỏi Triệu Ngai. Triệu Ngai nói: "Không vội." Rồi kéo Chân Chân ngồi xuống bên hồ, tự mình lấy bánh trung thu trong giỏ ra, cắt miếng chia cho Chân Chân ăn. Hương quế trong núi quyện với gió mát, họ cũng không cảm thấy lạnh. Cây cối xào xạc trong gió, thi thoảng rụng vài cánh hoa chiếc lá, cảnh sắc dưới ánh trăng và ánh đèn lồng tĩnh mịch lạ thường, quay đầu nhìn xuống cung các dưới núi, lại thấy lầu các đèn đuốc sáng trưng, rực rỡ như ráng chiều mây tía, khiến Chân Chân có chút hoảng hốt, không biết đêm nay là đêm nào, là thiên đường hay nhân gian. "Nhìn kìa!" Triệu Ngai bỗng gọi nàng, chỉ cho nàng nhìn vào lỗ hổng trên vách đá. Chân Chân mới phát hiện trăng rằm nơi chân trời đã di chuyển đến giữa hốc đá, hai hình tròn chồng lên nhau, kích thước tương đương, ánh sáng như ngọc bích hợp lại. Mà ánh trăng xuyên qua vách đá, chiếu xuống hồ nước trong vắt trước mặt họ, cũng tạo thành một vệt sáng hình tròn, chạm vào mặt nước, như gương như ngọc. Chân Chân nhìn vầng trăng ngọc bích trên cao, lại nhìn trăng dưới nước, chỉ cảm thấy như thực như mộng, đẹp đến mức không gì sánh bằng. "Cảnh tượng trăng rằm chồng lên hốc đá chỉ có ngày rằm tháng Tám mới thấy được, nếu may mắn nhìn thấy, chi bằng cầu nguyện với trăng, nghe nói Nguyệt thần sẽ giúp nàng thực hiện tâm nguyện." Triệu Ngai nói với Chân Chân, ôn tồn đề nghị, "Nàng ước một điều đi." "Chỉ được ước một điều thôi sao?" Chân Chân hỏi. Triệu Ngai mỉm cười: "Chắc là vậy. Ước nhiều quá, Nguyệt thần chắc sẽ chê chúng ta tham lam vô độ mất." Chân Chân cúi đầu suy nghĩ, cuối cùng chắp tay trước ngực, hướng về phía vầng trăng cầu nguyện sớm ngày đoàn tụ với nương. Một lát sau, mặt trăng di chuyển khỏi hốc đá, Triệu Ngai ra hiệu cho Chân Chân là họ nên về rồi. Chân Chân gật đầu, nói với hắn: "Cảm ơn ngài, đã cho ta thấy cảnh tượng 'nhất hoằng thu thủy nhất luân nguyệt' (một vùng nước thu một vầng trăng)." Trong mắt Triệu Ngai lóe lên tia sáng: "Nàng thế mà cũng biết bài thơ này?" Chân Chân sững sờ, nhớ đây là câu thơ Lâm Hoằng từng nhắc đến khi nói về tên mình cho nàng nghe, nhưng cả bài thơ thế nào thì nàng không biết. Bèn khiêm tốn thỉnh giáo Triệu Ngai, Triệu Ngai liền đọc cho nàng nghe: "Đây là bài tuyệt cú do một tài t.ử đời Đường tên là Dụ Phù viết:Ngân địa vô trần kim cúc khai, T.ử lê hồng táo đọa môi đài. Nhất hoằng thu thủy nhất luân nguyệt, Kim dạ cố nhân lai bất lai?" (Đất bạc không bụi cúc vàng khai, Lê tím táo hồng rụng rêu xanh. Một vũng nước thu một vầng trăng, Đêm nay cố nhân đến hay không?) Chân Chân chợt hiểu, hóa ra đêm từ biệt ấy, Lâm Hoằng bất động thanh sắc nhắc với nàng về cúc vàng, lê tím, táo hồng trong vườn dịp Trung thu, mà điều hắn thực sự nghĩ trong lòng lúc đó, e rằng chính là câu cuối cùng:Đêm nay cố nhân đến hay không. Vậy đêm nay, hắn cũng sẽ nghĩ đến câu hỏi này chứ? Chân Chân quay người, bước lên vài bước, quay lưng về phía Triệu Ngai, để mặc dòng nước mắt như vỡ đê tuôn rơi trong bóng tối đậm đặc của hàng cây tùng bách. Chương 59 - Gỏi Mầm Cần Mặc dù Chân Chân từ chối khéo, Triệu Ngai vẫn kiên quyết đưa nàng về bếp nhỏ của các Lai Phượng. Lúc này tiệc Diên Quế Bài Đương chưa tan, người trong các dường như vẫn chưa về, đống tro trấu trong lò đất vẫn y nguyên, hẳn là chưa ai động tới. Chân Chân dứt khoát mời Triệu Ngai đợi một lát, tự mình lấy khoai sọ từ trong đống tro ra, muốn chia sẻ với hắn. Triệu Ngai cũng khá hứng thú với món khoai bọc giấy tẩm rượu này, không đợi Chân Chân bóc giấy đã đưa tay định chạm vào, lập tức bị bỏng một cái, rụt phắt tay về. Một quý phu nhân lúc này từ ngoài cửa bước vào, rảo bước đến trước mặt Triệu Ngai, quan tâm hỏi: "Có bị bỏng không?" Triệu Ngai vừa thấy bà liền mỉm cười, đáp: "Không sao đâu ạ." Chân Chân nhìn kỹ, phát hiện người đến lại là Lệ Quý phi, vội đứng dậy hành lễ. Lệ Quý phi kiểm tra tay Triệu Ngai, xác định không sao, bèn quay sang Chân Chân ôn tồn nói "miễn lễ". Lệ Quý phi liếc nhìn mấy củ khoai bên lò, lại nhìn quanh, nhanh chóng tìm thấy khăn lau dùng trong bếp, đi tới chọn một cái sạch sẽ, lại tìm một đôi đũa bạc, sau đó phủ khăn lên nửa dưới củ khoai, tay trái giữ chặt, tay phải cầm đũa, khều lớp giấy bọc khoai ra, lấy củ khoai sạch sẽ ra, đưa cho Chân Chân, bảo nàng bóc vỏ. Chuỗi động tác này làm trôi chảy nhanh nhẹn như mây trôi nước chảy, Chân Chân ngạc nhiên nhìn, quên bẵng mất theo lễ nghĩa phải tiến lên xin làm thay bà, mãi đến khi Lệ Quý phi mở miệng bảo nàng bóc khoai mới như vừa tỉnh mộng. "Lúc nãy hai người đi đâu vậy?" Lệ Quý phi quay sang hỏi Triệu Ngai, giọng điệu khá ôn hòa, chắc là không có ý trách móc, ánh mắt nhìn Triệu Ngai cũng có thể gọi là từ ái, lộ rõ vẻ quan tâm. "Ta tình cờ đi ngang qua đây, thấy ngày tết thế này mà nàng ấy lủi thủi một mình nướng khoai ở đây, thấy đáng thương, nên đưa nàng ấy đến Nguyệt Nham ngắm trăng." Triệu Ngai giải thích. Lệ Quý phi gật đầu, cố ý nhìn Chân Chân, lại nói với Triệu Ngai: "Tiệc chưa tan, ta thấy hơi mệt, nên xin Quan gia cho lui trước. Đi ngang qua bếp, thấy hai người cùng đi vào, nên qua xem thử... Nhị ca, tuy ngươi tuổi còn trẻ, chưa đến lúc xuất các lập phủ, nhưng sống trong cung, dù sao cũng nên có chút kiêng dè, chuyện hôm nay, nếu bị kẻ có tâm nhìn thấy, e là sẽ thêu dệt thị phi, nói ngươi đêm hôm lén lút hẹn hò với nội nhân, truyền đến tai Quan gia thì không hay đâu." Triệu Ngai cúi đầu tỏ ý xin nghe dạy bảo, sau này sẽ không tùy hứng làm bậy nữa. Lệ Quý phi lại nở nụ cười: "Ngươi tuy hoạt bát hơn Đại ca ngươi một chút, nhưng ta biết, ngươi thực ra rất hiểu chuyện, nhiều chuyện ta không cần nói nhiều, ngươi đều sẽ ghi nhớ trong lòng." Triệu Ngai gật đầu: "Những năm qua, toàn nhờ người chăm sóc dạy bảo, Khải khắc cốt ghi tâm." Lệ Quý phi cười trấn an, lại nói: "Ta đã dặn mấy nội thị canh giữ ngoài cửa các, không cho người ngoài lại gần dòm ngó, ngươi cứ yên tâm nếm thử món khoai này đi. Ngửi mùi này, chắc chắn là bọc bã rượu nướng, thơm lắm, chắc ngươi chưa từng ăn kiểu này bao giờ. Ăn xong, ta sẽ cho người đưa ngươi về." Lúc này Chân Chân đã bóc xong một củ, cắt thành mấy miếng bày ra đĩa, dâng lên trước mặt họ. Triệu Ngai mời Quý phi nếm trước, bà từ chối hai lần, thấy mình không ăn Triệu Ngai cũng không động đũa, mới gắp một miếng đưa vào miệng, vừa nếm thử nét mặt đã lộ vẻ vui mừng, nói: "Đúng là ngọt thơm ngon miệng hơn loại thường." Triệu Ngai lập tức nếm một miếng, cũng khen không dứt miệng. Chân Chân thấy phản ứng của hai người, đương nhiên vui ra mặt, bóc hết chỗ khoai còn lại dâng lên. Lệ Quý phi lại kéo nàng ngồi xuống bên cạnh mình, nói: "Ngươi cũng vất vả cả ngày rồi, đáng thương chẳng được nếm chút cao lương mỹ vị nào trong tiệc, giờ đành chịu thiệt thòi ăn khoai cùng ta và Nhị ca. Lát nữa ta sẽ nói với Hồ Điển Thiện, sau này có tiệc tùng lễ tết, không được để ngươi lủi thủi một mình trong bếp tự kiếm cái ăn nữa." Bà bảo Chân Chân và Triệu Ngai tiếp tục ăn khoai, bản thân lại dừng đũa không ăn, chỉ mỉm cười nhìn họ. Nghe những lời quan tâm của bà, trong lòng Chân Chân vô cùng cảm kích, bèn về phòng lấy trà hoa mơ mời Quý phi dùng. Lệ Quý phi thấy mấy bông lạp mai ngâm mật trong nước sôi từ từ nở bung, cảm thấy rất thích thú, sau đó hương hoa tỏa ra từ trà cũng rất hợp ý bà, uống một ngụm khen ngợi hết lời, nói: "Uống trà hoa này như đang ở giữa rừng mơ, khiến tâm trạng người ta cũng tốt lên." Đợi Triệu Ngai ăn xong khoai, Lệ Quý phi sai nội thị ngoài cửa đưa Triệu Ngai về, bản thân vẫn ở lại trong bếp, bảo Chân Chân dập tắt lửa trấu, đề phòng ban đêm hỏa hoạn, còn mình thì tìm dây buộc tay áo của Hồ Điển Thiện, buộc tay áo rộng của mình lên cao, sau đó lại tự mình thu dọn bát đĩa chén trà vừa dùng định mang đi rửa. Chân Chân kinh hãi, vội vàng tiến lên xin bà dừng tay, nói đây là việc mình phải làm. Lệ Quý phi lắc đầu, nói: "Ta giúp ngươi sẽ làm nhanh hơn, như vậy ngươi có thể nghỉ ngơi sớm một chút. Huống hồ ta vừa ăn xong, cũng cần làm chút việc vận động tay chân, mới dễ tiêu hóa." Mặc kệ Chân Chân ngăn cản, bà kiên quyết tự mình rửa sạch bát đĩa chén trà, động tác thành thạo, lại rửa cực sạch. Chân Chân nhận lấy, khi chuẩn bị cất đi, nhìn bát đĩa sáng bóng, không khỏi thầm tán thán. Lệ Quý phi nhìn biểu cảm của nàng, vừa tự cởi dây buộc tay áo, vừa mỉm cười nói: "Không ngờ ta biết làm những việc này phải không?" Chân Chân cũng không biết nói những lời nịnh nọt sáo rỗng, thành khẩn nói ra cảm nhận của mình: "Quý phi cũng tháo vát như nương của thần vậy." Nụ cười của Lệ Quý phi càng thêm sâu sắc: "Cảm ơn ngươi, đã so sánh ta với nương ngươi." Khi Quý phi sắp rời khỏi bếp về tẩm các, quay đầu lại nhìn Chân Chân, nói với nàng: "Ta cũng là người từng làm thị nữ." Sau này Chân Chân cũng không cố ý nghe ngóng, đã có nội nhân Thượng Thực Cục trong lúc tán gẫu kể cho nàng biết, Lệ Quý phi vốn là thị nữ của Thái hậu, khi Kim thượng còn là Thân vương đã được Thái hậu ban cho ngài. Ban đầu Kim thượng và phu nhân tình sâu nghĩa nặng, cũng không để ý lắm đến Lệ thị, nhưng khi phu nhân bệnh nặng, Lệ thị bất ngờ nhận được sủng ái tột độ. Sau khi Kim thượng lên ngôi truy phong nguyên phối làm An Thục Hoàng hậu, Lệ thị qua mấy lần thăng cấp lên làm Quý phi. Vì nguyên nhân mẹ đẻ, Thái t.ử không thích Lệ Quý phi, ngoài những lễ tiết xã giao cần thiết, bình thường tuyệt đối không qua lại, còn Nhị hoàng t.ử Triệu Ngai sau khi mẹ đẻ qua đời lại do Lệ Quý phi nuôi lớn. Lệ Quý phi không có con cái, nên coi Triệu Ngai như con đẻ, vô cùng yêu thương, Triệu Ngai cũng phụng dưỡng bà như nương, bèn theo cách gọi của Hoàng t.ử Công chúa đối với nương đẻ là phi tần, gọi bà là "tỷ tỷ", hễ ở trong cung, nhất định không quên sáng thăm tối viếng. Chân Chân nhờ đó hiểu được vì sao đêm Trung thu Lệ Quý phi phát hiện nàng và Triệu Ngai qua lại lại ra sức che chở cho họ, yêu ai yêu cả đường đi lối về, đối với nàng cũng vô cùng thân thiện. Có lẽ Lệ Quý phi có dặn dò, Hồ Điển Thiện coi trọng Chân Chân hơn trước nhiều, bắt đầu để nàng làm một số món ăn cho Quý phi. Một hôm, Triệu Ngai đi Ngọc Tân Viên ở ngoại ô phía nam b.ắ.n cung, tiện tay b.ắ.n hạ mấy con chim c* gáy, về cung gửi đến bếp của Lệ Quý phi. Hồ Điển Thiện làm sạch chim c* gáy, liền định thêm chút d.ư.ợ.c liệu bổ dưỡng, dùng để hầm canh. Lệ Quý phi hai năm nay thân hình đẫy đà hơn, nhưng sức khỏe lại yếu ớt vô cùng, thái y khám cũng không nói ra bệnh gì, chỉ khuyên nên tẩm bổ bằng thức ăn, nên Hồ Điển Thiện thường dùng d.ư.ợ.c liệu và thịt gia cầm làm món ăn bài t.h.u.ố.c tẩm bổ, thế nhưng Lệ Quý phi ăn ngày càng ít, người cũng ngày càng uể oải, thường nằm liệt giường bệnh tật. Nhìn Hồ Điển Thiện làm d.ư.ợ.c thiện nhiều, Chân Chân thầm nghĩ, nếu mình ngày nào cũng ăn những thứ này, e là cũng thấy ngán. Bèn thử gợi ý với Hồ Điển Thiện: "Chimcu gáy nếu dùng để hầm canh, dùng phần có xương là được. Còn thịt ức chim gáy mềm và không xương, chi bằng lọc ra làm món khác." Hồ Điển Thiện quay sang nhìn nàng: "Ngươi muốn làm thế nào?" "Có lẽ, có thể dùng để xào." Chân Chân nhớ tới chiếc chảo nàng mang vào cung. Mang theo vài phần tò mò với chiếc chảo xào rau kia, Hồ Điển Thiện đồng ý cho nàng thử. Chân Chân nhanh chóng lấy chảo rửa sạch, thái thịt ức mấy con chim c* gáy thành sợi, ướp trước với dầu, muối, tương, rượu vàng và hành gừng, sau đó dùng chảo đun nóng dầu, xào sơ qua thịt chim, rồi bỏ thêm một ít mầm cần tây, tiếp tục đảo đều. Trong quá trình này Chân Chân tay cầm cán chảo, tay lúc cao lúc thấp, kiểm soát nhịp điệu ngọn lửa l.i.ế.m đáy chảo, thi thoảng hất chảo, để thịt sợi và mầm cần tây nhấp nhô lật úp trong chảo, từng sợi nhảy lên rồi rơi xuống. Dầu mỡ hòa quyện mùi thịt thơm và mùi thanh khiết của cần tây, thơm nức cả phòng, không chỉ Hồ Điển Thiện và người trong bếp dừng tay xem, ngay cả mấy hoàng môn ngoài cửa cũng bị thu hút vào trong, liên tục hỏi làm món gì mà thơm thế. Món ăn này sắc hương vị đều đủ cả, quả nhiên Lệ Quý phi vừa nhìn thấy liền có hứng thú nếm thử, cuối cùng ăn hết hơn nửa đĩa, cơm cũng ăn được nhiều hơn bình thường. "Món này tên là gì? Ai dạy ngươi làm?" Lệ Quý phi đặc biệt gọi Chân Chân đến hỏi. Chân Chân đáp: "Tên thịt xào mầm cần, là do người thầy trước khi vào cung của thần từng nhắc tới, nói Đông Pha cư sĩ có ghi chép: Người Thục quý mầm cần, trộn với thịt chim c* gáy rất ngon. Nhưng thầy của thần thích ăn chay, cực ít dùng gia cầm nấu nướng, thần cũng chưa từng thực hành. Hôm nay cơ duyên xảo hợp, Nhị Đại Vương gửi chim c* gáy đến, cho nên thần mới nghĩ ra cách xào thử thế này." Lệ Quý phi mỉm cười nói: "Ngươi rất thông minh, chỉ dựa vào một câu ghi chép mà làm ra được món ngon thế này, làm ta khó xử rồi, sau này nên để ngươi làm nhiều món cho ta, hay là làm ít đi đây... Làm ít thì ta bỏ lỡ món ngon, làm nhiều ta lại sợ ăn nhiều, sẽ tiếp tục béo lên." "Thực ra không cần lo lắng điều này." Chân Chân lập tức nhớ tới lời Lâm Hoằng từng nói với nàng, "Thầy của thần từng nói: Người đói rồi mới ăn thì sẽ không béo, béo là do ăn quá nhiều thức ăn khi tỳ vị không cần, ví dụ như ăn để xã giao, ăn để trút giận, ăn để không lãng phí, ăn để g.i.ế.c thời gian. Nếu Quý phi ăn uống điều độ đúng giờ, sẽ không béo đâu. Nếu ngài cảm thấy mình hơi đẫy đà, có phải vì trước đây để tẩm bổ, đã ép bản thân ăn quá nhiều thức ăn mà tỳ vị không cần hay không?" Lệ Quý phi tỏ vẻ ngạc nhiên, suy ngẫm một lát, lại mỉm cười nói: "Nghe có lý lắm. Thầy của ngươi nhất định là một cao nhân học thức siêu phàm... Ngươi học với ông ấy bao lâu?" Chân Chân đáp: "Từ mùa đông năm ngoái đến mùa xuân năm nay." "Ngắn thế sao?" Lệ Quý phi ngạc nhiên nói, "Cảm giác trù nghệ của ngươi bây giờ đã rất khá rồi." "Bởi vì, thầy cảu thần là người thầy tốt nhất mà thần từng gặp." Chân Chân nhớ tới Lâm Hoằng, đôi mắt lập tức sáng lên, khóe môi bất giác nở nụ cười, "Lúc đầu theo người học, thần thiếp cảm thấy rất vất vả, vì thần thích ngủ nướng, mà người dậy rất sớm, thần phải đến bếp trước khi người dậy. Người lại không thích chủ động nói chuyện, bảo thần phải làm gì, làm thế nào, cho nên thần chỉ có thể tập trung tinh thần quan sát nhất cử nhất động của người, nỗ lực ghi nhớ từng câu người nói. Nhưng làm vậy cũng khiến thần thiếp tĩnh tâm lại, nghiêm túc suy ngẫm nguyên nhân và ý đồ trong từng bước làm của người, phân tích kỹ thuật của người, cũng như tâm ý người muốn truyền đạt đến thực khách, ngược lại lĩnh ngộ được không ít. Sau khi quen thân, người dần dần sẽ nói với thần rất nhiều đạo lý, những lời này dường như nói về thức ăn và nấu nướng, nhưng không chỉ dừng lại ở đó, dùng để ví với đời người cũng được, thường khiến thần có cảm giác được khai sáng. Cho nên về sau, thần cũng không còn thấy dậy sớm là chuyện đau khổ nữa. Trước khi ngủ mỗi đêm, thần đều vui vẻ đoán xem sau khi trời sáng, dưới sự chỉ dạy của người, sẽ học được kỹ nghệ tinh diệu thế nào, làm ra món ngon thế nào, và xem người lơ đãng nói ra những lời đầy thiền ý ra sao... Điều này khiến thần mỗi đêm đều tràn đầy mong đợi vào ngày mai." Chương 60 - Cua Nhồi Cam Từ đó về sau, mỗi bữa Lệ Quý phi đều dùng món do Chân Chân chế biến. Bởi phong cách ẩm thực của nàng khác xa những món đậm mùi t.h.u.ố.c bổ dưỡng thường ngày, nên rõ ràng càng được lòng Quý phi hơn cả. Khi dùng bữa, Quý phi cũng thích gọi Chân Chân đứng hầu bên cạnh. Tính tình Chân Chân vốn chẳng giống đám nội nhân trong cung cứ khúm núm rụt rè, nàng thường mày chau mặt hớn, say sưa kể cho bà nghe những chuyện lạ thấy được ngoài cung. Quý phi nghe mà hứng thú dạt dào, tâm trạng nhờ đó cũng tốt lên không ít. Chân Chân lại khuyên Quý phi nên thường xuyên vận động nhẹ nhàng như ném thẻ vào bình hay đá cầu, khuyến khích bà đi dạo nhiều hơn trong Hậu uyển. Quý phi nghe theo, tinh thần quả nhiên chuyển biến tốt, vẻ tiều tụy cũng giảm đi trông thấy. Một hôm, Quý phi truyền lời cho Hồ Điển thiện, bảo rằng buổi trưa Quan gia sẽ ngự giá đến các Lai Phượng dùng bữa, cần phải chuẩn bị món ăn thật tinh tế. Bà đặc biệt dặn dò Chân Chân, nhất định phải làm một món ngon khiến người ta cảm thấy "tai nghe mắt thấy đều mới lạ" để dâng lên Quan gia thưởng thức. Đã lâu lắm rồi Hoàng đế không đến dùng bữa cùng Lệ Quý phi, nên người trong các đều vui mừng khôn xiết, chạy đôn chạy đáo loan tin. Hồ Điển thiện càng cảm thấy trọng trách nặng nề, dặn dò Chân Chân lo liệu thật tốt món của mình rồi tự thân đi chọn nguyên liệu, bắt đầu tất bật ngược xuôi. Chân Chân nhìn quanh đống nguyên liệu hiện có, thấy cũng chẳng có gì đặc biệt trân quý, thứ tốt nhất có lẽ là cua hồ đang độ vào mùa, đúng lúc gạch đầy thịt béo. Nhưng ngặt nỗi, cũng chính vì đang vào mùa, nên trong ngự thiện của Quan gia mấy ngày nay e là cũng chẳng thiếu món cua. Nếu chỉ hấp luộc tầm thường, làm sao khiến người ta cảm thấy mới lạ cho được? Chân Chân trầm ngâm suy tư, ánh mắt lướt qua khay trái cây, dừng lại ở những quả cam vàng ươm. Trong đầu nàng chợt lóe lên tia sáng, bỗng nhiên nảy ra một ý tưởng. Dù chỉ có thời gian một buổi sáng, nhưng Hồ Điển thiện vẫn kịp làm ra mấy món tinh xảo như cật heo trắng nấu vải, tam sắc chiên tươi, canh bách nghi... Bà còn đặc biệt đến Thượng Thực cục xin một con cá Hoài Bạch, làm món cá Hoài Bạch nấu rượu mà Quan gia ưa thích. Quan gia thấy vậy cũng khen bữa trưa nay thật phong phú, nhưng không bình phẩm cụ thể món nào, chỉ thong thả dùng bữa, thỉnh thoảng quay sang trò chuyện đôi câu cùng Lệ Quý phi. Một lát sau, món của Chân Chân đã hoàn thành. Theo lời dặn của Lệ Quý phi, nàng đặt món ăn vào đĩa, tự tay bưng lên bàn tiệc. Món ăn vừa đưa lên đã thu hút ngay ánh nhìn của Hoàng đế: Trông như hai quả cam lớn, vỏ vàng óng ả, phần chóp còn nguyên cành lá xem chừng đã được cắt ra, để lộ một vòng vết d.a.o gọn ghẽ, nhưng nắp cam vẫn đậy khít bên trên, giữ nguyên hình dáng tròn trịa của quả cam. Trên chiếc đĩa bạc đựng cam còn điểm xuyết hai cành hoa cúc nhỏ màu sắc tươi thắm. Chân Chân dâng lên trước mặt mỗi người một quả, rồi thay họ mở nắp cam ra. Liền có làn khói trắng nóng hổi theo đó bay lên, đập vào mắt mọi người là phần thịt cua và gạch cua vàng ruộm hoà quyện trong nước cam sóng sánh. Món "Cua Nhồi Cam" này Chân Chân làm theo công thức trong cuốn thực phổ mà Lâm Hoằng tặng nàng: Khoét rỗng ruột cam rồi vắt lấy ít nước, sau đó chọn vài con cua hồ, gỡ lấy thịt và gạch, nhồi vào trong lòng quả cam, trộn thêm nước cam, đậy nắp vỏ lại, đặt cả quả vào chõ nhỏ, bên dưới nước hấp cho thêm rượu và giấm rồi chưng chín. Chân Chân mời Đế, Phi dùng kèm với giấm và muối đã dọn sẵn trên bàn. Hoàng đế nếm thử một miếng, cười nói: "Khá lắm, có hương cam thanh mát thấm đượm vào trong, thịt cua gạch cua lại càng thơm hơn, vị gạch cua béo ngậy mà ăn chẳng thấy ngán. Cách bày trí cũng thật khéo léo, rượu mới hoa cúc, cam thơm cua béo, thật ứng với cảnh sắc tiết trời lúc này." Chân Chân cúi người hành lễ tạ ơn Quan gia khen ngợi, lúc đứng dậy mới lén đưa mắt đ.á.n.h giá ngài một chút. Quan gia chừng bốn mươi tuổi, mũi dọc dừa, mày mắt thanh hòa, để chòm râu rất đẹp. Có lẽ do chăm chỉ luyện tập cưỡi ngựa b.ắ.n cung nên nước da ngài hơi ngăm đen, nhưng nhìn tổng thể, khí chất nho nhã vẫn lấn át vẻ võ biền. Lúc này ngài đang mỉm cười nhìn nàng, vẻ mặt vô cùng hiền từ. Lệ Quý phi nếm xong cũng khen ngon, bảo rằng cách làm này thật mới mẻ. Hoàng đế liền bảo với bà: "Thực ra, cách dùng vỏ cam chưng cua này từ thời Tiên đế đã có rồi. Năm xưa Lưu Tư thiện từng làm cho Tiên đế dùng, hơn nữa còn dùng càng cua bể để gỡ thịt, nhồi đầy vào quả cam rồi hấp lên. Từng khối thịt càng cua trắng phau ngâm trong nước cam, tựa như bạch ngọc dát vàng, đẹp vô cùng." Cua bể vốn là loài cua xanh to lớn, thịt ở càng vừa nhiều lại vừa chắc, ăn rất ngọt và thơm. Chân Chân mường tượng ra món Cua Bể Nhồi Cam ấy, thầm nghĩ hương vị có lẽ còn thanh mát ngọt ngào hơn cua hồ, chỉ có điều muốn nhồi đầy một quả cam to, e là phải gỡ thịt của mười mấy hai mươi cái càng cua bể mới đủ. Lệ Quý phi cũng nghĩ đến vấn đề này: "Nhưng muốn làm được một quả cam nhồi như thế, phải tốn bao nhiêu cái càng cua bể chứ?" "Bởi vậy, đây là cách làm cực kỳ xa xỉ." Hoàng đế lắc đầu than, "Cua bể vốn đã đắt, gỡ lấy thịt của bao nhiêu cái càng như thế, phần thân cua còn lại dùng chẳng được bao nhiêu, đa phần là lãng phí cả." Lệ Quý phi lấy làm lạ: "Tiên đế thường răn dạy chúng ta ăn uống phải tiết kiệm, kỵ nhất là lãng phí, sao lại để Lưu Tư thiện làm món ăn như vậy?" "Đó hình như là cách ăn của nhà Tề Thái sư." Hoàng đế đáp, "Lưu Tư thiện làm xong dâng lên Tiên đế, Tiên đế không ăn, sai bà ấy mang sang cho ta." Lệ Quý phi hỏi dồn: "Vậy Quan gia có ăn không?" Hoàng đế cười: "Cha ta còn chẳng ăn, ta đâu dám nhận. Sau khi từ chối ba lần, Tiên đế liền bảo Lưu Tư thiện mang quả cam nhồi đó sang biếu Cúc phu nhân." "Cúc phu nhân..." Lệ Quý phi thoáng chút ngỡ ngàng, rồi ngay lập tức trao đổi ánh mắt đầy ẩn ý với Hoàng đế, cả hai cùng bật cười. Chân Chân đứng hầu một bên, nghe họ nhắc đến Lưu Tư thiện và Cúc phu nhân thì tò mò lắm, nín thở lắng nghe, mong ngóng được biết thêm nhiều chuyện về họ, nào ngờ Hoàng đế lại không kể nữa, chuyển sang đề tài khác, bảo Lệ Quý phi: "Hôm nay, Thái t.ử lại chủ động nhắc đến Phùng Tịnh với ta... Đây có lẽ là lần đầu tiên kể từ sau chuyện tuyển chọn Thái t.ử phi." Lệ Quý phi không khỏi mở to mắt, hồi lâu sau mới khẽ thở dài, hỏi: " Thái t.ử nhắc gì đến con bé vậy?" Hoàng đế nói: "Sau buổi chầu sớm, Tưởng Uyển sứ - người chủ trì việc xây dựng vườn Tụ Cảnh cầu kiến ta, bẩm rằng trước đó đã gửi bản vẽ sân vườn tẩm điện của Thái hậu vào cung Từ Phúc, Thái hậu xem xong bảo cần sửa lại. Tưởng Uyển sứ sửa đi sửa lại mấy lần, Thái hậu đều không ưng ý, nhưng cụ thể phải sửa thế nào thì người lại không nói rõ. Tưởng Uyển sứ hết cách, đành đến hỏi ý kiến ta. Lúc đó Thái t.ử cũng ở bên cạnh, im lặng nghe chúng ta nói chuyện, lại xem kỹ bản vẽ của Tưởng Uyển sứ. Sau khi Tưởng Uyển sứ lui ra, nó mới mở lời với ta: Thái hậu có lẽ cảm thấy sân vườn tẩm điện khác với nơi ở của nam giới, cần phải đoan trang mà không mất đi vẻ tú lệ, khí phái mà không thiếu nét tinh tế. Thiết kế của Tưởng Uyển sứ hoành tráng thì có thừa, nhưng nét linh tú lại không đủ, e rằng cần phải có một nữ t.ử am hiểu về lầu gác vườn tược để góp ý kiến." Lệ Quý phi lập tức hiểu ra: "Cho nên, nó nghĩ đến Tiểu Tịnh." Vườn Tụ Cảnh thì Chân Chân cũng từng nghe qua, nằm ở ngoài cửa Thanh Ba, bên bờ Tây Hồ. Đó là khu vườn hoàng gia bắt đầu xây dựng từ thời Tiên đế còn tại thế, vì diện tích quá rộng, công trình đồ sộ nên kéo dài đến nay vẫn chưa xong. Nghe Quan gia thuật lại ý của Thái tử, dường như Phùng Tịnh rất có tâm đắc với việc thiết kế vườn tược. Chân Chân thầm lấy làm lạ: Ở chung với Phùng Tịnh cũng không ít ngày, vậy mà chưa từng thấy cô ấy nhắc đến bao giờ, cứ tưởng cô ấy suốt ngày chỉ nghiên cứu trù nghệ thôi chứ. "Thái t.ử nói, Phùng Tịnh biết vẽ thiết kế, tinh thông toán học, lại còn hiểu biết về thổ mộc công trình. Hơn nữa thân là nội nhân, cô ấy tiện ra vào cung Từ Phúc để trực tiếp hỏi ý kiến Thái hậu, có cô ấy tham gia thiết kế, ắt sẽ hợp ý Thái hậu." Hoàng đế nói tiếp, rồi lại cảm thán, "Thực ra, Thái t.ử nói không sai, Phùng Tịnh là tài nữ hiếm có, ban đầu chúng ta để cô ấy ở Thượng Thực cục, thật là ủy khuất cho cô ấy rồi." Lệ Quý phi im lặng hồi lâu mới nói: "Nhưng mà, chuyện vào Thượng Thực cục ban đầu là ý của con bé. Quan gia vốn định để nó theo Thượng cung học tập vài năm, rồi ban cho một chức vị cao... Đứa trẻ này trông thì ôn nhu hòa thuận, thực chất tính tình lại có mấy phần cố chấp. Thần thiếp cũng muốn để nó tham gia thiết kế vườn Tụ Cảnh, tận trung với Thái hậu, nhưng chẳng biết trong lòng nó hiện giờ nghĩ thế nào, liệu có lo lắng vì chuyện này mà lại bị người ta bàn ra tán vào hay không..." Hoàng đế ngẫm nghĩ rồi bảo: "Hay là nàng gọi riêng cô ấy đến hỏi xem, cố gắng khuyên giải một chút, bảo cô ấy hãy nhận lời, đừng phụ ý tốt tiến cử của thái tử. Biết đâu sau này chuyện giữa hai đứa nó lại có chuyển biến tốt nhờ việc này cũng chưa biết chừng." Lệ Quý phi nghe lời, ngay chiều hôm đó liền sai Chân Chân mời Phùng Tịnh đến, cùng Quý phi chơi ném tên vào bình trong các. Đây là lần đầu tiên Chân Chân thấy Phùng Tịnh chơi trò này, biểu hiện của Phùng Tịnh khiến nàng phải nhìn bằng con mắt khác. Hiệp đầu tiên, mỗi mũi tên Phùng Tịnh ném ra đều rơi trúng vào miệng bình, đạt được "Toàn hồ". Trước khi ném tên, đôi lông mày cô khẽ cau lại, ánh mắt ngưng đọng nhắm chuẩn, biểu cảm ấy bình tĩnh và chuyên chú vô cùng, toát lên một nét anh khí kiên nghị, hoàn toàn chẳng giống với người con gái yếu đuối bị kẻ bạc tình vứt bỏ trong lời đồn đại. Hiệp thứ hai, Chân Chân đề nghị thi kỹ thuật. Phùng Tịnh cũng chẳng hề nhường nhịn, đầu tiên ném hai mũi tên lọt vào hai tai bình, hoàn thành chiêu "Quán nhĩ" (xâu tai). Tiếp đó cô nhờ người đổ hết đậu trong bình ra, ném một mũi tên vào trong, đợi mũi tên nảy ngược trở ra thì nhanh tay bắt lấy rồi ném lại vào bình lần nữa, khiến đám người vây xem reo hò tán thưởng không ngớt. Kết thúc hai hiệp, Lệ Quý phi bảo Phùng Tịnh ngồi xuống uống trà cùng mình. Thấy tâm trạng Phùng Tịnh khá tốt, bà mới giả vờ bâng quơ nhắc đến đề nghị của Thái tử. Vừa nghe đến tên Thái tử, nụ cười trên mặt Phùng Tịnh tắt ngấm ngay tức khắc. Cô trầm ngâm giây lát, rồi từ chối một cách ôn hòa nhưng ánh mắt lại kiên định vô cùng: "Xin Ngài chuyển lời tới Quan gia: Phùng Tịnh học thức nông cạn, thiết kế hay toán học chẳng qua chỉ là trò chơi cưỡi ngựa xem hoa lúc còn ở trong khuê phòng năm xưa, đâu dám múa rìu qua mắt thợ trước ngự tiền. Việc xây dựng vườn Tụ Cảnh là chuyện hệ trọng, Thái hậu đối với bố cục tẩm các ắt đã có tính toán trong lòng, lại thêm các bậc cao nhân như Tưởng Uyển sứ chủ trì, con thực sự không dám tùy tiện xen vào. Kính mong Quan gia xá tội, tiếp tục cho phép con nương thân ở Thượng Thực cục, làm một đầu bếp bình thường thôi ạ." Lệ Quý phi than thở: "Năm xưa để con vào Thượng Thực cục vốn là kế sách tạm thời, Quan gia và ta đều thấy con chịu thiệt thòi, sớm muộn gì cũng muốn con rời khỏi đó, tìm một chức vị xứng đáng với tài năng của con." "Dốc lòng vào trù nghệ cũng chẳng có gì là không tốt." Phùng Tịnh đáp, "Trước kia nghiên cứu bao nhiêu kỹ nghệ, rốt cuộc cũng chỉ là tự chuốc lấy phiền não. Con đã khóc, đã oán hận, đã trầm uất suốt một thời gian dài, cuối cùng lại tìm thấy sự an yên trong hương thơm ấm áp và ngọt ngào của những món điểm tâm. Huống hồ kỹ nghệ vốn không phân cao thấp, quan trọng là người ta dùng nó thế nào. Một đầu bếp giỏi chưa chắc đã kém hơn một bậc thầy xây dựng vườn tược, bởi cô ấy có thể dùng món ăn để xây nên một mái nhà ấm áp trong lòng người thưởng thức." Chương 61 - Vườn Tập Phương Chân Chân tiễn Phùng Tịnh đi qua hành lang Cẩm Yên để về Thượng Thực cục. Hành lang Cẩm Yên là một dãy hành lang dài đến một trăm tám mươi gian, hai bên là những ô cửa sổ gỗ dài có thể tháo dỡ, được sơn màu son đỏ thắm. Người trong cung có thể tùy theo thời tiết nóng lạnh mà di chuyển các cánh cửa gỗ để điều hòa nhiệt độ. Phía Bắc hành lang Cẩm Yên là Hậu uyển, hai bên phân ra các viện các của phi tần và Lục Thượng, ở giữa có rừng mai, còn đầu phía Nam dẫn ra đại điện tiền triều và Đông cung. Dọc đường đi, Chân Chân cứ mãi khuyên Phùng Tịnh nên suy nghĩ lại việc chấp nhận đề nghị của Quan gia, tham gia thiết kế vườn Tụ Cảnh. Phùng Tịnh cứ im lặng không đáp, mắt nhìn thẳng phía trước chậm rãi bước đi, trước sau vẫn không chịu. Chân Chân nhịn không được bèn nói: "Tỷ học toán học, thiết kế với thổ mộc công trình bao nhiêu năm như thế, đâu phải học vì Thái tử. Bây giờ có cơ hội dùng đến, hà cớ gì vì một chút tự ái nhất thời mà bỏ lỡ dịp thi thố tài năng?" Lúc này Phùng Tịnh mới nghiêng đầu nhìn nàng: "Chuyện của ta và Đông cung, muội biết được bao nhiêu?" Thấy đôi mày cô ấy khẽ nhíu lại, Chân Chân chợt cảm thấy vừa rồi mình nhắc đến Thái t.ử là quá vô lễ, bèn ngượng ngập đáp: "Không nhiều lắm, chỉ nghe nói, hai người trước kia quen nhau ở vườn Tập Phương gì đó..." Phùng Tịnh tiếp tục bước đi, hàng mi rũ thấp, vẻ mặt ưu tư hoảng hốt. Chân Chân cũng chẳng dám nói nhiều nữa, lẳng lặng đi cùng cô ấy dọc theo hành lang Cẩm Yên, từng bước từng bước một. Hai người mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, không ngờ lại đi lỡ mất lối rẽ sang Thượng Thực cục, cứ thế thong thả đi về phía đầu Nam, mãi cho đến khi một vị nội quan lớn ngẩng cao đầu sải bước đi tới, chắn ngay lối đi của họ. Hai người ngẩng đầu nhìn lên, nhận ra người đến là Vương Mộ Trạch, một trong những hoạn quan quyền thế nhất trong cung, chức danh đầy đủ hiện giờ là Nhập nội Nội thị sảnh Phó đô tri, Đông cung Đô giám, chủ quản Tả Hữu Xuân phường sự. Hai người lùi sang một bên hành lang, cúi người nhường đường cho Vương Mộ Trạch. Nào ngờ Vương Mộ Trạch không đi ngay, lão dừng chân nhìn Phùng Tịnh, dùng giọng điệu ra chiều khách sáo nhưng ẩn chứa đầy vẻ châm chọc nói với cô: "Phùng Chưởng thiện dừng bước, đi thêm nữa là tới Đông cung rồi đấy." Lão rõ ràng biết rất rõ ẩn tình giữa Thái t.ử và Phùng Tịnh, câu này nói ra nghe lạnh lùng vô cùng. Rõ ràng hai người đi cùng nhau, lão lại chỉ thẳng mặt Phùng Tịnh mà nói, đến Chân Chân nghe còn thấy chối tai, huống hồ là Phùng Tịnh. Phùng Tịnh cúi đầu không nói, sắc mặt trắng bệch, không biết đối đáp ra sao. Chân Chân thấy bất bình thay cho cô, lập tức bước lên một bước, nhìn thẳng vào Vương Mộ Trạch nói: "Vương Đô tri, phía trước hành lang Cẩm Yên này, bên Đông là Đông cung, bên Tây là tiền triều. Hiện giờ Quan gia đang ở điện Thùy Củng, Đô tri cớ sao lại vô duyên vô cớ nhắc đến Đông cung?" Vương Mộ Trạch nheo mắt đ.á.n.h giá Chân Chân, cười nhạt một tiếng, chắp tay với nàng rồi không nói thêm gì nữa, quay người tiếp tục đi về phía Hậu uyển. Đợi lão đi xa, Phùng Tịnh mới thở dài, bảo: "Chúng ta đâu có được Quan gia truyền gọi, sao muội lại đem Quan gia ra để đối chọi với ông ta?" "Lão ta dùng Đông cung để mỉa mai tỷ, thì chỉ có nhắc đến Quan gia mới dập tắt ngay được cái thói hống hách của lão thôi." Chân Chân cười với Phùng Tịnh, "Đừng lo, muội chỉ nói Quan gia hiện giờ đang ở điện Thùy Củng, chứ đâu có nói chúng ta đi gặp ngài. Vương Mộ Trạch có muốn truy cứu cũng chẳng thể bảo muội nói dối được." Nàng vừa kéo tay Phùng Tịnh đi ngược trở lại, vừa tiếp tục khuyên: "Chuyện cũ trước kia, tỷ cứ coi như một giấc mộng, qua rồi thì cho qua đi, con người ta luôn phải nhìn về phía trước. Làm tốt nhiệm vụ Quan gia giao phó, sau này trong cung ai dám coi thường tỷ nữa? Như thế, những chuyện bực mình như hôm nay cũng sẽ chẳng xảy ra đâu." Thấy Phùng Tịnh vẫn im lặng, Chân Chân lại nói: "Những chuyện trước kia, tỷ vẫn chưa buông bỏ được đúng không? Nếu buông được rồi, vui buồn của tỷ đâu còn liên quan gì đến ngài ấy, càng sẽ chẳng một mực né tránh những việc liên quan đến Thái tử, đến mức thà bỏ phí những kỹ nghệ đã học bao năm." "Muốn buông bỏ, nói thì dễ lắm." Phùng Tịnh dừng bước, đứng ở phía Tây hành lang. Ánh mắt cô mênh mang, rơi vào ngàn vạn gốc mai đang bắt đầu rụng lá bên ngoài hành lang, bắt đầu nhắc lại chuyện xưa: "Ta biết, trong cung đồn đại ta và Thái t.ử gặp gỡ ở vườn Tập Phương, ta nhờ thơ văn mà được ngài ấy để mắt, rồi từ đó qua lại thân mật... Thực ra không phải vậy. Luận về thơ văn, trong cung ai qua mặt được Thái tử? Chút công phu hèn mọn của ta, chỉ đủ để làm ngài ấy cười một cái mà thôi..." "Vậy thứ thu hút sự chú ý của ngài ấy, là toán học?" Chân Chân đoán. Phùng Tịnh gật đầu, tiếp tục kể: "Huynh trưởng của ta là Phùng Quân, giữ chức Tướng tác giám thừa. Tướng tác giám chuyên quản chuyện xây dựng tường thành, cung thất, cầu đường, xe thuyền. Ta từ nhỏ đã thích toán học, lại thấy huynh trưởng say mê nghiên cứu phép tắc và kỹ thuật xây dựng, liền học theo, còn theo huynh ấy học cả vẽ thiết kế nhà cửa vườn tược. Mấy năm trời ròng rã, cũng miễn cưỡng coi là biết chút ít. Sau này huynh ấy chịu trách nhiệm giám sát Tu nội tư tu sửa vườn Tập Phương, ta nhất thời cao hứng, thiết kế cho khu vườn một cái đình 'Khúc thủy lưu thương', còn vẽ cả bản đồ. Huynh ta mang cho người của Tu nội tư xem, họ thấy cũng được, bèn xây một cái đình Khúc Thủy y hệt như thế. Tiết Thượng Tỵ năm ngoái, huynh ấy bảo sẽ dẫn ta vào vườn xem cái đình ta thiết kế, ta liền đi theo. Để không gây chú ý, huynh ấy đã tìm cho ta bộ y phục của nội nhân trong cung, dặn nếu có ai hỏi thì cứ bảo ta là nội nhân thường trú trong vườn lo việc quét tước..." Cô ẩn mình dưới những vệt nắng loang lổ xuyên qua ô cửa hành lang Cẩm Yên, ánh mắt chập chờn theo bóng nắng, nhớ về chuyện cũ, bên môi thoáng nụ cười chua xót. Ngày hôm đó, trời trong gió nhẹ, trăm hoa trong vườn Tập Phương đua nở, hương thơm ngát không dứt. Nhưng vì chưa tu sửa xong nên trong vườn chẳng có tôn thất hay hoàng thân quốc thích nào đến du xuân. Phùng Tịnh dạo chơi hồi lâu, bỗng nghe trong vườn có tiếng ồn ào khe khẽ. Rất nhiều nội thần, nội nhân đều rảo bước chạy về phía cổng chính, bao gồm cả huynh trưởng của cô. Một lát sau, họ vây quanh một nam t.ử trẻ tuổi mặc áo xanh, đầu đội khăn mềm, tiến vào vườn, giới thiệu cho người đó từng cảnh quan, cung kính mời người đó ban tên đề biển ngạch. Nghe cách xưng hô của người trong vườn, cô biết đó chính là Thái t.ử Triệu Tích. Phùng Tịnh nhẹ nhàng tiến lại gần, mượn bộ đồ nội nhân trên người trà trộn vào sau đám đông, lẳng lặng quan sát từng lời nói cử chỉ của chàng. Chàng ung dung vung bút, từng từ ngữ đẹp đẽ hiện ra dưới ngòi bút: Ỷ Tú, Ấp Lộ, Thúy Nham, Ngọc Nhụy, Vọng Giang, Thanh Thắng... Cô nhớ kỹ nét chữ tuyệt đẹp của chàng, nhưng lại chẳng nhớ nổi những cái tên ấy ứng với cảnh nào. Sau này nhớ lại ngày hôm ấy, cô chỉ thấy cảnh đẹp trong vườn có hai nơi: nụ cười của chàng là một, và ánh mắt chàng ngưng đọng là hai. Đề biển xong, quan Đề cử của Tu nội tư mời Triệu Tích ngồi vào ghế trên trong đình Khúc Thủy uống rượu. Triệu Tích nói: "Vui một mình sao bằng vui cùng mọi người. Đúng dịp tiết Thượng Tỵ, lại ngồi trong đình Khúc Thủy, các vị sao không cùng ta chơi trò hành lệnh, cùng thưởng thức cái thú khúc thủy lưu thương." Được chàng mời, mấy vị thần tử, nội thị và nữ quan có phẩm cấp lần lượt ngồi vây quanh ba phía của dòng mương đá uốn lượn. Mương đá ấy được đục từ một tảng đá nguyên khối vuông một trượng năm thước, dày một thước hai tấc, rãnh nước ở giữa đục uốn lượn hình chữ "Phong", gọi là "Lưu Bôi Cừ" (mương thả chén). Hai đầu mương đều nằm ở phía Tây tảng đá, nước từ một đầu chảy vào, qua dòng kênh ngoằn ngoèo khúc khuỷu, rồi chảy ra ở đầu kia. Phía trên đầu nước vào có đặt cửa xả để kiểm soát mực nước. Khi hành lệnh, người chủ trì dùng chén sơn mài đựng rượu, thả trôi theo dòng nước. Chén rượu dừng ở chỗ nào trên mương, người ngồi ở phía đó phải uống rượu và thực hiện yêu cầu. Mọi người an tọa xong, Triệu Tích thấy vẫn còn thừa một chỗ ngồi, bèn đưa mắt nhìn quanh, cuối cùng ánh mắt lướt qua bao người, dừng lại trên gương mặt Phùng Tịnh. Chàng mỉm cười, ôn tồn nói với cô: "Vị nội nhân đứng dưới gốc lê kia, có thể nể mặt cùng chúng ta chơi trò này không?" Phùng Tịnh nghe vậy ngẩng đầu lên, mới phát hiện mình chẳng biết từ lúc nào đã đứng dưới một gốc lê. Trên cây hoàng oanh hót, trong lòng nai con chạy loạn. Cô cúi đầu nhún mình hành lễ tạ ơn chàng, vừa thầm mong bóng hoa lay động sẽ che đi đôi má đang đỏ bừng của mình. Quy tắc Thái t.ử đặt ra hôm nay là: Chén dừng ở đâu khách phải uống trước một chén, sau đó hoặc ngâm thơ điền từ mời khách khác xướng họa, hoặc ra một câu đố cho người khác đoán, hoặc kể một điển cố mời người khác nói rõ xuất xứ. Nếu khách trả lời được, người ra đề phạt ba chén; nếu không trả lời được, khách phạt ba chén, cũng có thể tự trình diễn kỹ nghệ để miễn ba chén rượu phạt này. Kể cũng lạ, liên tiếp ba lần thả chén sơn mài xuống nước, chén đều dừng ở khúc cua trước mặt Triệu Tích. Lần nào chàng cũng theo quy định tự uống một chén, rồi làm thơ, hoặc ra đề mời người khác xướng họa trả lời. Thơ từ điển cố chàng thuộc làu làu, mà người bị chàng điểm danh trả lời đa phần đều không đáp được, đành tự phạt ba chén cho xong chuyện. Tiếp đó người chủ trì lại thả chén lần nữa, chỗ chén dừng lại vẫn cứ là chỗ của Triệu Tích. Mọi người có chút ngại ngùng, đưa mắt nhìn nhau. Quan Đề cử Tu nội tư lập tức đứng dậy, vái Triệu Tích một cái nói: "Điện hạ quang lâm, cả vườn sinh huy. Ắt là Hoa thần nơi này thấy phong thái Điện hạ, khó nén lòng ngưỡng mộ, nên mới năm lần bảy lượt khiến chén trôi dừng trước chiếu của Điện hạ, tỏ ý kính Quân vương ngàn chén cũng chưa đủ." Mọi người trong tiệc nhao nhao hùa theo, tâng bốc Thái t.ử không ngớt. Triệu Tích mỉm cười không nói, nhưng không cầm chén rượu kia lên nữa. Phùng Tịnh nhìn không nổi nữa, đứng dậy thi lễ với Triệu Tích, rồi nói ra sự thật: "Bẩm Điện hạ, chén trôi nhiều lần dừng ở một khúc cua, có thể là do độ rộng hẹp nông sâu và độ cong của chỗ này không hợp quy chuẩn. Kênh nước chỗ này lý ra phải rộng một thước, sâu chín tấc, nhưng nay nhìn bằng mắt thường, độ cong ở đây thì thừa, nhưng độ rộng lại thiếu. Chi bằng sai thợ trong vườn đo đạc kiểm tra lại xem có phải lúc đục đẽo đã có sai lệch hay không." Triệu Tích bèn sai thợ đo đạc, kết quả đối chiếu với bản vẽ quả nhiên độ cong và chiều rộng có sai lệch không nhỏ. Chàng bèn tán thưởng Phùng Tịnh: "Cô nương kiến thức thật tốt. Thân là người trong chốn khuê phòng, làm sao cô nương lại rành rẽ kích thước Lưu Bôi Cừ đến vậy?" Phùng Tịnh thầm nghĩ, bản vẽ này là do chính tay ta vẽ, chẳng lẽ ta lại không biết sao. Nhưng ngoài mặt vẫn khéo léo đáp: "Nô tỳ từng xem qua một số phép tắc xây dựng ở vài khu vườn, nên biết sơ sơ một hai phần." Triệu Tích lại hỏi nếu tạm thời không đục sửa kênh nước thì hôm nay có còn chơi được không. Phùng Tịnh xin cho xả cửa điều chỉnh mực nước, đổi chén nhỏ hơn thử xem. Người chủ trì sai làm theo lời cô, thử một cái, chén trôi quả nhiên trôi qua được khúc cua ấy. Trò rượu lệnh lập tức tiếp tục. Lượt tiếp theo này, dưới ánh mắt chăm chú của Triệu Tích, chén trôi như có thần trợ giúp, trôi đến trước mặt Phùng Tịnh rồi dừng lại. Phùng Tịnh đứng dậy, uống cạn chén rượu, lát sau nhún mình nói với Triệu Tích: "Nô tỳ to gan, muốn xin Điện hạ giải một đề." Triệu Tích mỉm cười, ung dung giơ tay, lòng bàn tay hướng lên, mời cô mở lời. Phùng Tịnh chỉ tay vào đĩa anh đào trước mặt, nói: "Đĩa anh đào này, đếm ba quả một thì thừa hai quả, đếm năm quả một thì thừa ba quả, đếm bảy quả một thì thừa hai quả. Hỏi, đĩa anh đào này ít nhất có bao nhiêu quả?" Triệu Tích trầm ngâm giây lát, rồi mỉm cười đáp: "Hai mươi ba quả." Phùng Tịnh gật đầu tán thưởng, nhưng lại truy hỏi: "Nếu đếm ba ba, năm năm mà số dư như trên, còn đếm bảy quả một lại thừa bốn quả, vậy ít nhất là bao nhiêu quả?" Lần này Triệu Tích suy nghĩ hồi lâu vẫn chưa ra kết quả. Chàng nhìn quanh mọi người, thấy ai nấy hoặc đang khổ sở suy tính, hoặc thì thầm bàn tán, nhất thời chẳng ai tính ra. Triệu Tích bèn cười xòa, nói với Phùng Tịnh: "Ván này, cô nương thắng rồi." Chàng không nhận rượu phạt đầy tràn mà người chủ trì rót, lại sai người mang đến một cây đàn, tự tay gảy đàn, cất giọng ngâm nga: "Gió thu nổi,mây trắng bay, cỏ cây vàng rụng nhạn về nam. Lan có vẻ cúc có hương, nhớ giai nhân,không thể quên." Ban đầu Phùng Tịnh còn thắc mắc sao chàng lại hát bài thơ mùa thu giữa cảnh sắc đầy xuân này, nhưng rất nhanh sau đó cô cảm thấy chuyện đó không vấn đề gì, không thể để cái thắc mắc ngớ ngẩn này làm phiền mình thưởng thức tiếng ca vang vọng đến tận mái nhà kia. Dáng vẻ chàng gảy đàn, ngâm nga khẽ hát vô cùng tao nhã, giọng nói cũng êm tai, âm cuối như dòng nước uốn quanh, cứ thế dịu dàng chảy vào lòng người nghe. Đám nội nhân xung quanh nín thở lắng nghe, người nào người nấy như uống rượu ngon, tâm thần đều say đắm. Đến khi khúc nhạc dứt, tiệc tan, chàng đứng dậy bước qua mấy tầng cung nhân, đến trước mặt Phùng Tịnh, nhỏ nhẹ hỏi ý kiến cô: "Câu hỏi của nàng, ta về sẽ nghĩ tiếp. Ngày mai nàng còn ở đây không? Nếu ta tính không ra, có thể đến thỉnh giáo nàng được chăng?" Thực ra cô hoàn toàn không chắc ngày mai mình còn có thể đến đây nữa hay không, yêu cầu huynh trưởng việc này liệu có làm khó huynh ấy không, nhưng những vấn đề hậu quả ấy để sau hãy tính. Cuối cùng, dưới cái nhìn cúi xuống thật dịu dàng của chàng, cô khẽ cúi đầu e lệ, cho chàng một câu trả lời chắc chắn: "Được." Chương 62 - Một Khung Cửi Sau đó, Phùng Tịnh bày tỏ với huynh trưởng mong muốn hôm sau quay lại vườn Tập Phương. Phùng Quân tuy rất khó xử, nhưng cảnh Thái t.ử đối đáp với Phùng Tịnh tự mình cũng nhìn thấy rõ, trong lòng hiểu Thái t.ử có cảm tình với muội muội mình. Ôm ấp tia hy vọng mong manh về một mối lương duyên, hắn chạy vạy lo lót, để Phùng Tịnh hôm sau xuất hiện ở vườn Tập Phương đúng như lời hẹn. Buổi chiều, Triệu Tích gặp lại cô bên hồ. "Năm mươi ba." Chàng nói ra đáp án mà hôm qua chưa tính ra ngay được. Phùng Tịnh gật đầu bảo kết quả đúng rồi. Triệu Tích lại cầu giáo cô: "Đáp án này là ta dùng bội số của bảy mà tính dần lên, cô nương có cách tính nào hay hơn không? Có thể chỉ điểm đôi chút chăng?" Phùng Tịnh nhận lời, lập tức nhận lời mời của chàng, vào các Thanh Thắng bên hồ để giảng giải. Các Thanh Thắng vốn dùng làm thư phòng, trong đó bút mực giấy nghiên đầy đủ cả. Phùng Tịnh bèn cầm bút nói rõ phương pháp giải đề. Triệu Tích chăm chú nghe xong, lại đưa ra vài vấn đề toán học nhờ cô giải đáp. Hai người thảo luận hồi lâu, Phùng Tịnh mới giật mình: "Trong Đông cung Thái phó, Giảng độc rất nhiều, Điện hạ dẫu có thắc mắc cũng rất dễ tìm cao nhân giải đáp, nô tỳ làm thế này chẳng phải là múa rìu qua mắt thợ sao?" Triệu Tích nói: "Khoa cử triều ta không thi toán học, nho sinh phần nhiều không coi trọng, ta ngày thường đối với toán học cũng khó tránh có vài phần trễ nãi, chỉ theo các thầy ở Đông cung học thi phú kinh nghĩa. Hôm qua thấy chuyện Lưu Bôi Cừ, mới ý thức được sai một ly đi một dặm, toán học chỗ nào cũng liên quan mật thiết đến kế sinh nhai của dân chúng, đem so với thi phú kinh nghĩa cũng chẳng quá đáng chút nào. Cho nên, ta nguyện ý học cho tốt, mà cách giảng giải của nàng sâu sắc mà dễ hiểu, ta rất thích nghe." Sau đó Phùng Tịnh hỏi về bài thơ chàng đàn hát hôm nọ, chàng kiên nhẫn giải thích: "Đó là bài 'Thu Phong Từ' do Hán Vũ Đế Lưu Triệt sáng tác, tức cảnh sinh tình, từ vịnh cảnh mà nhớ người, phía sau còn mấy câu cảm thán, vì lời lẽ bi thương, không hợp với không khí hôm qua nên ta không hát. Nếu nàng có hứng thú, ta có thể giảng cho nàng nghe." Phùng Tịnh tự nhiên là có hứng thú nghe rồi. Từ đó hình thành nên cách chung đụng đặc biệt giữa hai người: Phùng Tịnh giảng toán học, Triệu Tích giảng thi từ ca phú. Cả hai đều nghe đầy hào hứng, sự câu nệ do thân phận và xa lạ ban đầu cũng dần tan biến, trong lúc đối thoại thường rộn rã tiếng cười. Những cuộc hẹn hò cứ thế kéo dài. Cứ cách hai ba ngày, vào buổi chiều Triệu Tích lại đến vườn Tập Phương đọc sách, Phùng Tịnh cũng dưới sự sắp xếp của huynh trưởng đến gặp chàng trong các Thanh Thắng. Lần nào Phùng Tịnh cũng vẫn mặc y phục nội nhân. Thái t.ử hỏi tên cô, cô chần chừ rồi đáp họ Mạnh tên Tịnh, "Mạnh" là họ của mẹ cô. Cô từng nghĩ sẽ nói thật thân thế cho Triệu Tích biết, nhưng sau khi nghe người nhà bảo Quan gia muốn lập Lệ Quý phi làm Hậu nhưng bị Thái t.ử phản đối, cô liền chùn bước. Thái t.ử thù địch với Lệ Quý phi như thế, nếu biết thân phận thật của mình, chắc sẽ lập tức phất tay áo bỏ đi ngay... Cô buồn bã nghĩ. Cũng không phải chưa từng nghĩ đến việc cứ một mực giấu giếm sau này có thể sẽ khiến chàng càng thêm phản cảm, nhưng cô vẫn hy vọng những ngày tháng học tập ngọt ngào hiện tại có thể kéo dài thêm chút nữa. Đợi chàng hiểu mình hơn một chút, biết đâu sự việc sẽ có chuyển biến? Sau khi thân thiết hơn, cách học của họ có chút thay đổi, thêm vào phần trừng phạt. Hai người giao hẹn Phùng Tịnh ra đề cho Triệu Tích tính, Triệu Tích ra thơ văn để Phùng Tịnh đoán xuất xứ. Nếu tính không ra hoặc đoán không trúng thì phải chịu phạt. Cây thước vốn dùng để đo đạc trên bàn liền trở thành công cụ để họ đ.á.n.h vào lòng bàn tay đối phương. Một ngày nọ, Phùng Tịnh đố Triệu Tích một bài: "Có một người thợ nhận nhiệm vụ sơn son cho lan can trường song ở hành lang Cẩm Yên. Ngày đầu tiên hắn sơn được năm gian, nhưng về sau mỗi ngày đều lười biếng, ngày hôm sau sơn ít hơn ngày hôm trước một chút, độ dài sơn ít đi mỗi ngày là như nhau. Hắn sơn tổng cộng ba mươi ngày, đến ngày cuối cùng, hắn chỉ sơn được một gian. Hỏi, trong ba mươi ngày đó hắn sơn được tổng cộng bao nhiêu gian?" "Gian" (nguyên văn là "doanh") là chỉ khoảng cách giữa hai cột. Triệu Tích nghe xong cười bảo: "Người thợ lười biếng như thế giữ lại làm gì? Ngày thứ hai đuổi đi cho rồi, còn tính toán cái gì nữa." Phùng Tịnh nghiêm mặt nói: "Đây là giả thiết. Nhưng có khi xây dựng nhà cửa lầu gác, cũng có thể gặp phải trường hợp thợ thuyền vì lý do nào đó mà giảm công, hoặc cần dùng đến cách tính như vậy cũng chưa biết chừng." Triệu Tích trầm ngâm: "Hành lang Cẩm Yên..." Nhẩm tính một chút rồi hỏi, "Là một trăm tám mươi gian phải không?" "Gã thợ kia lúc nhiều nhất một ngày mới sơn được năm gian, cho dù không giảm công, ba mươi ngày cũng chỉ sơn được một trăm năm mươi gian, đâu ra một trăm tám mươi?" Phùng Tịnh bắt chàng xòe tay ra để mình đ.á.n.h xong, mới cầm bút tính cho chàng xem, "Dạng đề thế này, chàng cứ lấy số đầu cộng số cuối, được bao nhiêu lấy một nửa, rồi nhân với số ngày là ra... Cho nên, kết quả là chín mươi gian." Thấy chàng có vẻ đã hiểu, Phùng Tịnh lại viết một đề lên giấy, đẩy về phía chàng: "Nay có cây lau mọc trong ao, nhô khỏi mặt nước ba thước, cách bờ một trượng, kéo cây lau vào bờ thì vừa hay chạm mép nước. Hỏi chiều dài cây lau và độ sâu của nước là bao nhiêu?" "Cái này hình như khó hơn rồi..." Triệu Tích xem xong cười lắc đầu, "Không được, đề khó rồi thì cách phạt của chúng ta cũng phải đổi, độ khó cần tăng lên, nếu không lần nào cũng bị nàng đ.á.n.h dễ dàng quá." Phùng Tịnh hỏi: "Điện hạ định đổi thế nào?" Triệu Tích nói: "Lần sau người thắng đ.á.n.h kẻ thua không được dùng tay chân, thước kẻ hay bất kỳ vật dụng nào, không được dùng những thứ đó trực tiếp chạm vào đối phương, ném đồ vật vào người cũng không được." Phùng Tịnh cũng không có dị nghị gì, cúi đầu ngẫm nghĩ rồi sảng khoái đồng ý: "Cứ theo ý Điện hạ mà đổi... Điện hạ trả lời đi." Triệu Tích dùng thước dây vẽ hình tính toán trên giấy, một lát sau đưa cho Phùng Tịnh xem, cô lập tức phán: "Sai rồi." Triệu Tích gác bút, dựa lưng vào ghế, ung dung mỉm cười nhìn Phùng Tịnh bảo: "Được, cô nương có thể phạt ta rồi." Phùng Tịnh cũng đáp lại bằng một nụ cười, lập tức đứng dậy đi ra ngoài. Một lát sau quay lại, trên tay có thêm một vật hình ống tre, giữa ống tre có cắm một thanh gỗ dài lộ cán ra ngoài. Triệu Tích thầm kêu "không ổn", nhanh chóng lấy tay áo che mặt. Nhưng Phùng Tịnh đã chĩa ống tre về phía chàng, dùng sức đẩy thanh gỗ vào trong ống, một tia nước vụt b.ắ.n ra, đ.á.n.h trúng vào tay áo và người Triệu Tích. Đây là "ống bơm nước" dùng để chữa cháy, đầu dưới ống tre có lỗ, dùng bông gòn bọc đầu thanh gỗ c*m v** ống để hút nước, khi hỏa hoạn có thể dùng như vòi rồng, các lầu các trong vườn Tập Phương đều có trang bị. Thấy Triệu Tích đã bị trúng nước, Phùng Tịnh cũng không b.ắ.n hết nước ra nữa, vứt ống bơm xuống đất, không kìm được bật ra một tràng cười giòn tan. Triệu Tích không giận không cáu, tự mình lau đi mấy giọt nước b.ắ.n lên mặt, chắp tay với Phùng Tịnh: "Cô nương cơ trí, tại hạ bái phục!" Nhìn nụ cười trong veo không chút vẩn đục của cô, chàng cũng cười theo. Thời gian lặng lẽ trôi đi trong tiếng cười của họ, đến khi cô nhớ ra nhìn sắc trời, thì chân trời đã vương một vệt nắng chiều tà. "Chúng ta phải về rồi." Cô cúi đầu nói, trong lòng không khỏi tiếc nuối. "Không vội, bài tập hôm nay nàng phải làm còn chưa xong đâu." Triệu Tích lập tức cầm bút lên, vung bút viết lối hành thảo, đề xuống một bài từ: Một khung cửi,Trong Cửu Chương dệt mộng ngọc tuyền cơ.Ngàn mối tơ vương thắt nơ đồng tâm,Hành lang đỏ thẫm dài hun hút,Lau mọc bến nam,Chẳng nỡ buông tay để người về. Phùng Tịnh nhìn mấy dòng mực bay bổng như rồng bay phượng múa nhưng vẫn không mất đi vẻ thanh thoát cứng cáp kia, từng chữ từng chữ ngấm vào lòng, cuối cùng lẳng lặng lặp lại câu "chẳng nỡ buông tay để người về", trái tim như rơi vào suối nước nóng, được nâng niu ấm áp, bồng bềnh trôi nổi, khẽ khàng đung đưa. "Xin mời cô nương trả lời, bài từ này là do ai làm?" Triệu Tích hơi nghiêng người về phía cô, đặt câu hỏi vô cùng khiêm cung. Cô nhìn chằm chằm bài từ ấy, nghe giọng nói nghe thế nào cũng thấy rung động của chàng, hai má không tự chủ được bắt đầu nóng bừng. Như cảm thấy không còn chút sức lực, bàn tay cô đặt trên án hơi run rẩy. Cuối cùng dưới cái nhìn dịu dàng nhưng đầy vẻ ép buộc của chàng, cô cúi đầu, khẽ đáp: "Không biết." "Vậy thì, nàng thua rồi." Giọng chàng vô cùng nhu hòa, tư thái vẫn lịch sự nho nhã như xưa, nhưng trông chàng có vẻ như không hề muốn bỏ qua cơ hội trừng phạt cô. Cô không lên tiếng, mặc nhiên cam chịu hình phạt, liếc nhìn cái ống bơm nước bị mình vứt dưới đất, ước lượng xem bên trong còn bao nhiêu nước. Chàng có vẻ như chẳng định dùng ống bơm nước, nhìn cũng chẳng thèm nhìn nó lấy một cái, mà lại đứng dậy, bước lại gần cô hai bước. Cô không khỏi căng thẳng, lại có chút nghi hoặc. Chợt nghĩ, nếu không dùng tay chân, không dùng đồ vật, vậy chẳng lẽ chàng định dùng đầu cụng mình một cái? Cô bị ý nghĩ này dọa sợ, kinh hãi nhắm chặt mắt lại. Nhưng chàng chỉ nghiêng người tới, để một nụ hôn nhẹ nhàng tựa cánh bướm đậu xuống làn môi anh đào của cô. Trong hành lang Cẩm Yên, Phùng Tịnh quay đầu nhìn Chân Chân lúc này đã ôm ngực, kinh ngạc đến mức không nói nên lời, cười buồn bã: "Đó là lần tiếp xúc thân mật nhất, và cũng là cuối cùng của chúng ta... Hôm đó trước khi chia tay, ngài ấy hẹn ta ngày kia gặp lại. Đến ngày đó, ta đợi từ sáng sớm đến khi mặt trời lặn, ngài đều không đến... Về sau cũng không đến, cũng chưa từng gửi cho ta nửa mảnh giấy hay một dòng thư." Chân Chân than thở: "Chẳng lẽ là vì ngài ấy nghe người khác nói về thân phận thật của cô?" Phùng Tịnh nói: "Ta cũng chỉ có thể nghĩ như vậy... Còn một ý nghĩ nữa, mỗi lần nhớ tới ta đều rất đau khổ, nhưng lại không nhịn được mà suy diễn... Ngài ấy xưa nay vốn không thích Lệ Quý phi, liệu có phải, là lợi dụng ta để trả thù ngài ấy?" "Không đâu." Chân Chân lập tức phủ định phỏng đoán của cô, "Thái t.ử phẩm tính cao khiết, sẽ không hẹp hòi đến mức làm ra loại chuyện này để trả thù." Phùng Tịnh ảm đạm nói: "Nhưng ta vẫn nghĩ mãi không ra, tại sao ngài ấy lại tuyệt tình đến thế. Cho dù vì lý do là dì ta mà không muốn qua lại với ta nữa, chẳng lẽ không thể nói rõ ràng, chào từ biệt một tiếng sao?" "Có lẽ, Thái t.ử có nỗi khổ tâm gì chăng?" Chân Chân cố gắng giải thích cho Thái tử, dù nhất thời cũng chẳng tìm ra lý do nào hợp lý. Phùng Tịnh thở dài, lại nói: "Ta và chàng nhiều lần gặp gỡ trong vườn Tập Phương, thực ra, vì có anh trai ta dẫn đường, người trong vườn đa phần đều biết thân phận của ta. Chuyện ta và Thái t.ử lén lút hẹn hò dần biến thành bê bối ai ai cũng biết trong cung, đặc biệt là sau khi Thái t.ử từ chối đưa ta vào danh sách tuyển chọn Thái t.ử phi... Cha mẹ ta tích cực nhờ bà mối làm mai cho ta, nhưng chẳng ai muốn cưới ta cả, không ai tin ta và Thái t.ử ở riêng với nhau bao nhiêu lần như thế mà lại không có chuyện da thịt thân mật." Không nghĩ ra cách nào để an ủi cô ấy hiệu quả, Chân Chân cuối cùng nắm lấy bàn tay phải lạnh lẽo của Phùng Tịnh, cố gắng truyền hơi ấm từ lòng bàn tay mình sang cho cô. Phùng Tịnh cũng xoay bàn tay, nắm c.h.ặ.t t.a.y Chân Chân. Hai người nắm tay nhau nhìn về những lầu gác xa xa đang dần nhuộm đỏ trong ánh chiều tà một lúc lâu, Phùng Tịnh mới chậm rãi nói: "Có một dạo, ta ngày nào cũng nằm trên giường, chẳng làm gì cả, ngoài ngủ mê mệt thì chính là ngẩn người, cũng chẳng muốn ăn gì... Sau đó, là mẹ ta đích thân làm cho ta món điểm tâm ta thích ăn hồi nhỏ, ta mới bắt đầu ăn uống trở lại... Ta thích cái hương thơm ấm áp ngọt ngào của bánh trái, thích chúng gợi cho ta nhớ về tuổi thơ vô lo vô nghĩ. Cho nên, khi dì đề nghị với cha mẹ ta cho ta nhập cung, ta nói, cứ cho con vào Thượng Thực cục đi..." Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, vọng về những lầu gác trong sương khói, ánh lệ dâng lên trong mắt lại khiến phong cảnh trước mặt bắt đầu chao đảo trong những gợn sóng: "Trải qua những chuyện này, cô bảo ta làm sao còn đối mặt được với toán học và những sự vật liên quan đến nó? Hễ nhìn thấy những thứ này, ký ức hoặc ngọt ngào hoặc đau khổ ngày xưa lại dời non lấp biển ùa về... Cô nói xem, ta làm sao mà buông bỏ được?" Chương 63 - Giai Nhân Dưới Hành Lang Lệ Quý phi khéo léo chuyển lời của Phùng Tịnh tới Hoàng đế. Quan gia thấy Phùng Tịnh kiên quyết từ chối, cũng đành tạm gác chuyện vườn Tụ Cảnh lại không nhắc đến nữa. Mấy ngày gần đây Lệ Quý phi tinh thần khá hơn, lại bắt đầu làm nữ công, ban đêm thậm chí còn chong đèn làm đến tận khuya. Chân Chân thấy bà đang khâu một đôi lót giày cho nam, thủ pháp thành thục, kỹ nghệ rất cao, từng mũi kim đường chỉ thoăn thoắt ung dung, hoa văn cát tường tinh xảo trên miếng lót giày dần dần hiện ra. Ban đầu Chân Chân tưởng đôi lót giày này làm cho Quan gia, không ngờ khâu xong Lệ Quý phi gọi nàng lại, sai nàng đem lót giày đến các Thanh Hoa nơi Nhị Đại vương ở. Thấy Chân Chân vẻ mặt ngạc nhiên, Lệ Quý phi giải thích: "Nhị Đại vương hồi nhỏ dùng lót giày đều là do ta tự tay khâu, sau này ngài ấy lớn, y phục thường dùng đồ đặt làm ở Thượng Phục cục, ta sức khỏe yếu, mắt mũi cũng không tốt lắm, nên không làm nữa. Mấy hôm trước, nghe ngài than phiền lót giày bây giờ đi không êm chân bằng loại ta khâu, ta mới tùy tiện khâu lại một đôi... Đã lâu không làm, tay nghề xuống nhiều quá, ngươi bảo với ngài ấy, cứ dùng tạm đi, lần sau ta sẽ khâu cho ngài ấy đôi tốt hơn." Chân Chân lĩnh mệnh đến các Thanh Hoa. Lúc này không phải giờ dùng bữa, Phượng Tiên không có trong các, Triệu Ngai đang đọc sách, thấy Chân Chân đến thì mừng rỡ, nhận lót giày xong mời nàng ngồi nghỉ một lát, lại sai người dâng trà. Trà cụ bày ra xong, hắn phất tay cho thị nữ lui xuống, tự mình ngồi đối diện Chân Chân, đích thân điểm trà cho nàng. Chân Chân trong lòng vẫn nhớ chuyện của Phùng Tịnh, một lòng muốn thay cô ấy dò hỏi nguyên nhân Thái t.ử dứt tình đoạn nghĩa, bèn hỏi Triệu Ngai có biết chuyện này không. Triệu Ngai nói: "Ta tuy cùng Thái t.ử là anh em cùng mẹ, Đại ca đối đãi với ta rất thân thiết, nhưng vì ta từ nhỏ do Lệ Quý phi nuôi nấng, huynh ấy với ta cũng không phải chuyện gì cũng nói, càng không bàn đến người nhà Quý phi. Ẩn tình giữa huynh ấy và Phùng Tịnh, những gì ta biết chưa chắc đã nhiều hơn nàng đâu." Chân Chân im lặng, lát sau than: "Hiện giờ Phùng Tịnh bị lời đồn đãi làm khổ, cảnh ngộ không tốt, chuyện cũ với Thái t.ử thành tâm bệnh, cả ngày u sầu không vui... Đám nam nhân các người, cứ thấy cô nương xinh đẹp là muốn trêu ghẹo, lúc hứng lên thì ra sức quấn quýt, hết hứng rồi thì nói đi là đi, hại con gái người ta bị người đời chê cười mỉa mai, các người có từng thấy áy náy chút nào không?" Triệu Ngai vừa đ.á.n.h bông bọt trà vừa nói: "Trong chuyện này, huynh ấy là huynh ấy, ta là ta, sao lại gộp ta và huynh ấy thành 'các người' được?" Chân Chân cười khẩy: "Nếu luận về độ chững chạc, ngài còn kém xa Thái tử. Nếu luận về cái tiềm năng 'chơi chán rồi bỏ', e rằng ngài còn hơn người ta ấy chứ." Triệu Ngai không nhịn được cười: "Ta đây còn chưa 'chơi' đâu nhé, nàng đã lo sau này bị bỏ rồi sao?" Chân Chân cau mày lườm hắn: "Đừng có lôi ta vào, ta với ngài có..." "Ta hiểu, ta hiểu," Triệu Ngai vẽ tranh thủy đan thanh trên mặt trà, nói, "Nàng thấy cảnh ngộ của Phùng Tịnh, nên đến thám thính ta. Tâm tư Đại ca ta không biết, chỉ có thể hứa với nàng, ta sẽ không đối xử với nàng như huynh ấy đối xử với Phùng Tịnh..." Chợt hắn lại cười, "Chẳng biết tại sao, thấy nàng lo lắng như thế, trong lòng ta lại thấy ngọt ngào thế nhỉ." Chân Chân cạn lời nhìn trời, thầm nghĩ trên đời sao lại có kẻ mặt dày vô sỉ đến thế này. Triệu Ngai hoàn thành bức thủy đan thanh, đưa chén trà cho Chân Chân. Chân Chân thấy trên mặt nước trà hiện lên hình ảnh hai bờ núi xanh bên hẻm núi. "Nguyện nàng và ta đời này như đôi bờ núi xanh kia, nhìn nhau mãi không chán." Hắn mỉm cười nói. Chân Chân đang do dự có nên uống chén trà này không, chợt nghe ngoài cửa các có người thông báo, nói Thái t.ử giá lâm. Tiếng vừa dứt, tiểu hoàng môn đứng bên ngoài sảnh đường nơi họ đang ngồi lại cao giọng báo thêm lần nữa, xem ra Thái t.ử đã đi đến giữa sân rồi. Triệu Ngai và Chân Chân đồng thời đứng dậy, lặng lẽ nhìn nhau một cái, trong lòng đều có chút bất an khó tả trước chuyến viếng thăm đột ngột của Thái tử. Huống hồ nội nhân và Thân vương ngồi đối diện uống trà, nói ra cũng là chuyện không hợp quy củ. Triệu Ngai liếc nhìn tấm bình phong bên cạnh, ra hiệu cho Chân Chân trốn ra sau đó. Chân Chân làm theo, lui về sau bình phong. Thái t.ử còn chưa vào trong, Triệu Ngai đã ra ngoài nghênh đón, hai bên hành lễ. Triệu Tích mỉm cười bảo Triệu Ngai, mình vừa từ điện Phúc Ninh ra, nhớ tới đã lâu không trò chuyện cùng đệ đệ, nên đặc biệt ghé thăm. Triệu Ngai tạ ơn, dẫn huynh trưởng vào trong sảnh. Triệu Tích thấy chén bát trên bàn, bèn hỏi: "Nhị đệ có khách à?" Triệu Ngai đáp: "Không có. Vừa nãy đệ ngồi một mình tập vẽ thủy đan thanh, nên bày chút trà cụ." Nói đoạn sai người đổi chén mới, tự mình điểm trà mời huynh trưởng. Triệu Tích đợi thị nữ lui ra, hàn huyên với Triệu Ngai vài câu, rồi thu lại nụ cười, hỏi Triệu Ngai: "Ta nghe nói, Nhị đệ gần đây qua lại rất thân thiết với nội nhân Ngô Chân Chân, thường đến các Lai Phượng thăm cô ấy, đêm Trung thu còn từ sạp hàng Diên Quế lẻn ra ngoài, đưa cô ấy lên núi Phượng Hoàng ngắm trăng." Triệu Ngai ngạc nhiên, rồi cười: "Đại ca làm sao mà biết?" Triệu Tích không đáp, chỉ nói: "Đệ tuy chưa xuất các lập phủ, nhưng dù sao cũng không còn nhỏ, qua lại với nội nhân, luôn phải biết tránh hiềm nghi. Nếu cứ lén lút gặp gỡ thường xuyên, bất luận là với đệ hay với cô ấy, đều là chuyện tổn hại thanh danh. Đệ sẽ bị người đời nói là 'không giữ gìn hạnh kiểm, cử chỉ khêu gợi', còn cô ấy... sẽ bị người ta nghi ngờ trinh tiết. Một cô nương chưa chồng, chịu phải lời đồn như vậy, rất có thể vận mệnh nửa đời sau coi như bị hủy hoại." Triệu Ngai đứng dậy đi ra cửa, cho lui hết đám hoàng môn bên ngoài, rồi quay lại ngồi xuống, trầm ngâm giây lát, cười nhạt với Triệu Tích: "Hóa ra Đại ca cũng biết điều đó." Mặt Triệu Tích thoáng ửng đỏ, trong lòng hiểu đệ đệ đang ám chỉ Phùng Tịnh. Chàng cũng không phủ nhận, im lặng hồi lâu rồi nói với Triệu Ngai vẻ trịnh trọng: "Đệ đừng phạm phải sai lầm của ta năm xưa." Triệu Ngai nói: "Đại ca không cần lo lắng quá, nếu cô ấy vì đệ mà tổn hại danh dự, đệ tự sẽ chịu trách nhiệm, cho cô ấy một danh phận." "Như thế thì tốt," Triệu Tích nhàn nhạt nói, "Chắc hẳn Lệ Quý phi sẽ vui vẻ mà tác thành thôi." "Cho nên, Đại ca năm xưa là vì muốn làm trái ý Quý phi, mới đối xử với Phùng Tịnh như vậy." Triệu Tích hoàn toàn không ngờ đệ đệ lại nhắc đến Phùng Tịnh trực tiếp như thế, không vui nói: "Đệ đang nói hươu nói vượn cái gì vậy?" "Đệ không nói bậy." Triệu Ngai dừng động tác điểm trà, nhìn thẳng vào huynh trưởng, "Đại ca gặp gỡ Phùng Tịnh nhiều lần, với tâm tư và bản tính của Đại ca, sao có thể không tra rõ lai lịch của cô ấy mà đã qua lại thân mật. Trong cung đồn rằng, huynh biết Phùng Tịnh là cháu gái Quý phi mới quyết định bỏ rơi cô ấy, chuyện đó là không thể nào." Triệu Tích tránh ánh mắt của hắn, không phản bác. "Bởi vậy, đệ chỉ có thể rút ra một kết luận: Huynh mượn Phùng Tịnh để cố ý trả thù Lệ Quý phi." Thấy Triệu Tích im lặng không đáp, Triệu Ngai không kìm được cười khổ, "Đại ca hận Quý phi đến thế sao? Bà ấy chưa từng hại mẫu thân, cho dù trước sau khi mẫu thân qua đời bà ấy được cha sủng ái, nhưng đó là chuyện bà ấy có thể từ chối sao? Bà ấy luôn cẩn trọng hầu hạ cha, dốc lòng nuôi nấng đệ khôn lớn, bao nhiêu năm nay luôn cung kiệm khiêm nhường, huynh lẽ nào không nhìn ra? Bà ấy đâu phải hạng người hồ ly mê hoặc tranh sủng." Triệu Tích nói: "Bà ta là người thế nào, chưa chắc đã viết lên mặt." "Bà ấy chưa chắc viết lên mặt, nhưng đệ có thể dùng tâm để nhìn." Triệu Ngai nói, "Khi mẫu thân hoăng thệ đệ còn nhỏ tuổi, ấn tượng mơ hồ, tình mẫu t.ử cảm nhận được, phần lớn là do Lệ Quý phi cho đệ. Sau khi mẫu thân qua đời, bà ấy liền đón đệ về bên cạnh, may áo bón cơm, việc gì cũng tự tay làm, còn nhiều hơn cả v.ú nuôi của đệ. Mỗi một món ăn thức uống, bà ấy đều nếm thử độ ấm lạnh rồi mới cho đệ dùng; mỗi một tấm áo mới, bà ấy đều tự mình kiểm tra sửa sang sao cho vừa người nhất, thậm chí tự tay cắt từng cái chỉ thừa rồi mới cho đệ mặc." Nói đoạn lấy ra đôi lót giày vừa nhận lúc nãy cho Triệu Tích xem, "Còn cả lót giày nữa... Huynh từng thấy phi tần nào chịu cúi đầu cụp mắt khâu lót giày cho con của người khác chưa? — Quý phi làm đấy. Lót giày từ nhỏ đến lớn của đệ đa phần là do bà ấy làm, chỉ vì đệ khen một tiếng tốt, bà ấy hiện giờ vẫn bất chấp thân thể gầy yếu chong đèn khâu cho đệ... Đệ còn nghe v.ú nuôi kể, Lệ Quý phi từng m.a.n.g t.h.a.i một đứa con, khi t.h.a.i nhi trong bụng được mấy tháng, bà ấy ra Hậu uyển xem đệ chơi đùa... Lúc đó là mùa đông, tuyết vừa rơi, đệ chạy nhảy trong tuyết, bỗng trượt chân, loạng choạng sắp ngã, Quý phi cuống cuồng chạy tới đỡ đệ, kết quả chính mình ngã một cú thật đau, vì thế mà phải nằm trên giường dưỡng t.h.a.i rất lâu, đáng tiếc đứa bé ấy cuối cùng vẫn không giữ được, ngày sinh ra liền tắt thở, mà Quý phi về sau cũng không thể sinh nở được nữa." Triệu Tích mấp máy môi, dường như muốn nói gì đó, nhưng Triệu Ngai giơ tay ngăn lại, tiếp tục nói: "Nhưng bà ấy coi đệ như con đẻ. Đại ca còn nhớ năm đệ mười một tuổi bị bệnh nặng, suýt chút nữa thì c.h.ế.t không? Lúc đó Quý phi ngày đêm túc trực bên giường đệ, lòng nóng như lửa đốt. Lúc đệ tỉnh bà ấy luôn cười an ủi đệ, nghĩ đủ cách khuyên đệ ăn uống uống thuốc, đệ nhắm mắt lại, bà ấy tưởng đệ ngủ rồi, mới khẽ khàng thút thít... Có một lần đệ nửa đêm tỉnh giấc, thấy bà ấy đứng bên cửa sổ cầu nguyện với trăng, xin thần linh đừng mang đệ đi, bà ấy nguyện ý đem tất cả tuổi thọ còn lại cho đệ. Từ đó về sau, đệ liền hoàn toàn coi bà ấy như mẹ ruột... Mà Đại ca lớn hơn đệ hai tuổi, năm xưa từ chối sự nuôi dưỡng của các Nương tử, lớn lên dưới sự chăm sóc của v.ú nuôi và cận thị, nên cũng chưa từng thấy tấm chân tình này của Quý phi. Quý phi những năm nay, thay quyền quản lý lục cung, có lẽ có chỗ đắc tội với người khác. Nếu có kẻ châm ngòi ly gián, Đại ca e là dễ sinh thành kiến với Quý phi, không thích Quý phi, đệ cũng có thể hiểu được. Chỉ là dù thế nào đi nữa, cũng không nên mượn Phùng Tịnh vô tội để trút oán khí đối với Quý phi. Đại ca xin thứ cho ngu đệ nói thẳng: Người đời đều khen Thái t.ử nhân đức, mà việc Đại ca làm với Phùng Tịnh - một nữ t.ử yếu đuối hiện giờ, quả thực xin lỗi hai chữ ấy." "Sự thật không phải như đệ suy đoán đâu," Nghe xong một tràng này, Triệu Tích ngước mắt nhìn thẳng vào sự chất vấn của đệ đệ, từng chữ từng chữ nói rõ ràng, "Mà Lệ Quý phi thực sự, cũng chưa chắc đã giống như người đệ quen biết hơn mười năm nay." Triệu Ngai đáp: "Được thôi, chân tướng thế nào, Quý phi ra sao, còn mong Điện hạ nói rõ." Triệu Tích cân nhắc mãi, cuối cùng từ từ gật đầu: "Được, đã đệ muốn biết, thì ta nói cho đệ hay..." Chàng quay đầu nhìn ra chiếc lá vàng đang xoay tròn rơi xuống dưới gốc cây trong sân, cơn giận bị kích lên bởi những lời sắc bén của đệ đệ bắt đầu tan biến, ánh mắt dần trở nên mềm mại: "Như đệ nói, khi ta và Phùng Tịnh qua lại ở vườn Tập Phương, ta đã biết thân phận của nàng ấy... Thực ra, ta đã gặp nàng ấy từ sớm rồi... Lần đầu tiên gặp nàng ấy, là vào năm kia, cũng vào mùa thu lá vàng phủ kín mặt đất như bây giờ." Triệu Ngai có chút ngạc nhiên, nhưng rất nhanh đã thông suốt: "Quý phi thường mời Phùng Tịnh vào cung chơi, đệ từ nhỏ đã thường gặp cô ấy, Đại ca nếu không cần thiết thì không gặp Lệ Quý phi, mới không biết mặt Phùng Tịnh, nhưng cô ấy thường đi lại trong cung, các người khó tránh có lúc chạm mặt." Triệu Tích ngầm thừa nhận, lát sau nói tiếp: "Hành lang Cẩm Yên nối liền Hậu uyển và Đông cung. Sau tết Trung thu năm kia, một hôm ta định đến điện Phúc Ninh gặp phụ hoàng, vừa từ Đông cung bước vào hành lang Cẩm Yên, liền thấy một thiếu nữ mặc y phục màu đỏ từ phía trước dọc theo hành lang chậm rãi đi tới... Tay trái nàng ấy đỡ tập bản vẽ và thước dây, tay phải cầm một cây bút chì, thỉnh thoảng dừng lại xem xét đo đạc chi tiết trong hành lang, rồi ghi chép vào tập vẽ..." Chàng nhớ lại đôi mắt của nàng khi ấy, trong veo và sáng ngời, xuyên qua từng vệt nắng rọi qua cửa sổ gỗ dài in lên mặt, kiên trì tìm kiếm những chi tiết và số liệu nàng cần. Nàng sinh ra vốn đã tú lệ, nhưng khoảnh khắc ấy, thứ khiến trái tim chàng rung động không hẳn là dung nhan nàng, mà là đôi mắt tràn đầy khao khát tri thức kia. Chàng chưa từng nghĩ, một người con gái khi chăm chú vào những việc trông có vẻ khô khan vô vị này, lại có thể động lòng người đến thế. "Ta bèn dừng lại giữa hành lang, đợi nàng ấy từng bước đi tới gần. Mà nàng ấy luôn tập trung vào việc đo đạc ghi chép, hoàn toàn không nhận ra sự tồn tại của ta, cho đến khi vẽ xong một mẫu, quay người lại va phải ta, mới giật mình kinh hãi, vội vàng hành lễ xin lỗi ta." Triệu Tích hồi tưởng lại tình cảnh lúc đó, bất giác nở nụ cười nhẹ, "Ta bảo không sao, hỏi nàng ấy có cần ta giúp một tay không, nàng ấy bảo đã đi đến cuối đường rồi, không cần nữa. Lại thi lễ một cái, rồi ôm tập thành quả ghi chép của mình, vui vui vẻ vẻ quay người rời đi... Nàng ấy toàn tâm toàn ý chìm đắm trong niềm vui mà việc đo vẽ hành lang Cẩm Yên mang lại, chỉ liếc vội qua ta một cái, ta nghĩ nàng ấy căn bản chẳng quan tâm ta là ai, cũng chẳng nhớ ta trông thế nào... Sau này suy đoán này đã được kiểm chứng khi ta và nàng ấy gặp nhau ở vườn Tập Phương, biểu cảm nàng ấy nhìn ta lúc đó, hoàn toàn như nhìn một người xa lạ." Triệu Ngai nghe đến nhập thần, lúc này cười hỏi: "Cho nên sau lần đầu gặp ở hành lang Cẩm Yên Đại ca đã dò hỏi lai lịch của cô ấy rồi?" Triệu Tích gật đầu: "Nữ t.ử biết làm loại chuyện này trong cung có được mấy người? Ta hỏi cái là biết ngay. Qua một thời gian, ở chỗ phụ hoàng cũng thấy được kết quả đo vẽ của cô ấy: Phụ hoàng cho ta xem một bức thiết kế do Phùng Tịnh vẽ, là miêu tả cảnh quan trong Đại nội, hành lang Cẩm Yên vẽ đặc biệt tinh xảo, bất luận chiều dài đầu cuối hay kích thước cửa sổ, hoàn toàn vẽ theo tỷ lệ, không sai một ly. Nét bút của cả bức tranh cũng sinh động, mỗi vật mỗi cảnh đều có khí khái linh động, không hề cứng nhắc như tác phẩm của họa sư cung đình." Triệu Ngai hiểu ra: "Đại ca rất thưởng thức tài hoa của cô ấy, nhưng để tâm chuyện cô ấy là cháu gái Lệ Quý phi, cho nên mãi đến trước khi gặp ở vườn Tập Phương đều chưa từng liên lạc với cô ấy." "Đúng vậy," Triệu Tích thẳn thắn thừa nhận, "Quan hệ giữa nàng ấy và Lệ Quý phi khiến ta chùn bước. Nhưng trong nửa năm đó, hầu như mỗi lần đi qua hành lang Cẩm Yên, ta đều không tự chủ được mà nhớ tới nàng ấy, đôi mắt sáng ngời của nàng ấy, cái nhíu mày nụ cười của nàng ấy trong bóng nắng dưới hành lang... Sau này, lại tình cờ gặp nàng ấy ở vườn Tập Phương, ta phải dùng ý chí rất lớn, mới giữ được vẻ mặt bình thản dưới con mắt của bao người, không để lộ vẻ vui mừng ra mặt, mà sự vui sướng khó kìm nén ấy cũng khiến ta hiểu rõ tâm ý của mình. Cuối cùng, lúc chia tay hôm đó, ta đưa ra yêu cầu gặp lại, và nàng ấy, cũng vui vẻ nhận lời." Triệu Ngai hỏi dồn: "Đại ca đã vượt qua được khúc mắc trong lòng để hẹn gặp cô ấy, tức là chuẩn bị chấp nhận cô ấy rồi, thế chẳng phải rất tốt sao, tại sao về sau lại..." Triệu Tích nhắm mắt lại, đè nén muôn vàn cảm xúc đang cuộn trào như dòng nước ngầm trong lòng, chậm rãi nói tiếp: "Lần gặp cuối cùng, ta đã hôn nàng ấy, đồng thời cũng quyết định, sẽ cùng nàng ấy đi hết phần đời còn lại... Nhưng khi ta trở về Đông cung, đem chuyện này nói với Vương Mộ Trạch, bảo lão giúp ta nghĩ cách bẩm báo với phụ hoàng, thì lão lại đột nhiên quỳ sụp xuống trước mặt ta, dùng giọng điệu kiên định dị thường, không cho phép nghi ngờ mà nói: 'Điện hạ, chuyện này vạn lần không được!'" Triệu Ngai khó hiểu nói: "Vẫn là vì Lệ Quý phi?" Triệu Tích buồn bã cụp mắt, nhìn chằm chằm mũi giày, hồi lâu mới nói: "Vừa rồi đệ nhắc tới, Lệ Quý phi từng sinh một đứa con, vừa lọt lòng đã tắt thở... Vậy đệ có biết sinh nhật của đứa bé ấy không?" Triệu Ngai lắc đầu: "Lệ Quý phi chưa bao giờ nói với đệ về đứa bé này, người trong các của bà ấy chắc sợ bà đau lòng, bình thường cũng chẳng nhắc đến." Bàn tay Triệu Tích đặt trên án dần nắm chặt lại, đốt ngón tay nhô lên trắng bệch, giọng nói cũng run rẩy: "Sinh nhật của đứa bé này, trùng với ngày sinh của Phùng Tịnh." Chương 64 - Các Phù Dung "Ý huynh là, đứa bé đó có khả năng là Phùng Tịnh?" Triệu Ngai kinh ngạc suy đoán, nhưng rồi tự mình nhanh chóng phủ định cách nói này, "Thật là chuyện hoang đường!" Triệu Tích nói: "Phản ứng lúc đầu của ta cũng y hệt đệ, sau đó, Vương Mộ Trạch kể tường tận cho ta nghe đầu đuôi câu chuyện... Lệ Quý phi khi đó tuổi còn rất trẻ, xương chậu hẹp, sức khỏe cũng không tốt lắm, ngự y vẫn luôn nói bà ấy nếu sinh con sẽ rất nguy hiểm, nhưng bà ấy vẫn rất khao khát có con của riêng mình. Lúc đó mẫu hậu chúng ta đã sinh được hai con trai, sắp sửa sinh đứa thứ ba, Lệ Quý phi mang thai, tự nhiên coi đứa bé này là hy vọng lớn nhất đời mình, bất luận thế nào cũng phải sinh ra. Mà người nhà mẹ đẻ của bà ấy cũng thường xuyên vào thăm, cho dù trước mặt người khác, cũng thường không hề che giấu mà nói bà ấy nhất định phải sinh con trai..." Nói đến đây Triệu Tích lộ ra một nụ cười lạnh, "Bởi vì sức khoẻ mẫu hậu không tốt, sau nhiều lần sinh nở lại càng sa sút, nhà họ Lệ cho rằng nếu mẫu hậu có mệnh hệ gì, Lệ thị có khả năng thay thế nhất, mà một đứa con trai là điều kiện quan trọng nhất ủng hộ bà ấy tương lai được phù chính. Bà ấy cần phải sinh được con trai trước các cơ thiếp khác. Lúc đó phụ hoàng tuy chỉ là Quận vương, nhưng trên dưới triều đình đều hiểu, người sớm muộn gì cũng sẽ trở thành Trữ quân, thậm chí là Hoàng đế, vì vậy, vị trí chính thất của người lại càng trở nên quan trọng." Triệu Ngai đã hiểu ra đôi chút: "Ý huynh là, Lệ Quý phi bị người nhà mẹ đẻ xúi giục tráo đổi con?" Triệu Tích gật đầu: "Bà ấy sau khi m.a.n.g t.h.a.i vẫn luôn không ổn định, sức khỏe xảy ra đủ thứ chuyện, trong lúc đó lại ngã một cú trong tuyết, mỗi lần ngự y chẩn đoán, đều nói mạch tượng không tốt... Mấy tháng sau đó bà ấy hầu như đều nằm trên giường mà qua ngày. Không biết có phải trùng hợp hay không, em gái bà ấy gả vào nhà họ Phùng cũng mang thai, ngày dự sinh xấp xỉ với bà ấy... Gần đến ngày sinh, bà ấy đau suốt ba ngày ba đêm, đêm cuối cùng nghe nói bà ấy ngất đi mấy lần, vô cùng nguy hiểm. Hai ngày đó phụ hoàng bị Tiên đế triệu vào cung bàn quốc sự, vẫn chưa về, người trong phủ Quận vương chỉ thấy trong phòng sinh mấy bà đỡ, thị nữ ra ra vào vào bưng nước đưa thuốc, vẻ mặt đều rất nghiêm trọng, mà nhà họ Lệ cũng mấy lần phái người đến, truyền tin em gái Lệ thị sinh nở. Đến nửa đêm về sáng, trong phòng sinh loáng thoáng truyền ra tiếng trẻ con khóc, nhưng rất nhanh không còn tiếng nữa. Một ngự y họ Chu đi ra nói Lệ thị sinh được một con trai, nội thần trong các của Lệ thị vô cùng vui mừng, lập tức sai người mang theo tặng vật theo lệ tặng tôn thất ngoại thích là 'bánh tắm rửa' (dục nhi bao tử) sang nhà họ Lệ báo tin. Rất nhanh sau đó, nhà họ Lệ phái người mang theo một số lễ vật đến thăm, nói em gái Lệ thị hôm nay sinh một con gái... Lễ vật họ tặng đáp nhau ngoài vàng bạc, còn có rất nhiều rượu nước, đồ ăn, trái cây khô và hoa quả tươi. Lúc đó đã gần canh ba, Vương Mộ Trạch ở gần cửa phủ Quận vương nhìn thấy cảnh họ vận chuyển lễ vật, liền cảm thấy hơi kỳ lạ, tôn thất ngoại thích sinh con bình thường, bất luận tặng lễ hay đáp lễ đều làm ban ngày, đâu có chuyện canh ba rồi còn vội vã chuyển quà... Những lễ vật đó đa phần đựng bằng hộp sơn mài, chỉ có trái cây đúng mùa là đựng bằng giỏ thức ăn đan tre, dùng loại giỏ thống nhất do Nội Tàng khố cung cấp, cao chừng hơn một thước. Mộ Trạch nói, khi chiếc giỏ thức ăn đan tre gửi sang nhà họ Phùng đi ngang qua người lão, lão dường như nghe thấy một tiếng trẻ con khóc, nhưng nghe kỹ lại thì không thấy nữa, lão chỉ nghi là mình nghe nhầm, không hỏi thêm." "Cho nên họ dùng giỏ thức ăn đan tre để đ.á.n.h tráo đứa bé, thực ra Lệ Quý phi sinh con gái, em gái bà ấy sinh con trai?" Triệu Ngai hỏi, thấy Triệu Tích gật đầu, hắn nhíu mày, "Nhưng đứa bé kia không phải không sống được sao? Quý phi sao lại dùng đứa con gái đang khỏe mạnh đổi lấy một cái xác c.h.ế.t?" "Lúc bỏ vào giỏ thức ăn vẫn còn sống, có thể do giỏ gây ngạt thở, cũng có thể do nhà họ Phùng sợ đứa trẻ khóc giữa đường, đã cho uống thuốc, dẫn đến đứa trẻ sơ sinh t.ử vong... Đây cũng là suy đoán của Mộ Trạch sau khi tra hỏi ngự y." Triệu Tích nói, "Tóm lại, ngày hôm sau khi phụ hoàng trở về, nghe tin con trai mới sinh của Lệ thị c.h.ế.t yểu... Lệ thị người tính không bằng trời tính, đưa con gái đi rồi, lại cũng chẳng có được con trai, hơn nữa từ đó về sau không thể sinh nở, đành phải gửi gắm hy vọng vào đệ." Triệu Ngai cụp mắt suy tư, rồi truy hỏi: "Vậy Vương Mộ Trạch làm sao biết được những chuyện này? Đã biết, tại sao không bẩm báo rõ với phụ hoàng?" Triệu Tích đáp: "Lão nói, đầu tiên là phát hiện bà đỡ và thị nữ trong phòng sinh hôm đó có người mất tích, có người xin về quê, hơn nữa đều là rời khỏi Lâm An, đi nơi xa định cư. Lão nhớ lại chuyện tặng quà trái giờ và tiếng trẻ con khóc trong giỏ thức ăn, càng thêm nghi ngờ, bèn tìm Chu ngự y tra hỏi, Chu ngự y ngầm thừa nhận chuyện Lệ thị tráo con, nhưng nhắc nhở lão tuyệt đối không được tiết lộ ra ngoài, bởi vì lúc đó đã không lên tiếng, giờ nhân chứng vật chứng đã rất khó tìm, phụ hoàng lại độc sủng Lệ thị, nếu không đủ bằng chứng, ngược lại dễ bị Lệ thị buộc tội vu khống... Mộ Trạch nói đến đây, khóc không thành tiếng, bảo: 'Lão thần c.h.ế.t không đáng tiếc, nhưng lúc đó An Thục Hoàng hậu bệnh tình quấn thân, Điện hạ anh em tuổi còn nhỏ, lão thần lo nếu có mệnh hệ gì, bên cạnh Điện hạ không còn người đủ tin cậy, lão thần không dám đ.á.n.h cược.'" Triệu Ngai trầm ngâm, lát sau nói: "Chuyện này, hiện giờ chỉ có lời nói một phía của Vương Mộ Trạch, e là không thể tin hoàn toàn." "Ta đã tra ghi chép ra vào của người trong phủ Quận vương ngày hôm đó," Triệu Tích đáp rất nhanh, "Lệ thị và nhà họ Phùng, quả thực là tặng lễ vật trái giờ, mười mấy năm nay, tôn thất ngoại thích sinh con tặng quà chọn vào canh ba, chỉ có đúng một trường hợp này. Đệ nói xem, mấy thứ đồ ăn trái cây này, có cần thiết phải tốn công tốn sức mở cửa phủ vận chuyển vào lúc đêm khuya thanh vắng như thế không?... Trong hai ngự y chẩn trị cho Lệ thị năm đó một người đã qua đời, còn Chu ngự y ta đã hỏi qua, ông ta tuy không dám nói rõ, nhưng vừa nghe đến chuyện này đã run lẩy bẩy quỳ xuống xin tha mạng, rõ ràng là ngầm thừa nhận mọi chuyện đúng như lời Mộ Trạch nói. Hơn nữa, đệ chắc cũng nhớ, năm xưa khi Phùng Tịnh được đưa vào danh sách ứng cử viên Thái t.ử phi, Lệ Quý phi đã phản đối kịch liệt đến mức nào." Triệu Ngai lại hỏi: "Đại ca đã tin chuyện này là thật, tại sao không nói rõ với phụ hoàng, khôi phục thân phận Công chúa cho Phùng Tịnh?" "Muộn rồi, giờ tất cả mọi người đều cho rằng ta và Phùng Tịnh có chuyện bất chính..." Triệu Tích ngẩng đầu nhìn Triệu Ngai, một giọt nước mắt lăn qua gương mặt vương nụ cười thê lương, "Ta làm sao có thể nói cho phụ hoàng và cả người trong thiên hạ biết, người con gái từng gặp riêng với ta nhiều lần trong vườn Tập Phương, là em gái ruột của ta? Ta có thể lấy cái c.h.ế.t để tạ tội, nhưng không thể không lo nghĩ đến tình cảnh của Phùng Tịnh và thanh danh hoàng thất. Huống hồ, chuyện này nếu công bố cho thiên hạ, Lệ Quý phi mưu toan làm lẫn lộn huyết mạch thiên gia, cho dù phụ hoàng có lòng bao che, các đại thần cũng sẽ không dung tha cho bà ta sống tiếp. Nếu Lệ Quý phi vì chuyện này mà c.h.ế.t, Phùng Tịnh sẽ đau khổ thế nào, sẽ cảm thấy sống không bằng c.h.ế.t ra sao." Triệu Ngai nghĩ một chút cũng cảm thấy đau lòng thay, đồng cảm nhìn Triệu Tích, khẽ hỏi: "Vậy thì, tại sao Đại ca lại nguyện ý nói cho đệ biết chuyện này?" "Hoàng t.ử tiếp theo phải chọn phu nhân chính là đệ rồi," Triệu Tích lẳng lặng lau đi vệt nước mắt trên mặt, nói, "Hy vọng đệ, hoặc phụ hoàng, đừng đưa Phùng Tịnh vào danh sách ứng cử viên." Triệu Tích không nói thêm gì nữa, lập tức đứng dậy rời đi. Triệu Ngai cung kính tiễn chàng ra cửa, rồi nhanh chóng quay lại, nhìn Chân Chân vừa từ sau bình phong bước ra, hai người lặng lẽ nhìn nhau giây lát, hắn thấp giọng nói: "Đừng nói cho người khác biết." "Ta hiểu mà." Chân Chân tự biết mức độ nghiêm trọng của việc này, trịnh trọng hứa sẽ giữ kín như bưng, một lát sau hỏi Triệu Ngai, "Ngài tin không?" "Bây giờ quan trọng nhất không phải là tin hay không," Triệu Ngai ngưng mắt nhìn nàng, nghiêm nghị nói, "Là phải tìm chứng cứ. Chuyện này bất luận là thật hay giả, đều phải tìm chứng cứ làm rõ." Chân Chân trở lại các Lai Phượng, chú ý quan sát từng cử chỉ hành động của Lệ Quý phi, nhưng thấy bà trước sau vẫn hòa ái dễ gần, nhắc tới Phùng Tịnh giọng điệu tự nhiên, đối với Triệu Ngai quan tâm yêu thương, thực sự khó nhìn ra dấu vết giả tạo. Trong thâm tâm nàng không muốn tin bà sẽ làm ra chuyện tày trời đó, nhưng nếu muốn theo lời Triệu Ngai tìm chứng cứ, thì lại mù mịt, quả thực không biết phải bắt đầu tìm từ đâu. Mấy ngày sau, trong cung truyền đến tin vui: Liễu Tiệp dư đã có tin mừng, t.h.a.i được tròn ba tháng. Trong cung đã mười mấy năm nay không có ai sinh nở, đối với Hoàng đế đây chắc chắn là tin vui tày đình. Theo lệ cũ trong cung, tần ngự có thai, sắp đến tháng thứ bảy quan hữu tư sẽ sắp xếp nơi sinh nở, lấy từ Nội Tàng khố bạc lụa các vật ban thưởng. Nhưng tin tức vừa truyền ra, Hoàng đế chẳng đợi đến tháng thứ bảy, ngay lập tức sai người từ Nội Tàng khố lấy của cải và đồ dùng liên quan, đồ ăn thức uống quả tử, nườm nượp không dứt đưa đến các Phù Dung nơi Liễu Tiệp dư ở. Các các khác trong cung biết tin vui, cũng mỗi nơi chuẩn bị lễ vật tặng Liễu Tiệp dư. Lệ Quý phi cũng sẽ không chậm trễ, từ sớm đã đích thân chọn trái cây vàng bạc, lụa là mã não, cùng các loại thịt khô, quả khô, rau tươi... sai Chân Chân dẫn theo vài tiểu hoàng môn đưa đến các Phù Dung. Các Phù Dung xây ở một góc núi Phượng Hoàng trong Hậu uyển, trước đây Chân Chân đi ngang qua đã thấy lầu các nơi này khác hẳn những chỗ khác, lầu cao bốn tầng, có đài lộ thiên rộng rãi, có thể ngắm trăng sao cảnh núi, nay bước vào trong, càng thấy khắp nơi điêu lan ngọc thế (lan can chạm trổ, thềm ngọc), đình đài lầu các thiết kế tinh diệu, đủ khiến các Lai Phượng trở nên lu mờ thất sắc, đủ thấy sự sủng ái của vua nồng hậu đến mức nào. Vú nuôi của Liễu Tiệp dư là người họ Ngọc, mọi người gọi là Ngọc bà bà, tầm năm mươi tuổi, đường nét ngũ quan tinh tế, có thể thấy thời trẻ cũng là một mỹ nhân. Lúc này Ngọc bà bà ra tươi cười đón tiếp, bảo với Chân Chân hôm nay Liễu Tiệp dư dậy muộn, vẫn đang chải rửa bên suối nước nóng ở hậu đình, nếu không chê, mời Chân Chân theo bà vào trong diện kiến Tiệp dư. Chân Chân theo Ngọc bà bà đi qua hai tầng lầu các, đến hậu đình, chỉ thấy phía trước có một hồ nước xếp bằng đá núi tròn trịa, từ trên xuống dưới chia làm hai tầng, mỗi tầng đều có nước chảy, nước suối nóng ồ ồ tuôn ra, mặt hồ sương khói lượn lờ, phía sau cây cối xanh um, đẹp tựa chốn bồng lai. Liễu Tiệp dư chỉ mặc một bộ đồ ngủ màu trắng, ngồi bên cạnh hồ nước tầng trên hơi nước mịt mờ, đôi chân trần ngâm trong nước suối, hai đoạn bắp chân lộ ra khỏi mặt nước trắng như mỡ đông. Tóc dài như vừa mới gội, ướt rượt xõa tung, được nàng vắt qua vai trái ra trước ngực, dùng một chiếc lược ngọc từ từ chải chuốt. Bên hồ phía dưới nàng có bảy tám nội nhân, cũng đang soi bóng nước chỉnh trang, đài lộ thiên lầu các bên cạnh có hai nhạc kỹ ngồi đó, một người gảy đàn tranh, một người thổi sênh, tấu khúc "Thanh Bình Điệu", bên cạnh còn có một ca kỹ đứng đó, nương theo điệu nhạc mà hát : "Một cành nùng diễm lộ ngưng hương, mây mưa Vu Sơn luống đoạn trường. Mượn hỏi Hán cung ai được giống, đáng thương Phi Yến dựa tân trang." Liễu Tiệp dư nhắm mắt hướng về phía ánh ban mai vừa phớt lên đôi má, nụ cười ẩn hiện, tiếp tục động tác chải tóc. Đám nội nhân bên hồ nghe khúc hát đều lộ vẻ tươi cười, có người nói vọng lên đài: "Hương Lê Nhi, khúc này hợp cảnh lắm, hát thêm bài nữa đi." Chân Chân ngước mắt nhìn lên, mới phát hiện ca kỹ đó chính là Hương Lê Nhi, người từng kể cho nàng nghe về Cúc phu nhân. Hương Lê Nhi vui vẻ đáp lời, tiếp tục hát: "Danh hoa nghiêng nước hai cùng thích, mãi được quân vương mang cười xem. Giải thích gió xuân vô hạn hận, đình Trầm Hương bắc dựa lan can." Ngọc bà bà đợi cô bé hát xong, đi đến trước mặt Liễu Tiệp dư, giọng trách yêu khuyên nhủ: "Nương t.ử giờ nên giữ gìn sức khỏe, không thể ham chơi như trước nữa. Nước này tuy ấm, cũng không thể ngâm lâu, mau về các thôi ạ." Liễu Tiệp dư cười nói: "Ta đã hai ba tháng không đến bên hồ nghịch nước rồi, khó khăn lắm mới mong được tròn ba tháng, mới chơi có một lát, bà đã giục ta về." Nàng nhập cung nhiều năm, hiện giờ chắc cũng phải hai lăm hai sáu tuổi, nhưng giọng nói vẫn mềm mại như thiếu nữ, ngữ khí nũng nịu, nghe rất êm tai. Tuy tỏ vẻ không vui, nàng vẫn chậm rãi đứng dậy, tóc đen như gấm vóc xõa sau lưng, chân trần bước dọc theo những viên đá tròn bên hồ đi về phía lầu các. Đôi chân trần của nàng hình dáng thon nhỏ, móng chân hồng nhuận như cánh hoa đào, giẫm lên đá núi, tà váy lụa trắng mềm mại lướt qua, trên mặt đá lưu lại vài dấu chân ướt át. Cử chỉ này toát lên vài phần quyến rũ, nhưng biểu cảm điềm tĩnh tự nhiên của nàng lại mang đến cảm giác "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn", khiến Chân Chân nhìn mà cũng thấy rung động trong lòng, đã hiểu vì sao nàng hiện giờ lại được Quan gia độc sủng đến thế. Chương 65 - Chương 65 Liễu Tiệp dư tiếp kiến Chân Chân ngay tại chính đường, nhận lễ vật của Lệ Quý phi xong, liền sai viên Đề cử quan trong các của mình lấy hạt kê vàng, tiền tê ngọc, hoa rải lưới lụa thiếp vàng cùng một số món ăn, trái cây để đáp lễ. Nàng ôn tồn nhã nhặn trò chuyện cùng Chân Chân vài câu, hỏi han tên họ, tuổi tác, quê quán, chẳng bao lâu sau đã tỏ ra như thân quen đã lâu, đổi cách xưng hô gọi nàng là "Chân Chân" đầy trìu mến. Liễu Tiệp dư còn sai thị nữ lấy hoa điền trân châu của mình ban cho Chân Chân làm quà gặp mặt, đám tiểu hoàng môn của các Lai Phượng phụ trách vận chuyển lễ vật cũng đều được ban thưởng hậu hĩnh. Chân Chân vốn tưởng một tần ngự được sủng ái như nàng ấy khó tránh khỏi có vài phần kiêu căng, nay xem ra lại vô cùng hòa nhã, quả là người khéo đối nhân xử thế. Rời khỏi các Phù Dung, chưa đi được mấy bước, Chân Chân bỗng nghe sau lưng có tiếng người gọi "Tỷ tỷ", bảo nàng dừng bước. Ngoảnh đầu nhìn lại, thấy Hương Lê Nhi đang túm váy chạy về phía mình. Hương Lê Nhi chạy đến trước mặt Chân Chân, hàn huyên đôi câu rồi hớn hở khoe: "Quan gia vừa ban cho cô cô ta và ta một tòa viện để ở, chính là nơi ở cũ của Cúc phu nhân trong cung khi xưa, rộng hơn căn phòng ta ở trước kia nhiều lắm. Tỷ tỷ sau này rảnh rỗi nhớ ghé tìm ta chơi nhé." Chân Chân cười nói chúc mừng, hỏi sao lại khéo thế, được ban đúng ngay viện của Cúc phu nhân. Hương Lê Nhi đáp: "Cái viện đó từ sau khi Cúc phu nhân xuất cung thì Tiên đế đã sai người khóa lại, gần hai mươi năm nay không ai ở. Mấy hôm trước Quan gia và Liễu Tiệp dư đến Tiên Thiều viện nghe cô cô ta gảy tỳ bà, đi ngang qua viện ấy, thấy bên trong rất rộng nhưng cỏ dại mọc um tùm, hoàn toàn hoang phế. Lại nghe người khác bẩm rằng chỗ ở của cô cô ta chật chội sơ sài, ngài liền cho người mở khóa, quét dọn sạch sẽ, ban cho cô cô và ta dọn vào." Nói đến cao hứng, cô nàng đòi mời Chân Chân đi ngay. Chân Chân bảo hiện phải về các Lai Phượng phục mệnh, hứa hẹn sau này sẽ sang thăm, Hương Lê Nhi mới chịu buông tay, vui vẻ tạm biệt. Về các Lai Phượng phục mệnh xong, Chân Chân như thường lệ xuống bếp phụ giúp Hồ Điển thiện. Một lát sau, tiểu hoàng môn các Phù Dung đưa lễ vật đáp lại của Liễu Tiệp dư cũng tới, chuyển thức ăn trái cây vào bếp. Chân Chân kiểm kê để cất giữ, thấy đồ đựng thức ăn khô là hộp sơn mài hoặc đồ kim loại, còn đựng trái cây là những chiếc giỏ tre. Chạm tay vào những chiếc giỏ tre ấy, Chân Chân nhớ lại lời Vương Mộ Trạch nói về việc Lệ Quý phi lợi dụng giỏ thức ăn để tráo con, động tác bất giác khựng lại, nàng dứt khoát cúi người xuống, tỉ mỉ quan sát chiếc giỏ tre kia. Những chiếc giỏ thực phẩm đan tre này mỗi cái dài chừng hai thước, rộng một thước rưỡi, cao hơn một thước, ở giữa có hai đến ba ngăn có thể di chuyển hoặc tháo rời, nắp hình vòm, có quai xách có thể dựng lên. Giỏ được đan bằng nan tre, hoa văn tinh tế, giữa các đường đan có khe hở nhỏ, trái cây đựng bên trong nhờ thế mà thoáng khí. Một vật chứa như thế này quả thực có thể đặt lọt một đứa trẻ sơ sinh, hoa văn đan tre lại có khe hở, hẳn cũng không đến mức khiến đứa bé bị ngạt thở. Chân Chân thầm nghĩ, nếu Lệ Quý phi và người nhà muốn tráo con, thì chiếc hộp tre này quả là một công cụ lý tưởng. Hồ Điển thiện thấy nàng nhìn chiếc hộp tre đến ngẩn ngơ, tưởng nàng hứng thú với những vật dụng của hoàng gia này, bèn tán gẫu: "Mấy cái hộp tre này dùng cũng tốt, nhưng không tinh xảo bằng đồ sơn mài. Trước kia trong cung và tôn thất ngoại thích sinh con đẻ cái, đựng trái cây biếu tặng cũng đều dùng hộp sơn mài, trông đẹp hơn nhiều. Có điều về sau Tiên đế thấy hộp sơn mài quá kín, đựng trái cây dễ bị hư thối, mới lệnh cho Nội Tàng khố đổi sang dùng hộp tre." Trong lòng Chân Chân chợt động, lập tức hỏi: "Tiên đế cho đổi sang dùng hộp tre từ năm nào ạ?" Hồ Điển thiện ngẫm nghĩ rồi đáp: "Chắc cũng phải mười bảy, mười tám năm rồi." "Mười bảy hay là mười tám năm ạ?" Chân Chân truy hỏi. "Cái này sao ta nhớ rõ được, phải hỏi người bên Nội Tàng khố." Hồ Điển thiện nói, rồi dặn dò Chân Chân, "Lấy hết thức ăn trái cây ra rồi thì gọi hai tiểu hoàng môn đem trả mấy cái hộp này về Nội Tàng khố nhé." Chân Chân hỏi: "Không giữ lại được sao ạ? Để lần sau các ta có đi tặng lễ thì dùng?" Hồ Điển thiện đáp: "Kiểu dáng vật dụng sẽ thay đổi, cứ một hai năm lại đổi một lần, đồ cũ không cần giữ, mỗi lần tặng lễ đều phải sang Nội Tàng khố lĩnh đồ mới nhất." Hôm đi trả đồ tại Nội Tàng khố, Chân Chân đích thân dẫn tiểu hoàng môn đi, hết lời tâng bốc vị trung quan tiếp đón, lại biếu thêm rất nhiều bánh trái. Thấy sắc mặt trung quan vui vẻ, Chân Chân mới bắt đầu dò hỏi xem vật dụng đựng trái cây được đổi từ sơn mài sang hộp tre vào năm nào. Trung quan bảo nàng đợi một lát, tự mình vào trong tra cứu, lúc trở ra bảo với Chân Chân: "Là tháng Sáu năm Thiệu Hưng thứ mười tám nhập kho, tháng Tám bắt đầu đưa vào sử dụng." Chân Chân nhanh chóng báo kết quả này cho Triệu Ngai, đồng thời giải thích: "Sinh nhật của Phùng Tịnh là tháng Ba năm Thiệu Hưng thứ mười tám, khi ấy tôn thất ngoại thích sinh con tặng lễ vẫn còn dùng hộp sơn mài đựng trái cây. Nói cách khác, Lệ Quý phi và nhà họ Phùng hoàn toàn không thể dùng hộp tre để tráo con như lời Vương Mộ Trạch nói." Mắt Triệu Ngai ánh lên nét vui mừng: "Nếu điều này là dối trá, thì những lời khác của hắn cũng chẳng đáng tin. Mấy ngày nay ta cũng cho người điều tra kỹ khắp nơi, có lẽ sẽ tìm được một số nhân chứng vật chứng." Hôm sau, Hồ Điển thiện bảo Chân Chân rằng muối xanh dùng nấu ăn cho Lệ Quý phi sắp hết, bảo nàng sang viện Hàn Lâm Y Quan tìm Chu Y quan lấy thêm một ít. Chân Chân chợt nhớ đến vị ngự y họ Chu đã chẩn trị cho Lệ Quý phi ngày sinh nở năm xưa, chẳng biết có phải cùng một người không, bèn hỏi: "Là vị Chu Y quan nào ạ? Tên đầy đủ là gì?" Hồ Điển thiện đáp: "Viện Hàn Lâm Y Quan chỉ có một vị y quan họ Chu thôi — Hòa an Đại phu Chu Chi Kỳ." Chân Chân lại hỏi: "Muối chúng ta dùng chẳng phải đều lĩnh từ Nội Tàng khố sao? Tại sao phải tìm Chu Y quan để lấy?" Hồ Điển thiện đáp: "Chu Y quan là thầy t.h.u.ố.c chính chữa trị cho Quý phi mười mấy năm nay, thường dặn dò ta chú ý chi tiết ăn uống của Quý phi, tuyệt đối không được phạm vào kiêng kỵ, ông ấy rất cẩn thận. Gia vị Quý phi dùng bình thường ông ấy cũng phải kiểm tra trước, tự mình nếm thử thấy không vấn đề gì mới cho chúng ta dùng. Cho nên mỗi lần chúng ta lĩnh gia vị từ Nội Tàng khố về đều phải đưa đến chỗ ông ấy trước, đợi ông ấy nghiệm qua không sai sót gì mới lấy về." Chân Chân lĩnh mệnh, đi đến viện Hàn Lâm Y Quan. Hôm ấy viện vắng vẻ đìu hiu, người rất ít. Chân Chân khó khăn lắm mới tìm được một y công trẻ tuổi để hỏi, người y công đó bảo: "Hôm nay Hoàng thái hậu long thể bất an, các y quan phần lớn đều sang cung Từ Phúc hội chẩn cả rồi, Chu Y quan cũng ở đó." Chân Chân lo Hồ Điển thiện cần gấp muối xanh, không khỏi lộ vẻ thất vọng. Người y công bèn hỏi mục đích nàng tìm Chu Y quan, Chân Chân nói rõ sự tình, hắn liền cười bảo: "Cái này không sao, gần đây Chu Y quan thường sai ta giúp ông ấy điều chế muối xanh, chắc là để dành cho các Lai Phượng, hiện chỗ ta vẫn còn một ít, cô nương cứ cầm về dùng trước." Hắn dẫn Chân Chân đến chỗ mình bốc thuốc, lấy muối xanh đưa cho nàng. Chân Chân thấy muối xanh màu sắc vẫn như thường, nhưng nghe hắn vừa nhắc đến hai chữ "điều chế", trong lòng không khỏi có chút nghi hoặc, bèn lấy một chút muối xanh nếm thử. Trong vị mặn dần dần nhận ra một chút vị t.h.u.ố.c cực nhạt. Vị t.h.u.ố.c này không rõ rệt, nếu vị giác không nhạy bén rất có thể sẽ bỏ qua, nhưng Chân Chân được Ân Kỳ thường xuyên luyện tập bịt mắt đoán vị, vị muối lại càng được phân biệt kỹ càng qua nhiều loại, nên rất nhanh đã nhận ra muối xanh này khác thường. "Muối xanh này sao lại có vị thuốc?" Chân Chân hỏi người y công. Y công thản nhiên cười nói: "Đây là dùng cho các nội nhân chà răng, đương nhiên có pha thêm một ít nước t.h.u.ố.c rồi. Chu Y quan bảo các nội nhân không thích mùi thuốc, bảo ta phải khống chế liều lượng, tỷ lệ t.h.u.ố.c rất nhỏ, nên mùi vị đã rất nhạt rồi." Chân Chân lờ mờ cảm thấy có chỗ nào không ổn. Muối xanh để Lệ Quý phi chà răng xưa nay vẫn do các nội nhân điều hương của Thượng Phục cục pha chế, đâu phải do Chu Y quan cung cấp. Cụp mắt suy tư trong chốc lát, nàng bất động thanh sắc hỏi y công: "Muối này trông cũng giống loại chúng ta dùng trong bếp. Nếu lỡ tay dùng để nấu ăn rồi ăn vào bụng, thì sẽ thế nào?" Y công đáp: "Thỉnh thoảng ăn phải một ít chắc không sao đâu, miễn đừng ăn trường kỳ ngày này qua tháng nọ là được." Chân Chân truy hỏi ăn lâu dài thì có hậu quả gì, hắn đáp: "Sẽ khiến người ta tinh thần uể oải, ảnh hưởng tỳ vị, khí huyết rối loạn, cơ thể phù thũng hư hàn các loại." Nghi vấn trong lòng dần có đáp án, Chân Chân cảm tạ y công, hỏi tên họ chức vụ của hắn. Y công cười đáp: "Ta tên Hàn Tố Vấn, năm nay mười tám tuổi, vốn là y sinh, vừa thông qua các kỳ thi Mặc nghĩa, Mạch nghĩa, Đại nghĩa để vào viện Hàn Lâm Y Quan, chức y hiện tại là Hàn Lâm Y học." Chân Chân khen ngợi: "Giỏi quá, mới mười tám tuổi đã thi đỗ vào viện Hàn Lâm Y Quan, ngươi quả thực là thiên tài y học đấy! Cố gắng rèn luyện thêm, ngày sau nhất định sẽ trở thành Đại Quốc y của triều ta." Các y quan trong viện Hàn Lâm thường được gọi là Ngự y, Thái y, chỉ những người được bắt mạch cho vua mới được tôn xưng là "Quốc y", phải là danh y trong các danh y mới có tư cách ấy. Vì thế Hàn Tố Vấn nghe nàng nói vậy thì vui lắm, cười ha hả nói cảm ơn. Đã trò chuyện vui vẻ, Hàn Tố Vấn mời Chân Chân vào một gian sảnh đường treo chân dung các danh y qua các triều đại, chỉ vào một bức họa trong đó nói: "Thật không dám giấu, nguyện vọng của ta là trở thành một Đại Quốc y giống như ngài ấy." Chân Chân ngước nhìn lên, chỉ thấy người trong tranh là một vị Hàn Lâm Y quan mặc công phục màu xanh lục, ngũ quan đoan chính, mi mục toát lên vẻ chính khí, để ria mép mỏng, trông dáng vẻ chưa quá ba mươi, chắp tay sau lưng cầm một cuộn "Tố Vấn" đứng đón gió bên vách núi, ánh mắt lạnh lùng nghiêng đầu nhìn ra ngoài bức tranh, mang theo phong thái bễ nghễ thiên hạ. "Đây là ai?" Chân Chân hỏi. "Trương Vân Kiều, Trương Quốc y," Hàn Tố Vấn đáp, "Ngài ấy mới hơn hai mươi tuổi đã được Tiên đế phong làm Hòa an Lang, từng chữa khỏi cho rất nhiều bệnh nhân, bao gồm cả Tiên đế và Kim thượng, cũng bao gồm cả cha của ta. Vì thế ta coi ngài ấy như thần minh, mỗi lần thi cử hay đi khám bệnh đều sẽ bái lạy ngài ấy, xin ngài ấy phù hộ cho ta mọi sự thuận lợi." "Vậy là... ngài ấy đã không còn trên đời?" "Cái này khó nói lắm," Hàn Tố Vấn gãi đầu, "Cả đời ngài ấy có lẽ chỉ có một bệnh nhân không cứu sống được — Tề Thái sư. Sau khi Tề Thái sư c.h.ế.t, ngài ấy liền rời khỏi viện Hàn Lâm Y Quan, bặt vô âm tín. Kim thượng sau khi lên ngôi đã nhiều lần phái người tìm kiếm, nhưng mãi không tìm thấy, cũng chẳng biết ngài ấy còn ở nhân gian hay chăng." Hàn Tố Vấn lại nhìn về bức tranh: "Bức chân dung này chính là do Quan gia sai họa sư vẽ lại để tìm kiếm ngài ấy, sau này ban cho viện Hàn Lâm Y Quan để mọi người chiêm ngưỡng." Chân Chân mang muối xanh về các Lai Phượng, trước tiên kiểm tra số muối xanh còn sót lại trong bếp, nếm ra mùi vị y hệt loại Hàn Tố Vấn pha cho Chu Chi Kỳ, bèn lập tức xin Hồ Điển thiện tạm thời đừng dùng muối xanh. Ngay sau đó nàng đến các Thanh Hoa, gặp mặt Triệu Ngai, báo cáo việc Chu Y quan dùng muối xanh có trộn t.h.u.ố.c cho Quý phi dùng. Triệu Ngai trước sai Phượng Tiên lấy muối xanh trong các ra, để Chân Chân và Phượng Tiên đối chiếu phân biệt với loại của Chu Y quan. Phượng Tiên cũng nhận ra loại của Chu Y quan có thuốc, còn loại của các Thanh Hoa thì bình thường. Triệu Ngai bèn nói: "Xem ra việc này chỉ nhắm vào mỗi Quý phi... Chu Chi Kỳ bao năm nay âm mưu hãm hại Quý phi, chỉ không biết là do hắn tự ý làm hay là chịu sự sai khiến của Vương Mộ Trạch." Phượng Tiên tuy không biết ẩn tình giữa Triệu Tích và Phùng Tịnh, nhưng nghe Triệu Ngai đối thoại với Chân Chân, cũng hiểu Chu Chi Kỳ có lẽ cấu kết với Vương Mộ Trạch, có mưu đồ riêng. Suy nghĩ một chút, nàng nói: "Mưu hại Quý phi là chuyện không nhỏ, muốn biết Vương Mộ Trạch có tham gia việc này hay không, có lẽ có thể thử một phen..." Chương 66 - Chân Tướng Phượng Tiên sau đó đi đến Đông cung, báo cho Tần Tư thiện biết các Lai Phượng phát hiện muối xanh bị trộn thuốc, nhưng chưa biết là do kẻ nào làm. Nhị Đại vương đang cho triệt để kiểm tra nguồn gốc gia vị của các Thanh Hoa, đồng thời sai nội nhân Thượng Thực cục thức trắng đêm phân biệt xem có gì khác thường không. Để đảm bảo an toàn cho Thái tử, Nhị Đại vương đề nghị Đông cung cũng nên nhanh chóng kiểm tra kỹ càng như vậy. Tần Tư thiện nghe xong, không dám chậm trễ, lập tức triệu tập các nội nhân liên quan của Đông cung kiểm nghiệm gia vị, đồng thời theo quy định báo cáo việc này cho Đông cung Đô giám Vương Mộ Trạch biết. "Làm như thế, nếu Chu Y quan xưa nay vẫn cấu kết với Vương Mộ Trạch, Vương Mộ Trạch thấy việc này bại lộ, tất nhiên sẽ có hành động." Phượng Tiên giải thích với Triệu Ngai và Chân Chân, "Hắn sẽ đi tìm, hoặc phái người đi tìm Chu Y quan, bàn bạc cách đối phó... Tất nhiên, nếu hắn đoán Chu Y quan đã không thể thoát tội, để bảo toàn bản thân, cũng có khả năng sẽ g.i.ế.c người diệt khẩu." Triệu Ngai hiểu ý, lập tức liên lạc với Ân Đề, nhờ chàng dẫn cấm vệ Hoàng Thành ti mặc thường phục ngay trong đêm tìm đến tư dinh của Chu Chi Kỳ. Sáng hôm sau cửa Hoàng thành vừa mở, Ân Đề đã vào nội cung, báo cho Triệu Ngai tình hình của Chu Chi Kỳ: "Đêm qua quả nhiên có hai kẻ lẻn vào nhà họ Chu, thì thầm to nhỏ với Chu Chi Kỳ một lát, sau đó chúng ta bỗng nghe Chu Chi Kỳ hét t.h.ả.m thiết, bèn lập tức xông vào. Hai kẻ kia tay cầm d.a.o găm đang hành thích Chu Chi Kỳ, vừa thấy chúng ta liền quay đầu bỏ chạy. Chúng ta đuổi theo một lúc, bắt được người, nhưng khi quay lại xem Chu Chi Kỳ, phát hiện hắn đã tự cầm d.a.o kết liễu đời mình rồi." Triệu Ngai hỏi: "Hai kẻ kia hiện ở đâu?" Ân Đề đáp: "Đang giam ở Hoàng Thành ti, chờ lệnh xử lý... Nhìn bộ dạng đó, là hai tên hoạn quan." Triệu Ngai phái người mời phụ mẫu của Phùng Tịnh vào cung, bảo họ đợi sau khi Hoàng đế bãi triều sẽ theo mình vào điện Phúc Ninh diện thánh, đồng thời cũng mời Lệ Quý phi mang theo Chân Chân cùng đi. Hắn cũng sai người sang Đông cung, mời Thái t.ử cùng đến điện Phúc Ninh. Thái t.ử ăn mặc chỉnh tề, đang định ra cửa thì bị Vương Mộ Trạch quỳ sụp xuống trước mặt, ôm chặt lấy chân. "Điện hạ, lão thần không thể tiếp tục hầu hạ Điện hạ, nhìn Điện hạ lên ngôi báu, làm bậc minh quân nữa rồi... Xin nhận của lão thần một lạy cuối cùng." Vương Mộ Trạch nước mắt tuôn rơi, trịnh trọng dập đầu hành lễ với Thái tử. Triệu Tích hai tay đỡ lão dậy, cau mày hỏi nguyên do. Vương Mộ Trạch nói ra sự thật: "Thần tội đáng muôn c.h.ế.t, đã lừa dối Điện hạ... Năm xưa Lệ Quý phi không hề tráo con, Phùng Tịnh cũng không phải con gái của Quý phi." Triệu Tích sững sờ, ngay sau đó cơn giận bùng lên dữ dội, phất tay áo đẩy lão ngã xuống đất: "Tại sao ngươi lại dám bịa đặt chuyện tày đình như thế?" Nửa canh giờ sau, Triệu Tích rốt cuộc cũng lê những bước chân nặng trĩu đến điện Phúc Ninh, thần sắc vô cùng tiêu điều. Triệu Ngai thấy mọi người đã đông đủ, bèn để Ân Đề thuật lại chuyện ở nhà họ Chu đêm qua trước mặt mọi người, rồi cho giải hai tên hoạn quan vào. Hai tên này thừa nhận là chịu sự sai khiến của Vương Mộ Trạch. Hoàng đế kinh ngạc hỏi cớ sao lại làm thế. Được Triệu Ngai ra hiệu, Chân Chân bước lên kể lại tường tận đầu đuôi sự việc muối xanh ở các Lai Phượng. Hoàng đế nghe xong đã hiểu được quá nửa, cụp mắt không nói. "Chu Chi Kỳ nhiều năm nay ngầm hại Quý phi, rõ ràng là chịu sự sai khiến của Vương Mộ Trạch, nhưng việc này là hành vi cá nhân của Vương Mộ Trạch, không liên quan đến Thái tử. Thái t.ử cũng bị hắn che mắt, hoàn toàn không hay biết." Triệu Ngai lập tức giải thích, sau đó đem chuyện Vương Mộ Trạch dùng thân thế Phùng Tịnh để lừa gạt Thái t.ử kể lại toàn bộ. "Nội nhân Ngô Chân Chân phát hiện ra vào thời điểm con của Quý phi và Phùng Tịnh chào đời, Nội Tàng khố vẫn chưa đưa vào sử dụng giỏ tre để đựng quà tặng, cho nên suy đoán lời Vương Mộ Trạch là sai sự thật. Thần cũng cho người điều tra kỹ nơi đi chốn về của những thị nữ rời khỏi phủ Quận vương sau khi Quý phi sinh con năm xưa, tìm được hai người, đã đưa về Lâm An. Nếu Bệ hạ thấy cần thiết, họ có thể vào cung làm chứng bất cứ lúc nào. Đây là lời khai của họ." Triệu Ngai dâng lời khai lên cho Hoàng đế, cũng giải thích với mọi người, "Họ đều nói năm xưa Quý phi quả thực sinh được một tiểu công tử, chỉ tiếc sinh ra ngay trong ngày đã c.h.ế.t yểu. Họ lo lắng bản thân hầu hạ chủ nhân không chu đáo sẽ bị trách phạt, nên chủ động xin từ chức về quê, chứ không phải như lời Vương Mộ Trạch nói là chứng kiến chuyện tráo con sợ bị Quý phi diệt khẩu mà bỏ trốn." "Vợ chồng thần, năm xưa sinh quả thực là con gái ạ." Cha của Phùng Tịnh là Phùng Thạc liền bước lên, cúi người dâng lên Hoàng đế một cuộn văn thư, "Đây là 'Dục nhi thư' (giấy chứng sinh) do Trương Quốc y ghi chép vào ngày tiểu nữ Phùng Tịnh chào đời, trên đó ghi rõ tên họ tiểu nữ, tên cha mẹ, ngày giờ sinh tháng đẻ, địa điểm sinh, cùng với chiều dài cân nặng, đặc điểm hình thể, bao gồm cả một vết chàm đỏ ẩn sau mái tóc sau gáy, người thường không nhìn thấy. Nếu cần thiết, có thể mời nữ quan kiểm tra." "Trương Quốc y..." Hoàng đế trầm ngâm, "Vân Kiều?" "Chính là Hòa an Lang Trương Vân Kiều." Phùng Thạc khẳng định, giải thích thêm, "Khi đó nhà họ Tề lùng sục khắp nơi tìm ngài ấy, ngài ấy lánh nạn tại nhà thần. Vừa khéo gặp lúc vợ thần sinh nở, ngài ấy liền tận tâm chăm sóc, sau khi tiểu nữ chào đời đã viết lại văn thư này." Dục nhi thư bình thường chữ viết đều là tiểu khải ngay ngắn, nhưng chữ trên tờ giấy này lại như rắn lượn dây leo, mây trôi nước chảy, thế mà lại là cuồng thảo. Hoàng đế nhìn kỹ, cười nhạt một tiếng: "Quả nhiên là bút tích của hắn." Ngài đưa văn thư cho mọi người xem, đặc biệt chăm chú nhìn Triệu Tích nói: "Vân Kiều sẽ không làm giả." Triệu Tích nhìn văn thư, lẳng lặng cúi đầu. "Còn chuyện tặng lễ vật trái giờ, cũng mong nói rõ luôn thể." Triệu Ngai tiếp lời nói với Phùng Thạc. "Chuyện này, để thiếp nói." Lệ Quý phi bỗng nhiên mở miệng, nhìn anh em Triệu Tích, bình thản kể lại chuyện xưa, "Đứa bé đó, ta m.a.n.g t.h.a.i vô cùng vất vả, suốt t.h.a.i kỳ đủ loại triệu chứng, gần đến ngày sinh, ta lại nhiễm thương hàn nghiêm trọng. Hai vị y quan chữa trị cho ta đều không dám dùng t.h.u.ố.c trị thương hàn, sợ làm tổn hại t.h.a.i nhi. Cho nên trước khi sinh ta phải chịu đựng nỗi đau đớn giày vò của cả việc lâm bồn lẫn bệnh thương hàn, khổ sở không sao kể xiết. Ngày sinh nở ta ngất đi mấy lần, Trương Quốc y biết được, đã sắc t.h.u.ố.c tại nhà họ Phùng, nhờ người nhà họ Phùng đưa vào phủ Quận vương. Nhưng y quan chính của ta là do Tiên đế chỉ định, nếu ta không theo phác đồ điều trị của họ mà dùng t.h.u.ố.c của người khác, truyền vào trong cung, Tiên đế ắt sẽ không vui. Vì vậy, em rể ta sai người bàn bạc với mẹ ta đang chăm sóc ta trong phủ Quận vương, quyết định mượn cớ tặng quà qua lại để giấu t.h.u.ố.c trong hộp lễ vật mang vào. Do tình trạng bệnh của ta cấp bách, không thể đợi đến trời sáng, nên mới tốn bao công sức, nửa đêm đưa vào trong phủ, đáng tiếc lúc đó hài nhi của ta đã c.h.ế.t yểu..." Nói đến đây bà không nén được tiếng nghẹn ngào, lau khóe mắt ngấn lệ, mới cố gắng nói tiếp, "Thuốc của Trương Quốc y rất hiệu nghiệm, ta uống xong triệu chứng thương hàn giảm đi rất nhanh." Lúc này Phùng Thạc bổ sung: "Trương Quốc y nói, sắp đến lúc sinh, t.h.u.ố.c trị thương hàn đã không còn ảnh hưởng đến t.h.a.i nhi nữa, hoàn toàn có thể bốc t.h.u.ố.c đúng bệnh. Thuốc ngài ấy cho Quý phi dùng sau đó, liều lượng gấp đôi bình thường." Hoàng đế gật đầu: "Có phách lực này, đúng là tác phong của hắn." "Chân tướng chính là như vậy. Vương Mộ Trạch biết Đại ca quan tâm quá hóa loạn, bình thường lại không qua lại với người nhà mẹ đẻ Quý phi, sẽ không đi sâu tìm hiểu từng chi tiết để xác minh thật giả, nên mới dám vu oan cho Quý phi như thế. Còn ta không có nỗi lo này, để trả lại sự trong sạch cho Quý phi, ta sẽ truy cứu đến cùng." Triệu Ngai nói xong, vái chào Hoàng đế thật sâu, "Nhi thần không dám mong Bệ hạ tha tội vì nhi thần tự ý hành động, nhưng chỉ cần chuyện này được làm rõ, nhi thần cam lòng chịu phạt." Hoàng đế thở dài, sai mọi người lui ra, chỉ giữ lại một mình Thái t.ử trong điện. Đợi xung quanh không còn ai, Hoàng đế hỏi Thái tử: "Con nghe rõ chưa? Còn tin lời nói một phía của Vương Mộ Trạch nữa không?" Triệu Tích quỳ xuống trước mặt cha: "Trước khi nhi thần đến điện Phúc Ninh, Vương Mộ Trạch đã nói ra sự thật với thần, thừa nhận là hắn nói dối... nhi thần ngu muội, nhẹ dạ tin lời gian thần, khẩn cầu Bệ hạ nghiêm trị." Hoàng đế truy hỏi: "Vương Mộ Trạch nói với con động cơ của hắn là gì?" Triệu Tích im lặng, nhất thời không đáp. Hoàng đế liền suy đoán: "Hắn nhất định nói với con rằng, hắn hầu hạ An Thục Hoàng hậu nhiều năm, chướng mắt Lệ Quý phi dùng sắc mị hoặc chủ, thậm chí ngay lúc An Thục Hoàng hậu bệnh nặng liệt giường ta vẫn đêm đêm ở lại phòng bà ấy, không chăm sóc mẹ con, khiến bà ấy u uất mà c.h.ế.t. Sau này thấy con lại bị cháu gái Quý phi quyến rũ, cho nên hắn liều mạng cũng phải tìm cách ngăn cản Phùng Tịnh trở thành Thái t.ử phi, thậm chí là Hoàng hậu tương lai." Triệu Tích phục lạy sát đất, không nói một lời, dáng vẻ như ngầm thừa nhận. "Được, đã con để tâm như thế, thì ta sẽ nói cho con nghe, Lệ Quý phi năm xưa, làm thế nào mà có được sự 'độc sủng' của ta." Ánh mắt Hoàng đế rơi trên bóng nắng do khung cửa sổ trong điện hắt xuống nền gạch, buồn bã nhớ lại chuyện xưa, "Khi đó Thái sư Tề Tuân độc nắm đại quyền, trong triều ra sức bài trừ những kẻ không cùng phe cánh, một tay che trời, đến Tiên đế cũng phải kiêng dè hắn vài phần. Ta tuổi trẻ khí thịnh, mấy lần đối đầu với hắn, hắn cũng coi ta là đại địch, mấy lần định hãm hại ta, may mà ta có thầy hiền bạn tốt giúp đỡ, cẩn thận từng li từng tí hầu hạ Tiên đế, hắn không bắt được lỗi của ta, mới không thực hiện được. Sau này mẹ con bệnh nặng, hắn lại nảy sinh ý đồ khác, chọn con gái của vây cánh mình tiến cử cho Tiên đế, ép ta nạp vào. Ta sao có thể dung túng người do hắn cài cắm ở bên cạnh, vì thế ta cố ý đêm nào cũng đến phòng Lệ thị, còn để cho tất cả mọi người đều biết, bà ấy là người con gái ta để tâm, ta hoàn toàn không còn lòng dạ nào ngó ngàng đến ai khác." Triệu Tích vẫn phục lạy, không nhìn ra biểu cảm gì. Hoàng đế tiếp tục kể: "Tại sao lại chọn bà ấy? Vì bà ấy là người Thái hậu ban cho ta, vốn là thị nữ của Thái hậu, rất được Đế Hậu tin tưởng yêu mến. Ta sủng ái bà ấy, Đế Hậu sẽ không bất mãn, còn cảm thấy an lòng, mà Tề Tuân cũng không nói được gì, lại chẳng dám mượn cớ đó công kích ta đam mê nữ sắc. Sau khi mẹ con qua đời, Tề Tuân lại giới thiệu ứng viên chính thất cho ta, ta vẫn tỏ vẻ độc sủng Lệ thị, vì bà ấy, quyết định tạm thời không tục huyền. Thái hậu thấy ta bày tỏ thái độ như vậy cũng rất vui, nói giúp với Tiên đế, cho phép ta tạm thời không cưới phu nhân mới." "Mà sự thật là, đối với bà ấy, ta không có tình yêu." Hoàng đế than thở, "Cả đời này, người con gái ta yêu nhất, chính là mẹ con. Ba đứa con trai của ta đều do bà ấy sinh ra, còn Lệ Quý phi... Năm xưa ta tuy đêm đêm ngủ lại phòng bà ấy, nhưng lòng lo việc nước, lại nhớ thương mẹ con, thường thường cả đêm cùng bà ấy đối mặt không lời, những lúc thực sự thân gần với bà ấy, chỉ đếm trên đầu ngón tay." Vai Triệu Tích khẽ rung lên, một lúc sau chàng từ từ ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn cha mình đầy vẻ kinh ngạc. "Nhưng bà ấy thực sự xứng đáng với bốn chữ ôn nhu hiền thục, bất luận ta đối xử với bà ấy thế nào cũng không một lời oán thán, cho dù trong lòng tủi thân, vẫn nỗ lực phối hợp với ta diễn trò, lặng lẽ làm một sủng thiếp trên danh nghĩa, luôn hứng chịu sự dòm ngó và công kích từ trong nhà ra đến ngoài triều đình, bao gồm cả sự oán hận của con." Triệu Tích lại phục lạy lần nữa, hai giọt nước mắt rơi xuống: "Nhi thần biết sai rồi, bao năm qua lầm tin lời đồn, hại người hại mình, xin phụ hoàng trách phạt." Hoàng đế lắc đầu, đích thân bước tới đỡ con trai dậy: "Con nhẹ dạ tin lời đồn, ta cũng có lỗi. Trước kia cứ nghĩ những chuyện khuê phòng này không tiện nói với người khác, muốn nói với con trai mình lại càng khó hơn. Lại không ngờ Vương Mộ Trạch năm lần bảy lượt dùng chuyện này vu oan cho Quý phi, che mắt con. Việc này nhịn được thì còn việc gì không nhịn được, người ta muốn nghiêm trị là hắn, chứ không phải con." Hoàng đế lập tức cao giọng gọi Nhập nội Đô tri ngoài cửa vào, lệnh truyền xuống Hoàng Thành ti, bắt giữ Vương Mộ Trạch. Triệu Tích nghe vậy lại quỳ xuống trước mặt ngài: "Phụ vương, vừa rồi nhi thần đã thả hắn ra khỏi cung... Xin ngài nể tình hắn tận tâm hầu hạ nhi thần hơn hai mươi năm, cho hắn một con đường sống." Tuy nhiên kết quả lại khiến người ta kinh ngạc, Vương Mộ Trạch không hề chạy trốn khỏi cung để tìm đường sống như Triệu Tích hy vọng, mà lại chạy trốn vào Hậu uyển. Khi cung nhân phát hiện, hắn đã treo cổ tự vẫn trên một cành cây bằng dải lụa trắng, tắt thở từ lâu. Hoàng đế hạ lệnh triệt để điều tra vây cánh của Vương Mộ Trạch, hoạn quan Đông cung bị liên lụy rất nhiều, y quan trong viện Hàn Lâm có tư giao với Vương Mộ Trạch hoặc Chu Chi Kỳ cũng phần lớn bị cách chức. Hàn Tố Vấn vốn cũng nằm trong danh sách bị hỏi tội, may mà Chân Chân nhờ Lệ Quý phi nói đỡ với Quan gia, bẩm rằng chức trách của Hàn Tố Vấn là bốc t.h.u.ố.c cho các y quan, không phải chỉ phục vụ riêng Chu Chi Kỳ, không thể vì từng điều chế muối xanh mà kết luận hắn là vây cánh của Chu Chi Kỳ. Hắn hoàn toàn không biết gì về hành vi của Chu Chi Kỳ, thẳng thắn kể chi tiết về muối xanh cho Chân Chân, vô tình đã tố giác tội ác của họ Chu, không nên bị truy cứu. Hoàng đế cũng cho là phải, không truy cứu tội lỗi của Hàn Tố Vấn nữa, cho phép hắn tiếp tục ở lại viện Hàn Lâm Y Quan. Chuyện thân thế của Phùng Tịnh đã rõ ràng, Triệu Tích cũng không còn khúc mắc, Hoàng đế bèn bàn bạc với Lệ Quý phi, muốn để Thái t.ử nạp Phùng Tịnh làm trắc thất, để đôi uyên ương được bên nhau dài lâu. Lệ Quý phi mỉm cười nói: "Thiếp trước kia không muốn Phùng Tịnh trở thành Thái t.ử phi, là vì biết Thái t.ử có oán khí với thiếp, lo Phùng Tịnh gả vào Đông cung, ngày rộng tháng dài, bọn chúng khó tránh vì thiếp mà nảy sinh hiềm khích, dần dà trở thành oán ngẫu. Nay hiểu lầm đã được hóa giải, chúng nó đã lưỡng tình tương duyệt, Quan gia cũng bằng lòng để Phùng Tịnh hầu hạ Thái tử, thiếp tự nhiên không còn lý do gì để tiếp tục phản đối." Thế là cho gọi Phùng Tịnh đến, báo cho cô biết chuyện này. Không ngờ Phùng Tịnh lập tức quỳ xuống, cúi đầu xin Quan gia thu hồi mệnh lệnh đã ban. Hoàng đế kinh ngạc hỏi có phải cô đã không còn yêu Thái tử, Phùng Tịnh lắc đầu, đáp: "Tấm lòng của thần đối với Thái t.ử chưa từng thay đổi, ngay cả khi ngài ấy bỏ thần mà đi, thần cũng chưa từng oán hận ngài ấy. Thần thấy may mắn vì Quan gia đã làm sáng tỏ chân tướng, để Thái t.ử và thần khi nhớ về đối phương, vẫn nghĩ đến hình ảnh tốt đẹp thuở mới gặp gỡ. Nhưng hiện giờ Thái t.ử và Thái t.ử phi tình cảm mặn nồng, mà thần cũng đã tìm được việc mình muốn làm ở Thượng Thực cục, vậy thì, xin Quan gia cho phép chúng thần giữ nguyên hiện trạng. Thay vì để thần bước vào Đông cung, đối mặt với khả năng trở nên đáng ghét trong cuộc tranh sủng thê thiếp, thần càng hy vọng bản thân tìm thấy sự an yên lâu dài trong chức phận của mình, mà Thái t.ử cũng có thể trân trọng người trước mắt, không vì duyên cớ của thần mà làm tổn thương vị Thái t.ử phi yêu thương ngài ấy." Hoàng đế và Lệ Quý phi nhìn nhau, nhất thời đều không biết nên tỏ thái độ thế nào. Phùng Tịnh giơ tay lên trán, trịnh trọng bái lạy lần nữa: "Xin Quan gia thành toàn, cho thần thiếp và ngài ấy, tiếp tục giữ lại sự hoàn mỹ trong ký ức của nhau." Chương 67 - Chương 67 Phùng Tịnh từ điện Phúc Ninh bước ra, phát hiện Triệu Ngai đang đứng trước cửa, thấy cô đi ra liền lập tức vái chào một cái, chắc hẳn là đến tìm Quan gia, thấy cô đang ở trong điện nên chưa vào ngay. Phùng Tịnh đáp lễ, định rời đi, đi được vài bước lại nghe hắn nói "Xin dừng bước", bèn dừng chân. Thấy Triệu Ngai đi theo, mở cuộn sớ trên tay ra trước mặt cô. "Quan gia trước đó đã tiếp nhận đề nghị của Đại ca, lệnh cho Thái Sử cục mở kỳ thi toán học dành cho thường dân, tuyển chọn một nhóm nhân tài toán học trong dân gian, trên sớ báo có danh sách trúng tuyển đây." Triệu Ngai chỉ vào danh sách, lại nói, "Trước đây quan lại Thái Sử cục chủ yếu dựa vào tiến cử, sau này những kỳ thi tuyển chọn như thế này sẽ ngày càng nhiều. Nhóm nhân tài này sẽ chuyên tu thiên văn lịch pháp, theo ý tưởng của Đại ca, sau này Tướng Tác giám và Quốc T.ử giám, Thái học cũng sẽ tăng thêm những kỳ thi tương tự, tuyển chọn thêm nhân tài toán học từ dân gian để giám sát xây dựng và tham gia giảng dạy." "Vậy thì tốt quá," Phùng Tịnh mỉm cười, "Thái t.ử anh minh, Quan gia sáng suốt. Cứ đà này, nhân tài toán học nước nhà lớp lớp xuất hiện, ắt sẽ tạo phúc cho xã tắc, công lao ngàn đời." "Đại ca nói, chính sự xuất hiện của cô đã khiến huynh ấy nghĩ đến điều này." Ngừng một lát, Triệu Ngai bỗng hỏi, "Cô không cân nhắc lại chút sao?" Câu hỏi khiến Phùng Tịnh sững sờ, rồi ngay lập tức nhận ra hắn hẳn đã nghe thấy những lời cô nói trong điện lúc nãy, bèn lắc đầu. "Thực ra, chúng ta từ nhỏ ở cung học cũng được học toán." Triệu Ngai dường như đổi sang một đề tài khác, mỉm cười kể với cô, "Các bộ toán kinh như 'Cửu Chương', 'Chu Bễ', 'Hải Đảo', 'Tôn Tử', 'Ngũ Tào', 'Trương Khâu Kiến', 'Hạ Hầu Dương' đều từng học qua, nhưng hồi đó chỉ coi như trò chơi, học mà chơi, cũng chẳng thấy nó quan trọng đến thế nào. Ta học hành chẳng nghiêm túc mấy, lần nào thi cũng chỉ đứng thứ hai." Phùng Tịnh cười khẽ hỏi: "Vậy ai đứng thứ nhất?" Triệu Ngai đáp: "Đại ca." Đối diện với sự im lặng sau đó của cô, hắn nghiêng mình chắp tay, từ biệt đúng lễ nghi rồi bước vào điện Phúc Ninh. Còn cô đứng ngẩn ngơ hồi lâu mới hoàn hồn cất bước, chuyện cũ trong vườn Tập Phương như những trang sách lật qua trước mắt, phép chia cho ba cho bảy, hành lang đỏ thẫm dài hun hút, lau mọc bến nam... Hóa ra chàng đã giấu đi ưu thế của mình, để đổi lấy cái cớ được ở bên cô. Cô nhếch khóe môi, dường như muốn cười, nhưng nỗi đau lòng chợt lan tràn khiến cô phải từ bỏ nỗ lực vô vọng ấy, trong khoảnh khắc nước mắt đã đầm đìa khuôn mặt. Khi gặp lại Thái tử, trời đã vào đông. Đêm đó Phùng Tịnh dọc theo hành lang Cẩm Yên trở về Thượng Thực cục, những ô cửa sổ gỗ dài hai bên hành lang phần lớn đã được đóng lại để chắn gió tuyết, nhưng cứ cách hai gian vẫn chừa lại một ô chưa đóng để tiện thông gió ngắm cảnh. Phùng Tịnh ôm chồng sách "Thái Bình Thánh Huệ Phương" mượn từ chỗ Phượng Tiên, đi dưới hành lang được dãy cửa sổ che chắn, trong ánh sáng chập chờn tỏ mờ do hai hàng cung đăng nhuộm đẫm. Một lát sau, bước chân hơi khựng lại, cô phát hiện phía trước xuất hiện một bóng hình quen thuộc, vạt áo bay bay, càng đi càng gần. Cô định thần, tiếp tục nhìn thẳng phía trước bước đi, cho đến khi đối mặt với chàng. "Điện hạ vạn phúc." Cô hành lễ như nghi thức. Triệu Tích nghiêng mình đáp lễ, nhìn chồng sách trong tay cô, ôn tồn hỏi: "Có cần giúp một tay không?" "Đa tạ Điện hạ, nhưng sách không nhiều, nô tỳ tự cầm được." Cô cụp mắt trả lời. "Ta cứ tưởng nàng sẽ nói, đã đến cuối đường rồi, không cần nữa." Chàng mỉm cười. Bọn họ rõ ràng đang đứng ở đoạn giữa hành lang, nên lời chàng nói khiến cô ngẩn người, nhưng câu nói quen thuộc này rất nhanh đã dẫn lối cho cô tìm về một trang ký ức sắp bị lãng quên. Hóa ra người cô va phải ngày hôm đó là chàng, chính là chàng... Cô không kìm được bật cười ngỡ ngàng, dù nụ cười vương vài phần chua xót. Họ đều mang theo chút ý cười, đứng đối diện nhau, nhưng mãi chẳng tìm được chủ đề phá vỡ sự im lặng. Cuối cùng là cô mở lời trước: "Điện hạ, nô tỳ có thể hỏi một câu không?" Chàng gật đầu: "Mời nói." Cô nói: "Một tòa cung thành, dài sáu dặm, rộng ba dặm. Giáp từ cửa Đông đi ra, cưỡi ngựa đi về phía trước, ngựa một giờ đi được tám mươi dặm. Ất từ cửa Tây đi ra, ngựa một giờ đi được một trăm dặm. Nếu Giáp cưỡi ngựa xuất phát nửa giờ rồi Ất mới ra cửa đi tới, tốc độ ngựa như trên, xin hỏi phải mất bao lâu Ất mới đuổi kịp Giáp?" Triệu Tích không bị chuỗi con số này làm nhiễu, trực tiếp trả lời: "Phương hướng khác nhau, không đuổi kịp đâu." Phùng Tịnh cười nhạt: "Đúng vậy, bọn họ đều sẽ không quay đầu lại. Không có ai đuổi theo ai, chỉ có mỗi người đi về một hướng." Triệu Tích nhìn cô, không nói gì. Lúc này có gió từ ô cửa sổ chưa đóng bên cạnh họ lùa vào, mang theo vài bông tuyết li ti, vương lên mi mắt tóc mai. Tiểu hoàng môn vốn đi cách Triệu Tích một đoạn xa thấy vậy liền chạy tới, kéo đóng cánh cửa sổ dài lại, ngăn cách cả trời tuyết bay tán loạn cùng một đêm trăng gió bên ngoài hành lang đỏ thắm. Phùng Tịnh lại nhún mình hành lễ với Triệu Tích, Triệu Tích cũng vái dài đáp lễ, hai người chúc nhau "bảo trọng", sau đó Triệu Tích nghiêng người nhường đường, để mặc cô đi về hướng ngược lại, lướt qua vai mình. "Bảy khung cửi, uyên ương dệt xong lại ngập ngừng. Chỉ sợ bị người nhẹ tay cắt, chia lìa đôi ngả, một trường ly hận, kế sách nào để lại được bên nhau?" Hương Lê Nhi vui vẻ gảy tỳ bà, vô tư vô lự hát khúc nhạc này, khiến cô cô của cô là Giang Ngưng Yên ngồi bên cạnh phải gác khung thêu trên tay xuống, cười nói với Chân Chân: "Con bé ngốc này, tỳ bà và hát khúc đều chưa học đến nơi đến chốn, cứ đòi múa rìu qua mắt thợ trước mặt muội. Lần này lộ cái dốt ra rồi nhé? Hát 'Thất Trương Cơ' mà hát vô tâm vô phế thế này, cả cái Tiên Thiều viện cũng chỉ có mỗi mình nó." Chân Chân cũng cười, bảo: "Không sao, hát vui vẻ chứng tỏ tâm trạng muội ấy tốt mà. Trong cung người vui vẻ không nhiều, bình thường muội gặp rất nhiều cô nương không chau mày ủ dột thì cũng mặt dài thượt ra, người hay cười như cô ấy thực sự hiếm lắm, kệ muội ấy hát thế nào muội nghe cũng thấy vui." "Đúng đấy, Ngô tỷ tỷ quả không hổ là tri kỷ của muội." Hương Lê Nhi đặt tỳ bà xuống, nhảy chân sáo lại nắm tay Chân Chân, "Tỳ bà và hát khúc đều không phải sở trường của muội, tỷ hiếm khi đến thăm muội, muội múa cho tỷ xem điệu múa muội giỏi nhất nhé... Đi theo muội, tỷ xem bộ vũ y nào đẹp." Cô nàng dẫn Chân Chân vào gian trong, mở tủ quần áo, cho nàng xem đủ loại vũ y tinh xảo rực rỡ, lấp lánh chói mắt bên trong. Đây là nhà cũ của Cúc phu nhân, so với vẻ lộng lẫy của các Phù Dung, nơi này có vẻ thanh u hơn nhiều. Tuy từ những cành lá còn sót lại sau khi dọn dẹp trong sân có thể đoán nơi này năm xưa từng có cảnh tượng hoa trái sum suê, cỏ thơm mơn mởn, nhưng nhà cửa và nội thất đều mang tông màu nhã nhặn, cửa sổ gỗ mun rèm lụa trắng, màn trướng đa phần màu xanh, vô cùng thanh lãnh. Ngoại lệ duy nhất chính là chiếc tủ quần áo này, vừa mở ra cảm giác như màu sắc của cả căn phòng đều bị nhốt ở đây. "Hóa ra muội có nhiều y phục đẹp thế này." Chân Chân v**t v* những lớp lụa là mỏng như mây khói, không khỏi cảm thán. "Thực ra mấy thứ này đều là của Cúc phu nhân đấy." Hương Lê Nhi cười nói, "Sau khi viện được mở ra, bọn muội phát hiện rất nhiều đồ vật bà ấy từng dùng vẫn còn, bao gồm cả mấy bộ vũ y này. Tiên Thiều viện đã lấy đi nhiều rồi, mấy bộ này là để lại cho muội." Nói đến hưng phấn, cô nàng lại kéo Chân Chân đến trước bàn trang điểm, mở một ngăn kéo ra cho Chân Chân xem: "Chỗ này còn cả một tủ đồ trang điểm, đa phần chưa dùng mấy. Tuy để đến giờ cũng không dùng được nữa, nhưng mấy hộp phấn son này đều rất tinh xảo, muội cũng không nỡ vứt." Những hộp phấn son đó làm bằng vàng bạc, sơn mài hoặc gỗ, cái thì chạm khắc hoa văn, cái thì khảm xà cừ trân châu, đủ loại đủ kiểu, đẹp vô cùng. Chân Chân cầm lên một hộp phấn, mở ra ngắm nghía, phát hiện bên trong có ba ngăn, một tầng để bông phấn, một tầng đựng phấn trang điểm, tầng dưới cùng không có phấn, lại có một tờ giấy gấp lại. Chân Chân lấy tờ giấy ra, mở ra xem, mấy dòng chữ rồng bay phượng múa lập tức đập vào mắt, khiến Chân Chân hoa cả mắt, nhưng cũng chẳng nhận ra được mấy chữ. Vị Cúc phu nhân này nghe nói là một tuyệt đại giai nhân, sao chữ viết lại phóng khoáng đến thế? Chân Chân thầm nghĩ, đang định đặt tờ giấy xuống, chợt nghe Hương Lê Nhi bên cạnh nói một câu: "Đây chẳng phải là giấy kê đơn t.h.u.ố.c của viện Hàn Lâm Y Quan sao?" Chân Chân ngẩn người, nhìn kỹ lại, quả nhiên nhận ra đây là giấy kê đơn các ngự y hay dùng, rồi lại cảm thấy nét chữ này có chút quen mắt, hơi giống nét chữ của Trương Quốc y mà Quan gia cho mọi người xem lần trước. "Tỷ tỷ, Cúc phu nhân mắc bệnh gì vậy?" Hương Lê Nhi tò mò hỏi, rõ ràng cô nàng cũng không đọc được chữ trên đó. "À, bệnh này hơi phức tạp..." Chân Chân suy tính, hỏi cô, "Có thể cho ta mượn tờ đơn t.h.u.ố.c này mang về, tìm một y quan hỏi thử, lần sau sẽ nói cho muội biết được không?" Hương Lê Nhi sảng khoái đồng ý: "Tỷ tỷ hỏi rõ rồi nói cho muội biết là được, cả tờ đơn t.h.u.ố.c và hộp phấn tỷ cứ cầm đi, không cần trả lại muội đâu." Chân Chân nhanh chóng đến viện Hàn Lâm Y Quan, tìm gặp Hàn Tố Vấn, đưa cho hắn tờ giấy này, nhờ hắn giải mã. Hàn Tố Vấn vừa nhìn đã phì cười: "Cuồng thảo thế này, rõ ràng là chữ của y quan bọn ta rồi!" Hắn rất nhanh đọc được những chữ trên đó: "Uổng ban áo lụa chẳng ban ân, một lần xông hương một lần đau lòng. Tuy nhiên tay áo múa chưa từng múa, thường đối gió xuân đẫm lệ nhòa." Chân Chân nghe xong kinh ngạc nói: "Hóa ra không phải đơn thuốc... Nghe như một bài thơ tình vậy." "Hầy, thơ tình gì chứ!" Hàn Tố Vấn không cho là đúng, "Y quan bọn ta tuy không giàu không quý, nhưng viết thư cho cô nương mình thích, mấy tờ giấy viết thư đẹp đẽ chắc vẫn mua nổi chứ? Dùng giấy kê đơn viết cho cô nương, chẳng phải bảo người ta có bệnh sao?" Chân Chân không nhịn được cười: "Vậy cậu nói xem bài thơ này có ý gì." Hàn Tố Vấn cúi đầu ngẫm nghĩ một hồi, rồi nói: "Ta thấy nhé, đây là viết cho một cô nương biết múa. Nhìn ý thơ thì cô nương này được Quan gia hay quý nhân nào đó ban cho vũ y, cô ấy rất trân trọng, thường xuyên xông hương cho áo, nhưng cứ nghĩ đến người ban áo chẳng ban cho cô ân sủng cô mong muốn, thì lại thấy bi thương. Tuy mặc vũ y vào nhưng chưa từng múa, mà lại thường xuyên dùng tay áo lau nước mắt." "Vậy tại sao bài thơ này lại viết trên giấy kê đơn?" Chân Chân truy hỏi. Hàn Tố Vấn nghĩ ngợi rồi bảo: "Đa phần là cô nương này cả ngày sầu não cơm không ăn, ngủ không yên, người nhà thấy thế tưởng bệnh nặng lắm, bèn tìm y quan đến chẩn trị. Vị y quan kia vừa nhìn là hiểu ngay, bèn kê cái 'đơn' này ném cho cô nương kia, ý là: Cô mắc bệnh tương tư, cần phải trị!" Chân Chân phục sát đất, liên tục khen ngợi: "Được đấy! Nghe rất có lý. Không ngờ cậu tuổi còn nhỏ mà đầu óc linh hoạt thế, thi thư cũng học tốt nữa." Hàn Tố Vấn kiêu hãnh ngẩng đầu: "Đương nhiên! Hồi đó ta thi vào viện Hàn Lâm Y Quan, đứng thứ nhất đấy nhé!" Rồi hắn cười tươi, bảo Chân Chân, "Ta cũng đang luyện chữ cuồng thảo, lại đây, ta cho cô xem, lát nữa cô nhận xét thử coi, đã luyện đến trình độ cô không nhận ra được chưa nhé?" Chương 68 - Thăng Chức Mùa đông thích hợp để tẩm bổ. Triệu Ngai thấy canh Phượng Tiên hầm rất có công hiệu thực bổ, bèn sai nàng hầm một ít, đích thân dẫn nàng mang sang biếu Lệ Quý phi. Lệ Quý phi mỉm cười nhận lấy, nghe Phượng Tiên trình bày chỗ diệu dụng của món canh xong, lại giữ Triệu Ngai ở lại chuyện trò hồi lâu. Thấy hắn dăm ba câu lại nhắc đến Chân Chân, bà cũng ngầm hiểu ý, bèn gọi Chân Chân đến, bảo nàng tiễn Nhị Đại vương về. Chân Chân tiễn Triệu Ngai bước vào hành lang Cẩm Yên, nói một câu "Nhị Đại vương đi thong thả", liền định quay người trở về các Lai Phượng. Triệu Ngai lập tức như chợt nhớ ra điều gì, chỉ tay về phía trước, nói: "Đại ca chính là lần đầu tiên nhìn thấy Phùng Tịnh ở đằng kia đấy." Chân Chân ngạc nhiên hỏi: "Chẳng phải hai người họ gặp nhau lần đầu ở vườn Tập Phương sao?" "Cái này nàng không biết rồi chứ gì?" Triệu Ngai vẫy tay với nàng, "Lại đây, đi thêm một đoạn nữa, ta kể cho nàng nghe đầu đuôi câu chuyện." Vốn tò mò mãnh liệt về chuyện giữa Thái t.ử và Phùng Tịnh, Chân Chân quay lại hành lang, vừa nghe Triệu Ngai kể lại chuyện cũ gặp gỡ dưới hành lang, vừa vô thức đi theo hắn. Phượng Tiên đi theo sau họ, thấy Triệu Ngai hào hứng trò chuyện với Chân Chân, chẳng hề có ý ngoái lại nhìn mình, không khỏi có chút lạc lõng, tự giác đi chậm lại vài bước, giữ một khoảng cách với họ. Nghe Triệu Ngai kể xong, mường tượng phong thái nhẹ nhàng của hai người ấy, Chân Chân không khỏi thở dài: "Tiếc quá, vốn dĩ là một đôi tài t.ử giai nhân đẹp đôi đến thế, tùy tiện va vào nhau một cái thôi mà cũng đẹp như tranh..." "Cái này chủ yếu là do người." Triệu Ngai nói, "Phùng Tịnh là mỹ nhân nhàn nhã đoan thục, lại ở giữa hành lang Cẩm Yên sắc màu rực rỡ này, nhìn thế nào cũng thấy đẹp. Cho nên lần đầu gặp gỡ của người ta, tự nhiên đầy chất thơ ý họa. Không như ai kia, hồi đó cưỡi con ngựa bẩn thỉu, tay cầm cái roi ngựa đi nhìn trộm nam t.ử ở trần... Á..." Tiếng "Á" đó bị kích phát bởi cú đ.á.n.h của Chân Chân giáng vào tay hắn. Chân Chân tuy từng kể với Phượng Tiên chuyện lần đầu gặp Triệu Ngai, nhưng chưa từng kể chi tiết chuyện bọn họ để chân trần tắm ngựa, nay nghe hắn bô bô như thế, sợ Phượng Tiên hiểu lầm, vừa thẹn vừa giận, không nhịn được liền động thủ. Triệu Ngai vẫn chưa chịu thôi, che cánh tay phải bị nàng đánh, bổ sung thêm: "... lại còn là hai người nữa chứ." Chân Chân chỉ thấy tối sầm mặt mũi, lập tức trừng mắt, hai tay vung liên hồi, đét đét đét đ.á.n.h hắn thêm mấy cái nữa. Triệu Ngai chỉ cười đỡ đòn, hoàn toàn không hề giận dỗi. Phượng Tiên đi phía sau nhìn cảnh ấy, khóe môi vẫn giữ nụ cười hoàn hảo không chê vào đâu được khi đối diện với quý nhân, nhưng vào khoảnh khắc cánh tay họ chạm nhau, nàng lặng lẽ rũ mi mắt xuống. Trước nay tuy nói bữa ăn của Hoàng đế trên danh nghĩa do Bùi Thượng thực lo liệu, nhưng những năm gần đây Hoàng đế lại chú ý vào Liễu Tiệp dư hơn. Bữa ăn của Hoàng đế khác biệt, gọi là "ngự thiện", trong ngự trù có đến hàng chục đầu bếp, do Ngự Thiện sở quản lý, nhưng việc lên thực đơn mỗi ngày và nếm thử thức ăn trước lẽ ra phải do Thượng Thực làm, mà hai năm nay những việc này đa phần đều do Liễu Tiệp dư làm thay, còn thường xuyên tự mình dâng món ăn cho Hoàng đế. Có điều hiện nay Liễu Tiệp dư đang mang long thai, Hoàng đế lo nàng quá vất vả, vả lại cũng không thích hợp tiếp tục chủ trì việc nếm thử ngự thiện, bèn ra ý với Bùi Thượng thực, chọn một nội nhân trẻ tuổi khác của Thượng Thực cục hỗ trợ Bùi Thượng thực làm những việc này. Bùi Thượng thực quan sát đám nội nhân, cảm thấy Phượng Tiên làm việc chín chắn, nhập cung đến nay chưa từng phạm lỗi, công việc ở các Thanh Hoa cũng làm đâu ra đấy, lại rất am hiểu đạo thực bổ, bèn có ý đề bạt nàng, gọi nàng đến báo cho biết. Không ngờ Phượng Tiên lại không nhận ân trạch cao cả này, quỳ xuống nói với Bùi Thượng thực: "Nô tỳ xuất thân dân gian, trù nghệ so với nội nhân trong cung cũng chẳng xuất sắc gì, lại thêm nhập cung chưa lâu, quy củ còn chưa học hết, may mắn được phân về các của Nhị Đại vương, ngài ấy đối đãi với người dưới hòa nhã, không khắt khe lễ nghi tiểu tiết, nô tỳ mới có thể bình an ngày qua ngày cho đến nay. Nếu đến bên cạnh Quan gia, nô tỳ sợ mỗi ngày nơm nớp lo âu, khó tránh sai sót, e rằng sẽ phụ ơn tiến cử của Thượng thực." Bùi Thượng thực dùng lời ngon ngọt khuyên bảo, Phượng Tiên vẫn không nhận lời. Thấy Bùi Thượng thực nhíu mày, Phượng Tiên vội khẽ nói: "Nô tỳ lại nghĩ đến một người thích hợp, so với nô tỳ còn thích hợp hơn gấp mười lần." Bùi Thượng thực hỏi là ai, Phượng Tiên đáp: "Ngô Chân Chân. Cô ấy cũng giống nô tỳ đến từ Phố Giang, năm xưa khi Thượng Thực cục tuyển chọn, thứ hạng của cô ấy cao hơn nô tỳ, là người Tần Tư thiện chọn đầu tiên, đủ thấy trù nghệ tinh diệu hơn nô tỳ. Hơn nữa vị giác cô ấy nhạy bén phi thường, vụ muối xanh ở các Lai Phượng trước đó, chính là do cô ấy nếm ra vị lạ. Nội nhân Thượng Thực bên cạnh Quan gia, quan trọng nhất chẳng phải là vị giác nhạy bén sao?" Bùi Thượng thực cân nhắc nói: "Ngô Chân Chân quả thực không tồi, nhưng tính tình hoạt bát quá mức, không đủ trầm ổn." Phượng Tiên nói: "Chân Chân đúng là có hoạt bát, nhưng trong mắt Quan gia, chưa chắc đã là chuyện xấu. Nếu Quan gia chỉ thích người trầm ổn, thì các Lai Phượng và các Phù Dung đều sẽ chẳng phải là tình cảnh như hiện nay." Bùi Thượng thực sa sầm mặt mày ngay tức khắc: "Thận trọng lời nói!" Phượng Tiên lập tức dập đầu xuống đất: "Nô tỳ lỡ lời, xin Thượng thực trách phạt." Bùi Thượng thực chưa quyết định ngay, nhưng lời Phượng Tiên nói bà cũng đã ghi tạc trong lòng. Mấy ngày nay Thượng Thực cục sai các nội nhân lớn tuổi huấn luyện trù nghệ cơ bản cho đám tiểu nội nhân mười mấy tuổi, có một mục là xử lý nấm làm nhân bánh bao. Đa số nội nhân đều rửa sạch nấm rồi luộc sơ qua nước sôi, sau đó băm nhỏ trộn nhân, nhưng Bùi Thượng thực phát hiện Ngô Chân Chân lúc luộc nấm lại thái vài lát gừng bỏ vào nồi nước sôi, còn bảo với tiểu nội nhân do mình hướng dẫn rằng: "Có một số loại nấm có độc, chúng ta không nhất định biết hết các loại nấm, để an toàn, tốt nhất lúc luộc nên bỏ vài lát gừng hoặc vài tép tỏi vào, nếu nấm có độc, gừng và tỏi sẽ đổi màu." Tần Tư thiện thấy thế thì nói nhỏ với Bùi Thượng thực: "Ngô Chân Chân này cũng lĩnh hội được nguyên tắc hàng đầu của ẩm thực trong cung rồi — an toàn." Bùi Thượng thực chưa tỏ thái độ, tiếp tục âm thầm quan sát hành động của Chân Chân. Lúc huấn luyện kĩ năng dùng dao, nội nhân Đường Ly bỗng lớn tiếng quát tiểu nội nhân mình đang dạy: "Đã nói bao nhiêu lần rồi, lúc thái rau ngón tay trái của ngươi phải thu lại, đừng có duỗi thẳng đơ trên rau, dễ bị cắt vào tay!" Tiểu nội nhân kia sợ quá khóc thút thít. Tần Tư thiện bèn nhắc nhở Đường Ly chớ ồn ào, Đường Ly vâng dạ, nhưng vẫn không nhịn được lầm bầm: "Trước đó đã dặn đi dặn lại rồi, nó cứ không nhớ." Chân Chân thấy vậy, đi đến bên cạnh tiểu nội nhân đang khóc, dùng khăn tay lau khô nước mắt cho cô bé, dùng lời lẽ nhẹ nhàng an ủi, sau đó tự mình cầm d.a.o của tiểu nội nhân lên, mỉm cười hướng dẫn: "Muội muội, tỷ nói cho muội nghe một bí mật nhé: Con d.a.o này thực ra có linh khí đấy, mỗi lần tay phải muội cầm nó lên, muội sẽ lập tức biến thành một con mèo nha..." Sau đó nàng xòe tay trái mình ra trước mặt tiểu nội nhân, "Tay trái muội lúc này cũng không phải là tay nữa, sẽ biến thành cái vuốt mèo tròn vo." Tay trái nàng theo đó khum lại, các ngón tay quặp vào lòng bàn tay, cười cười lắc lư trước mặt tiểu nội nhân, rồi đưa d.a.o cho cô bé: "Muội thử lại xem." Tiểu nội nhân ngẩn người nghĩ một lúc, quay lại đối diện với thớt, khi đặt d.a.o lên thớt, miệng lẩm bẩm nhắc nhở bản thân "vuốt mèo, vuốt mèo", ngón tay trái của cô bé quả nhiên thu gọn vào trong, lúc thái rau không còn duỗi thẳng ra nữa. Bùi Thượng thực và Tần Tư thiện nhìn nhau cười, nhớ lại lời Phượng Tiên, dần cảm thấy không phải là không có lý. Lúc này Hồ Điển thiện của các Lai Phượng dâng đơn xin từ chức lên Lệ Quý phi. Vì nhiều năm qua không nếm ra vị lạ trong muối xanh, khiến Quý phi bị hại, thân thể tổn thương, bà vẫn luôn áy náy và lo sợ bất an. Tuy Lệ Quý phi nể tình nghĩa bao năm không truy cứu, nhưng Hồ Điển thiện nghĩ đi nghĩ lại, cũng không dám coi như chưa có chuyện gì xảy ra mà tiếp tục lo liệu ăn uống cho Quý phi, bèn xin tự giáng phẩm cấp, làm nội nhân bình thường quay về Thượng Thực cục làm việc. Lệ Quý phi giữ lại mấy lần, nhưng Hồ Điển thiện quyết tâm ra đi, kiên trì từ chức, Lệ Quý phi đành mời Bùi Thượng thực đến bàn bạc. Bùi Thượng thực cũng nói Hồ Điển thiện quả thực đã phạm lỗi, về tình về lý đều không nên không chịu phạt mà vẫn ngồi vị trí cũ, nếu không khó răn đe các nội nhân khác, giáng chức quay về Thượng Thực cục là cách xử lý thỏa đáng. Lệ Quý phi bèn đồng ý cho đi. Bùi Thượng thực bèn trình lên Quý phi phương án điều động nhân sự chủ trì ăn uống của các Lai Phượng: Thăng Phùng Tịnh lên làm Điển thiện, tiếp quản công việc của Hồ Điển thiện, đồng thời mang theo hai nội nhân có trù nghệ của Thượng Thực cục cùng đến các Lai Phượng, lo liệu ăn uống cho Quý phi. Còn Ngô Chân Chân, đề nghị điều đến điện Phúc Ninh, hỗ trợ Thượng thực làm việc nếm thử ngự thiện. Lệ Quý phi trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng nói: "Việc nếm thử ngự thiện để Chân Chân làm đương nhiên là thỏa đáng, có điều đột ngột điều động không biết con bé nghĩ thế nào. Nó trước đây đối với ta, có thể nói là lập đại công, những việc này, ta muốn bàn bạc với nó trước, hỏi ý kiến nó xem sao." Hoàng đế có thói quen quá ngọ không ăn, nhưng nhớ ra hôm nay đúng là ngày kỷ niệm năm xưa ngài nạp Lệ Quý phi làm thiếp, bèn đến vào lúc chập tối, cùng Lệ Quý phi uống vài chén rượu, ăn chút điểm tâm. Hai người nói chuyện việc nhà hồi lâu, Hoàng đế dường như vẫn chưa có ý định rời đi. Lệ Quý phi nhìn ra ngoài cửa, bỗng gọi nội thị đến, bảo bên ngoài tuyết rơi rồi, bảo họ chuẩn bị áo choàng cho Quan gia, mang theo dù, lát nữa hộ tống Quan gia về điện Phúc Ninh. Thế là, Hoàng đế đành phải đứng dậy cáo từ. Đám nội thị vây quanh Hoàng đế rời đi. Chân Chân nhìn đống điểm tâm còn thừa lại rất nhiều, khẽ hỏi Quý phi: "Quan gia rõ ràng là muốn ở lại, tại sao nương t.ử lại..." Lệ Quý phi lắc đầu, nói: "Ngài ấy không phải muốn ở lại, chỉ là cảm thấy đêm nay ngài ấy nợ ta, nên ngài ấy muốn ở lại đây." Chân Chân không tiện nói nhiều. Lệ Quý phi buồn bã uống cạn chén rượu thừa, lầm bầm nói tiếp: "Ban đầu, ta chính là người Thái hậu ép ban cho ngài ấy, ngài ấy vốn không muốn, nhưng không tiện từ chối, thế là, với tấm lòng hiếu thuận với Đế Hậu, ngài ấy đã chấp nhận ta... Sau này, An Thục Hoàng hậu bệnh nặng, Tề Thái sư muốn ép ngài ấy cưới con gái của vây cánh mình, ngài ấy bèn cố ý mỗi đêm ngủ lại phòng ta, nhưng phần lớn thời gian không phải chong đèn đọc sách cả đêm, thì cũng là ngủ sớm, rất ít khi nói chuyện với ta... Sau khi Liễu Tiệp dư nhập cung, chỗ này của ta liền hoàn toàn vắng vẻ, bây giờ ngài ấy đến đây, cũng chỉ là vì áy náy mà thôi..." Bà đặt chén rượu xuống, dựa vào lưng ghế, nhắm mắt lại, một lát sau một giọt lệ từ khóe mắt lăn xuống: "Ngài ấy chưa bao giờ, thực sự, thích ta cả..." Nghe đến mức Chân Chân có chút tay chân luống cuống, không biết an ủi bà thế nào. Nghĩ ngợi một chút, nàng rót nước nóng vắt khăn mặt, đưa cho Quý phi lau mặt. "Hôm nay Bùi Thượng thực nói với ta, muốn điều ngươi đến điện Phúc Ninh." Lau sạch vệt nước mắt, Lệ Quý phi chuyển lời nói, "Ta chưa nhận lời ngay. Ta nghĩ, ngươi chắc sẽ muốn đến bên cạnh Nhị Đại vương hơn." "A, không, không phải!" Chân Chân lập tức phủ nhận, "Nô tỳ đối với Nhị Đại vương không có bất kỳ vọng tưởng nào." Lệ Quý phi ngạc nhiên mở mắt: "Ta tưởng các ngươi..." "Chỉ là Nhị Đại vương thích đùa giỡn với nô tỳ thôi." Chân Chân khẳng định chắc nịch. "Ồ, vậy sao..." Lệ Quý phi có chút thất vọng, suy tư giây lát, bỗng lại hỏi, "Trước đây ngươi từng nhắc với ta về người thầy ngoài cung của ngươi... người ấy chắc vẫn còn khá trẻ nhỉ?" Câu hỏi này nằm ngoài dự liệu của Chân Chân, nàng chần chừ một chút mới đáp: "Vâng, hơn hai mươi tuổi." Lệ Quý phi hiểu ra: "Cho nên người ngươi thích là người ấy." "Cũng không phải..." Chân Chân định phủ nhận, nhưng giọng điệu nghe rõ ràng yếu ớt hơn nhiều. "Vậy tại sao ngươi còn vào cung làm gì?" Lệ Quý phi than, "Trong cung đâu phải chốn tốt lành gì, ngươi ở ngoài cung sống tốt với thầy mình chẳng phải hơn sao?" Chân Chân im lặng hồi lâu, cuối cùng quyết định nói ra sự thật: "Bởi vì nô tỳ muốn tìm nương của nô tỳ." Sau đó dưới sự truy hỏi của Lệ Quý phi, nàng kể hết chuyện biến cố gia đình, quá trình nhập cung, cũng như cuộc đối thoại với Trình Uyên cho Quý phi nghe. "Hóa ra là vậy..." Lệ Quý phi trầm tư, cuối cùng nhìn Chân Chân chân thành nói: "Tên nương ngươi ta cũng chưa từng nghe qua, rất có thể là tên giả. Bà ấy rốt cuộc là ai, có lẽ thực sự chỉ có Trình Uyên biết. Trình Uyên là người cung Từ Phúc, ta cũng không thể sai khiến hắn, ép hắn nói ra sự thật. Nay xem ra, ngươi đến điện Phúc Ninh lại là một lựa chọn không tồi, trở thành người bên cạnh Quan gia, Trình Uyên cũng buộc phải nể ngươi ba phần, biết đâu không bao lâu nữa, ngươi hỏi lại hắn, hắn sẽ nói ra tung tích nương ngươi." Chuyện cứ thế được quyết định. Lệ Quý phi sau đó nhắc lại với Hoàng đế về công lao của Chân Chân trong vụ muối xanh và thân thế Phùng Tịnh, kết hợp với lời khen ngợi của Bùi Thượng thực, đề nghị thăng nàng lên làm Chưởng thiện. Mà Phùng Tịnh thăng lên Điển thiện vừa khéo trống một chức Chưởng thiện, Hoàng đế vui vẻ chấp thuận, thăng Chân Chân làm Chưởng thiện, lệnh nàng hỗ trợ Bùi Thượng thực, trông coi việc nếm thử ngự thiện. Chương 69 - Ngự Thiện Hoàng đế dùng bữa sáng tại điện Phúc Ninh, món ăn có phần thanh đạm, nhưng bữa trưa long trọng nhất trong ngày lại được bày biện tại điện Gia Minh. Điện Gia Minh nằm đối diện cổng lầu Đông Lang của Hoàng thành. Dưới lầu cổng chính là nơi tọa lạc của sáu cục thuộc Điện trung tỉnh cùng Ngự trù. Mỗi khi đến giờ ngự thiện, trên lầu cổng sẽ có một nội thị đứng đó, ngân nga xướng tên từng món ăn, nghi thức này gọi là "bát thực". Nương theo tiếng xướng ấy, từng hàng ngự trù mặc áo tía, đầu chít khăn bọc đầu chân cuộn, được gọi là "Viện t.ử gia", tay phải nâng hộp thực phẩm che khăn rồng thêu vàng, tay trái cầm khăn tay lụa đỏ thêu hoa, lần lượt tiến vào điện. Sau khi dâng lên hơn mười hộp, lại có thêm mười mấy người hầu khác bưng hộp vàng hình quả bí tiến vào. Hộp thực phẩm được đưa vào trong điện, tiếp tục truyền qua tay các nội thị trong điện và nữ quan của Thượng thực cục để đưa đến trước bàn Hoàng đế. Các nữ quan sẽ lấy thức ăn ra, múc riêng một ít để Bùi Thượng thực hoặc Chân Chân nếm trước. Nếu họ cảm thấy hương vị có gì không ổn, hoặc sau khi ăn thấy trong người khó chịu, món đó lập tức bị đưa xuống; chỉ khi không thấy gì khác lạ mới mời Hoàng đế dùng bữa. Bùi Thượng thực than mình tuổi cao, ngự y lại nhắc nhở nhiều món không thích hợp để ăn, nên sau khi được Hoàng đế ưng thuận, phần lớn các món ngự thiện đều do Chân Chân nếm thử. Chân Chân rất vui vẻ nhận lấy công việc này. Ngày đầu tiên nếm qua hơn hai mươi món ngon vật lạ, tuy mỗi món chỉ một chút ít, nhưng ăn hết một lượt cũng xem như được một bữa no nê thỏa thích. Một bữa ăn xuống bụng, nàng chỉ cảm thấy chức chưởng thiện này sao mà nhàn hạ quá, vừa hưởng bổng lộc lại được ăn ngự thiện của Hoàng đế, chẳng cần động tay làm, quả là món hời nhất thiên hạ, khiến nàng thầm trộm cười mấy bận. Thế nhưng niềm vui ấy chẳng kéo dài được bao lâu. Sau bữa trưa ngày đầu tiên, Bùi Thượng thực hỏi Chân Chân: "Ngự thiện hôm nay, ngươi thấy những món nào hương vị tuyệt nhất?" Chân Chân cười đáp: "Thịt dê chiên rượu, canh tôm xanh cay và vịt cuốn hoa sen đều rất ngon ạ." "Được, bây giờ ngươi đến bếp của Thượng thực cục, nấu lại ba món đó đi." Bùi Thượng thực ra lệnh. "A?" Chân Chân ngẩn người hỏi lại, "Có công thức để thần làm theo không ạ?" "Không có." "Vậy có thể mời người dạy thần không?" "Không thể. Ngươi làm xong thì mời các nữ quan của Thượng thực cục hoặc đầu bếp bên Ngự trù nếm thử, họ có thể sẽ cho ngươi vài ý kiến." "Nhưng mỗi món con chỉ gắp có một đũa..." "Chỉ dựa vào hương vị mà ngươi cảm nhận được từ một đũa ấy mà làm." Chân Chân nhanh chóng cảm nhận được áp lực lớn nhất kể từ khi nhập cung. Chỉ dựa vào ấn tượng hời hợt từ một đũa thức ăn để phục dựng lại cả một món, suốt quá trình không có bất kỳ sự trợ giúp nào, nguyên liệu và quy trình hoàn toàn dựa vào phỏng đoán mù mờ của bản thân. Kết quả lần thử đầu tiên thê t.h.ả.m vô cùng, mùi vị làm ra chẳng ăn nhập gì với thứ nàng đã nếm, đem đi xin ý kiến nữ quan và ngự trù thì nhận về mỗi người một kiểu, chẳng biết nghe ai mới phải. Từ đó về sau, mỗi lần nếm món ăn Chân Chân đều như gặp đại địch. Mỗi miếng thức ăn đưa vào miệng, đầu lưỡi thẩm định, trong lòng cũng âm thầm phân tích xem có gia vị gì, được chế biến bằng phương pháp nào. Dùng bữa xong trở về bếp, nàng lại bắt tay vào làm thử những món mình hứng thú nhất, rồi chạy vạy khắp nơi xin ý kiến. Dần dà, nàng phát hiện ra việc xin ý kiến này cũng lắm gian nan: Có người từng ăn qua món đó sẽ cho lời khuyên xác đáng; có kẻ chưa ăn bao giờ lại đem suy đoán lung tung của mình ra làm như công thức thật để dạy nàng; lại có người rõ ràng biết cách làm nhưng không chịu nói thật, hoặc im thin thít, hoặc cố tình chỉ sai đường, đặc biệt là các đầu bếp ở Ngự trù thường hay hành xử như vậy. Thế nên, làm sao để xử lý tốt mối quan hệ với họ, khiến họ vui vẻ hợp tác, cũng trở thành bài toán khó mà Chân Chân phải giải quyết. "Thượng thực cục và Ngự trù vốn dĩ phải hỗ trợ nhau, nhưng thực tế lại kiêng dè lẫn nhau." Sau này Bùi Thượng thực mới nói cho Chân Chân biết, "Đầu bếp tay nghề càng cao lại càng coi thường nữ quan Thượng thực cục, cho rằng chúng ta chỉ là kẻ ngồi mát ăn bát vàng, lại còn hay bới lông tìm vết, chê bai họ. Vì vậy, chúng ta phải chăm chỉ luyện trù nghệ, tay nghề không được kém cạnh họ. Có như thế khi lên thực đơn cho Quan gia, hay phê bình món ăn của Ngự trù, nếu họ có nghi ngờ, ta cũng có thể ung dung mà nói rõ ngọn ngành." Không lâu sau, Chân Chân đã được trực tiếp đối mặt với sự thù địch từ Ngự trù. Thực đơn mỗi ngày của Hoàng đế vốn do Bùi Thượng thực quyết định, nhưng một hôm bà thấy trong người không khỏe, xin nghỉ hai ngày, bèn dặn Chân Chân dựa theo thực đơn bà soạn gần đây để lên món cho ngày mai. Bên ngoài cổng Hòa Ninh của Hoàng thành có một khu chợ sớm tên là "Hồng Xoa Tử", các loại cá thịt rau quả thứ gì cũng có, tần phi hay nội nhân trong cung thường nhờ nội thị ra đó mua về nếm của lạ. Chân Chân thấy thịt lợn một vị nội nhân mua về khá tươi ngon, chợt nhớ ra trong ngự thiện hầu như toàn thịt dê, hiếm thấy thịt bò, còn thịt lợn thì tuyệt nhiên vắng bóng, bèn nảy ra ý định, thêm món thịt Đông Pha vào thực đơn. Thực đơn đưa đến Sở Ngự thiện, chẳng bao lâu sau, người đứng đầu các đầu bếp ở Ngự trù, hay còn gọi là "Lý Thực thủ" - Lý Đại Hồng đã hầm hầm tức giận tìm đến Thượng thực cục gặp Chân Chân. Đập mạnh thực đơn xuống bàn trước mặt Chân Chân, Lý Đại Hồng lớn tiếng quát: "Ngự trù không dùng thịt lợn, Ngô Chưởng thiện không biết sao?" Chân Chân vẫn giữ vẻ điềm tĩnh: "Trước đây không có, chẳng lẽ không thể thêm vào sao? Chủng loại ngự thiện, chẳng lẽ cứ phải bo bo giữ lề thói cũ, chỉ dùng mãi mấy thứ đó?" "Đây là một phần gia pháp của tổ tông, Hoàng đế triều ta xưa nay chưa từng ăn thịt lợn, sao có thể nói đổi là đổi!" Lý Đại Hồng giận dữ, tiếp tục mắng mỏ Chân Chân, nói nàng chẳng hiểu chút quy tắc nào, không biết làm sao mà leo lên được chức Chưởng thiện. Tiếng ồn ào truyền đến tai Hoàng đế đang uống trà ở điện Gia Minh, ngài bèn cho gọi cả hai vào hỏi nguyên do tranh cãi. Chân Chân trình bày ngọn ngành, rồi giải thích thêm: "Thịt dê tuy tốt, nhưng ăn hàng ngày dễ gây nóng trong. Còn thịt lợn tính bình vị ngọt, có thể nhuận tràng dạ dày, bổ thận khí, giải nhiệt độc, nếu ăn xen kẽ với thịt dê sẽ rất tốt cho việc bồi bổ hư lao, nhuận táo. Hơn nữa, vì quý nhân trong cung chuộng thịt dê nên giá cả bên ngoài bị đẩy lên quá cao, nếu Quan gia thử dùng thịt lợn, bá tánh nghe tin có thể sẽ học theo, từ đó phần nào kìm hãm được giá thịt dê." Hoàng đế mỉm cười nói: "Ngươi nói cũng có vài phần đạo lý. Món thịt Đông Pha ấy, trẫm khi còn là hoàng t.ử cũng từng ăn qua ở tửu lầu dân gian, chỉ là cảm thấy hơi nhiều dầu mỡ, không thích lắm." Chân Chân thưa: "Thịt lợn cũng có cách chế biến không ngấy, nếu Quan gia bằng lòng nếm thử, nô tỳ xin làm một món dâng lên." Được Hoàng đế ưng thuận, hôm sau Chân Chân liền sai người mua thịt lợn về, vào bếp, chọn lấy phần thịt nạc tinh thái thành từng lát mỏng, rửa sạch bằng nước tương, sau đó lấy chiếc chảo sắt của mình ra, nung đỏ chảo rồi cho thịt vào phi nhanh. Đợi thịt chuyển sang màu trắng ngà thì xúc ra thái thành sợi, rồi lại đổ vào chảo, thêm dưa muối, củ cải ngâm rượu, tỏi, sa nhân, thảo quả, hoa tiêu, vỏ quýt thái sợi và dầu mè vào cùng đảo đều. Một lát sau múc ra, trước khi dâng lên trước mặt Hoàng đế thì thêm chút giấm trộn đều. Hoàng đế nếm thử, nét mặt rạng rỡ: "Hương vị rất tuyệt. Cách làm này khác hẳn ngự thiện thường ngày, mang đậm khói lửa nhân gian." "Hồi nhỏ, nương của thần cũng từng rang thịt thái sợi rồi thêm các gia vị này trộn đều cho nô tỳ ăn." Chân Chân mỉm cười nói, "Khi ấy nô tỳ chưa từng nghĩ sẽ học làm, sau này Bùi Thượng thực dạy nô tỳ phục dựng lại các món ăn, nô tỳ mới dựa theo ký ức mà phối gia vị, nhưng đổi sang dùng chảo sắt để xào, như vậy thịt sẽ mềm hơn và cũng thấm vị hơn." Hoàng đế gật đầu: "Không tệ, trẫm cũng không ngờ thịt lợn lại có thể làm ra hương vị thế này. Có thể thấy nguyên liệu không phân quý tiện, quan trọng là tâm ý của người cầm muôi dành cho người thưởng thức." Hoàng đế tiếp tục gắp thêm vài đũa, trong lúc trò chuyện phiếm với Chân Chân, chợt nghe nội thần vào báo, Liễu tiệp dư cầu kiến bên ngoài điện. Hoàng đế liền cho nàng vào, cười gọi nàng: "Hôm nay món Ngô Chưởng thiện làm khá mới lạ, nàng cũng lại đây nếm thử xem." Liễu tiệp dư vâng lời bước tới, ngồi xuống bên cạnh Hoàng đế, nàng cười nhìn đĩa thịt sợi, nhưng nụ cười chợt tắt ngấm: "Đây là thịt lợn sao?" Chân Chân đáp phải. Sắc mặt Liễu tiệp dư đại biến, n.g.ự.c nhộn nhạo, vội lấy tay che miệng, nôn khan liên hồi. "Quan gia, Nương t.ử xưa nay không ăn được thịt lợn..." Ngọc bà bà đi theo sau hầu hạ khó xử giải thích. Hoàng đế chợt hiểu ra: "Phải rồi, trong cung xưa nay không dùng thịt lợn, nên trẫm không nghĩ đến điều này." Hoàng đế lập tức cho người dọn hết thiện thực, an ủi Liễu tiệp dư một hồi, đợi nàng đỡ hơn chút thì đưa nàng về điện Phúc Ninh. Trở về nội thất điện Phúc Ninh, Hoàng đế ngồi sóng vai cùng Liễu tiệp dư, giọng ôn tồn: "Nàng đang mang thai, sao lại đi bộ xa như vậy đến thăm trẫm?" Liễu tiệp dư đáp: "Quan gia đã lâu không đến Phù Dung các, thiếp mỗi ngày sớm tối đều nhớ mong Quan gia, đợi mãi không thấy người, đành phải mặt dày tự mình đi tìm Quan gia vậy." "Chẳng phải trẫm mới đến Phù Dung các hôm kia sao?" Hoàng đế cười nói. "Đã hai ngày rồi, một ngày không gặp như cách ba thu, tính ra đã là sáu thu rồi!" Liễu tiệp dư nhíu mày hờn dỗi. Hoàng đế dịu giọng vỗ về: "Hiện giờ nàng nên tĩnh dưỡng cho nhiều, trẫm cũng không tiện ngày nào cũng đến quấy rầy nàng. Chúng ta ngày rộng tháng dài, còn mấy mươi năm để bên nhau kia mà." Liễu tiệp dư ngả người ôm lấy eo Hoàng đế, nép vào lồng n.g.ự.c của ngài: "Giờ người hầu hạ ăn uống cho Quan gia không phải là thiếp nữa, thiếp cứ thấp thỏm không yên, lo Quan gia ăn không vừa miệng, lại cũng lo Quan gia hài lòng quá, sau này không cần thiếp hầu hạ nữa." Hoàng đế cười lớn: "Yên tâm đi, luận về trù nghệ thì ai sánh bằng nàng chứ? Đợi nàng sinh con xong, kiểu gì cũng phải giữ nàng lại điện Gia Minh hầu hạ cả ngày... Ngay cả bây giờ, nếu nàng không ngại mệt, thi thoảng làm một món sai người đưa đến cho trẫm cũng được." Liễu tiệp dư cười đồng ý, một lát sau lại u sầu nói: "Chàng vẫn là thấy người mới lạ lẫm hơn, ngay cả thịt lợn nàng ta làm cũng chịu ăn." Hoàng đế cười lớn vỗ vai nàng: "Ngô Chưởng thiện lớn lên trong dân gian, chọn nguyên liệu không tinh tế như vậy, ăn món nàng ấy làm cũng coi như thấu hiểu dân tình, nghe nàng ấy nói chuyện cũng biết thêm chút nỗi khổ nhân gian. Ta nhìn nàng ấy cũng như nhìn con cháu trong nhà thôi, nàng đừng nghĩ nhiều." Liễu tiệp dư lại hỏi: "Sao lúc trước không chọn Phùng Tịnh? Nàng ta thăng lên Điển thiện, xét về tài năng hay thân phận đều thích hợp hầu hạ bên cạnh Quan gia hơn." Hoàng đế đáp: "Tuy nàng ấy đã cắt đứt tình cảm với Thái tử, nhưng muốn quên tình đâu phải chuyện dễ dàng. Ở bên cạnh trẫm khó tránh khỏi thường xuyên chạm mặt Thái tử, đến lúc đó cả hai đều sẽ thấy khó xử." "Vốn dĩ là một mối lương duyên tốt đẹp, lại bị hủy hoại thế này..." Liễu tiệp dư khẽ thở dài, nghĩ ngợi rồi hỏi: "Phùng Tịnh vẫn không chịu tham gia thiết kế Tụ Cảnh viên sao?" Hoàng đế lắc đầu: "Nàng ấy thấy hiện tại rất tốt, trẫm cũng không muốn miễn cưỡng nàng ấy." "Vậy Quan gia đã tìm được người thích hợp chưa?" Tiệp dư hỏi tiếp. "Vẫn chưa," Hoàng đế nói, "Trẫm và Thái hậu đã xem qua phương án của vài người do Tương tác giám đề cử, đều cảm thấy không ưng ý, người thì quá cứng nhắc, kẻ lại quá phô trương." Liễu tiệp dư ngước đầu khỏi lồng n.g.ự.c chàng, đôi mắt long lanh như sóng nước nhìn chàng, khẽ khàng nói: "Thiếp lại nghĩ đến một người, có lẽ sẽ khiến Quan gia và Thái hậu hài lòng." Chương 70 - Sương Mù Bốn Phía Qua Tết, Bùi Thượng thực thấy tay nghề của Chân Chân tiến bộ vượt bậc, những món ngự thiện nàng luyện tập đã làm được đến tám chín phần giống, bèn hỏi nàng bí quyết là gì. Chân Chân thưa: "Muốn học món ngự thiện nào, thần đều chọn cách thỉnh giáo chính người đầu bếp làm ra món đó. Thần để tâm quan sát tính tình và sở thích của họ: nếu họ yêu tiền, thần sẽ biếu một khoản học phí hậu hĩnh rồi thẳng thắn xin dạy; nếu họ hám danh, thần sẽ thường xuyên khen ngợi trù nghệ tuyệt vời của họ trước mặt người khác, lời đồn đến tai, trong lòng họ tự nhiên vui vẻ, lúc ấy thần xin chỉ giáo thì họ cũng sẵn lòng nói ra; còn nếu họ chẳng màng danh lợi, thần sẽ để ý xem họ thiếu thứ gì. Có người mê trà, thần liền mang trà ngự Quan gia ban thưởng đem tặng; có người thích rượu, thần lặng lẽ đổi bình rượu mạnh họ để trong bếp thành loại rượu thơm ngon hơn, lại còn chu đáo để kèm chút đá giải rượu do mình tự làm; cũng có người gặp chuyện cần giúp đỡ, như bản thân hoặc người nhà đau ốm, thần sẽ lập tức nhờ Hàn Lâm y quan đến chẩn trị giúp họ... Đối đãi với họ như vậy, họ cũng sẽ 'ném quả đào, báo quả mận', sau này thấy thần muốn học gì liền chủ động chỉ dạy... Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ, vị Lý Thực thủ kia thì mềm không chịu, cứng cũng không xong, bất luận thần làm gì ông ấy cũng chẳng thèm đếm xỉa." Bùi Thượng thực nghe vậy cười khẽ: "Ông ta là người cố chấp bậc nhất trong Ngự trù, tự nhiên không dễ gì bị lay chuyển. Nhưng cũng chẳng sao, ông ta chịu dạy là tốt nhất, nếu không chịu cũng đừng cưỡng cầu, chỉ cần ứng đối cho khéo, đừng chọc giận ông ta, ai làm tốt việc nấy là được." Sau khi nếm qua món thịt sợi xào của Chân Chân, Hoàng đế cũng tỏ ra khá hứng thú với những món ăn dân dã của nàng. Ngoài bữa chính, việc Hoàng đế gọi thêm đồ ăn gọi là "phiếm sách", từ khi Chân Chân đến, số lần phiếm sách dần tăng lên. Những món Chân Chân làm như bánh canh hoa mai, sơn hải đầu, hoành thánh nước cốt gà, nấm ngọc nấu rượu ngài đều đã dùng qua, thậm chí có hôm vào ban đêm vốn không thường ăn uống, ngài còn dùng một bữa lẩu thỏ "Bát hà cung". Một hôm, Trình Uyên từ cung Từ Phúc đến truyền tin của Thái hậu, gặp đúng giờ dùng bữa, Hoàng đế bèn giữ hắn lại điện Gia Minh cùng dùng cơm. Trong bữa ăn, Hoàng đế cười khen trù nghệ của Chân Chân, nói với Trình Uyên: "Chân Chân dụng tâm như vậy, cho thêm thời gian, thành tựu sau này ắt không thua kém Lưu Thượng thực, Lưu Tư thiện của triều trước... Chỉ có một điểm không tốt, là từ khi có nàng ấy hầu hạ, đai lưng của ta cứ phải nới lỏng thêm một nấc." Trình Uyên mỉm cười, nghiêng mình đáp: "Thần thấy Quan gia hồng hào rạng rỡ, long thể ngày càng cường tráng, liền biết Ngô Chưởng thiện thông tuệ hơn người, trù nghệ siêu quần." Dùng bữa xong, Hoàng đế rời điện Gia Minh về điện Phúc Ninh. Trình Uyên tiễn Hoàng đế ra cửa điện, cung kính đưa mắt nhìn ngài đi xa, đang định quay về cung Từ Phúc thì nghe tiếng Chân Chân gọi phía sau: "Trình tiên sinh, xin dừng bước." Trình Uyên khoan t.h.a.i xoay người, ánh mắt nhàn nhạt ý cười nhìn nàng, đợi nàng đến gần mới cúi người vái chào: "Ngô Chưởng thiện có gì chỉ giáo?" Chân Chân lập tức đáp lễ, rồi nói: "Trước đây ta từng hỏi tiên sinh về tung tích nương ta, khi đó tiên sinh bảo ta chỉ là một nội nhân nhỏ bé, chưa đủ tư cách để hỏi. Vậy thì, ta của hiện tại, đã có đủ tư cách để hỏi lại một lần nữa hay chưa?" "Ai chẳng biết cô nương nay đã là người mới được trọng dụng bên cạnh Quan gia, nếu có thắc mắc, ta tự nhiên không dám không đáp." Trình Uyên giữ thái độ không kiêu ngạo cũng chẳng siểm nịnh, giọng điệu nghe ra vô cùng khách sáo. Chân Chân nói: "Ta chỉ muốn biết nương ta đang ở đâu, có còn bình an hay không." Trình Uyên khẽ nghiêng người, ôn tồn đáp: "Nếu cô nương muốn, ngày mai ta sẽ lại đến Đại nội, xin Quan gia cho phép ta đưa cô sang cung Từ Phúc làm chút việc, giữa đường có thể cho cô gặp lệnh đường." Chân Chân đồng ý. Hôm sau Trình Uyên quả nhiên lại đến điện Phúc Ninh, bẩm rằng các đầu bếp ở Bắc Đại nội nghe danh tuyệt kỹ xào rau bằng chảo sắt của Chân Chân thì vô cùng ngưỡng mộ, nếu Quan gia cho phép, mong nàng đến cung Từ Phúc vẽ lại kiểu dáng chảo sắt để Bắc Đại nội rèn theo phỏng chế. Hoàng đế cũng nhanh chóng đồng ý, cho Chân Chân đi theo Trình Uyên, ngẫm nghĩ một chút rồi dặn dò nàng: "Ngươi cứ ngủ lại cung Từ Phúc đêm nay, canh tư ta sẽ bảo Ân Đề dẫn hai nội thị Hoàng Thành ti đến đón, tiện đường ngươi ghé tiệm mì nhà họ Trần ở đoạn giữa phố Ngự, mua cho ta mấy cái bánh bao nhân chim cút chiên mang về." Chân Chân lĩnh mệnh, theo Trình Uyên ra khỏi Đại nội. Trình Uyên để Chân Chân lên xe, đưa nàng đi một mạch về phía Bắc, nhưng không đến ngay cung Từ Phúc mà vòng qua cung thành, dừng lại dưới chân một ngọn núi phía núi Phượng Hoàng. Sau đó Trình Uyên bảo nội thị đ.á.n.h xe đứng đợi tại chỗ, tự mình dẫn Chân Chân lên núi, men theo con đường mòn quanh co, xuyên qua một cánh rừng rậm, đi về phía lưng chừng núi. Đi lên một lúc, đường núi dần rộng mở, cảnh trí trước mắt cũng trở nên khoáng đạt, chỉ thấy cách đó không xa có một tảng đá nhô ra, đối diện với cung thành dưới núi. Phía sau tảng đá địa thế bằng phẳng, dưới bóng tùng bách xanh rì, sừng sững một ngôi mộ cô độc xây bằng gạch đá. Trình Uyên dừng bước, đưa mắt nhìn về phía ngôi mộ ấy. Chân Chân thấy thế thì sững sờ, lập tức chạy ùa tới, bàng hoàng nhìn thấy trên bia mộ khắc dòng chữ:Mộ phần của nội nhân Ngô thị. "Đây... đây là?" Chân Chân đứng giữa gió lạnh trên núi đá, toàn thân run rẩy, chỉ vào bia mộ hỏi Trình Uyên. "Đây là nơi an nghỉ của nương cô." Trình Uyên chậm rãi bước đến trước mặt nàng, nhàn nhạt nói. "Tiên sinh lừa ta! Nương ta sức khỏe khang kiện, sẽ không rời bỏ ta nhanh như vậy đâu." Chân Chân trừng mắt giận dữ nhìn Trình Uyên, cao giọng, "Tiên sinh đừng hòng chỉ bừa một ngôi mộ để lừa gạt ta!" "Ta có thể lấy tính mạng mình ra thề, người nằm dưới này chính là nương ruột của cô." Trình Uyên bình tĩnh nhìn thẳng vào mắt Chân Chân, giọng điệu hòa hoãn nhưng mang theo sự uy nghiêm không cho phép nghi ngờ, "Đây là mảnh đất ta đích thân chọn cho bà ấy, cũng là ta tận mắt nhìn bà ấy hạ huyệt... Những chữ trên bia mộ này, cũng là do ta tự tay viết rồi cho người khắc lên." Xuân về đã nhưng trời vẫn còn rất lạnh, tuyết trên núi chưa tan hết. Bàn tay hắn từ từ phủi nhẹ lên bia mộ, lớp tuyết tàn theo đó lả tả rơi xuống. Chân Chân ngẩn ngơ, ánh mắt dời về phía bia đá, thấy những vết d.a.o khắc vẫn còn mới, dường như mới lập chưa đầy một năm. "Nương của cô, vốn là một nội nhân bên cạnh Tiên đế, từng được Tiên đế dành cho cái nhìn khác biệt, cũng vì thế mà Thái hậu chẳng mấy ưa bà." Thấy Chân Chân đã im lặng, Trình Uyên bắt đầu kể lại, "Sau này, bà đem lòng yêu một người ngoài cung, trốn khỏi hoàng cung rồi sinh ra cô. Sau khi chồng mất, bà đổi tên họ, đưa cô đến Phố Giang, nuôi nấng cô khôn lớn. Thế nhưng, Tiên đế lúc lâm chung từng hạ chỉ, lệnh người tìm bà về để tuẫn táng, cho nên bao nhiêu năm qua, bà luôn phải đối mặt với sự truy bắt của cung Từ Phúc. Năm xưa khi bà còn trong cung, giao tình với ta rất tốt, ta vẫn luôn muốn giúp bà hóa giải tai kiếp này. Khi gặp bà ở Phố Giang, ta quyết định đưa bà về Lâm An ngay, là bởi sự sơ suất của cô đã khiến Kỷ Cảnh Lan phát hiện bà không phải người thường, ta buộc phải đặt bà dưới sự bảo vệ của mình, không để Kỷ Cảnh Lan tiếp tục điều tra. Ta dự định sau khi về Lâm An sẽ khuyên giải Thái hậu, chuyện cũ đã qua, chi bằng lấy từ bi làm gốc, tha cho bà một mạng, để bà chính thức tạ tội với Thái hậu, cầu xin sự lượng thứ. Với năng lực hiện tại của ta, ta tin mình có thể làm được, như vậy bà cũng không cần nơm nớp lo sợ nữa, có thể cùng cô tiếp tục sống những ngày bình an. Nhưng chẳng ngờ đâu, trên đường đến Lâm An, vì tấm lòng thiện lương, bà chăm sóc một cô bé mắc bệnh thương hàn trong quán trọ, kết quả chính mình cũng nhiễm phải ác bệnh này, đến Lâm An chưa được bao lâu thì qua đời." Nói xong, Trình Uyên lấy ra một phong thư, đưa cho Chân Chân. Nàng đón lấy mở ra xem, đập vào mắt là những nét chữ tiểu khải thanh tú như lan trúc, quả nhiên là nét chữ quen thuộc của nương. Đó là bức thư tuyệt mệnh nương viết cho nàng. Chân Chân vội vàng đọc hết, thấy đầu đuôi câu chuyện trong thư quả đúng như lời Trình Uyên nói, không sai một ly. Cuối thư nương còn khuyên nàng, sống c.h.ế.t có số, không cần quá bi thương, cũng đừng trách cứ hay oán hận người khác. Kỷ Cảnh Lan, Trình Uyên, Thái hậu đều không phải kẻ ác, chẳng qua họ làm những việc họ cho là phải làm. Bà tự thấy có lỗi với Tiên đế, phụ ân sủng của người, nguyện sớm xuống suối vàng tạ tội cùng Tiên đế. Bà mong Chân Chân sau này tự chăm sóc bản thân cho tốt, lấy thiện đãi người, biết tiếc phúc, biết cảm ơn, sớm ngày tìm được người xứng đôi, nửa đời sau bình an hỷ lạc. Nét chữ viết rất ung dung, không hề rối loạn, xem ra không phải do Trình Uyên ép buộc viết. Chân Chân đọc xong đã tin đến tám chín phần, trong lòng đau đớn tột cùng, ngã quỵ xuống trước mộ, từng tiếng gọi "Nương ơi" xé lòng, òa lên khóc nức nở. Trình Uyên lại nói: "Cô vào cung không lâu liền gặng hỏi ta tung tích của nương, ta sợ cô khi đó chưa hiểu quy củ trong cung, quan tâm quá hóa loạn, nghe tin dữ bất ngờ không biết sẽ làm ra chuyện gì, nên mới không nói ngay. Nay cô đã qua một năm tôi luyện, trầm ổn hơn nhiều, kiến thức cũng mở mang, hẳn là có thể hiểu được những chuyện này, nên ta mới quyết định nói thật. Người c.h.ế.t không thể sống lại, mà ngày tháng của cô vẫn phải tiếp tục trôi đi. Cũng may cô thông minh, kiên cường, tính tình lại dễ mến, sống sót trong cung này không phải chuyện khó. Huống hồ cô gặp được thời đại thanh minh, người có tài sẽ không bị hồng trần vùi lấp. Cô hãy tiếp tục rèn luyện, trau chuốt kỹ nghệ của mình, tiền đồ sau này sẽ không chỉ dừng lại ở chức Chưởng thiện đâu." Ngừng một chút, hắn nói thêm, "Sau này nếu cô có khó khăn gì, cũng có thể nói với ta, ta sẽ giúp cô." Những lời phía sau của hắn, Chân Chân đã chẳng còn tâm trí nào mà nghe, nàng gục ngã trước mộ nương khóc đến mức tưởng chừng không thở nổi. Trình Uyên cũng không khuyên giải, chỉ lặng lẽ đứng bên cạnh canh chừng, nghe tiếng khóc bi thương của nàng vọng giữa bốn bề núi non mây phủ, cho đến khi bóng chiều lan dần vào các đỉnh núi, mới giục Chân Chân theo mình rời đi. Trình Uyên và Chân Chân cùng ngồi chung một xe ngựa đến Bắc Đại nội. Trên đường đi, Chân Chân dần kìm được nước mắt, bắt đầu sắp xếp lại suy nghĩ về chuyện của nương, một lát sau hỏi Trình Uyên: "Nương ta có phải là nội nhân của Thượng Thực cục không?" Trình Uyên đáp: "Không phải." Chân Chân lại hỏi: "Vậy tại sao bà lại có thực phổ của Lưu Tư thiện?" Trình Uyên cụp mắt ngẫm nghĩ, đáp: "Họ là bạn tốt, Lưu Tư thiện tặng bà thực phổ cũng không có gì lạ." Đến cung Từ Phúc, Trình Uyên vẫn không quên tìm giấy bút để Chân Chân vẽ lại kiểu dáng chảo sắt nhằm giao nộp, nhưng không cho nàng gặp các nội nhân khác, sai người sắp xếp phòng ngủ để nàng nghỉ ngơi sớm. Canh tư hôm sau, cổng cung Bắc Đại nội vừa mở, Ân Đề liền vào đón Chân Chân. Đi cùng hắn không phải là nội thị, mà lại là Triệu Ngai. "Ta vừa nhận khẩu dụ của Quan gia, Nhị Đại vương tình cờ biết được. Rồi ngài ấy tình cờ đi ngang qua Hoàng Thành ti, vào bảo ta rằng tình cờ hôm nay ngài ấy rảnh rỗi, muốn cưỡi ngựa đi dọc cung thành một chút, chi bằng đi cùng ta luôn." Ân Đề cười, kể lại với Chân Chân. Triệu Ngai thúc khuỷu tay vào n.g.ự.c Ân Đề một cái, nhân lúc Ân Đề cười lùi lại phía sau, hắn bước lên định nói chuyện với Chân Chân, lại phát hiện đôi mắt nàng sưng đỏ, biểu tình u uất, liền quan tâm hỏi ngay: "Xảy ra chuyện gì vậy? Ai bắt nạt nàng?" Thấy Chân Chân không đáp, hắn cau mày, "Để ta đi hỏi Trình Uyên." Chân Chân vội gọi giật hắn lại, buồn bã nói: "Ta không sao... Chỉ là đêm qua nằm mơ thấy nương thôi." Chương 71 - Anh Đào Trong Mưa Chân Chân không quên lời dặn của Quan gia, nhờ Triệu Ngai và Ân Đề đưa mình đến tiệm mì họ Trần ở phường Thanh Hà mua bánh bao nhân chim cút trước. Triều đại này không áp dụng lệnh giới nghiêm ban đêm, cũng đã phá bỏ ranh giới phường thị. Ân Đề đ.á.n.h xe cho Chân Chân, Triệu Ngai cưỡi ngựa đi bên cạnh xe bò. Dọc đường đi, chỉ thấy đèn đuốc sáng trưng, canh tư chợ đêm chưa tan mà chợ sớm đã họp, rất nhiều cửa tiệm mở cửa đón khách. Hai bên phố Ngự còn có vô số sạp hàng dựng ven đường, bán đủ loại đồ ăn nóng hổi: bánh hẹ mỡ cừu, chân dê ngâm rượu, canh tiết dê, tôm kho gừng, sứa biển, dồi trường chiên, vịt quay, cá mòi chiên, canh bột cay chay, canh ốc hương thanh mát... Đến phường Thanh Hà, lại thấy hai bên có mấy tiệm mì lớn, mỗi tiệm đều có sảnh viện và hành lang đông tây, trước cửa dùng gỗ dựng thành mái che, bên trên treo nửa con heo hoặc dê để mời gọi thực khách. Hôm nay khách trong quán rất đông, đa phần đã ngồi kín đến tám chín phần. Nhóm Chân Chân tìm được tiệm mì họ Trần, vừa vào cửa đã có người tươi cười chào đón, dẫn họ vào chỗ ngồi. Trên hai bức tường treo đầy thẻ bài ghi tên món ăn, nào là mì thịt heo dê, mì gà xé, mì da cá, mì thịt măng, mì tôm... cùng các loại canh như canh tủy đá, canh thập cẩm, canh cá các loại, canh xương hầm tam tiên... Đương nhiên cũng không thiếu các món mặn như cật dê mềm, dê hấp ba ba, gà đoạt chân, thịt đông,cá kén tằm. Hoành thánh và món bánh bao nhân chim cút mà Quan gia dặn mua cũng có trong đó. Chân Chân gọi món bánh bao mang về, trong lúc chờ đợi, Triệu Ngai thấy còn sớm bèn đề nghị cũng luôn tiện dùng bữa sáng tại đây. Triệu Ngai và Ân Đề gọi hai bát mì tam tiên, Chân Chân gọi một bát cháo chay thất bảo ngũ vị. Ba người ngồi đối diện chuẩn bị ăn thì chợt nghe bàn bên cạnh có tiếng người ngạc nhiên gọi lớn: "Ngô Chân Chân!" Chân Chân nghe tiếng ngoảnh đầu lại nhìn, cũng vui vẻ chào hỏi: "Hàn Tố Vấn." Hàn Tố Vấn bưng bát mì thịt dê lát lớn của mình, tự nhiên như không chuyển sang bàn họ, hỏi: "Chân Chân, sao cô lại ở đây?" Chân Chân chưa kịp trả lời, Triệu Ngai đã khẽ ho một tiếng. Đợi Hàn Tố Vấn quay sang nhìn mình, hắn liếc Chân Chân một cái, nhàn nhạt nói: "Đây là Ngô Chưởng thiện." "Ta biết mà, chúng ta có quen nhau." Hàn Tố Vấn nhanh nhảu đáp, thản nhiên cười nhìn Triệu Ngai, dường như muốn nói màn giới thiệu này thật thừa thãi. Triệu Ngai cạn lời, đưa tay cầm đũa, gắp vài sợi mì lên nhưng chưa ăn ngay. Ân Đề nhìn mà muốn cười nhưng không dám, đành mỉm cười nói với Chân Chân: "Ngô Chưởng thiện, chúng ta ăn nhanh một chút để sớm về cung." Hai tiếng "Ngô Chưởng thiện" được hắn nhấn mạnh, Hàn Tố Vấn bỗng nhiên hiểu ra đôi chút, cười nói với Triệu Ngai: "Tuy ta và Ngô Chưởng thiện khá thân thiết, nhưng huynh đài đừng lo, nếu ta viết thư cho cô ấy, nhất định sẽ dùng giấy kê đơn thuốc." Chân Chân bực mình nhớ lại lời hắn từng nói, y quan mà viết thư cho cô nương bằng giấy kê đơn tức là ám chỉ cô nương đó có bệnh, tuyệt đối không phải thích người ta. Vậy mà Hàn Tố Vấn còn hào hứng định giải thích cho Triệu Ngai đang nghệch mặt ra vì khó hiểu: "Chỗ này có một điển cố..." Chân Chân lập tức cầm một chiếc đũa sạch gõ nhẹ lên cái mũ cánh chuồn của hắn: "Câm miệng đi, cái tên này!" Cú gõ này khiến Chân Chân chợt phát hiện Hàn Tố Vấn đang mặc công phục dùng cho đại triều hội, mới nhớ ra hôm nay là mùng một tháng hai, trong cung có buổi chầu lớn. "Y quan tép riu như ngươi cũng phải tham gia triều hội à?" Chân Chân hỏi Hàn Tố Vấn. "Đúng vậy, hôm nay là đại triều hội, quan lại trong kinh đều phải tham dự, kể cả quan tạp nghệ và y quan." Hàn Tố Vấn đáp, rồi đưa mắt về phía cái bàn mình vừa ngồi, "Họ là bạn ta, một người ở Thư viện, một người ở Họa viện, hôm nay đều phải đi chầu." Chân Chân nhìn theo hướng tay hắn chỉ, thấy hai vị quan trẻ tuổi kia cũng đều mặc công phục màu xanh lục, thấy nàng nhìn sang liền đặt đũa xuống vái chào. Chân Chân đáp lễ rồi nhìn quanh, thấy xung quanh hơn nửa là quan lại mặc công phục, chỉ là đa số đều khoác áo choàng chống rét hoặc áo sam màu mực nên lúc nãy không để ý. "Các vị quan nhân các ngài sao không ăn sáng ở nhà mà lại kéo nhau ra quán ăn cả thế này?" Chân Chân lại hỏi Hàn Tố Vấn. Hàn Tố Vấn đáp: "Quan trẻ xuất thân hàn vi, nếu không có căn cơ gì ở kinh thành thì chuyện chỗ ở đã khó khăn lắm rồi. Bổng lộc có hạn, thuê được cái viện nhỏ, mua thêm con ngựa, thuê người trông cửa là chẳng còn dư mấy. Không thuê nổi đầu bếp, không mua được tỳ nữ, nếu chưa cưới vợ, hoặc cưới phải nương t.ử thích ngủ nướng, thì ai nấu bữa sáng cho bọn ta? Đành phải ra ngoài ăn thôi." Lát sau mọi người ăn xong, chủ quán cũng làm xong chỗ bánh bao nhân chim cút đã đặt. Loại bánh này là món bột mì có nhân giống như bánh bao, nhưng tạo hình đẹp mắt hơn, trông như nụ hoa. Bánh được chiên chín bằng dầu, cứ ba cái xiên vào một que tre, rắc một lớp muối mỏng bên ngoài. Triệu Ngai vừa nhìn thấy đã cười: "Đây là món ăn vặt phụ hoàng thích mua từ hồi còn trẻ... Cả phụ hoàng và Tiên đế đều có thói quen thỉnh thoảng sai người ra ngoài mua đồ ăn dân gian về thưởng thức." Chân Chân bảo chủ quán xếp bánh vào hộp thực phẩm mình mang theo, rồi cùng mọi người ra về, trở lại cung. Khi có triều hội, cửa Hòa Ninh phía Bắc của Hoàng thành sẽ mở, bên ngoài có Đãi Lậu Viện để các quan đến sớm nghỉ ngơi. Nhóm Chân Chân đi một mạch, thấy trên phố Ngự các triều sĩ mặc công phục đông như mây, đều cưỡi ngựa. Vì sắp đến canh năm, ai nấy đều vội vã, rõ ràng nhiều người còn chưa kịp ăn sáng. Đi ngang qua các sạp bán bánh nướng, bánh bao, những món dễ mang theo, họ liền dừng ngựa, mua vài cái rồi lại nhanh chóng đi tiếp, không ít người vừa cầm cương vừa ăn ngay trên lưng ngựa. Có một vị quan cưỡi ngựa đi bên cạnh xe của Chân Chân, dưới lớp áo sam màu mực lộ ra vạt áo lụa đỏ, giày da đen, trông có vẻ là quan tứ phẩm. Chân Chân vén rèm nhìn ra, thấy dáng người ông ta hơi quen quen, nhìn kỹ sườn mặt, nhận ra người này lại chính là Kỷ Cảnh Lan. Lúc này ông ta đi giữa một đám quan lại áo xanh, một tay cầm cương, thẳng lưng ngẩng cao đầu, để gió sớm thổi bay chòm râu đẹp dưới cằm, phong thái vô cùng tiêu sái. Thế nhưng, đi đến một sạp bán bánh, ông ta bỗng "Họ" một tiếng ghìm ngựa, vẫn giữ nguyên phong thái tao nhã, ung dung nghiêng đầu bảo chủ sạp: "Hai cái bánh hẹ mỡ cừu." Vốn dĩ biến cố gia đình Chân Chân là do ông ta mà ra, tuy ông ta làm việc công, Thu Nương cũng bảo không thể trách ông ta, nhưng Chân Chân vẫn khó tránh khỏi có chút oán khí. Vừa rồi mới gặp, vốn chẳng muốn để ý, nhưng tình cảnh này khiến Chân Chân ngạc nhiên xen lẫn vài phần buồn cười, không kìm được cất tiếng gọi "Kỷ tiên sinh". Đợi ông ta quay đầu lại, Chân Chân thẳng thắn hỏi: "Tiên sinh cũng phải tự mình mua đồ ăn sáng sao?" "Thất công tử!" Kỷ Cảnh Lan cũng nhận ra Chân Chân, lập tức cảm thấy hơi ngượng ngùng, hạ giọng giải thích, "Người nhà vốn đã nấu mì cho ta, nhưng hôm nay ta dậy muộn, thấy sắp trễ giờ chầu, vội vàng ra cửa, nên đành mua tạm chút gì ăn." Bánh hẹ mỡ cừu đã gói xong, ông ta nhanh chóng trả tiền, cũng ngại chẳng dám trò chuyện thêm, vội vã từ biệt Chân Chân rồi cầm bánh thúc ngựa phi nhanh về phía cổng cung. Cuối tháng Ba năm ấy, Liễu Tiệp dư lâm bồn. Hôm đó đợi đến giờ Dậu mà Tiệp dư vẫn chưa sinh, Hoàng đế nghe lời Lệ Quý phi khuyên giải bèn về điện Gia Minh dùng bữa, nhưng lòng lo lắng cho Tiệp dư nên ăn uống chẳng thấy ngon miệng, ăn rất ít. Hôm ấy trời nắng chang chang, khá nóng bức, Lý Đại Hồng đích thân thêm vào thực đơn ngự thiện một món anh đào rưới sữa đông ướp lạnh, dâng lên sau cùng. Món tráng miệng này đựng trong âu vàng, bên trên có nắp lưu ly, được nội nhân bưng đến bàn của Chân Chân trước. Nội nhân mở nắp lưu ly ra, chỉ thấy trong âu vàng lót đá bào, những quả anh đào xếp chồng lên nhau ở giữa tựa như ngọn đồi nhỏ, bên trên rưới nước mật mía và sữa đông. Các nương nương trong cung ăn món này thường sai người tách hạt anh đào trước, nhưng Quan gia chê làm thế sẽ khiến anh đào mất vị ngon, nên lệnh cho ngự trù giữ nguyên quả. Lúc này những quả anh đào đỏ mọng nằm trên nền đá tuyết trong âu vàng, màu sắc tựa như chuỗi ngọc, vô cùng đẹp mắt. Chân Chân dùng thìa bạc lấy hai quả bỏ vào chén bạc trước mặt mình, đang định nếm thử, bỗng nhiên nhìn thấy gì đó, động tác khựng lại, không đưa ngay vào miệng. Hoàng đế tình cờ quay sang nhìn nàng, thấy vậy bèn hỏi: "Sao thế?" Chân Chân mỉm cười đáp: "Không có gì ạ, nô tỳ thấy anh đào này đẹp như châu ngọc nên ngắm thêm một chút." Sau đó nàng thản nhiên ăn hai quả anh đào ấy, rồi mỉm cười với Hoàng đế: "Anh đào rất tươi, mùi vị tuyệt hảo." Nội nhân đang chuẩn bị bưng âu vàng dâng lên trước mặt Hoàng đế, Chân Chân bỗng đứng dậy, hành lễ với Hoàng đế, nói: "Nô tỳ có một yêu cầu quá phận, mong Quan gia ưng thuận." Hoàng đế cho phép nàng nói, Chân Chân bèn thưa: "Nô tỳ trước đây chưa từng ăn món anh đào rưới sữa đông này, nếm thử thấy hương sữa hòa quyện hương quả, diệu không thể tả. Tiếc là chỉ được nếm có hai quả, cho nên, Quan gia có thể..." Hoàng đế nghe vậy bật cười: "Ngươi là muốn ăn thêm chút nữa chứ gì. Không sao, âu này ban cho ngươi." Chân Chân vui mừng tạ ơn, nhưng không ăn ngay mà dặn nội nhân bên cạnh mang âu anh đào này về phòng mình ở Thượng Thực cục. Bùi Thượng thực thấy lạ, cúi người hỏi Quan gia có cần Lý Thực thủ dâng thêm một âu nữa lên điện không, Hoàng đế chưa kịp trả lời thì người của các Phù Dung đã đến báo tin: Liễu Tiệp dư hạ sinh một tiểu công chúa. Hoàng đế vui mừng, lập tức đứng dậy đến các Phù Dung thăm mẹ con Liễu Tiệp dư, chẳng còn tâm trí đâu mà ăn anh đào. Chuyện Chân Chân xin Quan gia ban anh đào truyền đến tai Lý Đại Hồng, ông ta tức giận đùng đùng, xông thẳng đến Thượng Thực cục tìm Chân Chân, mắng nàng to gan lớn mật, mặt dày vô sỉ, dám tranh giành cả ngự thiện của Quan gia. Chân Chân không hề thanh minh, chỉ lặng lẽ đẩy âu anh đào đến dưới mắt Lý Đại Hồng. Lý Đại Hồng mở nắp ra nhìn, hai mắt trợn tròn: đá bào đã tan hơn nửa thành nước, trên mặt nước lềnh bềnh mấy con sâu màu trắng, trên quả anh đào cũng bám vài con, có mấy con vẫn đang ngoe nguẩy. "Anh đào gặp mưa rất dễ có sâu, ngự trù lần này rõ ràng mua phải anh đào sau mưa. Lúc rửa không nhìn ra, ngâm vào nước đá một lúc sâu mới chui ra." Lúc này Chân Chân mới nói. Lý Đại Hồng tự nhiên hiểu rõ điều này. Đây là ấu trùng ruồi giấm, dễ ẩn nấp trong quả anh đào, dương mai (thanh mai), tuy không độc, ăn vào cũng chẳng hại gì đến thân thể, nhưng vạn lần không thể để quý nhân nhìn thấy, huống hồ là Quan gia. Trước đây từng có tiền lệ có ngự trù dâng dương mai có sâu cho Thái hậu, bị phạt trượng rồi đuổi khỏi Ngự trù. Lý Đại Hồng ngẩn người hồi lâu, bỗng chắp tay vái Chân Chân: "Lần này đa tạ Ngô Chưởng thiện ra tay cứu giúp. Lý Đại Hồng ta ân oán phân minh, nhất định sẽ trả cô món nợ ân tình này... Nói đi, cô muốn học món gì?" Chân Chân không trả lời ngay, trầm ngâm giây lát rồi cười hỏi Lý Đại Hồng: "Lý Thực thủ, hiện nay trong Ngự trù cả thiện công lẫn thiện đồ (học việc), có đến hơn bốn trăm người nhỉ?" Lý Đại Hồng xác nhận. Chân Chân lại nói: "Bữa sáng của Quan gia ăn không nhiều, còn lâu mới dùng hết chừng ấy người. Hơn bốn trăm người này, tuyệt đại đa số trước canh năm đều chẳng có việc gì làm, đúng không?" Lý Đại Hồng cảnh giác nhìn chằm chằm nàng: "Cô muốn chúng ta làm gì?" Chương 72 - Bánh Quảng Hàn Chân Chân nói: "Ta muốn mời Lý Thực thủ cùng Thượng Thực cục dâng sớ lên Quan gia, những hôm có triều hội, Ngự trù sẽ làm điểm tâm sáng đưa đến Đãi Lậu Viện, cung cấp cho các triều sĩ dùng, Thượng Thực cục có thể hỗ trợ, việc nấu nướng, vận chuyển thức ăn đều có thể giúp một tay." Lý Đại Hồng giật mình: "Triều sĩ đông như vậy, nói thì dễ lắm!" Vấn đề của ông ta Chân Chân đã sớm cân nhắc, lúc này ung dung đáp: "Đãi Lậu Viện không tiện nổi lửa, điểm tâm sáng tạm định là các loại bánh trái, ăn kèm với canh nấu sẵn từ Ngự trù. Những món này có thể chế biến số lượng lớn, Ngự trù có hơn bốn trăm người, hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu của các triều sĩ." Thấy Lý Đại Hồng cau mày không nói, Chân Chân lại tiếp lời: "Ta đã đề nghị với Bùi Thượng thực, bà ấy cũng thấy việc này nếu thực hiện, người hưởng lợi rất nhiều, đặc biệt là những quan lại trẻ tuổi trong nhà không đủ người lo liệu từng bữa ăn... Nghe nói, những năm nay Lý Thực thủ mời danh sư dốc lòng bồi dưỡng, nay lệnh lang viết chữ rất đẹp, đã vào Thư viện làm chức Chỉ hầu, chắc cũng thường xuyên tham gia đại triều hội nhỉ? Chỉ là Lý Thực thủ quanh năm làm việc trong Ngự trù, không biết lệnh lang đã ăn được mấy lần bữa sáng do chính tay cha mình nấu?" Lý Đại Hồng thở dài sườn sượt: "Đã làm cái nghề hầu hạ thiên gia này, mười bữa nửa tháng ta mới được về nhà một chuyến, về nhà lại càng ít khi nấu nướng. Nó lớn đến hơn hai mươi tuổi đầu, tính ra chưa ăn được mấy lần cơm ta nấu." "Bởi vậy, nếu có thể mượn cơ hội này để lệnh lang nếm được món ăn do cha nấu, đối với huynh ấy cũng là một niềm an ủi." Chân Chân nói, "Huống hồ, thương con mình rồi thương lây con người, Lý Thực thủ đem tấm lòng yêu con biến thành trù nghệ, dụng tâm nấu bữa sáng, khiến cho tất cả quan lại xuất thân hàn vi đều được hưởng lợi, âu cũng là công đức vô lượng." Lý Đại Hồng về suy nghĩ một hồi, lại bàn bạc với các quản sự liên quan của Ngự trù và Ngự Thiện sở, nhận được sự tán đồng của nhiều quản sự có con cháu là triều sĩ hoặc người đọc sách. Họ cảm thấy việc này tuy có vất vả thêm chút đỉnh, nhưng quả thực mang lại lợi ích cho đông đảo triều sĩ, là một việc đại thiện. Thế là Ngự trù và Thượng Thực cục liên danh dâng sớ lên Hoàng đế, đưa ra đề nghị này. Hoàng đế cũng thấy khả thi, lệnh cho các quan hữu tư thảo luận. Tam Ti (cơ quan quản lý tài chính) cho rằng chi phí này nằm trong phạm vi chấp nhận được, giải quyết một phần nỗi lo sau lưng cho các triều sĩ, giúp quan lại chuyên tâm việc nước hơn, mà chút ân huệ nhỏ này cũng sẽ ngấm ngầm gia tăng lòng quy thuận của họ đối với triều đình, có thể thực hiện. Các quan Đài Cán (ngự sử) cũng tán đồng nhiều, không có mấy ý kiến phản đối, nhưng chẳng ngờ, người phản đối kịch liệt nhất lại là thầy của Hoàng đế, Tham tri Chính sự Thẩm Hãn. Trên triều đường, Thẩm Hãn vung tay trước mặt Hoàng đế, giọng đầy phẫn nộ: "Canh tư phương Đông chưa rạng, giọt ngọc đồng hồ lậu còn rơi, Tể chấp và quần thần đã nườm nượp xách lồng đèn đến, tụ tập ngoài cổng cung tạo thành cảnh tượng huy hoàng vô cùng tráng lệ. Cổng thành rực rỡ, hiển lộ uy nghi thiên gia, bách tính nhìn vào, không ai là không bái phục. Mà trước khi cổng cung mở, Tể chấp ngồi trong Đãi Lậu Viện, hoặc tĩnh tâm suy nghĩ đại kế tiến cử người hiền, bài trừ gian nịnh, an định thiên hạ, hoặc cùng đồng liêu trao đổi quốc sự, đợi buổi chầu sớm tâu lên Thiên tử. Người ở Đãi Lậu, tâm hệ cần chính, đây cũng là sơ tâm của triều đình khi noi theo chế độ cũ tiền triều, thiết lập Đãi Lậu Viện ngoài cửa Hoàng thành để bá quan tập hợp buổi sớm, chờ đợi triều bái. Có thể thấy Đãi Lậu Viện cũng giống như nơi Bệ hạ làm việc, là chốn cực kỳ trang nghiêm túc mục. Nếu bày biện bánh trái canh nước cho người ta ăn uống ở đây, tiếng người ồn ào, rác rưởi đầy đất, quần thần lập tức mất đi vẻ trang trọng, mà Đãi Lậu Viện cũng chẳng còn thanh tịnh, thực sự là mất hết thể thống!" Hoàng đế nhìn quanh quần thần: "Về lời Thẩm Tham chính, các khanh có cao kiến gì không?" Quần thần đa số mắt nhìn mũi mũi nhìn tim, im lặng không nói. Một lát sau, Kỷ Cảnh Lan bước ra khỏi hàng, cúi người thưa với Hoàng đế: "Lời Thẩm Tham chính rất có lý. Tuy nhiên, thần trộm nghĩ, sơ tâm của tổ tông khi lập Đãi Lậu Viện, ngoài những điều Thẩm Tham chính đã nói, còn có ý thương xót quần thần dậy sớm, nên ban cho nơi này để họ tạm tránh gió rét, nghỉ ngơi đôi chút. Việc này rất mực hiển lộ lòng nhân từ của Thiên tử, thần mỗi khi nhớ đến đều cảm kích rơi lệ. Nay Bệ hạ có ý ban thức ăn cho triều sĩ ở Đãi Lậu Viện, là nối tiếp tấm lòng yêu thương bề ta của tổ tông, để quần thần vừa không lo nóng lạnh, lại có niềm vui no bụng, thực là một việc tốt đẹp vô cùng. Vì vậy, thần cho rằng việc này khả thi. Triều sĩ đều là người đọc sách, ăn uống trong Đãi Lậu Viện thiết nghĩ sẽ không ồn ào như tửu lầu bên ngoài. Còn về vụn thức ăn, chỉ cần phái người quét dọn thường xuyên, trong viện ắt sẽ giữ được sạch sẽ." Hoàng đế vuốt râu, mỉm cười gật đầu, rõ ràng rất tán thành cách nói của Kỷ Cảnh Lan. Thẩm Hãn thấy vậy càng thêm bất mãn, trừng mắt nhìn Kỷ Cảnh Lan, nói: "Rác rưởi có thể quét dọn bất cứ lúc nào, thế còn mùi thức ăn tỏa ra thì sao? Nếu ai cũng như Kỷ Học sĩ thích ăn hành hẹ, để Đãi Lậu Viện cả ngày nồng nặc mùi tanh hôi, nơi chờ đợi triều bái mà ngỡ như nhà bếp, còn đâu sự trang nghiêm đáng nói?" Trên triều đường lập tức nổi lên những tiếng cười khúc khích cố kìm nét không được phát ra. Kỷ Cảnh Lan xấu hổ đỏ bừng mặt, trừng mắt nhìn Thẩm Hãn, lắp bắp: "Ông, ông... Thật là vô lý!" "Được rồi, việc này hôm nay bàn đến đây thôi." Hoàng đế kịp thời giải vây cho Kỷ Cảnh Lan, tuyên bố, "Đã đa số các khanh đều tán thành, Trẫm lệnh cho Ngự trù và Thượng Thực cục chuẩn bị việc này, thực hiện thử vài ngày ở Đãi Lậu Viện trước. Nếu triều sĩ thấy ổn thì tiếp tục duy trì; nếu như lời Thẩm Tham chính nói, tệ hại rõ ràng, thì bãi bỏ kịp thời cũng chưa muộn." Cuộc tranh luận trên triều đường truyền đến Thượng Thực cục, sự chú ý của các nữ quan không tránh khỏi có chút lệch lạc, đa phần đều cười chuyện Kỷ Cảnh Lan thích ăn hành hẹ, chỉ có Bùi Thượng thực vẫn như mọi khi khinh khỉnh Thẩm Hãn: "Cái lão già ngoan cố ấy, quên mất cái cảnh mình hồi trẻ tay trái cầm cái bánh nướng mua ven đường, tay phải ghìm con ngựa vừa già vừa gầy, vừa nhai bánh vừa vội vàng đi chầu rồi sao?" Câu này khiến đám nữ quan cười ồ lên. Chân Chân cũng cười theo, bỗng nhớ ra, Bùi Thượng thực bình thường cẩn trọng lời nói việc làm, tuyệt đối không tùy tiện đ.á.n.h giá quan lại triều đình, duy chỉ với Thẩm Tham chính là không hề khách khí, lần nào phê bình lời lẽ cũng rất sắc bén, xem ra có vẻ như người quen biết cũ. "Thượng thực ngài và Thẩm Tham chính quen nhau từ hồi trẻ ạ?" Nhớ ra Bùi Thượng thực và Thẩm Hãn trạc tuổi nhau, Chân Chân không kìm được buột miệng hỏi. "Ai mà thèm quen ông ta!" Bùi Thượng thực bĩu môi, "Chẳng qua là ông ta nói nhiều, hay xin Tiên đế đối đáp, ta thường hầu hạ bên cạnh Tiên đế, lâu dần ông ta quen mặt ta mà thôi." Chân Chân lại hỏi: "Dáng vẻ Thẩm Tham chính cưỡi ngựa đi chầu làm sao Thượng thực lại nhìn thấy?" Bùi Thượng thực đáp: "Tiên đế thường sai ta xuất cung mua đồ ăn, có khi cửa Hoàng thành vừa mở là ta đi ngay, thỉnh thoảng sẽ gặp ông ta... Lần nào nhìn thấy cũng chỉ hận không thể rửa mắt. Ngươi nói cái bánh nướng ấy, ông ta ăn thì cứ ăn đi, ăn xong thỉnh thoảng còn dính mấy vụn bánh trên ria mép, khiến người ta chỉ muốn ném cho cái lược bắt ông ta tự chải cho sạch!" Bà cau mày lắc đầu, thở dài liên tục, dường như lại nhìn thấy tướng ăn khó coi của Thẩm Hãn. Biểu cảm và giọng điệu sống động của bà khiến người nghe ai nấy cười bò, Bùi Thượng thực bỗng giật mình, quát đám nữ quan: "Cười cái gì? Việc của các ngươi làm xong chưa? Còn ở đây mà lười biếng!" Rồi quay sang Chân Chân, "Thực đơn điểm tâm sáng cho Đãi Lậu Viện mấy ngày tới, ngươi lên xong chưa? Lão già ngoan cố kia tuy nói hươu nói vượn không ít, nhưng chuyện mùi thức ăn chúng ta quả thực nên lưu ý. Đồ ăn cung cấp cho Đãi Lậu Viện không được chọn loại có mùi nồng. Ngoài ra, chuẩn bị thêm nước súc miệng và ít đinh hương để các triều sĩ dùng." Chân Chân tham khảo ý kiến của Bùi Thượng thực và Ngự Thiện sở, lên thực đơn điểm tâm cho Đãi Lậu Viện, món chính chủ yếu là màn thầu, bánh bao và các loại bánh, nhân bánh không bỏ gia vị nặng mùi. Thường làm có màn thầu hoa chiên, màn thầu măng thịt, màn thầu thịt đường, bánh bao thủy tinh, bánh bao ngỗng vịt, bánh bao tôm thịt cá, cùng các loại bánh mỏng giòn, bánh phỉ đường, bánh xốp dầu, bánh cam lộ, bánh ngọc diên, bánh phù dung vân vân. Bùi Thượng thực đặc biệt nhắc đến món "Thái Học màn thầu" do nhà bếp Thái Học ở Biện Kinh ngày xưa làm lừng danh kinh sư, nhân làm bằng măng, dương xỉ, thịt, dùng hoa tiêu và muối nêm nếm, người ăn ai cũng khen không dứt miệng, đến Thần Tông hoàng đế cũng từng nói: "Lấy món này nuôi kẻ sĩ, có thể không thẹn vậy." Từ đó sĩ nhân không ai không lấy việc thường ăn Thái Học màn thầu làm niềm tự hào. Chân Chân bèn hỏi kỹ công thức Thái Học màn thầu, để Ngự trù làm cung cấp cho Đãi Lậu Viện, quả nhiên rất được các triều sĩ hoan nghênh, lần nào bánh vừa đưa tới, Thái Học màn thầu đã bị tranh nhau lấy sạch. Chân Chân lại nhớ tới cuộc tranh luận ở lễ Hương Ẩm ngày trước, xem ra điển cố và điềm lành quả thực cũng là lý do quan trọng để những người đọc sách này lựa chọn thức ăn. Nàng liền chọn trong cuốn thực phổ Lâm Hoằng đưa cho một công thức tên là "Quảng Hàn cao" (Bánh Quảng Hàn), hướng dẫn Ngự trù làm: dùng hoa quế khô rảy nước cam thảo, trộn với gạo giã thành bột, hấp thành bánh gạo. Đợi hơi khô, cắt thành hình chữ nhật dài cỡ cái ngọc hốt (thẻ bài quan lại cầm khi vào chầu). Tên loại bánh này mang ngụ ý "Quảng Hàn cao giáp" (đỗ cao), "Thiềm cung chiết quế" (bẻ quế cung trăng), lại thêm màu sắc và hình dáng tựa ngọc hốt, nên nhanh chóng chiếm được cảm tình của các triều sĩ, thường thường mỗi người lấy một cái hốt, rồi bẻ ra ăn. Các triều sĩ ăn uống ở Đãi Lậu Viện được nửa tháng, phản hồi rất tốt. Ngoài Thẩm Hãn vẫn tỏ vẻ bất mãn, ý kiến của các đại thần khác chẳng qua chỉ xoay quanh chủng loại và khẩu vị món ăn, chứ đối với bản thân việc này đã hoàn toàn không còn dị nghị. Một ngày nọ, Hoàng đế lệnh cho Chân Chân đợi ở sảnh đường dành cho quan tam phẩm trở lên tại Đãi Lậu Viện, tiếp tục hỏi ý kiến họ về điểm tâm sáng. Chân Chân đã ra khỏi Hoàng thành từ tối hôm trước, vẫn luôn đợi ở Đãi Lậu Viện, sau canh tư, người đầu tiên bước vào lại là Thẩm Hãn. Ông ta trừng mắt nhìn Chân Chân đang hành lễ với mình, nhận ra nàng là một trong những nội nhân Thượng Thực cục từng đại náo hôn lễ con gái mình. Khi Chân Chân hỏi ý kiến, ông ta bèn gắt gỏng: "Ý kiến của ta là trong Đãi Lậu Viện này không nên xuất hiện thức ăn! Ngươi tuổi còn trẻ, đi theo Bùi Thượng thực không biết học cái tốt, lại xúi giục Quan gia làm cái chuyện coi thường uy nghi thiên gia này!" Nói đến bốc hỏa, ông ta tức tối rút cái ngọc hốt giắt bên hông ra, đập mạnh xuống bàn, "Lão phu đã tra khắp kinh điển, tìm ra rất nhiều điển cố khuyên can Quan gia bãi bỏ việc ăn uống ở Đãi Lậu Viện, chỉ đợi lên triều tâu với Quan gia thôi." Chân Chân thấy trên ngọc hốt có chi chít chữ viết, chắc là những ý chính điển cố ông ta ghi lại. Đối mặt với cơn thịnh nộ của ông ta, cũng không tiện nói nhiều, đành mỉm cười cúi người, vái thêm cái nữa, rồi lui vào một góc tiếp tục chờ đợi. Một lát sau lục tục có vài vị quan nhất nhị phẩm đi vào, họ đối với Chân Chân khá khách sáo, có ý kiến gì cũng nói với nàng, rồi mỗi người lấy bánh trái bày trong sảnh ăn. Chỉ có Lễ bộ Thị lang Tăng Giới không lấy đồ ăn, mà ngồi một mình sầu não, thở ngắn than dài. Có đồng liêu hỏi nguyên do, ông ta nói: "Hôm qua một người bạn già của ta đã rời Lâm An, về quê định cư lâu dài. Ta đi tiễn biệt, không khỏi cảm thương." Nghĩ ngợi một hồi, ông ta gõ ngón tay lên mặt bàn, bắt đầu ngâm nga một khúc từ: "Ngậm ngùi ngóng kiếp phù sinh vội, lạnh lẽo đàn tranh tiếng vọng thừa. Khách Sở đa tình hờn nỗi biệt, non xanh nước biếc bước chân thưa. Đưa mắt chân trời cỏ úa, đêm tàn mấy chỗ tiếng chày thưa..." Ông ta hát rất nhập tâm, âm vận cũng êm tai, người trong sảnh hoặc ngưng thần lắng nghe, hoặc họa theo, đều lộ vẻ thưởng thức. Chẳng ngờ hát đến nửa chừng, Thẩm Hãn bỗng đập bàn đứng dậy, quát: "Đãi Lậu Viện là nơi bá quan tụ họp, Tăng Thị lang cớ sao lại công khai hát thứ âm nhạc ủy mị này ở đây?" Tăng Giới ngớ người, nói: "Đây là từ của Tôn Nội hàn Tôn Chu triều Thần Tông, văn phong điển lệ, lời lẽ thanh tao uyển chuyển, đâu phải loại từ 'Hoa Gian' tầm thường có thể sánh được, sao lại bảo là nhạc ủy mị?" Thẩm Hãn nói: "Đãi Lậu Viện vốn là nơi tổ tông lập ra để đại thần suy nghĩ phương lược trị nước, Thị lang ở đây ngâm vịnh tình cũ, e là không thỏa đáng, phụ ơn thánh thượng." Mấy vị đại thần khác đều thấy ông ta chuyện bé xé ra to, cười nói định khuyên giải, lại bị Thẩm Hãn nghiêm mặt bác bỏ từng người một. Tăng Giới bèn đứng dậy phất tay áo: "Không biết nói lẽ phải!" rồi bỏ sang phòng bên cạnh. Mấy vị kia thấy Tăng Giới đi rồi, cảm thấy ở lại đây đối mặt với Thẩm Hãn khá gượng gạo, cũng lần lượt rời đi, trong sảnh cuối cùng chỉ còn lại Thẩm Hãn và Chân Chân. Thẩm Hãn quay mặt sang một bên, rõ ràng không muốn nói chuyện với Chân Chân. Chân Chân bèn kiếm cớ có việc công vụ khác, cũng lui ra ngoài. Thẩm Hãn ngồi một mình hồi lâu, trong bụng bỗng sôi ùng ục, ông ta mới nhớ ra sáng sớm mải lo chuyện can gián, chẳng thiết ăn uống, không ăn sáng ở nhà, giờ đây bụng đã đói cồn cào. Ông ta chưa từng ăn đồ ăn ở Đãi Lậu Viện, hiện tại cũng không muốn phá cái quy tắc này, bèn nhắm mắt, ngồi nghiêm chỉnh, định đợi cơn đói qua đi. Khổ nỗi mùi thơm ngọt của đủ loại bánh trái bày trong sảnh cứ từng đợt từng đợt ập tới, sống c.h.ế.t quấn lấy khứu giác ông ta, khiến luồng khí trong bụng chẳng hề tiêu tan, cứ chạy lên chạy xuống, phát ra tiếng kêu đòi ăn. Cuối cùng, ông ta từ từ mở mắt, trước tiên xác định bốn bề vắng lặng, rồi mới liếc mắt về phía đống thức ăn. Vừa chạm vào thức ăn trên bàn, ông ta liền như bị bỏng vội rụt mắt về, nhắm mắt ngồi yên. Thế nhưng, đợi thêm một lát, dưới sự thúc giục của cơn đói, ông ta không kìm được lại hé mắt ra một khe nhỏ, đưa mắt nhìn trộm về hướng đó. Trầm ngâm hồi lâu, tay ông ta vươn về phía miếng bánh Quảng Hàn gần nhất, lấy một miếng, từ từ thu về, ngắm nghía kỹ càng. Miếng bánh này hình dáng cũng khá lạ, giống cái ngọc hốt, nhưng chẳng biết mùi vị thế nào... Tay không tự chủ được bẻ một miếng bánh Quảng Hàn, rồi lại không tự chủ được đưa miếng đó vào miệng... Ông ta bắt đầu do dự nhai. Cảm giác mềm mại mịn màng, hương gạo quyện với một làn hương hoa quế thoang thoảng, cũng được đấy chứ... Ông ta thầm bình phẩm trong lòng, tay không ngừng nghỉ, lại bẻ thêm một miếng nữa. Chân Chân thực ra chưa đi xa, vẫn đứng hầu ngay ngoài cửa, cũng âm thầm quan sát hành động của Thẩm Hãn. Thấy cảnh này, Chân Chân không khỏi buồn cười, cố ý muốn làm ông ta giật mình một phen, bèn giả vờ ho khan một tiếng. Thẩm Hãn nghe thấy, lập tức giật b.ắ.n mình run lẩy bẩy, quăng mạnh miếng bánh Quảng Hàn lên bàn. Nhưng thấy miếng bánh rõ ràng đã khuyết một mẩu, lo sợ bị Chân Chân nhìn thấy, lại vội vàng nhặt lên, nhét tọt vào trong tay áo mình. Chương 73 - Dư Âm Bảo Sắt Chân Chân nén cười, bước vào vái chào Thẩm Hãn, nói: "Thẩm Tham chính, cửa Hòa Ninh sắp mở rồi, mời ngài ra ngoài cửa đợi ạ." Thẩm Hãn lập tức sải bước thật nhanh về phía nơi bá quan xếp hàng chờ đợi. Chân Chân nhìn theo ông ta, một lát sau vào sảnh kiểm tra, phát hiện cái ngọc hốt lúc nãy Thẩm Hãn đập lên bàn vẫn còn đó, liền nhặt lên rảo bước đuổi theo Thẩm Hãn. Lúc này cửa Hòa Ninh đã từ từ mở ra, dòng người triều sĩ bắt đầu tiến vào trong cửa. Thẩm Hãn đi trong hàng Tể chấp ở phía trước nhất, Chân Chân bị biển người ngăn cách, không thể tiếp cận Tể chấp, đành phải kiễng chân gọi với theo: "Thẩm Tham chính..." Gọi liền mấy tiếng, Thẩm Hãn có nghe thấy, nhưng chẳng muốn để ý đến nàng, mặt lạnh tanh, kiêu ngạo ngẩng đầu, bước những bước vững chãi, mắt không nhìn ngang liếc dọc mà tiến vào cung thành. Chân Chân nhìn cái ngọc hốt chơ vơ trên tay mình, thở dài nhìn theo bóng lưng Thẩm Hãn khuất dần trong biển người: "Thôi được rồi, là tự ngài không cần đấy nhé." Hôm đó tại điện Thùy Củng, Thẩm Hãn lại nhắc lại chuyện bãi bỏ việc ăn uống ở Đãi Lậu Viện. Các quan lại đã nếm mỹ thực Đãi Lậu Viện bấy lâu nay, đã quen lắm rồi, ngay tại chỗ có mấy người lên tiếng phản đối ý kiến của Thẩm Hãn, thẳng thắn bày tỏ mong muốn tiếp tục duy trì bữa sáng này. Thẩm Hãn nghe vậy càng giận, thao thao bất tuyệt trình bày quan điểm của mình từ góc độ lễ pháp, quy chương, lịch sử, kiên quyết muốn Hoàng đế chấp nhận lời can gián. Nhắc đến điển cố liên quan trong sử sách, có một vài chi tiết nhất thời không nhớ ra, lời lẽ hơi ngập ngừng, Thẩm Hãn liền đưa tay về phía hông, định lấy ngọc hốt ra xem những nội dung mình đã ghi chép trước đó. Không ngờ phát hiện chỗ giắt hốt trống không, ông ta sững sờ, hai tay s* s**ng kỹ trước sau thắt lưng cũng không tìm thấy. Trong lúc tình thế cấp bách, cảm thấy trong tay áo có vật gì dài dài nặng nặng, bèn thò tay vào, lần này nắm được một vật hình thanh dài, trong lòng thở phào nhẹ nhõm, lập tức rút ra, hai tay cung kính cầm lấy, hướng về phía Hoàng đế, đang định hùng hồn tiếp tục... Mắt ông ta trợn trừng lên to như cái chuông đồng — vật đang nằm ngay trong tầm mắt ông ta lúc này đâu phải ngọc hốt, mà là một miếng bánh Quảng Hàn, lại còn là miếng bánh Quảng Hàn bị khuyết mất một mẩu. "Cái này, cái này là..." Hoàng đế trên ngự tọa nhìn chằm chằm, dường như đã hiểu ra điều gì, không nhịn được bật cười. Thấy Quan gia cũng cười, quần thần cũng chẳng câu nệ nữa, trong điện nhanh chóng bùng nổ một tràng cười liên tiếp không dứt. "Thẩm Tham chính sao lại cầm điểm tâm của Đãi Lậu Viện thế kia? Trên miếng bánh Quảng Hàn này hình như còn có dấu răng?" Tăng Giới mở miệng nghi ngờ đầu tiên, rồi cố ý cau mày lắc đầu, "Không đúng không đúng, Thẩm Tham chính xưa nay thâm thù đại hận với thức ăn Đãi Lậu Viện, tuyệt đối sẽ không lén lút c.ắ.n trộm một miếng đâu. Nhất định là đêm qua ta ngủ sai tư thế, giờ vẫn đang nằm mơ." "Không không, theo ngu kiến của hạ quan, Thẩm Tham chính tuyệt đối không căm ghét thức ăn Đãi Lậu Viện, mà là yêu thích hơn bất cứ ai trong chúng ta." Kỷ Cảnh Lan nghiêm mặt nói với Tăng Giới, "Xin nhìn xem, Thẩm Tham chính đang cho chúng ta thấy thế nào gọi là 'yêu không nỡ buông tay' đấy." Miếng bánh Quảng Hàn đó Thẩm Hãn vứt đi không được, giấu đi cũng không xong, đành cứ cầm mãi trên tay. Quần thần nghe lời Kỷ Cảnh Lan, lại chăm chú nhìn bộ dạng lúng túng của Thẩm Hãn, không khỏi lại cười ồ lên một trận. Kỷ Cảnh Lan lại hớn hở đi đến bên cạnh Thẩm Hãn, nói: "Tâm tư của Thẩm Tham chính, hạ quan hiểu. Chẳng qua là điểm tâm Đãi Lậu Viện quá ngon, Tham chính muốn ăn cho thỏa thích, lại sợ bị người ta nhìn thấy mất thân phận, cho nên giấu trong tay áo, định mang về nhà nhấm nháp... Ngài và ta đều là người yêu ẩm thực, hiểu mà hiểu mà!" Nói xong lại quay sang vái chào Hoàng đế thật sâu, "Bệ hạ thương tiếc bề tôi, cảm thông cho Tể chấp, thần hy vọng Bệ hạ sau này đặc biệt ban cho Thẩm Tham chính một hộp đựng thức ăn, chuyên dùng để mang điểm tâm Đãi Lậu Viện về nhà, tránh cho mỗi lần đều phải nhét vào tay áo, luôn có vụn bánh rơi vãi trong ngoài tay áo, vừa không sạch sẽ lại vừa mất nhã nhặn, Thẩm Tham chính xưa nay cử chỉ trang trọng làm sao chịu nổi." Không ít người cố nhịn cười, cũng cúi người vái dài: "Thần tán thành." "Lời nói đùa của các khanh dừng ở đây thôi." Hoàng đế giơ tay ấn xuống, ra hiệu cho đám quần thần đang chế giễu Thẩm Hãn im lặng, rồi quay sang nhìn Thẩm Hãn, mỉm cười nói khéo, "Có điều đã chính Tham chính cũng ăn thực phẩm Đãi Lậu Viện, thì hà tất phải phản đối nó làm chi?" Thẩm Hãn không đáp lại nửa lời trước sự chế giễu của quần thần, nhưng về đến nhà, lập tức viết một bức thư dài gần ngàn chữ, dâng lên Quan gia xin về hưu. Hoàng đế khá bất ngờ, đích thân viết thư trả lời, ân cần an ủi. Thẩm Hãn lại dâng thư lần nữa, nói tuổi già sức yếu, bệnh tật quấn thân, mong được cáo lão hồi hương, an hưởng tuổi già. Lần này Hoàng đế không trả lời trực tiếp, mà bí mật mời Thẩm Hãn vào cung, đến điện Gia Minh dùng bữa cùng mình. "Ngự thiện hôm nay khác với mọi ngày, không phải do Ngự trù làm, mà là ta sai Bùi Thượng thực mua từ ngoài cung về." Hoàng đế giới thiệu với Thẩm Hãn, "Khanh xem, canh rau thập cẩm bà Lý, mì sữa Hạ Tứ, bánh hồ thịt heo Tạng Tam, đồ ngọt nhà họ Cát... đều là do người cũ ở Biện Kinh làm đấy. Năm xưa Tiên đế thích gọi đồ ăn ngoài phố, mê nhất mấy món này, cũng từng mời khanh và ta cùng ăn, Tham chính còn nhớ không?" Thẩm Hãn nghiêng mình đáp: "Hoàng ân cao dày, thần tự nhiên không dám quên." Hoàng đế nói: "Tiên đế nhớ nhung Biện Kinh, cũng trân trọng cố nhân lão thần, thường dạy bảo ta phải tôn trọng ân sư, gần gũi hiền thần, đặc biệt là Thẩm tiên sinh người đã phò tá ta từ thuở thiếu thời. Nay bốn phương chưa yên, binh đao chưa dứt, trong nước cũng thỉnh thoảng có kẻ gian lộng quyền. Đại thần mà ta toàn tâm tin tưởng không nhiều, tiên sinh chắc chắn là một trong số đó. Đối mặt với nội ưu ngoại hoạn như thế, tiên sinh nỡ lòng nào bỏ lại quân vương đất nước, cứ thế quy ẩn sao?" Thẩm Hãn nghe mà cảm thương, nói: "Chỉ cần Quan gia cần thần tận trung báo quốc, thần dầu sôi lửa bỏng cũng không từ nan. Thần chẳng qua thấy trong triều nhân tài như nấm, ai nấy đều hăng hái phấn chấn, mà thần thì già nua lẩm cẩm, suy nghĩ chưa chắc đã hợp với thời đại, đã đến lúc nên nhường chỗ cho người hiền, nên không dám mặt dày ngồi ở vị trí cao nữa." "Không hợp thời là những trò đùa cợt nhả kia, chứ không phải tư tưởng của tiên sinh. Tiên sinh hãy coi như gió thoảng bên tai, đừng để trong lòng." Hoàng đế lại nâng chén mời rượu, cùng Thẩm Hãn uống liền mấy chén, thỉnh thoảng an ủi, cuối cùng tâm trạng Thẩm Hãn dần tốt lên, cũng không nhắc đến chuyện về hưu nữa. Dùng bữa xong Thẩm Hãn cáo lui, Hoàng đế thấy ông ta rất thích những món ăn dân dã kia, ăn không ít, bèn bảo Bùi Thượng thực gói phần còn lại vào hộp thức ăn cho ông ta mang về. Bùi Thượng thực nghiêng mình đáp: "Thần thiếp hiểu ạ. Những món này lúc mua đều mua vài phần, đã sớm gói sẵn một phần, đợi Thẩm Tham chính mang đi." Hoàng đế khen: "Vẫn là Bùi Thượng thực hiểu lòng người, chu đáo hơn ta nghĩ." Bùi Thượng thực mỉm cười: "Thiếp biết, Thẩm Tham chính xưa nay sẽ không nói rõ mình muốn cái gì, chỉ ám chỉ, bắt người ta phải đoán. Những việc vặt vãnh này hà tất phiền Quan gia phải bận tâm suy đoán, thần thiếp to gan, đã sắp xếp ổn thỏa cho Thẩm Tham chính trước rồi." Tâm trạng vừa mới tốt lên của Thẩm Hãn lại bị câu nói này của bà phá hỏng, cuối cùng thế nào cũng không chịu nhận đồ ban thưởng của Hoàng đế, tay không phất áo bỏ đi. Hoàng đế cũng nhận ra chút manh mối, bí mật gọi Chân Chân đến, hỏi kỹ cách nhìn của Bùi Thượng thực về Thẩm Hãn xưa nay. Chân Chân kể lại đúng sự thật, Hoàng đế đáp: "Ta cũng biết họ nhiều năm nay luôn có thái độ thù địch với nhau, chỉ không biết bắt nguồn từ đâu... Đáng tiếc nỗ lực giữ chân Thẩm Tham chính hôm nay của ta, suýt chút nữa bị một câu nói bâng quơ của Bùi Thượng thực xóa sạch sành sanh." Chân Chân nói: "Nô tỳ thấy Thẩm Tham chính làm người quá ư cổ hủ cố chấp, lần trước Tăng Thị lang chẳng qua hát nửa khúc từ hay ở Đãi Lậu Viện, đã bị ông ấy mắng, bảo Tăng Thị lang hát nhạc ủy mị. Bùi Thượng thực chướng mắt ông ấy cũng là chuyện bình thường, nên thường không nhịn được mà châm chọc." "Ồ? Tăng Thị lang hát bài từ gì?" Hoàng đế hỏi. Chân Chân nhớ lại kỹ càng, đáp: "Nghe nói là thơ của Tôn Chu Nội hàn, nô tỳ chỉ nhớ câu đầu: Ngậm ngùi ngóng kiếp phù sinh vội, lạnh lẽo đàn tranh tiếng vọng thừa (Bảo sắt dư âm)." "Lạnh lẽo đàn tranh tiếng vọng thừa..." Hoàng đế lặp lại câu này, vẻ mặt đăm chiêu. "Nô tỳ thấy bài từ này viết rất hay mà, Tăng Thị lang cũng bảo điển lệ thanh tao, đâu ra mà ủy mị chứ!" Chân Chân khá bất bình, "Thẩm Tham chính nghe xong liền nổi trận lôi đình, người khác khuyên giải ông ấy còn mắng cả họ, nô tỳ nhìn mà cũng chẳng hiểu ra sao, thật tình đâu đến mức ấy." Hoàng đế mang theo ý cười như đã hiểu ra, nhìn Chân Chân: "Ngươi biết tên khuê danh của Bùi Thượng thực không?" Chân Chân ngơ ngác lắc đầu. "Bảo Sắt," Hoàng đế nói, "Bà ấy tên là Bùi Bảo Sắt." Đại thần rất ít khi có cơ hội biết tên khuê danh của nội nhân. Phát hiện này khiến Hoàng đế và Chân Chân nảy sinh hứng thú nồng đậm với ẩn tình có thể tồn tại giữa Thẩm Hãn và Bùi Thượng thực, chỉ là họ đều không tiện đi truy hỏi Bùi Thượng thực. Hoàng đế bèn kể chuyện này cho Lệ Quý phi, nhờ bà tìm cách dò hỏi. Lệ Quý phi sau đó mời Bùi Thượng thực đến các của mình, cho lui hết người không phận sự, nói với bà: "Lần trước Thẩm Tham chính dùng bữa cùng Quan gia ở điện Gia Minh, nghe Bùi Thượng thực nói câu 'chỉ ám chỉ, bắt người ta phải đoán', dường như vừa giận vừa thẹn, về nhà liền đổ bệnh. Ngự y đến khám, bẩm lại với Quan gia rằng bệnh tình không nhẹ, nhất thời khó mà khỏi được." Bùi Thượng thực im lặng, hồi lâu sau thở dài một tiếng: "Nếu Thẩm Tham chính có mệnh hệ nào, khiến Quan gia mất đi rường cột nước nhà, ta nguyện lấy cái c.h.ế.t tạ tội." "Thượng thực không cần như vậy, Quan gia đâu có trách tội bà." Lệ Quý phi an ủi, "Quan gia nhìn ra được, giữa bà và Thẩm Tham chính dường như có khúc mắc. Thượng thực nếu tin tưởng ta, chi bằng kể rõ đầu đuôi câu chuyện, ta và Quan gia xem có cách nào hóa giải hay không." Bùi Thượng thực cúi đầu không nói. Lệ Quý phi lại than: "Thượng thực và Tham chính đều không còn trẻ nữa, đừng nói vạn sự quay đầu là không, có quay đầu hay không, cũng chẳng qua là thân ở trong một giấc mộng lớn. Đến tuổi này rồi, dù có từng oán hận, lại có gì là không buông bỏ được đâu?" Nghe lời này, Bùi Thượng thực từ từ ngẩng đầu lên, nhìn Lệ Quý phi, trong đôi mắt vốn bình lặng không gợn sóng nổi lên một tầng lệ quang: "Đúng vậy, trong lòng ta có oán khí. Oán khí này chôn chặt trong lòng mấy chục năm rồi, không biết trút đi đâu, dần dà, dường như hóa thành tâm ma. Ta cứ nhìn thấy ông ta, là con ma ấy lại nhe nanh múa vuốt muốn lao ra. Nhất cử nhất động của ông ta, trong mắt ta đều là sai, mỗi lần nhìn thấy nghe thấy, đều không nhịn được muốn mỉa mai châm chọc. Ta cũng muốn kiềm chế, nhưng không kiềm chế được. Ta chán ghét bản thân mình như thế này, đã dùng mấy chục năm cố gắng quên đi chuyện cũ, nhưng rốt cuộc không biết làm sao mới vứt bỏ được sự yêu hận này, dùng một tâm thái bình thường để nhìn ông ta." Lệ Quý phi cảm thông nhìn Bùi Thượng thực, nhẹ giọng nói ra phỏng đoán của mình: "Thượng thực và Thẩm Tham chính, từng có tình cảm với nhau?" Bùi Thượng thực buồn bã cụp mắt, một lát sau chậm rãi đáp: "Nói chính xác hơn, là đã từng có hôn ước." Lệ Quý phi cũng không quá ngạc nhiên, bình tĩnh nói: "Cho nên ông ấy đã phụ bà." Bùi Thượng thực gật đầu, lại nói: "Ông ta phụ, đâu chỉ mình ta." Chương 74 - Say Rượu Trong các Lai Phượng, ánh nến lung lay, Bùi Thượng thực tâm tư thảng thốt, bắt đầu kể cho Lệ Quý phi nghe chuyện xưa chôn chặt trong lòng bao năm qua: "Ta lớn lên ở Việt Châu, cha ta vốn cũng là người đọc sách, tiếc là mất sớm, nương ta bán bánh nuôi ta lớn. Nương ta là Đường bà bà, làm bánh nổi tiếng xa gần, tuy chỉ mở quán nhỏ nhưng buôn bán phát đạt, sau này cũng tích cóp được ít tiền. Nương không bao giờ để ta thiệt thòi, ta tuy không thể nói là sống trong nhung lụa ngọc ngà, nhưng cũng được coi là cơm no áo ấm mà lớn lên, tính khí cũng bị nương chiều hư đôi chút, cho nên nhiều khi nói chuyện với người mình không ưa, thường không giữ mồm giữ miệng." Lệ Quý phi nghe vậy mỉm cười: "Trải nghiệm của Thượng thực, nghe qua lại có vài phần giống với Chân Chân, có phải cũng vì biến cố gia đình mới nhập cung không?" Bùi Thượng thực thở dài một tiếng: "Đoạn trước thì giống Chân Chân, đoạn sau thì giống Vân Oanh Ca rồi... Năm mười bảy tuổi, ta ra khỏi thành thăm họ hàng, lúc về đi đường thủy, trả tiền đi thuyền. Trên thuyền có bảy tám người, trong đó có một thư sinh, tuy mặc áo vải cũ đã giặt đến bạc màu, nhưng cử chỉ đoan chính, khí độ bất phàm, ta bèn nhìn thêm vài lần. Thuyền đến thành Việt Châu, hành khách đa phần xuống thuyền rời đi, còn vị thư sinh kia định đi thì bị lái đò gọi giật lại, xem ra lúc này chàng ta mới nhớ ra chưa trả tiền thuyền. Chàng ta s* sng trong n.g.ự.c áo hồi lâu, móc ra tất cả tiền đồng cũng không đủ một nửa tiền thuyền, lái đò lập tức nổi giận, buông lời nhục mạ. Ta thấy thư sinh kia tay chân luống cuống, ngượng đến mức mặt đỏ tía tai, không biết đối đáp ra sao, trong lòng không nỡ, bèn tự bỏ tiền bù đủ chỗ thiếu cho chàng ta. Xuống thuyền chàng ta đi theo, năm lần bảy lượt cảm tạ ta, trò chuyện với ta, ta mới biết chàng là người Minh Châu, vì vay một khoản tiền lớn chữa bệnh cho nương già góa bụa, nương khỏi bệnh rồi lại không có khả năng trả nợ, nên đành trốn đến Việt Châu lánh nạn. Ta thấy chàng ta đã không một xu dính túi, ở Việt Châu cũng không thân thích để nương nhờ, bèn gợi ý chàng đến nhà ta giúp nương ta ghi chép sổ sách kiếm sống, chàng vui vẻ nhận lời. Thư sinh đó, chính là Thẩm Hãn." Lệ Quý phi dần đoán được diễn biến tiếp theo: "Thẩm Tham chính vừa khôi ngô tuấn tú, lại là người đọc sách, chắc hẳn lệnh đường sẽ sớm cảm thấy ông ấy là ứng cử viên con rể thích hợp." "Haizz..." Bùi Thượng thực nhớ lại chuyện xưa, vẻ mặt đầy tiếc nuối, "Ông ta rất có tài, chỉ mất hai ngày đã sắp xếp sổ sách trong quán rõ ràng đâu ra đấy, không sai một ly. Nói chuyện thì thích trích dẫn sử thi điển cố, đạo lý lớn từng bộ từng bộ, người nghe ai cũng bái phục. Ta khi đó còn trẻ, khó tránh khỏi bị ông ta thu hút, thường xuyên đến thăm. Nương ta nhìn ra tâm tư của ta, cũng không ngăn cản chúng ta qua lại. Ngược lại có một người biểu ca làm công cho nhà ta, căm ghét việc ông ta tiếp cận ta. Có lần ta và Thẩm Hãn lén gặp nhau, biểu ca dẫn người đến vây đ.á.n.h ông ta, sỉ nhục ông ta một trận, bảo ông ta ăn nhờ ở đậu mưu toan tiền tài, còn muốn dụ dỗ con gái chủ nhà... Ta tức đến phát khóc, ông ta định biện giải nhưng chẳng ai nghe, mắt thấy ông ta sắp bị đánh, ta cầm gậy định bảo vệ ông ta, lúc này nương ta nghe tiếng chạy tới. Bà bình tĩnh chắn trước mặt chúng ta, bảo với mọi người: 'Thẩm Hãn là con rể ta chọn cho Bảo Sắt, chúng nó sớm muộn gì cũng thành thân. Nó sắp về quê thi Hương, sau này còn phải thi Tiến sĩ, các ngươi ai dám động đến nó, cứ bước qua xác ta trước đã, xem ta có đồng ý không!' Đuổi được đám người kia đi, nương lại nói riêng với Thẩm Hãn: 'Vừa rồi ta nói vậy là kế tạm thời, không phải muốn ép ngươi cưới Bảo Sắt. Ngươi rất có tài hoa, cũng đến lúc về Minh Châu tham gia kỳ thi Hương rồi. Khoản nợ của ngươi không cần lo, bà già này bao năm nay cũng dành dụm được ít tiền quan tài, cho ngươi mượn trả nợ trước. Ngươi cứ yên tâm về quê đi thi, chúc ngươi sớm ngày đỗ cao. Tiền ta cho ngươi mượn ngươi cũng không cần lo, ta không đòi gấp, bao giờ ngươi dư dả rồi trả cũng chưa muộn.' Thẩm Hãn nghe xong nước mắt lưng tròng, bái tạ nương ta, nói chàng quả thực rất thích ta, nếu ta và nương không chê, chàng rất mong được cưới ta làm vợ, nửa đời sau cùng ta hiếu kính nương ta. Nương thấy chàng nói vậy cũng rất vui mừng, hôn sự này coi như đã định. Không lâu sau, ta tiễn chàng đi. Mùa đông năm đó, chàng từng quay lại thăm ta và nương, rất vui vẻ báo tin chàng đã qua kỳ thi Hương, sắp tới Lâm An tham gia thi Hội vào năm sau. Chàng còn hứa, đợi đỗ Tiến sĩ, nhất định tam môi lục sính lễ nghi đầy đủ, rước ta về dinh." Lệ Quý phi nghe Bùi Thượng thực kể, thỉnh thoảng lại than thở, nghe đến đây bỗng hỏi: "Chẳng lẽ lần này Thẩm Tham chính thi không đỗ? Nếu không ông ấy chắc sẽ không nuốt lời." Bùi Thượng thực lắc đầu: "Sau khi thi Hội yết bảng, chúng ta đợi mãi đợi hoài, chẳng thấy ông ta trở lại. Sau đó tìm được bảng vàng, mới phát hiện ông ta không có tên trên bảng. Nương nói, thế cũng chẳng sao, vẫn bằng lòng gả ta cho ông ta, sau này ông ta không làm quan, hai vợ chồng chí thú làm ăn quản lý tiệm bánh cũng tốt. Nhưng ông ta mãi không xuất hiện, nương lại đợi thêm mấy tháng, cuối cùng không nhịn được nhờ người đến Minh Châu theo địa chỉ ông ta đưa để tìm, nhưng người đi nhà trống, hàng xóm láng giềng đều không biết nương con ông ta dọn đi đâu. Thấy tình cảnh này, biểu ca ta và những người khác không tránh khỏi lại nói ra nói vào, ví như Thẩm Hãn cố tình không về, ban đầu chính là đến lừa tiền lừa sắc, nay bỏ lại ta ôm tiền lớn cao chạy xa bay, đương nhiên trốn được bao xa thì trốn bấy xa. Nương ta trước sau vẫn tin tưởng nhân phẩm của ông ta, cho rằng ông ta nhất định vẫn đang ẩn cư ở đâu đó, đợi sau này đỗ Tiến sĩ mới quay lại cưới ta. Ta cũng nghĩ như vậy, ngặt nỗi người ở quê nghi ngờ ông ta lừa gạt tình cảm rồi bỏ rơi ta ngày càng nhiều, mỗi lần ta ra đường đều có người chỉ trỏ sau lưng, những ngày tháng ấy cực kỳ khó sống. Cứ thế trôi qua hết năm này đến năm khác, ta không muốn gả cho người khác, mà người đến cầu thân cũng chỉ còn toàn hạng góa vợ cô độc. Sau này trong cung tuyển chọn nội nhân từ dân gian, ta nghĩ thay vì ở lại Việt Châu chịu người đời cười chê, chi bằng đi ứng tuyển, nếu đến Lâm An làm nội nhân, thì giả như ông ta trúng Tiến sĩ, trở thành sĩ đại phu, ắt sẽ có ngày gặp lại." "Tình cảnh này, quả nhiên rất giống Vân Oanh Ca." Lệ Quý phi cảm thán, "Có điều ta vẫn thấy người quân t.ử như Thẩm Tham chính khác một trời một vực với kẻ bạc tình như Phó Tuấn Dịch, cho dù không quay lại đúng hẹn, chắc hẳn cũng có nỗi khổ tâm." Bùi Thượng thực không đáp trực tiếp, im lặng giây lát, mới tiếp tục nói: "Ta nhập cung làm nội nhân Thượng Thực cục, theo Thượng thực Lưu nương t.ử khi đó được Tiên đế tin tưởng nhất học trù nghệ, sau này có cơ hội hầu hạ Tiên đế, quả nhiên gặp được Thẩm Hãn. Lần xướng danh Tiến sĩ năm đó, ta đứng từ xa nhìn, ông ta đỗ cao Nhất giáp. Sau đó Tiên đế đặc biệt coi trọng ông ta, ông ta một bước lên mây, thăng quan tiến chức vùn vụt, chẳng bao lâu đã về Lâm An làm kinh quan. Ta cũng nhiều lần chạm mặt ông ta, có khi trong cung, có khi là lúc ta xuất cung mua thức ăn phố xá cho Tiên đế. Một lần ở ngoài cung, cuối cùng ta cũng có thể ở riêng với ông ta, hỏi ông ta nguyên do không quay lại tìm ta, ông ta nói năm xưa quả thực vì thi trượt, không còn mặt mũi nào gặp ta và nương, lại bị cường hào phú hộ địa phương ức hp, mới đưa nương dọn nhà, tránh về quê dốc lòng đọc sách. Sau này đỗ Tiến sĩ rồi, cũng từng về Việt Châu tìm ta, nhưng nghe tin ta đã nhập cung làm nội nhân... Chúng ta cảm thán thế sự vô thường, nhưng lại mừng vì trai chưa vợ gái chưa chồng, Quan gia khi đó đối đãi với chúng ta đều không tệ, biết đâu sẽ có ngày nguyện ý thành toàn cho chúng ta." Lệ Quý phi mỉm cười: "Nghĩ như thế không sai. Bồng Sơn tuy xa, nhưng giống như Tiểu Tống, gặp được Quan gia trọng tình trọng nghĩa, cũng có tiền lệ quan lại triều đình và nội nhân trong cung được toại nguyện mộng uyên ương." Bùi Thượng thực lại chẳng có vẻ gì vui mừng, nhàn nhạt kể tiếp chuyện về sau: "Ông ta cũng giống như Tiểu Tống, thăng lên Hàn Lâm Học sĩ, có cơ hội thỉnh thoảng trực đêm tại Hàn Uyển, chờ soạn thảo chiếu lệnh ban đêm. Có khi Tiên đế dù không cần soạn chiếu, cũng triệu ông ta đến tán gẫu. Mà khi đó ta thăng lên Tư thiện, người chịu trách nhiệm nếm thử ngự thiện cho Tiên đế cũng đổi từ Lưu Thượng thực sang ta. Chúng ta thấy tình thế rất tốt, bèn hẹn nhau lần sau Quan gia triệu ông ta vào đối đáp ban đêm, sẽ do ông ta mở lời, kể cho Quan gia nghe chuyện tình của chúng ta, khẩn cầu Quan gia tác thành. Cơ hội như vậy đến rất nhanh. Một hôm Thẩm Hãn trực đêm, Tiên đế triệu ông ta đến điện Phúc Ninh, định đưa ý tứ, bảo ông ta soạn chiếu thư công bố hôn sự của Trưởng công chúa. Trưởng công chúa là muội muội duy nhất của Tiên đế tại Lâm An, Tiên đế chọn lựa kỹ càng, cuối cùng tìm được cho cô ấy một phò mã ưng ý. Mắt thấy muội muội sắp xuất giá, trong lòng Tiên đế rất vui, đêm đó uống rất nhiều rượu, kết quả say bí tỉ. Tuy đã triệu Thẩm Hãn đến, nhưng lại cứ để ông ta đợi bên ngoài điện Phúc Ninh, đợi một mạch suốt cả đêm. Ta thấy Quan gia say quá, nôn mửa dữ dội, tiểu nội nhân hầu hạ trong điện còn trẻ, chưa thấy cảnh này bao giờ, sợ không dám lại gần, ta cũng không tiện tự ý rời đi, dọn dẹp đồ nôn mửa của ngài, lại lấy đá giải rượu cho ngài dùng, rồi hầu hạ ngài rửa mặt chải đầu... Ngài ngủ rồi cũng không yên tâm, cứ canh chừng bên ngoài màn, lúc nào cũng sẵn sàng bưng trà rót nước. Cho nên, gần như thức trắng đêm. Sáng hôm sau trời sắp rạng mới mơ màng ngủ thiếp đi, lúc Tiên đế khoác áo choàng lớn của ngài cho ta, ta mới giật mình tỉnh dậy. Ta vội quỳ xuống tạ tội, Tiên đế lại ôn tồn hỏi ta có phải đã canh ngài cả đêm không, bảo ta vất vả rồi, còn hỏi ta muốn ban thưởng gì, sẽ tạ ơn ta đàng hoàng. Ta rất muốn nói cho ngài biết chuyện của ta và Thẩm Hãn, nhưng rốt cuộc vẫn xấu hổ, lại nghĩ Thẩm Hãn sắp nói với ngài rồi, ta cũng không vội một chút này, bèn bảo chưa nghĩ ra, không nói gì cả. Đợi Tiên đế chỉnh trang xong xuôi, ta mới rời điện Phúc Ninh. Ra ngoài điện gặp Thẩm Hãn đã chờ đợi mòn mỏi cả đêm, thấy dung nhan ông ta khá tiều tụy, chắc hẳn ta cũng vậy. Nhưng nghĩ đến tâm nguyện sắp thành hiện thực, trong lòng vẫn rất vui sướng, bèn cười với ông ta một cái, cúi đầu đi lướt qua vai ông ta. Không ngờ, cái lướt qua ấy, duyên phận đời này đã tận." "Thẩm Tham chính sau đó không hề đề cập với Tiên đế chuyện muốn cưới bà?" Lệ Quý phi lờ mờ đoán được sự tình, không kìm được thở dài trong lòng. "Không có." Bùi Thượng thực buồn bã nói, "Sau này ta nghe nói, Tiên đế cũng không bắt ông ta soạn chiếu thư nữa, bảo ông ta vất vả đợi cả đêm, không nỡ phiền lụy ông ta nữa, bảo ông ta về nhà nghỉ ngơi sớm, chiếu thư để Hàn Lâm Học sĩ trực ca sau soạn. Mà Thẩm Hãn cũng chẳng nói gì, lẳng lặng nhận đồ ban thưởng của Tiên đế rồi cáo lui... Ta cứ tưởng ông ta muốn chọn cơ hội tốt hơn để nói, nào ngờ đâu, không lâu sau, nghe được 'tin vui' ông ta cưới con gái ân sư..." Lệ Quý phi không biết lúc này nên nói gì cho phải, cũng chỉ đành cau mày, lặng lẽ lắc đầu. Bùi Thượng thực cười bi thương: "Trước khi cưới ông ta gửi một khoản tiền cho nương ta vẫn đang ở quê nhà, rất nhiều, gấp mấy lần số tiền nương ta cho ông ta năm xưa, đồng thời báo tin ông ta sắp kết hôn, cũng chẳng nói xin lỗi ta, chỉ bảo 'cùng lệnh ái kiếp này duyên mỏng, mong đừng nhớ mong'... Nương ta bao năm qua luôn tin tưởng nhân phẩm ông ta, trước mặt những người nghi ngờ ông ta luôn ra sức bảo vệ, lại chẳng ngờ đợi được một kết cục như vậy, một nỗi u uất kết lại trong lòng, từ đó đổ bệnh, vài tháng sau thì buông tay trần thế, bỏ ta mà đi." Chương 75 - Trường Tương Tư Lệ Quý phi sau đó đem chuyện cũ của Bùi Thượng thực thuật lại cho Quan gia. Lúc ấy Chân Chân đang hầu bên cạnh Hoàng đế, Quý phi cũng không bảo nàng tránh mặt, ngầm cho phép nàng trở thành một người biết chuyện. Hoàng đế nhớ đến câu "Thẩm Tham chính nếu có mệnh hệ nào, nguyện lấy cái c.h.ế.t tạ tội" của Bùi Thượng thực, bèn cảm thán: "Lời này của Thượng thực tuy nói là tạ tội, nhưng ta lại nghe ra vài phần ý nguyện sống c.h.ế.t có nhau. Bà ấy vì Thẩm Hãn mà cô độc cả đời, cố nhiên là do tạo hóa trêu ngươi, nhưng cũng có thể thấy năm xưa bà ấy dùng tình sâu đậm nhường nào. Sau này mãi không buông bỏ được, tuy oán hận không thôi, nhưng trong lòng trước sau vẫn có Thẩm lang, mới chưa từng xin Tiên đế hay ta cho xuất cung gả chồng. Mối tình này đã đứt đoạn khó nối lại, nhưng oán khí giữa họ có lẽ có thể tìm cách hóa giải. Dù sao cũng từng là người cũ của nhau, nay tóc đều đã điểm sương, khúc mắc này, cũng đến lúc nên buông bỏ rồi." Lệ Quý phi nghiêng mình đáp: "Quan gia nói rất phải. Thiếp cũng cảm thấy, sự việc đến nước này, nói không chừng trong lòng họ đều có ý muốn xóa bỏ hiểu lầm năm xưa, chỉ là sĩ diện không bỏ xuống được, luôn cần có người bên cạnh dẫn dắt, trợ lực đôi chút." Hoàng đế trầm ngâm, sau đó cùng Lệ Quý phi nghĩ ra một cách, nói với Chân Chân, bảo nàng dẫn dắt Bùi Thượng thực hoàn thành. Thiên t.ử có truyền thống lấy băng trong hầm băng Đại nội ban cho các quan lại để giải nhiệt vào mùa hè. Bây giờ đang là tháng Tư, thời tiết dần trở nên nóng bức, Hoàng đế truyền lệnh ban băng cho Thẩm Hãn, đồng thời sai Bùi Thượng thực đích thân làm một món điểm tâm, để Chân Chân mang theo, cùng với băng đưa đến phủ họ Thẩm. Bùi Thượng thực tuy hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn lĩnh mệnh, một mình ở trong bếp làm một món tráng miệng. Chân Chân chủ động xin giúp một tay, bà không đồng ý, nhưng cũng không đuổi Chân Chân đi, để mặc nàng đứng xem cách mình làm. Một muỗng mỡ heo đông đặc được cho vào chiếc chảo nhỏ đã đun nóng để tan chảy, Bùi Thượng thực sau đó rây một lượng bột mì đã rang chín từ trước vào chảo, thong thả khuấy đều, để mỡ và bột rang hòa quyện thành hỗn hợp không lỏng không đặc, rồi nhấc khỏi bếp, rắc đường trắng vào trộn đều. Tiếp đó lấy khối bột ra, đặt lên thớt cán mỏng, dùng d.a.o cắt thành những khối hình thoi giống như mắt voi, cuối cùng lấy đường bột từ một chiếc hũ lưu ly, rắc đều lên trên những miếng bánh. Hũ gia vị của Bùi Thượng thực khác hẳn mọi người, là đồ lưu ly ngự ban, trong suốt sáng long lanh, có thể nhìn thấu đồ vật bên trong chỉ bằng một ánh mắt. Mấy chiếc hũ lưu ly xếp ngay ngắn trên tủ bếp, ánh sáng lung linh rực rỡ, trông vừa tinh khiết vừa cao sang. Bà cũng giống như Lâm Hoằng, sắp xếp các loại gia vị theo một trật tự nghiêm ngặt, muốn dùng thứ gì chẳng cần ngước mắt, chỉ đưa tay ra là có thể lấy chính xác. Chân Chân đứng xem mà thầm cảm thán, Bùi Thượng thực đã làm xong món tráng miệng này. Đợi cho bớt nóng, bà tự mình gắp một miếng nếm thử, cảm nhận sự tan chảy của miếng bánh trắng như tuyết giữa hai hàm răng ngọc. Xem chừng độ giòn xốp đúng như bà dự liệu, trong lúc nhai, khóe môi bà thoáng nở một nụ cười, ánh mắt cũng dịu dàng đến lạ, khiến Chân Chân nhớ lại vẻ mặt của nương ngày xưa khi nếm thử độ nóng lạnh của thức ăn cho nàng và cảm thấy vừa ý. Bùi Thượng thực chợt nhớ ra sự hiện diện của Chân Chân, liền ra hiệu cho nàng: "Ngươi cũng nếm thử đi." Chân Chân thấy số bánh cắt ra dường như không nhiều lắm, bèn cảm tạ Bùi Thượng thực rồi xua tay từ chối. Bùi Thượng thực cũng không miễn cưỡng, cùng Chân Chân xếp những miếng bánh đã làm xong vào chiếc hộp đựng thức ăn do Quan gia ban tặng. Theo lệ thường trong cung, thực phẩm ban cho quan lại thường sẽ kèm theo vài câu thơ chúc tụng viết trên giấy hoa tiên rắc vàng. Chân Chân hỏi ý kiến Bùi Thượng thực về nội dung lần này, nói Quan gia mong Bùi Thượng thực định đoạt câu thơ, Bùi Thượng thực lại im lặng, lát sau nói: "Ngươi giúp ta nghĩ đi." Chân Chân cười nói: "Thơ từ thần nhớ được tính ra chẳng có mấy bài..." Tuy nói vậy, nàng vẫn chuẩn bị suy nghĩ, bèn hỏi Bùi Thượng thực tên món tráng miệng này. Bùi Thượng thực đáp: "Tuyết Hoa Tô (Bánh xốp hoa tuyết)." "Tuyết Hoa Tô..." Chân Chân ngẫm nghĩ, nên tìm hai câu thơ liên quan đến hoa tuyết. Thơ từ nàng nhớ trong đời, nhiều nhất là của Tô Thức, trước tiên là học thuộc những bài liên quan đến ăn uống, sau đó tiện thể nhớ thêm không ít nội dung khác. Lúc này lẩm nhẩm cái tên Tuyết Hoa Tô, quả nhiên nhớ ra hai câu, lập tức buột miệng: "Năm ngoái tiễn đưa, ngoài cửa Dư Hàng, tuyết bay tựa hoa dương. Năm nay xuân hết, hoa dương tựa tuyết, vẫn chưa thấy về nhà." Bùi Thượng thực nghe vậy cau mày nhìn nàng, không hẳn là giận dữ, chỉ là trông có vẻ ngạc nhiên. Chân Chân chợt nhớ tới chuyện năm xưa Thượng thực tiễn Thẩm Hãn đi thi Hội, bỗng nhận ra bài từ này e là quá hợp cảnh, sợ rằng sẽ khơi gợi nỗi đau của Bùi Thượng thực, bèn cúi đầu, ngượng ngập nói: "Không ổn, không ổn, hai câu này chẳng giống lời chúc tốt lành gì. Vẫn mong Thượng thực nương t.ử tự mình định đoạt." Bùi Thượng thực mặt không cảm xúc quay đầu nhìn ra ngoài cửa: "Ngươi đi hỏi ý Quan gia đi." Ngờ đâu Quan gia lại thấy bài thơ này rất hay, cười khen Chân Chân thông minh, tự tay viết hai câu này lên giấy hoa tiên, bảo Chân Chân đính kèm trên hộp Tuyết Hoa Tô gửi cho Thẩm Hãn. Khi Chân Chân mang Tuyết Hoa Tô cùng với đá lạnh đến phủ họ Thẩm, Thẩm Hãn mang bệnh ra cửa nghênh đón, quỳ lạy tạ ơn, vẫn giữ dáng vẻ đoan trang, trang trọng nghiêm túc như thường ngày. Chân Chân lấy hộp Tuyết Hoa Tô ra, cùng với tờ giấy hoa tiên rắc vàng dâng lên Thẩm Hãn, dặn dò: "Hộp Tuyết Hoa Tô này là do Quan gia lệnh cho Bùi Thượng thực làm. Bùi Thượng thực dốc lòng chế biến, từng công đoạn đều do bà ấy đích thân hoàn thành, hương vị khác biệt, Quan gia đặc biệt vì món này mà đích thân đề thơ, còn mong Thẩm Tham chính từ từ thưởng thức." Thẩm Hãn vái dài tạ ơn lần nữa rồi mới nhận lấy Tuyết Hoa Tô. Mở tờ giấy hoa tiên ra xem, đúng như Chân Chân dự đoán, phong thái ung dung không chê vào đâu được của ông ta trong nháy mắt xuất hiện vết nứt, bàn tay cầm giấy khẽ run rẩy, những con sóng trào dâng nơi đáy mắt khó lòng kìm nén, bắt đầu cuộn trào dưới sự quan sát của Chân Chân. Hai ngày sau, Chân Chân lại tuân mệnh Hoàng đế đến Đãi Lậu Viện nghe ý kiến của các quan về điểm tâm sáng. Ngoài dự liệu, lần này người đầu tiên bước vào sảnh vẫn là Thẩm Hãn, hơn nữa còn đến sớm hơn lần trước rất nhiều, lúc này trong ngoài Đãi Lậu Viện chỉ có mình ông ta là đại thần. Chân Chân bước tới hành lễ, hỏi: "Tham chính dường như mới vừa khỏi bệnh, sao không tịnh dưỡng thêm ít ngày hãy đi chầu?" Thẩm Hãn không đáp, nhưng cũng không kiêu ngạo như mọi khi, vái dài đáp lễ nàng, lặng lẽ đứng đối diện nàng giây lát, như cân nhắc hồi lâu, mới lấy ra một hộp thức ăn nhỏ, không nói lời nào đưa cho Chân Chân. Chân Chân nhận lấy mở ra xem, phát hiện là một miếng Tuyết Hoa Tô, bèn ngạc nhiên hỏi Thẩm Hãn: "Đây là Tuyết Hoa Tô của Bùi Thượng thực? Thẩm Tham chính có gì chỉ giáo?" Thẩm Hãn gật đầu, ôn tồn nói: "Mời Ngô Chưởng thiện nếm thử trước, lát nữa hãy nói." Khi những vụn bánh xốp tựa hoa tuyết ấy rơi trên đầu lưỡi Chân Chân, khiến nàng nếm ra mùi vị bên trong, nàng trong khoảnh khắc đã hiểu tại sao Thẩm Hãn lại có thái độ này. Miếng Tuyết Hoa Tô ấy lại là mặn, mặn đến mức phi thường, khiến người ta vừa nếm đã muốn nhổ ra. Trừ bỏ lớp đường bột phủ bên ngoài, bên trong không có lấy một chút vị ngọt của đường trắng. Nàng lấy khăn tay nhổ miếng bánh trong miệng ra gói lại, trong lòng có chút hoang mang, cũng thấy bất an, bèn thi lễ với Thẩm Hãn lần nữa: "Tham chính..." Thẩm Hãn đưa tay đỡ hờ, mời nàng ngồi xuống đối diện mình, rồi hỏi: "Món Tuyết Hoa Tô này, từ đầu đến cuối đều do Bùi Thượng thực đích thân làm sao?" Chân Chân xác nhận, nói: "Là do ta tận mắt nhìn Thượng thực làm." Thẩm Hãn thở dài: "Tuy bà ấy xưa nay không ưa ta, nhưng theo sự hiểu biết của ta về bà ấy, nếu bà ấy có gì bất mãn, tự sẽ thẳng thắn nói ra, chứ không cố ý mượn chuyện ăn uống để làm khó ta." "Thượng thực đương nhiên sẽ không cố ý." Chân Chân nhớ lại ánh mắt dịu dàng của Bùi Thượng thực khi nếm bánh, lập tức khẳng định chắc nịch. Nhớ lại quá trình chế biến, Chân Chân rất nghi ngờ bà ấy lúc đó đã dùng nhầm một loại muối biển có hạt to tương tự đường trắng, bèn nói với Thẩm Hãn: "Hũ lưu ly đựng gia vị trong bếp của Thượng thực đều giống nhau, trong đó có một hũ muối biển, màu sắc và hạt nhìn rất giống đường trắng. Dù có chút khác biệt, nhưng Thượng thực làm dưới ánh nến ban đêm, nên có lẽ bà ấy không nhận ra. Đây là lỗi vô tâm, mong Thẩm Tham chính lượng thứ, đừng bẩm báo với Quan gia." "Vậy sau khi làm xong, bà ấy có tự mình nếm thử không?" Thẩm Hãn không giống như có ý trách tội, mà như đang từng bước tìm kiếm sự thật. Chân Chân sững sờ. Bùi Thượng thực đương nhiên đã nếm thử, còn bình thản mỉm cười tỏ vẻ khẳng định, chứng tỏ bà ấy không hề phát hiện ra mùi vị bất thường. Mà vị mặn trong Tuyết Hoa Tô này đến từ muối biển hạt to, vị cực đậm, dùng lượng muối này thay cho lượng đường trắng, người thường nếm một cái là nhận ra ngay vị mặn chát khó nuốt này, huống hồ là Thượng thực - người lý ra phải có vị giác nhạy bén hơn người. "Haizz, theo thói quen của bà ấy, làm đồ ăn cho người khác, bà ấy không thể nào không nếm thử độ mặn nhạt trước." Không đợi Chân Chân trả lời, Thẩm Hãn tự nói tiếp, "Cho nên, vị giác của bà ấy..." Bà ấy đã mất đi vị giác. Đây gần như là đáp án duy nhất. Gần đây tiểu hoàng môn giúp bà ấy dọn dẹp nhà bếp đã đổi người mới, có lẽ khi lấy hũ gia vị xuống lau tủ đã không để ý vị trí ban đầu của các hũ lưu ly, lau xong lại đặt nhầm hũ muối với hũ đường, không trả về chỗ cũ, mới xảy ra chuyện này. Nhiều chuyện trước đây chưa kịp suy nghĩ kỹ, nội tình bỗng chốc trở nên rõ ràng: Tại sao Bùi Thượng thực chỉ đạo nội nhân nấu ăn, chỉ nhìn quy trình chứ không đích thân nếm thử; tại sao Quan gia những năm gần đây lại thiên vị món ăn do Liễu Tiệp dư làm; tại sao Quan gia phải chọn một nội nhân trẻ tuổi hỗ trợ Bùi Thượng thực cai quản việc nếm thử ngự thiện; tại sao Bùi Thượng thực nói mình lớn tuổi rồi, nhiều món không ăn được, ngự thiện đều để Chân Chân nếm... Chân Chân chỉ thấy trong lòng chua xót vô cùng. Là người sống bằng nghề làm nấu ăn, nếm món ngon mà lại mất đi vị giác, bà ấy phải cẩn trọng giữ gìn bí mật này, lưỡi không còn tác dụng, bà ấy đành dựa vào mắt và kinh nghiệm tích lũy bao năm, thông qua việc toàn tâm quan sát quá trình nấu nướng để phán đoán hương vị món ăn... "Đừng bẩm báo chuyện này với Quan gia, cũng đừng nói cho bất kỳ ai biết." Thẩm Hãn nhận thấy ánh lệ nơi khóe mắt nàng, bắt đầu dùng giọng điệu tâm tình khẩn cầu Chân Chân giữ bí mật cho Bùi Thượng thực, "Bùi Thượng thực cả đời không chồng, nay không cha nương con cái, ngoài chức vị trong cung này ra, có thể nói là chẳng còn gì cả. Nếu bị người ta phát hiện bà ấy vị giác không còn nhạy bén, nhẹ thì ép bà ấy từ chức, nặng thì đuổi khỏi cung, mà ra khỏi cung, bà ấy đã không còn nhà để về... Ngô Chưởng thiện là người do Bùi Thượng thực một tay đề bạt, chắc hẳn sẽ thông cảm cho nỗi khó khăn của bà ấy, sau này cũng xin gánh vác giúp nhiều hơn, nếu có ai yêu cầu bà ấy nếm ngự thiện, còn mong Chưởng thiện đứng ra xoay xở, giúp bà ấy hóa giải." Nói đến đây, ông đứng dậy, hướng về phía Chân Chân, đặc biệt trịnh trọng cúi người vái chào. Chân Chân vội đứng dậy đáp lễ, bỗng nhận ra, lời gửi gắm lúc này chính là lý do Thẩm Hãn mang bệnh đến Đãi Lậu Viện. Bất luận trước đây có chướng mắt Chân Chân thế nào, vì muốn xin nàng che giấu cho Bùi Thượng thực, ông ta đều sẵn lòng hạ mình, mở lời cầu xin. "Tham chính xin hãy yên tâm, ta nhất định sẽ giữ kín như bưng, không nhắc đến chuyện này với bất kỳ ai." Chân Chân cũng trịnh trọng hứa hẹn. Mắt Thẩm Hãn ánh lên nét vui mừng, liên tục nói cảm tạ. Thái độ quan tâm đặc biệt này của ông đối với Bùi Thượng thực lại khiến Chân Chân có chút nghi hoặc: Thẩm Tham chính xem ra là người trọng tình trọng nghĩa, dường như không giống kẻ bạc tình trong ký ức của Bùi Thượng thực. Suy đi tính lại mấy lần, cuối cùng nàng không kìm được mở miệng hỏi ông: "Thẩm Tham chính đã quan tâm Bùi Thượng thực đến thế, năm xưa cớ sao lại bỏ rơi bà ấy, cưới người khác?" Thẩm Hãn sững sờ, hỏi ngược lại: "Bà ấy kể với cô chuyện cũ của chúng ta sao?" Chân Chân đáp: "Là nghe Lệ Quý phi thuật lại... Vài câu ngắn ngủi, có lẽ nghe cũng không được thật rõ ràng." Thẩm Hãn nghẹn lời, hồi lâu sau mới cười buồn bã: "Ta nào có bỏ rơi bà ấy, là bà ấy chọn Tiên đế trước, ta mới thành thân với phu nhân hiện tại." Dù bao năm qua luôn bị Bùi Thượng thực đối mặt lạnh lùng, ông vẫn nhớ sâu sắc dáng vẻ thiếu nữ hoạt bát kiều diễm của bà năm xưa, đặc biệt là nụ cười nhẹ nhàng cái nhíu mày khẽ khàng hôm bà tiễn ông về quê đi thi Hương. Tiết trời khi ấy ý thu dần đậm, rừng cây rậm rạp trên núi đôi bờ chuyển từ xanh sang vàng rồi sang đỏ, nhuộm nên những sắc màu đậm nhạt tựa gấm vóc. Ông và bà kẻ đầu người cuối cùng đi trên một con thuyền lá tre, bà cầm sào dài, đích thân chèo thuyền tiễn ông một đoạn. Bà tuy không nỡ, nhưng vẫn cố nén bi thương, vừa chống sào, vừa cố gắng tìm những chủ đề vui vẻ, thỉnh thoảng để tiếng cười nói trong trẻo của mình lan vào làn nước biếc sóng xanh trên sông. Ông thương bà chèo thuyền vất vả, định đứng dậy đổi bà vào nghỉ ngơi, không ngờ vừa đứng lên bước một bước, thuyền mất thăng bằng, bắt đầu chòng chành dữ dội. Ông hai tay dang rộng, không tự chủ được chao đảo lên xuống theo con thuyền, sợ đến mặt cắt không còn giọt máu. Bà ngược lại chẳng hề sợ hãi, lấy cây sào dài điểm nhẹ vào n.g.ự.c ông bắt ông ngồi lại mũi thuyền, cười nói: "Chàng cứ ngồi yên đó đi, đừng có làm loạn thêm." Ông ngượng ngùng nói: "Ta ngồi không chẳng làm gì, lại để một cô nương như nàng chèo thuyền, thật sự rất áy náy." Bà bèn bảo: "Vậy chàng hát một khúc cho thiếp nghe đi." Ông đồng ý, nhìn núi non hai bên bờ, cất cao giọng hát: "Núi Ngô xanh, núi Việt xanh, đôi bờ núi biếc đón đưa mình, nỡ nào chia mối tình." Hát xong nửa bài,nhớ tới nửa sau có câu "Dải lụa đồng tâm kết chưa thành, bên sông triều đã bình", cảm thấy điềm không lành, ông bèn không hát tiếp nữa. Bà ngạc nhiên hỏi: "Sao không hát hết?" "Nửa sau quên rồi." Ông mỉm cười, ngắm nhìn gương mặt tươi cười rạng rỡ của bà giữa non xanh nước biếc, khoảnh khắc này chỉ cảm thấy công danh lợi lộc đều có thể vứt bỏ, chỉ mong thời gian dừng lại ở đây, để ông và bà cứ thế chèo thuyền trên sông hồ, nhìn nhau mãi không chán mà đi hết quãng đời còn lại. "Vậy chàng hát bài khác cho thiếp nghe đi." Bà tiếp tục yêu cầu. "Nàng muốn nghe bài gì?" "Hát bài nào liên quan đến tên thiếp đi." Liên quan đến tên bà? Cũng không phải không có, nhưng... Ông do dự, dưới sự thúc giục của bà mới bắt đầu hát: "Ngậm ngùi ngóng kiếp phù sinh vội, lạnh lẽo đàn tranh tiếng vọng thừa. Khách Sở đa tình hờn nỗi biệt, non xanh nước biếc bước chân thưa. Đưa mắt chân trời cỏ úa, đêm tàn mấy chỗ tiếng chày thưa..." Ông vẫn không hát hết, bởi vì nửa sau bài này càng không may mắn, chỗ nào cũng ẩn chứa nỗi biệt ly. Khi ấy ông một lòng muốn cưới Bảo Sắt, cảm thấy bà phẩm hạnh dung đức không chê vào đâu được, hai người lại tâm đầu ý hợp, là người vợ hiền hợp với mọi dự tính của ông, ông nhất định phải đỗ đạt công danh trở về rước bà nở mày nở mặt về nhà, cho nên từ chối nghĩ đến bất kỳ chuyện gì liên quan đến chia ly. Chỉ tiếc thay giờ nhìn lại, khúc "Trường Tương Tư" và "Hà Mãn Tử" ông hát trên sông nước biếc xanh ngày ấy lại trở thành lời sấm truyền cho cuộc đời của ông và bà. Chương 76 - Gió Sương Đứng Giữa Đêm Thâu Lần thi Cống cử đầu tiên thất bại, Thẩm Hãn tự ti mặc cảm, không dám về Việt Châu cầu hôn Bảo Sắt. Mặc dù Bảo Sắt và nương bà trước đó đã tỏ ý bất luận kết quả thế nào cũng sẽ không chê bai ông, nếu không đỗ đạt công danh, cũng có thể về tiếp quản cửa tiệm, nhưng ông mài dùi kinh sử bao năm, tự nhiên không cam lòng nửa đời sau vứt bỏ sách vở, lăn lộn trong chốn chợ búa con buôn. Mỗi lần nhớ đến Bảo Sắt, trong lòng đều là dáng vẻ cười nói xinh đẹp của bà, luôn thầm thề ngày sau sẽ cho bà mũ phượng khăn quàng (trang phục mệnh phụ) để tôn lên dung nhan kiều diễm ấy, sao nỡ để tuổi thanh xuân tươi đẹp của bà tiếp tục bị khói lửa bụi trần mài mòn? Thế là ông quyết tâm xốc lại tinh thần, chuẩn bị cho kỳ Cống cử lần sau, nhất định phải đỗ cao Tiến sĩ mới có mặt mũi về thành hôn với Bảo Sắt. Cũng vì thi trượt, bị cường hào ở địa phương mỉa mai ức h**p, biết người nhà họ Bùi lâu không thấy mình về ắt sẽ đến Minh Châu tìm, sợ họ bị mình liên lụy, nên ông đưa nương dọn nhà về quê, vừa tạm tránh người ta tìm kiếm, cũng có thể tĩnh tâm đọc sách. Treo tóc lên xà, lấy dùi đ.â.m vào đùi mà khổ học mấy năm, cuối cùng cũng được như ý nguyện ghi tên bảng vàng, ông hớn hở trở về Việt Châu gặp Bảo Sắt, lại nhận được tin bà đã vào cung làm nội nhân... Nhưng ông vẫn nuôi hy vọng, nỗ lực cầu tiến, tranh thủ sớm ngày đến Lâm An làm quan, tìm kiếm cơ hội gặp bà. Vẫn luôn tin rằng, Bồng Sơn tuy xa, chỉ cần tâm ý đôi bên chưa đổi, sẽ có ngày tương phùng. Quả nhiên như ông dự liệu, ở Lâm An họ lần lượt gặp nhau nhiều lần, cũng biết đối phương son sắt không đổi, bèn hẹn nhau tìm cơ hội tốt bày tỏ với Quan gia, cầu ngài tác thành. Cuối cùng có một đêm ông trực ở Hàn Uyển, nội thị truyền ý chỉ của Quan gia, lệnh ông vào đối đáp tại điện Phúc Ninh. Đây là cơ hội ông mòn mỏi chờ đợi đã lâu, đêm khuya thanh vắng, vua tôi đối mặt bàn xong việc công, biết đâu ngài sẽ có hứng thú nghe câu chuyện của ông và Bảo Sắt. Nhưng đến trước điện Phúc Ninh, lại thấy một tiểu nội nhân trong điện vội vã đi ra, quay người đóng cửa lại, dáng vẻ có chút hoảng hốt. Ông bước tới thi lễ, cầu kiến Quan gia, tiểu nội nhân đáp lễ, nói Quan gia vẫn đang uống rượu, mời Thẩm Nội hàn chờ một lát, rồi rảo bước rời đi. Lần chờ đợi này kéo dài rất lâu. Ông một mình đi đi lại lại trong đêm dài gió lạnh tiêu điều, thấy trong điện Phúc Ninh bóng nến lung lay, thi thoảng có bóng dáng trâm cài vòng ngọc của nữ t.ử lướt qua khung cửa sổ, mà cánh cửa kia vẫn đóng chặt không mở. Ông nhờ nội thị hầu hạ bên ngoài điện vào trong xin chỉ thị Quan gia xem có thể ban đối hay không, nội thị nghe lời đi vào, một lát sau trở ra, cũng giống như tiểu nội nhân kia không quên đóng cửa, rồi vái ông một cái nói: "Quan gia có chút say, nội nhân trong điện vẫn đang hầu hạ. Lát nữa nội nhân lo liệu ổn thỏa, tự sẽ mời Nội hàn vào." Ông nhớ đến cái bóng nữ t.ử có chút quen mắt trên khung cửa sổ, vài tia nghi hoặc dâng lên trong lòng, tựa như cành ngô đồng trơ trụi lá trong sân, những nhánh cây khẳng khiu in bóng đen trên mặt đất đang sinh sôi nảy nở dưới ánh trăng. "Trung quý nhân có thể cho biết, nội nhân hầu hạ trong điện là..." Ông cuối cùng không nhịn được hỏi, trong giọng nói cố tỏ ra bình tĩnh vẫn không tránh khỏi một chút run rẩy. "Tư thiện Bùi thị." Nội thị đáp. Nhận được cái đáp án đã đoán được nhưng chẳng hề mong muốn này, ông không khỏi sững sờ. Một khoảng thời gian khá dài không thấy ông phản ứng, nội thị cung kính thi lễ thêm lần nữa, rồi lui ra ngoài cửa điện tiếp tục canh giữ. Ông lặng lẽ đứng giữa sân trong đêm thâu, trong lòng như có hai bản thân đang đối thoại: "Nếu hầu hạ Quan gia say rượu, hai nội nhân chẳng phải tốt hơn sao? Cớ gì tiểu nội nhân rời đi, lại chỉ để mình Bảo Sắt ở trong?" "Có lẽ tiểu nội nhân làm việc không hợp ý thánh thượng, Quan gia không cho cô ta hầu hạ?" "Vậy tại sao cô ta đi vội vã, thần sắc hoảng hốt, còn không quên đóng cửa? Mỗi lần học sĩ trực ban vào đối đáp, cửa điện đều mở toang mà." "... Đêm nay đêm lạnh gió gấp, đóng cửa thì có làm sao?" Bỗng nhiên, ông có chút khinh bỉ chính mình lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử: Quan gia cần chính, không ham thanh sắc, lẽ nào có chuyện triệu mình đến rồi bỏ mặc ngoài cửa, để vui vầy hoan lạc với nội nhân? Huống hồ Bảo Sắt tình sâu nghĩa nặng với mình, sao có thể cam tâm nhận thánh ân? Nghĩ thông suốt điểm này, ông lập tức phấn chấn tinh thần, rảo bước nhanh trong sân, chắp tay hà hơi sưởi ấm, đôi mày nhíu chặt cũng dần giãn ra. Nội thị canh cửa nghe thấy tiếng động, ngoái nhìn ông, ôn tồn nói: "Nội hàn nếu thấy lạnh, chi bằng tạm về Hàn Uyển, mặc thêm cái áo rồi hãy quay lại." Ông lắc đầu: "Không cần, Quan gia chắc sẽ sớm triệu ta vào đối đáp, ta vạn lần không thể rời đi." Thế nhưng đợi mãi đợi mãi, cửa điện trước sau vẫn không mở. Khi ông phát hiện nến trong điện không biết bị ai thổi tắt, trong khoảnh khắc như rơi xuống vực sâu, cảm thấy chút hy vọng mình cẩn thận duy trì cũng như ánh nến kia lặng lẽ bị dập tắt. "Có lẽ, chỉ là Quan gia say rượu, Bảo Sắt để ngài an nghỉ rồi..." Ông tự giải thích với mình. Một ông khác lạnh lùng phản bác: "Nếu như vậy, Bảo Sắt lại không ra giải thích với ngươi một tiếng sao?" "Có lẽ, Bảo Sắt hầu hạ Quan gia bên ngoài màn, không được tự ý rời đi..." "Chức trách của Bảo Sắt chỉ là hầu hạ Quan gia ăn uống, sinh hoạt ban đêm, tự có nội nhân chuyên trách, nàng không có lý do gì ở lại trong tẩm điện của Quan gia." Như bị băng nhọn đ.â.m vào tim, vừa đau vừa lạnh. Ông dừng bước chân đang đi lại, đứng cứng đờ nhìn chằm chằm vào ô cửa sổ đã không còn ánh sáng hắt ra. "Thẩm Nội hàn, Quan gia dường như đã nghỉ rồi, hay là Nội hàn về trước đi, nếu Quan gia tỉnh dậy, ta sẽ đến Hàn Uyển truyền gọi?" Nội thị thấy thần sắc ông khác thường, dè dặt hỏi. Ông bỏ ngoài tai, không trả lời. Nội thị hỏi lại lần nữa, thấy ông im lặng không nói, cũng không nói thêm gì nữa, để mặc ông tiếp tục đứng trong sương gió. Ông nín thở, tập trung lắng nghe âm thanh trong điện. Ông nghe thấy gió đêm lay động rèm châu dưới hành lang, nghe thấy lá rụng lăn qua thềm ngọc trước điện, nghe thấy tiếng đồng hồ nuớc nhỏ giọt văng vẳng từ xa, thậm chí nghe thấy tiếng giọt sương từ ngọn cỏ nhỏ mọc trong khe gạch dưới chân trượt khỏi gân lá, nhưng không nghe thấy bất kỳ động tĩnh nào truyền ra từ trong điện. Nàng sẽ không nguyện ý đâu, ông cảm thấy nàng sẽ lên tiếng cự tuyệt, hoặc là tủi thân mà khóc. Nhưng mà không có, cái gì cũng không có. "Nàng một nữ t.ử yếu đuối, đối mặt với đế vương cửu ngũ chí tôn, lại có thể làm gì?" Ông lại tự khai giải cho mình, "Bất luận xảy ra chuyện gì, dù không phải nàng tình nguyện, nàng cũng chỉ có thể lặng lẽ chấp nhận. Tạo hóa trêu ngươi, không phải lỗi của nàng, không phải lỗi của nàng..." Ông bắt đầu nghĩ lần sau gặp nàng sẽ an ủi nàng, một lần nữa bày tỏ tấm lòng, hay là ngậm miệng không nhắc tới, giả vờ như hoàn toàn không hay biết. Khổ nỗi trong lòng m.á.u chảy thành sông, khó nén từng đợt đau đớn trào dâng, ông run rẩy đi đến trước bậc thềm ngoài cửa điện, quay lưng về phía cửa, chán nản ngồi xuống. Ông ép buộc bản thân không nghĩ đến những chuyện liên quan nữa, ngước mắt nhìn về phía trước, cố gắng mượn việc đếm lá ngô đồng rơi để di dời sự chú ý. Một chiếc, hai chiếc, ba chiếc... sáu mươi chín, chín mươi, chín mươi mốt, chín mươi hai... một trăm linh một, một trăm linh hai, một trăm hai mươi... Haizz, nàng, thế nào rồi? Lúc trời rạng sáng, cửa tẩm điện từ bên trong mở ra, Bảo Sắt mà ông lo lắng suốt đêm cuối cùng cũng từ trong bước ra. Ông gần như bật dậy, lập tức chỉnh đốn y quan, khi nàng nhìn về phía ông thì vái dài thi lễ. Nàng không một tiếng động chậm rãi đi đến bên ông, trước khi tà váy nàng lọt vào tầm mắt đang cúi xuống của ông, ông đã ngửi thấy một làn hương bách mộc, long não hòa quyện với trầm đàn. Khi nàng đến trước mặt ông, mùi hương này càng thêm rõ rệt, rõ ràng là tỏa ra từ người nàng. Thế nhưng, loại hương này trầm ổn lạnh lùng, đa phần nam giới sử dụng, không phải hương khuê các. Huống hồ, nàng thân là nội nhân Tư thiện, để tránh làm loạn mùi thức ăn, trước nay không dùng hương d.ư.ợ.c xông áo. Cho nên, mùi hương này là... Ông buồn bã ngẩng đầu, vốn tưởng ánh mắt sẽ chạm phải đôi mắt ngấn lệ của nàng, nào ngờ đập vào mắt ông là nụ cười nửa mừng nửa thẹn của nàng. Đối mắt với ông trong chớp mắt, mặt nàng ửng hồng như ráng chiều, càng thêm e lệ, cúi thấp đầu xuống, môi mấp máy, dường như muốn nói gì đó. Nàng là muốn giải thích nhỉ, hay là, muốn che giấu? Trong lòng Thẩm Hãn đau nhói, tiêu điều nghĩ, thực ra cái gì cũng không cần nói, ta tự sẽ trong lòng giải thích cho nàng, che giấu cho nàng. Mà ông dường như đã nghĩ nhiều rồi, nàng rốt cuộc chẳng nói gì cả. Nàng nhún mình hành lễ với ông, rồi lướt qua vai ông, vội vã rời đi, không biết đang nghĩ chuyện gì, thậm chí quên cả thông báo cho ông vào điện diện thánh, cuối cùng vẫn là nội thị canh cửa thay nàng bẩm báo, Quan gia mới triệu ông vào. Hôm nay không có triều hội, buổi sáng Quan gia vẫn ở lại tẩm điện. Trông có vẻ ngoài quầng mắt hơi thâm, tinh thần Quan gia vẫn tốt, vẫn là dáng vẻ điềm tĩnh tự nhiên thường ngày, đợi Thẩm Hãn hành lễ xong liền ban ngồi, tán gẫu với ông, hồi lâu không nhắc đến chuyện soạn chiếu. Thẩm Hãn không kìm nén được, cúi người hỏi: "Bệ hạ đêm qua triệu thần vào đối đáp, là có ý chỉ muốn giao cho thần?" "Ồ, Trẫm vốn định mời khanh soạn chiếu, nhưng sau đó nghĩ lại, chi tiết việc này còn phải cân nhắc, cũng không vội công bố trong một hai ngày này, cũng cần đợi xem ngày tốt đã..." Quan gia lơ đãng giải thích, Thẩm Hãn nghe mà lòng chùng xuống, gượng cười nói, "Xem ra, việc Quan gia muốn cáo cáo thiên hạ, là một chuyện vui." "Ừ." Quan gia mặt không biểu cảm xác nhận đơn giản. Quan gia không nói thêm gì nhiều, một người phụ nữ trung niên đúng lúc này xách một hộp bánh hỉ đi vào, mời Quan gia thưởng thức lựa chọn, càng cho thấy trong cung sắp có hỉ sự. Nghe nội thị ngoài cửa bẩm báo, Thẩm Hãn biết người phụ nữ này là Thượng thực Lưu nương t.ử rất được Quan gia tin cậy. Lưu Thượng thực lấy từng chiếc bánh hỉ trong hộp ra, bày cho Quan gia xem, nói: "Đây là thiếp vừa làm xong, mời Quan gia xem và nếm thử, hoa văn mùi vị đã thỏa đáng chưa. Đợi Quan gia chọn xong, thiếp sẽ dạy Ngự trù làm để Quan gia ban cho thần liêu." Những chiếc bánh hỉ đó đều là bánh bột mì trên mặt in hoa văn rồng phượng, mẫu đơn, mây như ý... Quan gia nhón vài cái xem qua, nói: "Đều không tệ. Chi bằng dùng quả sơn tra (táo gai), bột nếp và đường làm thêm một ít Viên Hoan Hỉ, bọc nước đường, rắc chút hoa quế khô, đỏ đỏ vàng vàng, màu sắc vui mừng, tên gọi hợp cảnh, mùi vị ngon, nàng ấy cũng thích ăn." Lưu Thượng thực cúi đầu lĩnh mệnh. Quan gia liếc nhìn Thẩm Hãn vẫn đang im lặng lắng nghe một bên, mỉm cười giải thích: "Trong cung đã lâu không có hỉ sự, việc này, cần làm cho tận tâm một chút." Nàng ấy cũng thích ăn, nàng ấy cũng thích ăn... Trong lòng Thẩm Hãn lặp đi lặp lại câu này, thầm nghĩ Viên Hoan Hỉ này hình như là món ngon trong kinh thành, ngày xưa ở Việt Châu chưa từng thấy nàng ăn, chắc là sau khi nhập cung hầu hạ Quan gia ăn uống mới theo khẩu vị của ngài mà thích. Khó tránh khỏi cảm thấy chua xót vô cớ, mơ mơ màng màng, một câu hỏi vượt quá phận sự lại buột miệng thốt ra: "Nàng ấy... có nguyện ý không?" Quan gia kinh ngạc nhìn ông, cứ như thể ông vừa hỏi một câu hỏi khó tin nhất thiên hạ, hồi lâu mới rũ mi mắt nói: "Nguyện ý. Chuyện tốt đẹp như thế, sao nàng ấy lại không nguyện ý." Thẩm Hãn không kìm được cười nhạo, là đang cười nhạo chính mình: Phải rồi, nữ t.ử trong thiên hạ, ai sẽ từ chối trở thành hậu phi? Huống hồ, bản thân Quan gia cũng là một thanh niên hơn hai mươi tuổi phong độ ngời ngời. Ông trộm nhìn Quan gia, càng nhìn càng thấy ngài tuấn tú bất phàm, phong thái hơn người, không phải kẻ như mình có thể so bì. "Khanh đợi trong gió lạnh cả đêm, vất vả rồi, về nghỉ ngơi sớm đi." Quan gia ôn tồn nói. "Bệ hạ còn chỉ ý gì cần thần soạn chiếu không?" Thẩm Hãn nghiêng mình hỏi. Quan gia lắc đầu: "Không còn nữa. Lát nữa dù có, cũng để học sĩ trực ca sau soạn đi. Khanh thần sắc tiều tụy, hay là về nghỉ ngơi cho khỏe." Trước khi Thẩm Hãn cáo lui, Quan gia lại vẫy tay bảo ông lại gần, đích thân đem số bánh hỉ Lưu Thượng thực vừa dâng lên giao cho ông: "Mấy món điểm tâm này mùi vị rất khá, khanh mang về ăn đi." Trong lúc Quan gia giơ tay nhấc chân, Thẩm Hãn ngửi thấy rõ ràng mùi hương bách mộc, long não, trầm đàn tỏa ra từ y phục của ngài. Chương 77 - Thần Nông "Nàng ấy trên người vương mùi hương áo của Tiên đế, Tiên đế lại biểu thị chuyện vui sắp đến, ta còn có thể nói gì nữa? Nàng ấy không có ý phản kháng, chẳng lẽ ta phải công khai phản đối, hủy hoại tiền đồ của người ta?" Thẩm Hãn thở dài sườn sượt, "Ta về nhà buồn bực không vui, cáo bệnh nghỉ ngơi một thời gian. Trong lúc đó ân sư đến thăm ta, nhắc tới ông ấy có một cô con gái còn ở trong khuê phòng chưa gả, có ý gả cho ta... Không lâu sau, cô nương này liền trở thành phu nhân hiện tại của ta." Chân Chân thở dài tiếc nuối, hỏi ông: "Tham chính sau đó không phát hiện ra Bùi Thượng thực không hề trở thành tần ngự sao?" Thẩm Hãn nói: "Tiên đế bảo phải đợi ít ngày nữa mới công bố... Sau đó không nhắc lại chuyện này nữa, ta tưởng thiên ân khó lường, hoặc có biến cố gì... Mà ta đã thành thân, cũng không thể thay đổi hiện trạng được nữa." "Còn chuyện vui kia," Chân Chân lại hỏi, "Tiên đế ám chỉ chuyện Trưởng công chúa xuất giá, Tham chính sau đó cũng không nhận được phần bánh hỉ bao gồm Viên Hoan Hỉ đó sao?" Thẩm Hãn kinh ngạc ngước mắt nhìn nàng, hồi lâu sau cúi đầu thật sâu, "Haizz, Trưởng công chúa xuất giá là sau khi ta đưa phu nhân đi nhậm chức ở quận ngoài, ta không nhận được phần bánh hỉ đó." Sai một ly đi một dặm, cứ thế cắt đứt một mối nhân duyên, nửa đời vui vẻ của Bùi Thượng thực. Chân Chân nghe Thẩm Hãn giải thích, hiểu rằng về lý khó mà trách cứ ông hà khắc, nhưng nhớ tới việc ông chỉ vì một ý nghĩ sai lầm mà khiến Bùi Thượng thực cô độc đến già, lại cảm thấy ông gánh chịu bao nỗi oán hận của Bùi Thượng thực bấy lâu nay cũng chẳng oan uổng lắm. Trách cứ ông thì không tiện, muốn an ủi lại chẳng thốt nên lời, lặng lẽ đối diện với ông một lát, Chân Chân thi lễ cáo từ, lui ra gian ngoài. Thẩm Hãn ngồi một mình trong sảnh nhớ lại chuyện xưa, đưa tay áo lau khóe mắt, vô cùng cảm thương. Nhớ tới khúc "Hà Mãn Tử" của Tôn Chu, cũng giống như Tăng Giới hôm nào, lấy ngón tay gõ nhịp lên mặt bàn, một mình khẽ hát nửa sau bài từ: "Lá vàng không gió tự rơi, mây thu không mưa âm u mãi. Trời nếu có tình trời cũng già, hận lòng day dứt khôn nguôi. Ngậm ngùi niềm vui cũ như mộng, tỉnh ra không chốn kiếm tìm." Bài từ này Chân Chân hồi đó nghe Tăng Giới hát xong về đã tìm hiểu qua, nay biết chuyện cũ của Thẩm Hãn và Bùi Thượng thực, nghe lại nửa sau càng thấy cảm khái vô hạn. Mấy ngày sau đó Chân Chân thường ngẫm nghĩ về bài từ này, có lần vô thức hát khẽ, bị Bùi Thượng thực nghe thấy, cau mày hỏi nàng: "Cô nương nhỏ như ngươi, sao lại hát loại ca từ này?" Chân Chân ngẩn người, rồi nghĩ đây có thể là cơ hội nói rõ tâm sự năm xưa của Thẩm Hãn với Bùi Thượng thực, giúp bà giải khai khúc mắc, dù sao xét về phạm lỗi, hiểu lầm do nhất thời hồ đồ đáng được tha thứ hơn là cố ý ruồng bỏ, bèn cười nói: "Bài từ này con nghe Thẩm Tham chính hát ở Đãi Lậu Viện, thấy hay nên học hát theo." Bùi Thượng thực ngạc nhiên nói: "Cái lão già gỗ mục ấy, mà lại hát bài này trước mặt mọi người?" "Không phải trước mặt mọi người. Lúc đó các vị Tể chấp vẫn chưa vào Đãi Lậu Viện, ông ấy ngồi một mình không biết nhớ tới chuyện gì, liền bắt đầu hát khúc này. Con hầu hạ bên ngoài, thấy ông ấy hát đến rơi nước mắt, bèn vào khuyên giải vài câu, ông ấy cảm thương, kể với con một số chuyện cũ." Bùi Thượng thực không khỏi càng tò mò, lập tức hỏi dồn: "Ông ta kể với ngươi cái gì?" Chân Chân cười nói: "Đừng nhìn Thẩm Tham chính bây giờ ngoan cố như thế, thực ra hồi trẻ cũng là người đa tình. Ông ấy nói năm xưa từng thật lòng yêu một cô nương, đáng tiếc vì một sự hiểu lầm, bỏ lỡ một mối lương duyên..." Thẩm Hãn khi kể chuyện cũ với Chân Chân thực ra kể không chi tiết, lược bỏ rất nhiều diễn biến tâm lý của mình, mà Chân Chân lại phát huy thiên phú như người kể chuyện, dựa vào chút tưởng tượng thêm mắm dặm muối, bù đắp lại những chi tiết Thẩm Hãn cố tình cắt bỏ, đem chuyện đêm đó kể lại sinh động như thật cho Bùi Thượng thực nghe, bao gồm cả mùi hương bách mộc và Viên Hoan Hỉ, chỉ là không nói rõ tên họ thân phận Bùi Thượng thực, chỉ nói là một cung nhân Thẩm Tham chính thầm thương trộm nhớ. Bùi Thượng thực nghe xong hồi lâu không nói, vẻ mặt bình tĩnh như mọi ngày, không thấy cảm xúc d.a.o động, nhưng khi Chân Chân cụp mắt xuống phát hiện ống tay áo rủ bên người bà đang run rẩy. "Cái lão già này, thật là bướng như lừa mà..." Bùi Thượng thực cuối cùng cũng lên tiếng thở dài, "Ông ta không biết mở miệng hỏi một câu sao?" "Ông ấy một mực cho rằng cô nương kia và Tiên đế đã ván đóng thuyền, có lẽ không muốn nói nhiều, sợ cô nương khó xử." Chân Chân khẽ giải thích. Bùi Thượng thực chậm rãi chớp mắt, gạt đi chút ánh sáng nơi đáy mắt, cũng không nói thêm gì nữa, cất bước lặng lẽ đi qua trước mặt Chân Chân. Lần sau Chân Chân đến Đãi Lậu Viện, Bùi Thượng thực đề nghị đi cùng nàng. Gặp gỡ Thẩm Hãn, bốn mắt nhìn nhau, Thẩm Hãn có chút lúng túng, ngượng ngùng cúi đầu. Bùi Thượng thực lại thần thái tự nhiên, vẫn lạnh mặt hỏi ông: "Tuyết Hoa Tô ngự ban, Tham chính nếm thử chưa?" Thẩm Hãn chắp tay về hướng cung thành: "Tạ ơn Quan gia long ân, ban cho Hãn thức ăn. Không hổ là ngọc thực thiên gia, vô cùng ngon ngọt." Thấy Bùi Thượng thực nghe vậy lộ vẻ tự đắc, Thẩm Hãn lại không kìm được hạ giọng bổ sung một câu: "Chỉ là... Thượng thực sau này có thể bớt chút đường... Ngọt quá..." "Ngọt quá?" Bùi Thượng thực dựng mày liếc mắt, cướp lời, "Công thức Tuyết Hoa Tô này là ta dốc lòng nghiên cứu nhiều năm mới định ra, lượng đường kiểm soát cực kỳ chuẩn xác, một phân không nhiều một phân không ít, Quan gia đều bảo vị ngọt vừa phải, Thẩm Tham chính chắc là ăn nhiều đồ tạp nham ngoài chợ, ảnh hưởng đến lưỡi phân biệt mùi vị rồi." Thấy bà lời lẽ không khách sáo, Thẩm Hãn cũng có hai phần nóng nảy hiện lên mặt, dường như muốn phản bác, nhưng hai chữ "Bà mới" vừa ra khỏi miệng, vừa chạm phải ánh mắt Bùi Thượng thực, lại lập tức nuốt những lời phía sau vào bụng, chán nản buông thõng cánh tay đang giơ lên, lầm bầm nói: "Phải, ta vốn là kẻ quê mùa tục tĩu, không nếm được cái hay của ngọc thực thiên gia, sau này mong Quan gia đừng ban thức ăn cho ta nữa, đặc biệt là đồ Thượng thực làm, kẻo người ta bảo trâu nhai mẫu đơn." Trận đấu khẩu này xét về khí thế dường như Bùi Thượng thực thắng, bà hơi hất cằm rời đi dưới ánh nhìn của Thẩm Hãn. Tuy nhiên vừa rẽ sang hướng Thẩm Hãn không nhìn thấy, bà liền thấp giọng dặn dò Chân Chân: "Xem ra Thẩm Tham chính khẩu vị thanh đạm, sau này đồ ăn cho ông ấy dầu muối đường đều bớt đi một chút." Ngẫm nghĩ giây lát, lại nói: "Ông ấy giờ dáng người đẫy đà hơn rồi, ăn uống quả thực cũng nên thanh đạm hơn." Chân Chân mỉm cười vâng dạ từng điều, cảm thấy hai người này tuy gặp mặt vẫn là bộ dạng giương cung bạt kiếm, nhưng tâm tư đôi bên đã lặng lẽ đổi thay, ngay cả đấu khẩu cũng mang theo vài phần ôn tình. Hũ gia vị bị tiểu hoàng môn đặt sai chỗ Chân Chân đã lén đổi lại, đồng thời dặn đi dặn lại tiểu hoàng môn kia, bảo cậu ta trước khi quét dọn phải nhìn kỹ vị trí ban đầu của tất cả đồ vật, tuyệt đối không được nhầm lẫn nữa. Tiểu hoàng môn vâng vâng dạ dạ đồng ý, Chân Chân nhớ tới chuyện vị giác của Bùi Thượng thực, vẫn không khỏi lo lắng: Mình đương nhiên sẽ dốc sức che giấu cho bà ấy, nhưng Thượng thực ở vị trí quan trọng này, quanh năm suốt tháng gắn liền với ăn uống, e rằng sớm muộn gì cũng bị người ta nhìn ra manh mối. Một hôm Hàn Tố Vấn phụng mệnh mang gia vị mà Ngự trù gửi đến Viện Y quan kiểm tra trả về, tình cờ gặp Chân Chân sau điện Gia Minh, Chân Chân bảo cậu đợi một lát, nhanh chóng về Thượng Thực cục lấy hai gói Tuyết Hoa Tô, Viên Hoan Hỉ mình mới làm gần đây, để Hàn Tố Vấn mang về nếm thử. Hàn Tố Vấn vui vẻ nhận lấy, mở ngay ra lấy một miếng Tuyết Hoa Tô nhét vào miệng, nhắm mắt lộ vẻ thỏa mãn, rồi liên tục khen ngon. Chân Chân cười nói: "Nếu ngươi thích, ta lấy thêm cho ngươi ít nữa." Hàn Tố Vấn vội xua tay: "Đủ rồi đủ rồi, ta mà nhận thêm bánh của cô, người ta lại bảo ta nhận hối lộ, chiếm đoạt ngự thiện mất." Chân Chân nói: "Đâu nghiêm trọng thế. Mấy món điểm tâm này là ta mới học làm gần đây, cứ lo mùi vị chưa đủ ngon, nên làm đi làm lại nhiều lần, làm rất nhiều, muốn mời bạn bè nếm thử, cho ý kiến. Nguyên liệu đều là dùng tiền lương tháng của ta mua đấy." Hàn Tố Vấn cười nói: "Đã làm rất ngon rồi. Cô phải tin vào tay nghề và cái lưỡi của mình chứ." Nghe cậu nhắc đến cái lưỡi, Chân Chân nhớ tới chuyện vị giác của Bùi Thượng thực, bèn nói với hắn: "Có chuyện này đang muốn thỉnh giáo ngươi: Vị giác của một người vốn rất nhạy bén, nhưng dần dần thoái hóa, bây giờ thậm chí không nếm ra sự khác biệt giữa muối và đường, thì là do nguyên nhân gì gây ra?" Hàn Tố Vấn ngạc nhiên: "Cô bị thoái hóa vị giác à?" "Phui!" Chân Chân lập tức phủ nhận, "Đừng nói bậy... Là bà hàng xóm nhà ta hồi trước, một bà lão." "Ồ, bà lão à, thế thì không lạ." Hàn Tố Vấn giải thích cho nàng, "Khi tuổi tác con người tăng lên, các cơ quan trong cơ thể cũng dần lão hóa, không còn dùng tốt như người trẻ nữa. Có người mắt mờ đến mức không nhìn rõ vật ở gần; có người lãng tai, người khác phải hét lên mới nghe rõ, đều là vấn đề xuất hiện khi về già. Lưỡi của người già cũng dễ bị lão hóa, dẫn đến vị giác thoái hóa, nhưng mức độ mỗi người khác nhau, nhiều người già chỉ biểu hiện là khẩu vị nặng, ăn uống thích nhiều muối nhiều đường, cũng có số ít vị giác thoái hóa nghiêm trọng, thậm chí mất hẳn, thứ đầu tiên không nếm ra được, thường là vị mặn." "Vậy còn chữa được không?" Chân Chân truy hỏi. Hàn Tố Vấn đáp: "Nếu do bệnh khác gây ra, còn có khả năng chữa khỏi. Nhưng nếu do lão hóa tự nhiên, thì rất khó hồi phục." Thấy Chân Chân cúi đầu im lặng, Hàn Tố Vấn gói bánh lại, cười nói thêm: "Cô còn trẻ, không cần lo lắng quá. Có đau đầu nóng sốt gì cứ đến tìm ta, già rồi ta dạy cô dưỡng sinh, đảm bảo vị giác cô sẽ không mất đâu... Ta phải đi rồi, lát nữa còn phải đi khám bệnh từ thiện, chữa cho ông chú họ của đứa em họ của một người bạn ở Hoàng Thành ti." Chân Chân trố mắt nói: "Cậu giao thiệp rộng thật đấy, lần trước là bạn ở Thư viện, Họa viện, giờ lại thêm bạn ở Hoàng Thành ti." Hàn Tố Vấn lại nở nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời: "Y quan nhiều bạn là chuyện bình thường mà. Người đời ai cũng thích kết bạn với y quan, vì sớm muộn gì cũng dùng đến, mình không dùng đến thì người nhà cũng dùng đến. Thường thì lần đầu tiên họ tiếp xúc với ta, đều mang mục đích rõ ràng cả." Chân Chân ngạc nhiên trước sự thông thấu của hắn, hỏi: "Vậy cậu còn kết được bạn tốt sao?" "Được chứ," Hàn Tố Vấn cười lớn, "Cô chẳng phải là kết bạn như thế sao?" Chân Chân ngẩn người, nghĩ đến việc mình ban đầu qua lại với hắn, quả thực chủ yếu là để dò hỏi các loại chuyện, không khỏi đỏ mặt, khá là ngượng ngùng. "Không sao không sao, cô đừng nghĩ nhiều." Hàn Tố Vấn vỗ vai nàng, mỉm cười nói, "Tuy là vậy, nhưng ta tin, chỉ cần ta chân thành đãi người, các cô sớm muộn gì cũng bị ta chinh phục, quên đi cái sơ tâm không thuần túy kia, ngoài đau đầu nóng sốt ra, khi có đồ tốt cũng sẽ nhớ chia sẻ với ta... Giống như cô bây giờ vậy." Chân Chân ngẩng đầu, nhìn nhau cười với hắn. Cách đó không xa, Bùi Thượng thực đứng dưới hành lang bên ngoài điện Gia Minh lặng lẽ quay người trở vào điện, không tiếp tục quan sát họ nữa. Bà không nghe thấy nội dung hai người nói, nhưng nhìn thần thái họ, chỉ thấy rất thân thiết, nhớ lại một chuyện cũ khác nhiều năm về trước, không khỏi có hai phần lo lắng. "Ngươi quen biết vị tiểu y quan họ Hàn ở viện Hàn Lâm Y Quan kia đã lâu chưa?" Buổi tối khi ở riêng với Chân Chân trong bếp nhỏ, Bùi Thượng thực thẳng thắn hỏi nàng. Chân Chân thành thật đáp: "Không lâu lắm ạ, chúng con quen nhau chưa đến một năm." "Hôm nay ta thấy ngươi nói chuyện với cậu ta, có vẻ như thân quen lắm." Chân Chân không nhịn được cười: "Cậu ta là người gặp ai cũng quen ngay, lần đầu gặp cũng có thể nhiệt tình như bạn cũ lâu năm vậy." Bùi Thượng thực im lặng một lát, vẫn quyết định thẳng thắn khuyên nhủ: "Ngươi là nội nhân trẻ tuổi, lại hầu hạ trước ngự tiền, tiếp xúc với nam t.ử bên ngoài phải hết sức cẩn thận, nếu ngôn hành thất thố, thứ nhất là rước lấy lời bàn tán, thứ hai... nếu bản thân không kìm được lòng, càng dễ dẫn đến tai họa lớn." Chân Chân nghĩ đến bộ dạng của Hàn Tố Vấn, cảm thấy rất khó để mình "không kìm được lòng", cười híp mắt đang định giải thích, lại nghe Bùi Thượng thực đột ngột nhắc đến một người: "Ngươi từng nghe ai nói về chuyện của Lưu Tư thiện chưa?" Tất cả những lời định nói bỗng chốc tan thành mây khói, Chân Chân nhanh chóng lắc đầu, hai mắt sáng rực nhìn chằm chằm Bùi Thượng thực, chỉ sợ bà không tiếp tục chủ đề vừa nhắc tới, lại ấp úng nói: "Hồi ở vương phủ Ân Quận vương, từng nghe người ta nhắc đến, khen bà ấy trù nghệ siêu quần, còn lại, thì không biết gì nữa..." "Chuyện của bà ấy, những năm qua Thái hậu luôn cấm người trong cung bàn tán, cho nên ngươi không biết." Bùi Thượng thực nói, "Bà ấy lớn lên trong phủ Tề Thái sư, lại được Lưu Thượng thực dốc lòng truyền thụ, trù nghệ đương nhiên siêu quần, chỉ tiếc là, lén lút qua lại với một y quan, không được Tiên đế cho phép, kết quả... rất thảm." "Thượng thực có thể kể cho con nghe chuyện của bà ấy không?" Chân Chân dè dặt hỏi, "Để con lấy đó làm gương..." Bùi Thượng thực nhắm mắt trầm ngâm, một lát sau chậm rãi kể: "Bà ấy là đầu bếp nuôi trong nhà Tề Thái sư, lớn lên mới vào cung làm nội nhân Thượng Thực cục, trù nghệ xuất chúng, nhưng Tiên đế kiêng dè Tề Thái sư, ban đầu không dám trọng dụng bà ấy, chỉ để bà ấy làm trợ thủ cho Lưu Thượng thực và ta, không cai quản ngự thiện. Có một năm, quan lại châu phủ vùng đất Ngô dâng lên Tiên đế mấy con cá nóc tươi sống, Tiên đế lệnh cho Lưu Thượng thực làm theo phương pháp cổ, để bà nếm thử trước, Lưu Thượng thực lại do dự. Bà là người Biện Kinh, trước đây chưa từng ăn cá nóc, các bước loại bỏ độc tố tuy làm theo sách cổ ghi chép, nhưng độc tố đã hết hẳn chưa, bà cũng không nắm chắc. Mà Lưu nội nhân thấy bà lộ vẻ khó xử, lập tức bước ra, xin Tiên đế cho phép cô thay Lưu Thượng thực nếm cá nóc. Nếm xong, ai cũng vui mừng, cá nóc đã hết độc, lại còn tươi ngon, Tiên đế ăn xong rất vui vẻ, thái độ đối với Lưu nội nhân cũng hòa nhã hơn nhiều. Lưu nội nhân cần mẫn nghiêm túc, bình thường không ham chơi đùa, một lòng nghiên cứu trù nghệ. Món ăn làm ra các nương nương trong cung lần lượt nếm qua, đều khen không dứt miệng. Có một lần, Thái hậu đương thời tiến cử điểm tâm do Lưu nội nhân làm cho Tiên đế, Tiên đế nhìn lớp đường bột trên bánh, cười như không cười nói với Lưu nội nhân: 'Ta nghe nói thạch tín và đường bột giống nhau, đều ngọt cả, ngươi có biết sự khác biệt về mùi vị của chúng không?' Câu hỏi này làm khó Lưu nội nhân, sau đó, bà ấy đã làm một hành động không thể tin nổi..." Chân Chân đoán được: "Bà ấy đi nếm thạch tín." Bùi Thượng thực thở dài: "Sau đó suýt mất mạng, rất nhiều thái y đều bó tay hết cách, cuối cùng là một y quan họ Trương kéo bà ấy từ quỷ môn quan trở về." "Trương Vân Kiều?" Chân Chân buột miệng. Bùi Thượng thực ngạc nhiên nhìn nàng một cái, rồi quay đi, nhàn nhạt nói: "Là ông ấy. Ông ấy y thuật cao minh, đến nay vẫn là tấm gương mà các y quan ngưỡng mộ." Chân Chân đã hiểu đôi chút: "Vì ơn cứu mạng của ông ấy, Lưu nội nhân đã yêu ông ấy." "Cũng không nhanh thế đâu." Bùi Thượng thực nói, "Trương thái y khi đó tuy cũng còn trẻ, nhưng tính tình cô độc kiêu ngạo, nội nhân thầm thương trộm nhớ ông ấy rất nhiều, ông ấy đều không ngó ngàng, đối với Lưu nội nhân cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ coi như bệnh nhân bình thường mà chữa trị. Mà Lưu nội nhân một lòng nghiên cứu trù nghệ hầu hạ quân vương, cũng khác với những thiếu nữ hoài xuân kia. Hai người ban đầu cư xử khách sáo, không chê vào đâu được. Lần đó sau khi bình phục, Lưu nội nhân thế mà còn tự tay viết một bài văn dài cả ngàn chữ dâng lên Tiên đế, kể chi tiết sự giống và khác nhau giữa thạch tín và đường bột. Tiên đế từ đó nhìn bà ấy bằng con mắt khác. Không lâu sau Lưu Thượng thực qua đời, ta được thăng làm Thượng thực, Tiên đế cũng thăng cô ấy làm Tư thiện, giao cho bà ấy việc nếm thử ngự thiện. Được Tiên đế trọng dụng, Lưu Tư thiện tri ân báo đáp, để rèn luyện khả năng phân biệt độc, thế mà lại lén lút nếm thử từng loại độc dược, kết quả lần này đến lần khác đổ bệnh, Trương thái y đã cứu cô ấy rất nhiều lần, tình cảm hai người có lẽ cũng sâu đậm dần trong những lần chữa trị này... Sau này, Tiên đế có lẽ nhận ra điều gì, sắp xếp thái y khác, không cho Trương thái y tiếp tục chữa trị cho Lưu Tư thiện, thậm chí không cho phép họ gặp nhau nữa. Nhưng có một ngày, Lưu Tư thiện nếm thử một loại nấm độc, lại nghiêm trọng như lần nếm thạch tín, nôn ra cả máu, thoi thóp. Tiên đế thấy tình hình nguy cấp, mới lại triệu Trương thái y đến cứu chữa, mà lần này, Tiên đế đặc biệt dặn dò ta, bảo ta để ý xem xét tình hình họ ở chung, lát sau bẩm báo lại với ngài..." Nói đến đây, giọng Bùi Thượng thực nhỏ dần, tâm trí cũng trôi về ngày khiến bà nhớ mãi không quên nhiều năm trước. Hôm đó bà dẫn Trương Vân Kiều vào phòng Lưu Tư thiện, đứng một bên quan sát Trương Vân Kiều vọng văn vấn thiết cho Lưu Tư thiện, hai người trước sau vẫn giữ chừng mực thầy t.h.u.ố.c và bệnh nhân, mọi thứ dường như không có gì khác thường. Sau đó Trương Vân Kiều chuẩn bị kê đơn, trong phòng nhất thời không tìm thấy bút mực, Bùi Thượng thực bèn nói mình về phòng lấy, lui ra ngoài. Tuy nhiên đi được vài bước, nhớ tới lời dặn của Tiên đế, không khỏi thấp thỏm, bèn vẫy tay gọi khẽ một tiểu nội nhân lại, sai cô bé đi lấy bút mực, còn mình chậm rãi quay lại. Vừa đến bên cửa, liền nghe thấy một đoạn đối thoại bất thường của hai người trong phòng. "Nàng tưởng nàng là Thần Nông, có thể ngàn lần trăm lần dũng cảm nếm bách thảo sao? Thần Nông còn chẳng thể toàn mạng rút lui, huống hồ nàng là một nữ t.ử yếu đuối." Trong giọng nói của Trương Vân Kiều có sự phẫn nộ không hề che giấu, "Nàng thử độc cho Quan gia, chắc phải đến trăm lần rồi nhỉ? Trung quân không phải trung kiểu này!" "Đúng là có một trăm lần." Lưu Tư thiện trên giường bệnh trả lời rất bình thản, "Chín mươi chín lần là vì Quan gia, lần cuối cùng là vì chàng... Thiếp muốn gặp chàng." Trương Vân Kiều trong nháy mắt im lặng, nhìn nhau với nàng, hồi lâu không nói nên lời. Khóe môi tím tái của Lưu Tư thiện nhếch lên một nụ cười thê lương: "Chê ít à? Vậy thiếp làm thêm lần nữa." Nàng gắng gượng nhổm dậy, bưng bát canh nấm trên chiếc bàn con bên cạnh uống một ngụm — đó là mẫu độc d.ư.ợ.c múc ra để cho Trương Vân Kiều nghiên cứu theo yêu cầu của chàng. Trương Vân Kiều mạnh mẽ giật lấy chén trong tay nàng ném xuống đất, rồi nắm chặt cổ tay nàng, đôi mắt rực lửa nhìn chằm chằm vào nàng, như muốn nhìn thấu tâm can nàng. "Đến đây, cùng c.h.ế.t đi!" Chàng nói với nàng, rồi một tay kéo nàng vào lòng, một tay đỡ lấy búi tóc vân kế trâm vàng đã rơi, sắp sửa bung xõa sau đầu nàng, ngậm hờ hôn lên đôi môi nàng, đi tìm kiếm ngụm canh kịch độc kia. Chương 78 - Lâm Hoằng Lời kể của Bùi Thượng thực dừng bặt khi bà nói đến đoạn quay lại cửa, trong lòng nhớ lại cảnh tượng đã thấy, nhưng thật khó để miêu tả cho Chân Chân. Chân Chân đoán được diễn biến sự việc qua vẻ mặt trầm ngâm của bà, bèn dò hỏi: "Họ... có cử chỉ thân mật?" Bùi Thượng thực gật đầu. Chân Chân lại hỏi: "Vậy Thượng thực có bẩm báo với Tiên đế không?" "Không." Bùi Thượng thực phủ nhận. Chuyện của Lưu Tư thiện và Trương y quan khiến bà kinh ngạc, nhưng cũng không phải không thể hiểu được. Bản thân đau khổ trong tình cảm, thấy hai người lưỡng tình tương duyệt, dù đối mặt với gian nan hiểm trở phi thường, vẫn vứt bỏ mọi lo toan, thổ lộ với nhau, lúc này ngoài sự thấu hiểu, một niềm ngưỡng mộ bỗng nhiên nảy sinh trong lòng. Bà lặng lẽ rời đi, lui ra chỗ khá xa trong sân, và tìm cách ngăn người khác lại gần. Về sau bà không hề nhắc với ai về chuyện đã thấy hôm đó, kể cả Tiên đế và bản thân Lưu Tư thiện. "Ta không nói cho Tiên đế, thế nhưng, hai người nếu đã yêu nhau tha thiết, thì rất khó giấu giếm. Chỉ cần có một chút cơ hội gặp mặt, tình yêu đó sẽ như hạt giống được mưa móc mùa xuân tưới tắm, không thể kìm nén mà nảy mầm. Huống hồ, Tiên đế là người tâm tư cực kỳ tinh tế, Lưu Tư thiện đơn thuần hoạt bát, trong mắt ngài chính là một người trong suốt như pha lê, ngài liếc qua là nhìn thấu, trong lòng cô ấy yêu ai, muốn giấu, làm sao giấu được chứ?" Bùi Thượng thực lắc đầu than thở. "Tiên đế thích Lưu Tư thiện?" Chân Chân hỏi. Bùi Thượng thực nói: "Tiên đế chưa từng bắt Lưu Tư thiện thị tẩm, nhưng đối xử với bà ấy tự nhiên là khác biệt, đãi ngộ dành cho bà ấy, ban thưởng ngày lễ tết, không kém gì các Tài nhân... Điều này trong số các nội nhân, chỉ có Cúc phu nhân của Tiên Thiều viện là có thể so sánh." Điểm này Chân Chân trước đây từng nghe La thị, v.ú nuôi của Ân Kỳ nhắc tới, nói Lưu Tư thiện và Cúc phu nhân năm xưa là "nhất thời song bích" (hai viên ngọc quý cùng thời) trong cung, bèn càng tò mò truy hỏi: "Vậy Lưu Tư thiện và Cúc phu nhân có quen nhau không? Liệu họ có thù địch nhau không?" "Có quen." Bùi Thượng thực nói, "Lưu Tư thiện tính tình cởi mở, lại không có ý nghĩ không an phận với Tiên đế, tự nhiên cũng sẽ không thù địch Cúc phu nhân. Ngược lại Cúc phu nhân một lòng luyến mộ Tiên đế, bởi vậy, ban đầu không khỏi có lòng đề phòng Lưu Tư thiện. Sau này có một lần, Cúc phu nhân bị bệnh, ăn uống không ngon, Tiên đế bảo Lưu Tư thiện lo liệu ăn uống cho Cúc phu nhân. Cúc phu nhân đối với Lưu Tư thiện lạnh nhạt, nhưng Lưu Tư thiện chẳng hề để bụng, vẫn ngày ngày vui vẻ qua đó, tận tâm chăm sóc Cúc phu nhân, sự thù địch của Cúc phu nhân đối với cô ấy mới dần dần hóa giải, về sau, thậm chí còn giúp cô ấy gặp gỡ Trương thái y. Đáng tiếc, rất nhanh đã bị Tiên đế phát hiện, cả ba người đều bị phạt. Nhưng từ đó tình cảm của Lưu Tư thiện và Trương thái y lại càng thêm nồng nhiệt, cuối cùng tìm được cơ hội, trốn khỏi hoàng cung... Tiếc thay ngày tháng tốt đẹp của họ chẳng kéo dài được bao lâu, tung tích của Lưu Tư thiện bị người phủ Tề Thái sư phát hiện, họ bắt cô ấy về phủ, nghe nói, cô ấy rất nhanh đã bị xử t.ử bằng tư hình." Tuy trước đó đã nghe nói về cái c.h.ế.t của Lưu Tư thiện, nhưng lúc này nghe Bùi Thượng thực nhắc lại, Chân Chân vẫn cảm thấy bi thương, than thở không thôi, cuối cùng lại hỏi Bùi Thượng thực: "Lúc bà ấy bị bắt Trương thái y ở đâu? Sau đó có bị người nhà họ Tề tìm được không?" Bùi Thượng thực đáp: "Cái này thì không biết. Ta đoán, lúc Lưu Tư thiện bị bắt Trương thái y không ở bên cạnh cô ấy, mà cô ấy chắc chắn sẽ thề c.h.ế.t che giấu tung tích của ngài ấy... Và người trong cung đến nay cũng không biết Trương thái y đi đâu." Chân Chân lại hỏi: "Vậy còn Cúc phu nhân? Bà ấy sau đó thế nào?" Bùi Thượng thực nói: "Vì bị Thái hậu kiêng kỵ, bà ấy tự xin xuất cung, sau đó không biết kết cục ra sao, trong cung đồn rằng, bà ấy bị Thái hậu... Haizz, cũng chẳng biết là thật hay giả, tóm lại từ đó bặt vô âm tín." Nói đến đây, Bùi Thượng thực đặc biệt nhìn Chân Chân, thấm thía nói: "Ta nói cho ngươi những điều này, là muốn nhắc nhở ngươi, người ngoài cung gọi nữ quan chúng ta là 'nội phu nhân', chính là coi chúng ta là người của Quan gia. Trên thực tế, bất luận chúng ta có thị tẩm hay không, đều sẽ không có tự do tự mình chọn chồng, lén lút thân gần với nam t.ử bên ngoài, là đại kỵ, nếu bị người phát hiện, hậu quả không thể tưởng tượng nổi. Sau này nếu ngươi có người trong mộng, chi bằng tìm cơ hội tốt nói với Quan gia, Quan gia nhân từ, đa phần sẽ tác thành cho ngươi. Chỉ là ngươi tuyệt đối đừng giống Lưu Tư thiện tự mình quyết định, có điều che giấu. Tội tư thông, bất kỳ quân vương nào cũng sẽ không dung thứ, một khi sự việc bại lộ, các ngươi sẽ phải đối mặt với tai họa ngập đầu." Sau cuộc trò chuyện dài này, Chân Chân cảm kích sự quan tâm chỉ bảo của Bùi Thượng thực, hầu hạ mọi nơi mọi lúc càng thêm tận tâm. Bùi Thượng thực cũng phát hiện, tiểu hoàng môn quét dọn nhà bếp cho bà sau khi lau hũ gia vị sẽ đối chiếu với một cuộn tranh trong tay cẩn thận kiểm tra vị trí của những chai chai lọ lọ kia. Bùi Thượng thực cầm cuộn tranh xem kỹ, thấy trên đó vẽ các vật dụng trong tủ bếp, vị trí từng loại gia vị còn được chú thích bằng chữ viết, không sai một ly. Bùi Thượng thực trầm ngâm một chút, liền đoán được dụng ý của hành động này. Chân Chân chưa bao giờ để lộ sự nghi ngờ về vị giác của bà trước mặt bà, Bùi Thượng thực cũng tiếp tục giữ im lặng, hai người ngầm hiểu ý nhau, càng thêm ăn ý. Bùi Thượng thực bắt đầu chủ động dạy Chân Chân nấu ăn, thường tự mình làm mẫu giảng giải một lượt rồi bảo nàng làm theo y hệt, chứ không chỉ để nàng đứng xem hoặc nếm thử rồi đoán nữa. Trù nghệ của Chân Chân nhờ đó lại được nâng cao, đối với Bùi Thượng thực càng thêm cảm kích, coi bà như thầy như nương. Hai người ngày thường cư xử vẫn giữ đúng lễ nghĩa, nhưng trong lòng đều cảm thấy thân thiết hơn nhiều. Chân Chân sau đó hỏi thăm Bùi Thượng thực về những người bạn tốt của Lưu Tư thiện trong cung năm xưa, muốn từ đó tìm manh mối về nương, thăm dò chuyện cũ của bà. Bùi Thượng thực nói: "Lưu Tư thiện đối đãi với người chân thành thân thiện, nên bạn bè trong cung không ít, rất nhiều nội nhân trong Lục Thượng đều giao hảo với cô ấy." Chân Chân lại hỏi có ai giống Lưu Tư thiện trốn khỏi cung không, "Không có ai bỏ trốn cả," Bùi Thượng thực lắc đầu, nhưng nói: "Được Tiên đế hoặc Quan gia cho xuất cung thì có rất nhiều." Quá nhiều người, Chân Chân lại mất phương hướng tìm kiếm. Từ cuốn "Ngọc Thực Phê" của Lưu Tư thiện mà nương giấu kín xem ra, họ rất có thể quen biết, thậm chí là bạn tốt. Đôi khi bóng dáng Cúc phu nhân trong truyền thuyết thoáng qua trong lòng Chân Chân, nghĩ đến mối quan hệ giữa Lưu Tư thiện và Cúc phu nhân, nàng không kìm được đoán: "Nếu Cúc phu nhân năm xưa không bị Thái hậu xử tử, liệu có khi nào..." Tuy nhiên nàng nhanh chóng phủ định ý nghĩ gần như viển vông đó: Cúc phu nhân chẳng phải "một lòng luyến mộ Tiên đế" sao? Sao lại có thể bỏ trốn cùng người khác sinh ra mình. Huống hồ một mỹ nhân lạnh lùng được cất giấu trong nhà vàng như bà ấy, sao có thể giống nương cài trâm gai mặc váy vải rửa tay nấu canh. Hơn nữa, nương hoàn toàn không biết múa, từ nhỏ đến lớn, mình chưa từng thấy nương múa bao giờ. Mùa hè năm ấy, một nam t.ử trẻ tuổi vừa từ nơi khác vào kinh lại trở thành truyền kỳ được các nội nhân trong cung tranh nhau ca tụng. Năm ngoái sau khi Phùng Tịnh từ chối tham gia thiết kế vườn Tụ Cảnh, Liễu Tiệp dư đã tiến cử biểu đệ của mình với Hoàng đế, nghe nói là một nhân tài tinh thông xây dựng vườn tược. Hoàng đế vui vẻ chấp nhận, triệu vị biểu đệ này vào kinh. Tuy nhiên vị biểu đệ đó thế mà lại không tiếp chỉ, từ chối rằng người quê mùa tài sơ học thiển, sao dám nhận trọng trách thiên gia này. Hoàng đế năm lần bảy lượt mời, biểu đệ vẫn không đến, chỉ xem bản vẽ vườn Tụ Cảnh do trong cung gửi tới, sửa chữa đôi chút, và nói một số ý tưởng của mình với nội thần truyền chỉ. Nội thần về cung thuật lại ý tưởng đó cho Hoàng đế và Thái hậu, cả hai đều cảm thấy rất vừa ý, Thái hậu bèn bảo Hoàng đế nhất định phải tìm cách triệu cậu ta vào kinh chủ trì công trình vườn Tụ Cảnh. Hoàng đế nhờ Liễu Tiệp dư giúp đỡ, Liễu Tiệp dư bèn đích thân viết một bức thư cho biểu đệ, biểu đệ lúc này mới lĩnh mệnh, gần đây đã đến Lâm An. Hoàng đế phong cho cậu ta làm Tướng Tác giám thừa, Tuyên Nghĩa lang hàm Tòng lục phẩm, tương đương với quan chức ban đầu trao cho Trạng nguyên. Vị biểu đệ này sau khi vào kinh ngoài tham gia triều hội thì là đến Bắc Đại nội bàn bạc phương án thiết kế vườn Tụ Cảnh với Thái hậu và các quan quản lý Tu Nội tư, tạm thời chưa vào hậu cung thăm Liễu Tiệp dư. Những nội thị và nữ quan từng gặp cậu ta ở triều hội hay Bắc Đại nội nhắc đến dung mạo phong độ của cậu ta đều khen không dứt miệng, cảm giác như gặp tiên nhân. Hứng thú của Chân Chân đối với nam t.ử tuấn tú xa lạ không lớn bằng những nội nhân trẻ tuổi bình thường, nhưng nghe người ta bàn tán nhiều cũng không tránh khỏi có chút tò mò, bèn hỏi Phùng Tịnh - người từng theo Lệ Quý phi đến Bắc Đại nội và có duyên gặp người này một lần: "Biểu đệ của Liễu Tiệp dư có đẹp bằng Thái t.ử và Nhị Đại vương không?" Phùng Tịnh ngẫm nghĩ, nói: "Đều đẹp, nhưng cảm giác khác nhau. Nhị Đại vương giống như ba thước nắng sớm rọi trước sân, ấm áp và sáng sủa; Thái t.ử giống như nụ cười từ bi bên môi thần phật, sự dịu dàng đó khiến lòng người an yên; còn vị biểu đệ của Liễu Tiệp dư này ấy mà... tĩnh như đầm nước trong, một hồ ánh trăng, động như trích tiên giáng trần, cử chỉ tao nhã, thần tình đạm bạc, không giống người trong cõi trần." Chân Chân cười nói: "Tỷ hình dung cậu ta bằng những từ ngữ trau chuốt và êm tai thế này, đủ thấy cậu ta tuyệt đối không phải người thường." Phùng Tịnh mỉm cười: "Chỉ hận mình miệng lưỡi vụng về, không thể hình dung ra một nửa phong thái của ngài ấy." "Dung mạo ngài ấy có giống Liễu Tiệp dư không?" Chân Chân lại hỏi. Phùng Tịnh lắc đầu: "Không giống lắm, nhưng đều là nhân tài bậc nhất. Cũng không biết nhà họ đã hứng bao nhiêu ánh sáng nhật nguyệt, mới sinh ra được một đôi tỷ đệ tựa như thiên nhân thế này." Chân Chân nương theo miêu tả của Phùng Tịnh thử phác họa hình ảnh vị biểu đệ thần tiên này trong đầu, nhưng đường nét có được luôn mơ hồ không rõ. Chẳng bao lâu sau Hoàng đế lệnh cho Liễu Tiệp dư mở tiệc trưa tại các Phù Dung chiêu đãi biểu đệ, mình dẫn Chân Chân cùng đi, Chân Chân liền có cơ hội chiêm ngưỡng dung nhan thật của người ấy. Hôm đó sau buổi chầu, Chân Chân theo Hoàng đế đến các Phù Dung trước. Hoàng đế trò chuyện cùng Liễu Tiệp dư trong các, Chân Chân cùng vài nội nhân đứng hầu ngoài cửa các, lẳng lặng chờ đón vị biểu đệ thần tiên kia. Chân Chân để ý quan sát, phát hiện các nội nhân đều kẻ mày vẽ mắt dán hoa điền, trang điểm tinh xảo hơn ngày thường rất nhiều, biết tỏng họ cố ý muốn thu hút sự chú ý của biểu đệ thần tiên, không nhịn được cười thầm. Trang Lăng Tử, nội nhân hầu hạ ở các Phù Dung gần đây thấy vậy hỏi nàng cười cái gì, Chân Chân khẽ nói: "Ta đoán lần trước ngươi trang điểm thế này, là lúc Thái t.ử tuyển phi." Trang Lăng T.ử suỵt một tiếng, thì thầm với nàng: "Ngươi cứ chờ xem, đợi Tuyên Nghĩa lang đến, ngươi nhất định sẽ hối hận hôm nay không trang điểm cho đàng hoàng." Chân Chân cười nói: "Ta cá với ngươi năm văn tiền, Tuyên Nghĩa lang không đẹp bằng Thái tử, nói không chừng còn chẳng bằng Nhị Đại vương." Trang Lăng T.ử nói: "Được, ta đặt năm văn tiền cá với ngươi." Lời nàng vừa dứt, xung quanh liền có một trận xôn xao, các nội nhân nhao nhao ghé tai nhau, nhìn về phía đường sàn gỗ dưới núi: "Tuyên Nghĩa lang đến rồi!" Chân Chân nhìn theo hướng họ chỉ, thấy một vị quan trẻ tuổi mặc công phục màu đỏ, đeo cổ áo cong có mảng trắng vuông (phương tâm khúc lĩnh), thắt đai lưng mạ vàng, đeo túi cá bạc, đầu đội mũ tam lương đang men theo bậc ngọc trên núi từng bước đi lên. Mũ áo của chàng thể hiện công danh lợi lộc mà thế tục hồng trần ban tặng, nhưng dáng người chàng cao ráo, không chút kiêu căng, áo dài tay rộng bước đi giữa núi non mây phủ, quả nhiên có phong thái tiên nhân. Dải mũ chàng bay bay, càng đi càng gần, dung nhan ngày càng rõ nét dần trùng khớp với người trong mộng mà Chân Chân đã mơ thấy trăm ngàn lần, như ngọc như mây như mài như giũa, cứ thế khoác một thân ánh sáng, từ bờ bên kia giấc mơ của nàng nhẹ nhàng bước tới. Chân Chân tay ôm ngực, chớp mắt liên tục, cuối cùng xác định là chàng. Mà cảnh tượng không chân thực này khiến nàng thần trí hoảng hốt, đợi chàng đi đến trước cửa các, phát hiện ra nàng, đi thẳng đến trước mặt nàng, nàng mới định thần lại, cảm thấy niềm vui ập đến đáy lòng cũng giống như màu đỏ đang lan tràn về phía đỉnh núi hai bên bậc ngọc lúc này, gió nồm vừa nhuộm, hoa lựu nở như muốn bùng cháy. Chàng đứng lại trước mặt nàng, ánh mắt chạm vào đôi mắt ngỡ ngàng của nàng. Nàng rõ ràng muốn cười, nhưng trong mắt lại cảm thấy một đợt nóng hổi. Nàng hơi hoảng loạn cúi đầu xuống, khẽ gọi một tiếng: "Thầy Lâm." Nàng cảm nhận được giọng mình đang run rẩy. Còn chàng, với phong thái đoan chính cúi người vái nàng thật sâu, trịnh trọng chào: "Ngô Chưởng thiện." Cách xưng hô này thốt ra từ miệng chàng nghe xa lạ vô cùng, Chân Chân sững sờ tại chỗ. Lâm Hoằng dưới ánh mắt dõi theo của các nội nhân sau khi hành lễ, cất bước vào trong, đi gặp Hoàng đế và Tiệp dư. Vừa đợi bóng chàng khuất, Trang Lăng T.ử liền nắm lấy cánh tay Chân Chân, kích động hỏi: "Chân Chân, ngươi quen ngài ấy?" Chân Chân đè nén tâm trạng đang xáo động, từ từ gỡ tay Trang Lăng T.ử ra, nhàn nhạt nói: "Ngươi thắng rồi." Chương 79 - Mưa Hoa Hòe Trong tiệc trưa, Chân Chân như thường lệ hầu hạ bên cạnh Hoàng đế, nếm trước món ăn cho ngài. Trong tiệc có mấy món chính do Liễu Tiệp dư tự tay nấu, Chân Chân phát hiện trong đó có Sơn hải đầu và Liên phòng ngư bao (bánh cá đài sen), bất luận hình dáng, nguyên liệu hay mùi vị, đều y hệt món Lâm Hoằng làm ở Vấn Tiều dịch, trong lòng có vài phần nghi hoặc, nhưng ngay lập tức nghĩ ra, họ là chị em, vậy thì trù nghệ của Lâm Hoằng rất có khả năng từng được Liễu Tiệp dư chỉ điểm, biết làm món giống nhau cũng không có gì lạ. Trong tiệc Hoàng đế liên tục nâng ly đối ẩm với Lâm Hoằng, trò chuyện với chàng về việc nhà Tiệp dư, Chân Chân mới dần nghe ra, nương của Liễu Tiệp dư và cha của Lâm Hoằng là anh em họ, Tiệp dư mồ côi cha nương từ nhỏ, bên cạnh không còn người thân thích, nghe nói cha Lâm Hoằng làm quan trong triều, v.ú nuôi Ngọc thị bèn đưa nàng đến Lâm An nương nhờ nhà họ Lâm. Đến Lâm An mới biết cha Lâm Hoằng vì dâng lời đàn hặc Tề Thái sư mà bị vây cánh Tề Thái sư hãm hại, đã c.h.ế.t oan trong ngục từ lâu, nương Lâm Hoằng đã đưa chàng về nhà ngoại ở núi Vũ Di. Ngọc thị lại đưa Liễu Tiệp dư đến núi Vũ Di. Không lâu sau nương Lâm Hoằng qua đời vì bệnh, từ đó hai đứa trẻ mồ côi nương tựa vào nhau mà sống. Liễu Tiệp dư lớn hơn Lâm Hoằng ba tuổi, chị cả như mẹ, luôn tận tình chăm sóc Lâm Hoằng, cho đến năm mười tám tuổi ứng tuyển vào cung. "Khi thiếp còn ở nhà, Ninh ca nhi vẫn là một đứa bé gầy gò, xa cách nhiều năm, không ngờ giờ đã cao thế này rồi." Liễu Tiệp dư nhìn Lâm Hoằng cảm thán. Ngắm nghía một hồi, lại cười nói, "Chỉ là, vẫn gầy." Chân Chân thầm nghĩ, hóa ra tên cúng cơm của thầy Lâm là "Ninh ca nhi", trước đây chưa nghe ai nhắc đến bao giờ. Hoàng đế cũng để ý điểm này, hỏi Liễu Tiệp dư: "Tuyên Nghĩa lang tên chữ là 'Ninh ca nhi'?" Liễu Tiệp dư đáp: "Nó tên gốc là Hoằng Ninh, người nhà gọi là Ninh ca nhi. Sau này không biết thế nào, nó tự đổi tên, bỏ chữ Ninh đi, từ năm tham gia Cống cử, tên chính của nó đã thành Lâm Hoằng." Lâm Hoằng nghe vậy cười nhạt, nói: "Lâm Hoằng Ninh, rốt cuộc đọc cũng hơi trẹo miệng." Dùng bữa xong, nghỉ ngơi một lát, Lâm Hoằng nghiêng mình nói với Hoàng đế: "Thơ Đông Pha có câu: 'Cơm xong chén trà vị càng sâu.' Thần có mang một ít trà mới từ núi Vũ Di đến, nếu Quan gia không chê, thần nguyện đun trà, mời Quan gia và Tiệp dư nếm thử." Hoàng đế cho phép, Liễu Tiệp dư liền sai người bày tiệc trà, mang cối xay trà, chổi khuấy trà đến, Lâm Hoằng lại bảo không cần, chỉ lấy một cái siêu đun nước, múc nước suối, lấy lượng trà vừa đủ từ một hũ bạc nhỏ mình mang theo bỏ vào siêu, đặt lên lò trà đun bằng lửa nhỏ. "Đây là trà xuân năm nay của núi Vũ Di, thần tự tay hái và sao chế, chỉ lấy búp non, dùng nước suối lửa nhỏ đun nấu, mới có thể phát huy d.ư.ợ.c tính tốt nhất, có lợi cho thân tâm." Lâm Hoằng nói. Đợi nước trà sôi, tiếng reo trong siêu như gió qua rừng tùng, Lâm Hoằng nhấc siêu khỏi lửa, đặt lên khăn trà trên bàn con dừng lại một chút, rồi rót vào chén trà, lần lượt dâng cho Hoàng đế và Tiệp dư. Cũng không quên rót một chén đưa đến trước mặt Chân Chân, vái một cái nói: "Mời Ngô Chưởng thiện nếm trước." Cung kính lễ phép, hôm nay lễ số chàng dành cho nàng không thiếu một li. Chân Chân đứng dậy đáp lễ, rồi ngồi xuống thưởng trà, chỉ thấy nước trà trong veo, uống vào ấm áp, dư hương kéo dài. Chân Chân nghiêng mình về phía Hoàng đế, mỉm cười gật đầu, Hoàng đế bèn nâng chén nhấm nháp, lát sau nói: "Trong cung đa phần xay bánh trà điểm trà, thi thoảng có nấu trà, cũng sẽ thêm muối và trà quả, đều không thanh ngọt bằng trà này." Lâm Hoằng nói: "Trà nếu thêm muối hoặc quả, sẽ mất đi vị chính. Điểm trà vị đậm tính hàn, uống nhiều cũng hại tỳ vị. Đun nấu lá trà, nước trà ôn hòa, thích hợp dưỡng sinh hơn." Hoàng đế cười nói: "Triệu Hoài Ngọc trước khi rời kinh, ta ban tiệc tiễn đưa hắn, nghe hắn nói về đạo ăn uống, thấy rất có lý. Hắn bảo từng được khanh chỉ dạy, học làm mấy món ngon. Nay xem ra, khanh quả nhiên tinh thông đạo này." Lâm Hoằng chưa kịp phản hồi, Liễu Tiệp dư đã khẽ mở đôi mắt phượng nhìn chàng, vô cùng ngạc nhiên: "Ninh ca nhi, đệ học nấu nướng từ bao giờ thế?" Lâm Hoằng chỉ mỉm cười lịch sự, cúi đầu không nói. Liễu Tiệp dư quay sang nói với Hoàng đế: "Tiểu đệ này của thiếp, năm xưa chỉ biết đọc sách, việc nhà đều do ta làm. Ta ngày ngày nấu cơm cho nó, nó thường đi theo sau lưng ta nhìn, nhưng tuyệt nhiên không biết ra tay giúp ta chút nào." Nàng có chút ý tứ làm nũng, giọng điệu như trách móc, thậm chí quên cả xưng "thiếp" với Quan gia, nhưng ánh mắt liếc nhìn Lâm Hoằng lại đượm ý cười. Hoàng đế vỗ vỗ bàn tay nàng đưa tới, mỉm cười nói: "Quân t.ử xa nhà bếp. Hắn là người đọc sách, nàng lại là tỷ tỷ của hắn, nấu cơm cho hắn là lẽ đương nhiên, nếu không ra tay cũng không có gì đáng trách. Chắc hẳn sau khi nàng nhập cung, không ai làm được món ngon như nàng, hắn đành phải tự mình động thủ thôi." Liễu Tiệp dư cười: "Quan gia nói phải." Lâm Hoằng cũng nở nụ cười nhẹ, nhưng mi mắt rũ xuống, Chân Chân để ý quan sát, chỉ thấy trong đôi mắt ẩn dưới hàng mi kia không hề có chút ánh sáng vui mừng nào. Hoàng đế nói hy vọng sau này có dịp nếm thử món ngon do Lâm Hoằng làm, Liễu Tiệp dư bèn cười nói: "Không cần đợi ngày khác, hôm nay Ninh ca nhi có thể dâng lên Quan gia một món ngon dùng kèm với trà." Hoàng đế lạ lùng hỏi: "Là món gì?" Liễu Tiệp dư nói: "Món này tên là 'Ngân Ty Cung'." Rồi quay sang dặn Lâm Hoằng, "Nhất định phải điều hòa cho tốt, lại phải có chân vị đấy." Lâm Hoằng hiểu ý, gật đầu thụ giáo. Liễu Tiệp dư khẽ dặn dò nội nhân bên cạnh, nội nhân lĩnh mệnh đi ra, một lát sau từ nội thất lấy ra một cây đàn, đặt ngay ngắn, rồi mời Lâm Hoằng gảy đàn. Lâm Hoằng ngồi xuống, ung dung chỉnh dây đàn, lát sau, một tràng tiếng nhạc không linh như phượng hót hạc kêu tuôn chảy dưới ngón tay chàng, chàng theo đó cất giọng ngâm nga: "Sáng uống sương rơi của mộc lan hương, chiều ăn hoa rụng của thu cúc vàng. Miễn tình ta tin đẹp và ấm áp, dẫu đói vàng võ cũng có hại gì." Một khúc kết thúc, Hoàng đế vỗ tay tán thưởng: "Đông Pha cư sĩ từng nói: 'Trong cầm thư có chân vị.' Hôm nay nghe quân gảy đàn hát 'Ly Tao', mới biết thâm ý trong đó. Món 'Ngân Ty Cung' này hương vị thượng hạng, tuyệt diệu, tuyệt diệu!" Ba người tiếp tục thưởng trà trò chuyện, lát sau Hoàng đế thấy trời không còn sớm, bảo Lâm Hoằng về nơi ở ngoài cung nghỉ ngơi, nhìn trái ngó phải, cuối cùng nói với Chân Chân: "Hôm nay ta ở lại các Phù Dung, ngươi không cần hầu hạ nữa, về Thượng Thực cục sớm đi, tiện đường tiễn Tuyên Nghĩa lang ra cổng cung. Cung uyển Lâm An không bằng phẳng như Biện Kinh, đường núi quanh co, đừng để cậu ấy lạc đường." Chân Chân vâng lời. Lâm Hoằng hành lễ cáo từ, theo Chân Chân ra cửa. Liễu Tiệp dư đứng dậy tiễn đưa, đợi ra khỏi sảnh đường, Liễu Tiệp dư gọi Lâm Hoằng lại, nói: "Vườn tược các Phù Dung này xây theo ý ta, đệ cứ đi xem thử, chỗ nào không ổn, có cần sửa lại không." Nàng dẫn Lâm Hoằng theo mình đến bên lan can đài lộ thiên, cách Chân Chân và các nội thị cung nhân khác chừng vài trượng, mỉm cười nhìn xuống khu vườn bên dưới, nhưng lời nói ra không còn là chuyện vườn tược: "Mấy năm nay sống không tốt sao? Sao lại tiều tụy thế này?" Lâm Hoằng nghiêng mình đáp: "Đa tạ Tiệp dư quan tâm. Hoằng gần đây thức đêm vẽ bản đồ, có lẽ tổn hại khí sắc, nhưng ăn uống không bỏ bữa, không có gì đáng ngại. Ngược lại Tiệp dư trong thư nói, sau khi sinh không được khang ninh lắm, không biết nay đã an ổn chưa?" Liễu Tiệp dư nói: "Ta không sao, đã khỏi hẳn rồi." Thấy Lâm Hoằng khẽ cau mày nhìn mình, dường như không tin, bèn cười, "Không nói thế, đệ chịu đến sao?" Lâm Hoằng nghẹn lời, lặng lẽ lùi lại một bước, cụp mắt đứng đó, một lúc sau mới nói: "Tiệp dư đã vô sự, ngu đệ an tâm rồi." Liễu Tiệp dư khẽ thở dài: "Trước kia ở nhà, đệ không thích gọi ta là tỷ tỷ, cứ luôn không biết lớn nhỏ gọi tên ta, ta nghe mà thấy bực mình. Nay nghe đệ từng tiếng gọi ta là 'Tiệp dư', lại thấy kỳ quặc vô cùng, dường như đệ đang gọi người khác, xa lạ làm sao." Thấy chàng không nói, nàng lại nghiêng đầu về phía trước. Chương 80 - Chương 80 Lâm Hoằng một mình đi về phía cửa Lệ Chính. Chân Chân nghĩ ngợi hồi lâu, rốt cuộc vẫn không yên tâm, đợi chàng bước vào hành lang Cẩm Yên, nàng lại lén đi theo sau, định tiễn chàng đến tận cổng cung. Gần đến cuối hành lang, bỗng thấy Triệu Ngai và Ân Đề đi ngược chiều tới. Cả hai đều mặc trang phục gọn gàng bó sát, lưng đeo cung tên, chẳng biết vừa đi săn ở đâu về. Triệu Ngai tay xách một con nhím, cười ha hả múa may về phía Ân Đề, Ân Đề hai tay giơ cao một con thỏ rừng màu xám, né trái tránh phải để gai nhím không đ.â.m vào người. Hai người rượt đuổi đùa giỡn trong hành lang, chẳng khác nào hai đứa trẻ lên bảy lên tám nghịch ngợm. Lâm Hoằng thấy vậy bèn dừng bước, lẳng lặng chờ họ đùa giỡn đi tới gần. Chân Chân đưa tay day trán, nghiêng đầu nhắm mắt thầm than, chỉ thấy hai người kia ấu trĩ vô cùng, so với họ, Lâm Hoằng trước mặt càng thêm vẻ ngọc thụ lâm phong, thanh tú nho nhã. Ân Đề phát hiện ra Lâm Hoằng trước. Trước đây hắn từng phụng mệnh đưa Lâm Hoằng đi khảo sát vườn Tụ Cảnh nên có quen biết, lập tức cười bước tới chào hỏi, rồi giới thiệu với Triệu Ngai: "Nhị Đại vương, đây là Tuyên Nghĩa lang, biểu đệ của Liễu Tiệp dư." Lâm Hoằng đáp lễ Ân Đề, rồi quay sang hành lễ với Triệu Ngai. Triệu Ngai lại nhìn thấy Chân Chân đứng sau lưng chàng, nụ cười tắt ngấm, ánh mắt lướt qua Lâm Hoằng và Chân Chân một lượt, cuối cùng dừng lại ở giày của hai người, đôi mày không khỏi khẽ cau lại. Quan gia và Liễu Tiệp dư hôm nay mở tiệc đãi Lâm Hoằng ở các Phù Dung, Triệu Ngai biết chuyện này, thấy Chân Chân đi cùng Lâm Hoằng cũng đoán được là Quan gia sai Chân Chân tiễn chàng ra về. Nhưng mép giày của Lâm Hoằng và Chân Chân đều dính chút bùn mềm, chứng tỏ chuyến đi này họ không hoàn toàn đi trên đường chính trong cung. Từ các Phù Dung đến đây, đường chính đều lát gạch đá hoặc sàn gỗ, nếu không rời khỏi bậc thềm hành lang đi vào vườn hoa rừng rậm, chân sẽ không dính bùn đất. Triệu Ngai nín thở ngước mắt, tỉ mỉ quan sát Lâm Hoằng, chỉ thấy chàng phong thái tiêu sái, nghi dung quả nhiên trác việt bất phàm như lời đồn, rồi lại phát hiện một bên mũ tam lương của chàng vương chút hoa hòe. Rừng hoa hòe nằm cách xa hành lang Cẩm Yên, giờ này ít người qua lại. Nghĩ đến đây, Triệu Ngai càng thêm ngờ vực, lại nhìn sang Chân Chân, thấy nàng đang lặng lẽ nhìn chằm chằm bóng lưng Lâm Hoằng, chẳng biết đang nghĩ gì, đến cả việc hành lễ với hắn cũng quên mất. Trong lòng khó tránh dâng lên chút chua xót, nhưng Triệu Ngai cố gắng kìm nén, không để cảm xúc lộ ra mặt, ý nghĩ xoay chuyển, mỉm cười đón lấy Lâm Hoằng, chắp tay nói: "Hóa ra là Lâm cữu cữu, ngưỡng mộ đại danh đã lâu, hân hạnh hân hạnh!" Hai tiếng "cữu cữu" này vừa thốt ra, ba người còn lại đều ngạc nhiên. Lâm Hoằng cụp mắt nói "không dám nhận", Triệu Ngai lại bước tới thân thiết nắm tay Lâm Hoằng, dẫn chàng quay về phía Chân Chân, cười nói: "Chân Chân, Lâm cữu cữu là trưởng bối của chúng ta, nàng phải kính trọng cữu cữu thêm vài phần, đừng để thất lễ. Tiễn cữu cữu xuất cung, sao có thể đi sau lưng cữu cữu? Phải đi phía trước, dẫn đường cho cữu cữu mới phải." Ai là "chúng ta" với ngài chứ! Nghe ý tứ này còn định ép thầy Lâm làm "cữu cữu" của ta sao? Chân Chân tức tối nghĩ, thầm mắng Triệu Ngai một trận trong bụng, nhưng ngại lễ tiết, lại không tiện bác bỏ trước mặt mọi người, đành sa sầm mặt ậm ừ một tiếng cho qua chuyện, rồi bước lên đi trước Lâm Hoằng. Lâm Hoằng thấy tình hình hai người, trong lòng đã hiểu được đôi phần, nghiêng mình thi lễ với Triệu Ngai: "Cổng cung ngay phía trước rồi, không cần phiền Ngô Chưởng thiện tiễn nữa." Triệu Ngai gật đầu: "Đã vậy, Lâm cữu cữu về nghỉ ngơi sớm đi." Lâm Hoằng lần lượt chào từ biệt Triệu Ngai, Ân Đề và Chân Chân. Đợi Lâm Hoằng đi xa, Triệu Ngai mỉm cười nói với Chân Chân: "Ta tiễn nàng về Thượng Thực cục." Chân Chân lạnh lùng đáp: "Tôn ti khác biệt, không dám phiền Nhị Đại vương đưa tiễn." Nàng thi lễ qua loa với hắn rồi quay người bỏ đi. Triệu Ngai cười nhạt, tiếp tục dọc theo hành lang Cẩm Yên về nơi ở của mình. Ân Đề rảo bước đuổi theo, tò mò hỏi: "Liễu Tiệp dư chỉ là thứ mẫu của Đại vương, phân vị cũng không cao, Đại vương là đích t.ử của Quan gia, tại sao phải gọi biểu đệ của bà ấy là cữu cữu?" Triệu Ngai dửng dưng nói: "Triều ta sùng bái lễ nghi, ta thân là tông thất, lẽ ra phải làm gương cho người khác, đặc biệt tôn trọng trưởng bối bên ngoại thích. Gọi một tiếng 'cữu cữu' thì đã sao? Lễ nhiều người không trách." "Ra là vậy..." Ân Đề dường như chợt hiểu ra, gãi đầu, rồi lại cười, "Nói ra thì, ta cũng là trưởng bối của Đại vương, sau này Đại vương có phải đổi giọng gọi ta là thúc thúc không? Ngại quá đi mất..." "Ngươi nói cái gì? Ta không nghe thấy." Triệu Ngai lại xách con nhím lên làm bộ quất vào m.ô.n.g Ân Đề, "Đi nhanh lên, Ân Đề!" Lâm Hoằng rất nhanh liền dâng sớ xin từ chức lên Hoàng đế, xin ngài cho phép về quê. Hoàng đế đương nhiên không cho, năm lần bảy lượt giữ lại. Lâm Hoằng quyết tâm ra đi, thậm chí để lại mũ áo quan phục và bản vẽ vườn Tụ Cảnh vẽ mấy ngày nay tại nơi ở, tự mình thay áo vải, cưỡi ngựa rời kinh. Hoàng đế khá bực mình, lại thêm vài phần lo lắng. Thái hậu vốn không thích Liễu Tiệp dư, ngài chấp nhận sự tiến cử của Tiệp dư để Lâm Hoằng tham gia thiết kế vườn Tụ Cảnh cũng là hy vọng công việc của chàng khiến Thái hậu hài lòng, từ đó cải thiện quan hệ giữa Thái hậu và Tiệp dư. Ban đầu không dám nói với Thái hậu Lâm Hoằng là biểu đệ của Liễu Tiệp dư, mà dâng phương án của Lâm Hoằng lên trước, đợi Thái hậu ưng thuận, lại triệu Lâm Hoằng bái kiến Thái hậu, bàn bạc chi tiết. Thái hậu vừa gặp đã khen ngợi không ngớt, liên tục khen Lâm Hoằng là nhân tài hiếm có, Hoàng đế lúc này mới dè dặt cho bà biết quan hệ họ hàng giữa Lâm Hoằng và Liễu Tiệp dư. Thái hậu tuy có chút không vui, nhưng vì quả thực thưởng thức tài hoa của Lâm Hoằng nên cũng lẳng lặng chấp nhận sự thật này. Giờ Lâm Hoằng không biết ẩn tình bên trong, mạo muội từ quan về quê, biết giải thích với Thái hậu thế nào đây? Chỉ sợ Thái hậu sẽ cho rằng hai chị em họ liên thủ trêu đùa bà, sau này càng thêm chán ghét Tiệp dư. Hoàng đế nói chuyện này với Liễu Tiệp dư, Tiệp dư cũng hoảng sợ vô cùng, rơi lệ quỳ xuống tâu: "Ninh ca nhi sống lâu trong núi, như mây ngàn hạc nội, tùy hứng quen rồi, không hiểu quy củ, không biết nặng nhẹ. Là thần thiếp không dạy bảo biểu đệ cho tốt, mong Quan gia trách phạt. Thần thiếp xin nhận mọi tội lỗi, cũng nguyện đích thân đến núi Vũ Di, đưa biểu đệ trở về." "Hồ đồ!" Hoàng đế quát, "Nàng thân là tần ngự, lẽ nào có lý xuất cung đi xa? Biểu đệ nàng không hiểu chuyện thì thôi, nàng sống lâu trong cung, nói năng sao cũng không biết chừng mực thế hả!" Liễu Tiệp dư nước mắt lưng tròng, phục lạy dưới đất, tháo trâm tạ tội. Chân Chân đứng bên cạnh quan sát, cũng biết nỗi khó xử của Hoàng đế, bèn tìm cơ hội khi hai người ở riêng, xin lệnh với Quan gia: "Quan gia, nếu Quan gia cho phép, nô tỳ có thể đến núi Vũ Di, khuyên Tuyên Nghĩa lang hồi kinh." "Ngươi?" Hoàng đế ngạc nhiên, "Ngươi và cậu ta chỉ mới gặp một lần, nắm chắc bao nhiêu phần thuyết phục được cậu ta?" Chân Chân nhẹ nhàng dâng một bát canh hoa mai lên trước mặt Hoàng đế, nói: "Tuyên Nghĩa lang trước khi nô tỳ nhập cung từng dạy nô tỳ trù nghệ, món canh hoa mai này, hay món cua nhồi cam, lẩu thỏ nhúng trước kia... đều là ngài ấy dạy nô tỳ làm. Chúng nô tỳ có tình sư đồ, nô tỳ biết tính tình ngài ấy, khéo léo khuyên giải, biết đâu ngài ấy sẽ nghe lọt tai." Hoàng đế ngắm nhìn nàng, trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng nói: "Được, ngươi đi thử xem. Chuyến đi núi Vũ Di này đường xá xa xôi, ta phái hai nội thị đưa ngươi đi, nhất định phải sớm trở về. Chỗ Thái hậu, ta tạm thời nói Lâm Hoằng có việc nhà cần xử lý, phải rời kinh vài ngày, đợi lo liệu xong xuôi sẽ sớm quay lại." Chân Chân được hai nội thị hộ tống đến núi Vũ Di. Đến trước cửa trạm Vấn Tiều, chỉ thấy Tân Tam Nương đang cho hạc ăn trong vườn, nhưng không thấy bóng dáng Lâm Hoằng. Chân Chân cất tiếng gọi Tam Nương, Tân Tam Nương ngẩng đầu nhìn thấy nàng, trong khoảnh khắc quên cả nỗi không vui lúc Chân Chân rời đi, vui mừng chào hỏi: "Chân Chân, cô về rồi sao? Mau vào đi!" Chân Chân kể cho Tân Tam Nương chuyện phụng mệnh đi tìm Lâm Hoằng, Tân Tam Nương nói: "Công t.ử năm ngoái mua một khu vườn ở Tô Châu, mấy hôm trước sai người gửi thư về, nói muốn đến Tô Châu ở vài ngày. Cô muốn tìm cậu ấy, lát nữa ta đưa địa chỉ cho, cô cứ theo đó mà tìm." Sau bữa tối, sắp xếp chỗ ở cho hai vị nội thị xong, Tân Tam Nương lại dẫn Chân Chân đến căn phòng cũ của nàng, nói: "Sau khi cô đi, công t.ử cũng không cho ta động vào đồ đạc bên trong, vẫn giữ nguyên dáng vẻ lúc cô ở, bảo ta định kỳ giặt giũ chăn màn, chắc là đang đợi cô về." Chân Chân nhìn quanh bốn phía, chỉ thấy phòng ốc nhã nhặn sạch sẽ như xưa, một giường một ghế, một chén một ly, quả nhiên y hệt lúc trước, dường như nàng chưa từng rời đi. "Tết Trung thu năm ngoái, buổi tối công t.ử đến phòng này, mở cửa sổ nhìn trăng, ngồi một mình suốt cả đêm." Tân Tam Nương nói, "Ta và A Triệt đều đoán, cậu ấy đang nhớ cô." Rõ ràng là chàng đợi nàng đến ước hẹn Trung thu. Chân Chân chợt nghe chuyện này, chẳng biết là vui hay buồn, nương theo lời mô tả của Tam Nương nhìn về chỗ Lâm Hoằng từng ngồi, tưởng tượng cảnh chàng lẻ loi chờ đợi suốt đêm thâu, vành mắt đỏ hoe. Dưới sự truy hỏi của Tân Tam Nương, nàng kể lại nỗi khổ tâm phải nhập cung tìm mẹ năm xưa và tin dữ mẹ đã qua đời. Tân Tam Nương cảm thán một hồi, lại nắm tay Chân Chân khuyên: "Nương cô đã không còn, cô cũng chẳng cần thiết phải ở lại trong cung nữa. Cô và công t.ử lưỡng tình tương duyệt, tại sao không ở bên nhau? Tuy nói cô đã nhập cung, nhưng chỉ là làm nữ quan, vẫn có cơ hội xuất cung. Sau này Quan gia có thả cung nhân ra ngoài, cô hãy lên tiếng xin đi, nghe nói Quan gia đối đãi với người dưới khoan dung nhân hậu nhất, chắc hẳn sẽ đồng ý thôi." Chân Chân im lặng, lát sau cười thê lương, nói: "Ở trong cung, ta đã nhìn thấy 'Lạc Thần' rồi." Tân Tam Nương ngẩn người, Chân Chân lại giải thích thêm: "Lạc Thần mà A Triệt nói, Tống T.ử nương nương mà Tam Nương nói... Người trong bức tranh mà thầy Lâm ngày ngày canh giữ ấy." "Cô gặp Liễu Lạc Vi rồi?" Tân Tam Nương hỏi. Chân Chân buồn bã nói: "Người thầy Lâm thực sự thích, là tỷ ấy đúng không?" "Haizz, chuyện đó đã bao nhiêu năm rồi." Tân Tam Nương thở dài, quyết định kể cho nàng nghe chuyện cũ, "Sau khi cha công t.ử qua đời ở Lâm An, phu nhân đưa cậu ấy về núi Vũ Di sinh sống. Năm công t.ử lên năm, có một thiếu phụ trẻ tuổi dắt theo một bé gái tám tuổi đến tìm phu nhân, nói cô ta họ Ngọc, là v.ú nuôi của bé gái đó, bé gái đó họ Liễu, là biểu tỷ của công tử. Họ từ Lĩnh Nam tới, vì năm đó Lĩnh Nam dịch bệnh hoành hành, cha mẹ cô bé đều nhiễm bệnh qua đời, v.ú nuôi đành phải đưa cô bé đến nương nhờ nhà họ Lâm. Sau đó cô ta lấy ra một số giấy tờ chứng minh thân phận. Cha công t.ử quả thực có một người em họ gả đến Lĩnh Nam, chỉ là cách trở xa xôi, nhiều năm không liên lạc. Phu nhân thấy cô bé kia sinh ra xinh xắn đáng yêu như ngọc tuyết, lại hiểu chuyện, rất thích cô bé, bèn thu nhận cô bé và v.ú nuôi. Cô bé này, chính là Lạc Vi." Chân Chân gật đầu: "Chuyện này ta từng nghe Quan gia và Liễu Tiệp dư nhắc đến, sau này Lâm phu nhân cũng qua đời vì bệnh, từ đó hai đứa trẻ nương tựa vào nhau mà lớn lên." "Chứ còn gì nữa, trong nhà chỉ có hai người họ là thân thích, nên thân thiết vô cùng." Tân Tam Nương lại nói, "Công t.ử rất quyến luyến Lạc Vi, ngày nào cũng lẽo đẽo theo sau... Kể cũng lạ, Ngọc thị kia tuy là v.ú nuôi, nhưng người sinh ra rất đẹp, da dẻ trắng ngần, không giống người Lĩnh Nam. Hơn nữa bà ta không chỉ biết nấu nướng, còn biết đàn hát múa ca, cách nói chuyện cũng giống người của gia đình giàu có từng trải sự đời. Bà ta dạy Lạc Vi từ nhỏ học âm luật vũ đạo và trù nghệ, còn bắt cô bé theo công t.ử đọc sách, mỗi ngày học từ sáng đến tối, Lạc Vi nếu lộ vẻ mệt mỏi hay trốn đi nghỉ ngơi, sẽ bị bà ta trách mắng..." Chân Chân ngạc nhiên: "Bà ta chỉ là v.ú nuôi, sao dám trách mắng tiểu nương nương của chủ nhà?" Tân Tam Nương nói: "Đúng thế, chúng ta cũng thấy lạ, bà ta quản giáo Lạc Vi vô cùng nghiêm khắc, quát mắng trước mặt chúng ta, sau lưng có khi còn đ.á.n.h roi Lạc Vi. Có lần bị công t.ử phát hiện, che chở Lạc Vi mắng Ngọc thị một trận, bà ta mới bớt đi đôi chút. Chúng ta thấy hành vi của bà ta quá đáng, nhiều lần khuyên can, bà ta bảo cha mẹ Lạc Vi hy vọng cô bé lớn lên trở thành một thục nữ vừa thông hiểu cầm kỳ thi họa, vừa biết nấu ăn ngon, sau này có thể giúp chồng dạy con, bà ta giám sát cô nương, là thuận theo di nguyện của cha mẹ cô bé. Chúng ta đành không tiện nói nhiều, ngược lại công t.ử rất ghét bà ta, càng dính lấy Lạc Vi như hình với bóng, bảo vệ Lạc Vi, không để Ngọc thị đ.á.n.h mắng... Sau này họ lớn dần, người nhà họ Lâm đều hy vọng công t.ử và Lạc Vi có thể thuận lý thành chương kết hôn, nhưng Ngọc thị không chịu, quản thúc Lạc Vi càng nghiêm hơn, tuyệt đối không cho phép công t.ử và Lạc Vi ở riêng. Năm Lạc Vi mười tám tuổi, Quan gia tuyển chọn dân nữ vào cung, Ngọc thị liền giấu chúng ta, lén đưa Lạc Vi đi ứng tuyển, trúng tuyển sắp đi rồi mới báo cho chúng ta biết. Công t.ử khóc lớn, cầu xin Lạc Vi ở lại, Lạc Vi tuy không nỡ, nhưng dưới cái nhìn chằm chằm của Ngọc thị, một lời cũng không nói, chỉ thở dài. Ngày đi, Ngọc thị và Lạc Vi trời chưa sáng đã xuống núi, muốn tránh công t.ử níu kéo ngăn cản, nhưng họ đi chưa bao lâu thì công t.ử phát hiện, rạng sáng cuối thu, trời rất lạnh, công t.ử khoác manh áo mỏng chạy ra đuổi theo Lạc Vi. Chạy đến bờ sông cuối cùng cũng đuổi kịp, công t.ử đã nắm được tay Lạc Vi rồi, nhưng Lạc Vi vẫn rút tay ra, dứt khoát lên thuyền đi mất. Công t.ử bất động, ngây người đứng bên bờ sông nhìn theo cô ấy, mãi đến trưa mới bị chúng ta lôi về. Sau đó cậu ấy ốm một trận thập t.ử nhất sinh, trong thời gian đó ta lén xử lý hết đồ dùng vật dụng Lạc Vi để lại, sợ cậu ấy nhìn thấy tức cảnh sinh tình, cũng không cho A Triệt bọn họ nhắc đến Lạc Vi nữa. Cậu ấy khỏi bệnh cũng không hỏi tới, nhưng tự mình vẽ bức tranh đó, treo trong phòng ngày ngày ngắm nhìn..." Nói đến đây bà dừng lại, vỗ vỗ tay Chân Chân, mỉm cười với nàng: "Sau này cô đến, công t.ử mới có chút sức sống trở lại, biết cười rồi. Ta nghĩ qua bao nhiêu năm như thế, những kẻ ham mộ hư vinh kia, ít nhiều gì cậu ấy cũng sẽ dần quên lãng. Lạc Vi đã thành nương nương của Quan gia, sự thật không thể thay đổi, cậu ấy chắc chắn cũng hiểu đạo lý này. Cho nên, chỉ cần cô dùng chút tâm tư, đối xử tốt với cậu ấy, cậu ấy nhất định sẽ quên Lạc Vi, chấp nhận cô thôi." Sáng hôm sau, Tân Tam Nương tiễn Chân Chân ra bến đò, nắm tay Chân Chân dặn đi dặn lại: "Đến Tô Châu, chơi với công t.ử thêm vài ngày nhé, đừng vội về cung... Vườn của công t.ử rất rộng, đủ cho cô ở, đừng tìm khách đ**m bên ngoài đấy. Chương 81 - Vườn Thập Nhất Triệu Ngai buổi chiều uống trà ở các Thanh Hoa thường do Phượng Tiên hầu hạ. Hôm nay Phượng Tiên bưng trà cụ vào thư phòng, Triệu Ngai nhìn qua, hỏi: "Hôm nay không điểm trà, chuyển sang nấu trà à?" "Vâng." Phượng Tiên vừa sắp xếp lò trà siêu nước vừa mỉm cười nói, "Tuyên Nghĩa lang từ núi Vũ Di mang ít trà ngon dâng lên Quan gia, Quan gia thấy ngon, bèn chia mấy phần cho các Hoàng tử. Đây là do Chân Chân trước khi rời kinh đích thân mang tới, còn tỉ mỉ dạy nô tỳ cách nắm bắt độ lửa khi nấu." Triệu Ngai vô cùng ngạc nhiên: "Chân Chân rời kinh? Đi đâu?" "Cô ấy chưa nói với Đại vương sao?" Phượng Tiên mở to mắt nhìn Triệu Ngai, lập tức giải thích, "Tuyên Nghĩa lang từ quan muốn về quê, Quan gia bảo Chân Chân đi tìm ngài ấy, nhất định phải khuyên ngài ấy trở về." Triệu Ngai ném mạnh cuốn sách trên tay xuống bàn cái "bộp", cau mày hỏi dồn: "Quan gia tại sao lại bảo cô ấy đi tìm? Cô ấy là một nữ quan, rời kinh đi tìm nam t.ử bên ngoài, còn ra thể thống gì nữa!" Phượng Tiên dừng tay khêu trà, quay mặt về phía Triệu Ngai, nghiêm túc trả lời: "Cũng là cơ duyên xảo hợp. Tuyên Nghĩa lang Lâm Hoằng, biệt hiệu Vấn Tiều tiên sinh, cũng chính là người thầy dạy Chân Chân trù nghệ trước khi nàng nhập cung." Phượng Tiên kể lại ngọn nguồn quan hệ giữa Chân Chân và Lâm Hoằng một lượt, rồi nói: "Thầy trò họ tuy chỉ ở chung tại trạm Vấn Tiều vài tháng, nhưng luận về tình tri kỷ, chưa chắc đã thua kém bạn đồng môn ngày đêm bên nhau mười mấy năm. Người đời đều nói Tuyên Nghĩa lang tính tình đạm bạc, nhưng tài t.ử sơ cuồng cũng là điều khó tránh. Quan gia có lẽ cho rằng, thánh chỉ ngài ấy còn dám không tiếp, chắc cũng chỉ có lời của Chân Chân là ngài ấy nghe lọt tai." Câu "ở chung tại trạm Vấn Tiều vài tháng" như lưỡi d.a.o lướt qua tim Triệu Ngai. Trước đó hắn nhìn thấy Chân Chân đi cùng Lâm Hoằng ở hành lang Cẩm Yên, đoán được hai người từng lén đến rừng hoa hòe, tuy nhiên khi đó nghĩ rằng họ dù sao cũng mới gặp lần đầu, Chân Chân tuy hoạt bát nhưng việc lớn không hồ đồ, sẽ không dễ dàng bị nam t.ử dụ dỗ, cho nên dù khá khó chịu nhưng cũng không nghĩ nhiều. Nay biết được họ thế mà lại có quan hệ thầy trò, từng ngày đêm đối mặt ở trạm Vấn Tiều, thì chuyến đi rừng hoa hòe kia e rằng không chỉ đơn giản là ôn chuyện cũ. Càng nghĩ càng bực bội, càng không dám đoán xem họ ở ngoài cung sẽ đối xử với nhau thế nào, cuối cùng không nhịn được đập bàn đứng dậy, định lao ra ngoài cửa. "Đại vương!" Phượng Tiên nhanh chóng đứng dậy đi theo, gọi với sau lưng hắn, "Ngài lại muốn tìm cớ đến cung Từ Phúc cầu xin Thái hậu cho phép xuất kinh sao?" Đây quả thực là chiêu bài quen thuộc của Triệu Ngai. Tông thất chưa được Hoàng đế ân chuẩn thì không được rời kinh, Triệu Ngai ỷ vào sự nuông chiều của Thái hậu, thường mượn cớ tìm vật tìm người cho Thái hậu để Thái hậu nói với Quan gia cho phép mình ra ngoài. Hoàng đế khi làm Hoàng t.ử chịu nhiều hạn chế, thấu hiểu nỗi khổ mất tự do này, nên cũng mắt nhắm mắt mở, quản thúc hành động của Triệu Ngai không quá nghiêm, Triệu Ngai nhờ đó mà lần nào cũng được như ý nguyện. Lần này cũng định dùng lại kế cũ, không ngờ bị Phượng Tiên nói toạc ra, bước chân liền khựng lại. Phượng Tiên đi đến trước mặt hắn, trịnh trọng nhún mình hành lễ, dịu dàng nói: "Đại vương, nô tỳ to gan, muốn xin Đại vương nghe nô tỳ một lời: Người Đại vương mà Quan gia muốn nhìn thấy, là một anh tài tuấn kiệt thông tuệ, cần cù, văn có thể định bang quốc, võ có thể đuổi giặc Thát, chứ không phải một công t.ử bột đắm chìm trong tình ái. Đại vương nay xuất kinh, tuy có cái cớ, nhưng tình cảm quan tâm Chân Chân ngày thường của Đại vương Quan gia đều nhìn thấy, lẽ nào không biết mục đích thực sự của Đại vương? Đại vương nếu khăng khăng một mực nhất định phải đi tìm Chân Chân, chắc chắn sẽ làm tổn hại lớn đến hình tượng của Đại vương trong mắt quân phụ." "Ông ấy coi ta là công t.ử bột thì đã sao?" Triệu Ngai cười khẩy, "Ta đâu phải Thái tử, không cần gánh vác trọng trách an bang định quốc. Trách nhiệm của tông thất là làm một người phú quý nhàn rỗi, đây là gia pháp triều đình quy định, tại sao ta không thể thuận theo ý mình mà làm?" Phượng Tiên ngước mắt nhìn thẳng vào hắn, khác với vẻ cúi đầu thuận mắt thường ngày trước mặt Triệu Ngai, ánh mắt nàng lúc này vô cùng bình tĩnh và kiên định: "Thứ cho nô tỳ nói thẳng: Hiện nay quốc bản (Thái tử) tuy đã lập, nhưng sau này chưa chắc không có biến số. Đông cung xưa nay sức khỏe không được tốt lắm, ngày sau nếu có biến cố, người kế vị Trữ quân chính là Đại vương. Đại vương nay nên tự mình nỗ lực, văn thao võ lược, phẩm tính đức hạnh đều phải mài giũa tăng tiến, để tránh khi cơ hội đến lại chẳng có chút chuẩn bị nào." "Phượng Tiên, ngươi có biết ngươi đang nói gì không?" Triệu Ngai rất kinh ngạc, đón lấy ánh mắt tha thiết đang khóa chặt lấy mình kia, giọng trầm xuống hai phần, "Lời này nếu truyền ra ngoài, tội ngang mưu phản." Phượng Tiên lập tức quỳ xuống, khẽ xin tội, rồi lại ngẩng đầu lên, khẩn thiết khuyên Triệu Ngai: "Phượng Tiên biết tội, nhưng những lời này câu nào cũng xuất phát từ đáy lòng, cũng là đạo lý ai cũng hiểu nhưng sẽ không nói với Đại vương. Phượng Tiên liều c.h.ế.t nói ra, chỉ mong Đại vương suy xét kỹ càng, cân nhắc lợi hại, lo cho đại cục, chớ tự ý rời khỏi kinh sư." Triệu Ngai im lặng không nói. Phượng Tiên dò xét thần sắc hắn, từ từ đứng dậy, nắm lấy cổ tay hắn, muốn kéo hắn quay về, nhỏ nhẹ nói: "Đại vương, nô tỳ nghe nói, lát nữa Quan gia sẽ đến giáo trường cưỡi ngựa tập võ, Đại vương chi bằng bây giờ đi thay nhung trang, đến giáo trường trước khi Quan gia tới..." Triệu Ngai lạnh lùng hất tay nàng ra. "Ngươi nghĩ nhiều quá rồi." Trước khi sải bước ra cửa, hắn ném lại cho Phượng Tiên một câu, "Cô nương quá biết tính toán, thì không đáng yêu đâu." Khu vườn ở Tô Châu của Lâm Hoằng tên là "Thập Nhất", nằm bên cạnh Thương Lãng đình ở phía Nam thành. Nhóm Chân Chân đến nơi vừa khéo gặp A Triệt mở cửa đi ra, thấy Chân Chân cũng mừng rỡ vô cùng, tiến lên hàn huyên một hồi, hỏi han tình hình Chân Chân dạo này thế nào chán chê mới vỗ đầu một cái: "Ấy c.h.ế.t, sao ta lại lẩn thẩn thế này, cô chắc chắn là đến tìm công t.ử rồi... Mau vào đi, mau vào đi!" Vào đến trong vườn, chỉ thấy một hồ nước phẳng lặng như gương, màu nước xanh biếc, hoa cỏ ven bờ không nhiều lắm, ngược lại trúc xanh thành rừng, nắng xuyên qua kẽ lá trúc, bóng nắng lướt qua những tảng đá Thái Hồ trùng điệp như núi non, hội tụ giữa các hiên cửa sổ. Trong vườn rất thanh tịnh, thi thoảng có gió mát thổi qua, xen lẫn tiếng chim hót líu lo, êm tai thành điệu. Lâm Hoằng một thân áo trắng, đầu đội nón lá, đang ngồi câu cá trên một tảng đá bên hồ, nhìn thấy Chân Chân cũng không quá ngạc nhiên, bảo nàng ngồi xuống xem. Chân Chân bèn nhân cơ hội kể về sự kỳ vọng của Thái hậu và Quan gia đối với chàng, hứa hẹn phú quý vinh hoa. Lâm Hoằng vẫn luôn im lặng, đợi câu được một con cá, nhìn ngắm một chút rồi lại thả về nước, mới nói với Chân Chân: "Không cần khuyên nữa, ta sẽ không hồi kinh đâu." Chàng dẫn nàng leo lên ngọn núi nhỏ xếp bằng đá Thái Hồ, chỉ tay về Thương Lãng đình đối diện: "Năm xưa Tô Thuấn Khâm không chịu nổi sự chèn ép trong triều, bị tội giáng chức đến Tô Châu, đã xây Thương Lãng đình, uống rượu hát vang, vui cùng cá chim, cảm thán rằng: 'Ngoảnh đầu nghĩ lại chốn vinh nhục xưa kia, ngày ngày lo toan lợi hại chi li, so với chân thú nơi này, chẳng phải hèn kém lắm sao.' Ông ấy hào sảng khoáng đạt, ôm ấp tráng chí, mà còn không dung thân nổi ở chốn vinh nhục đó, huống hồ kẻ tính tình tản mạn như ta. Những năm nay ta tuy chưa làm quan, nhưng nhiều lần xây dựng vườn tược cho quyền quý, thói đời chốn quan trường cũng nghe thấy nhìn thấy không ít. Chốn quan trường nhấn chìm người ta, chẳng bằng an phận với sự phóng khoáng điềm đạm. Đạo lý này, ta không muốn sau nhiều năm chìm nổi trong bể hoạn lộ, trở về nơi này, lại phải viết một bài 'Thập Nhất viên ký' để cảm thán." "Vậy 'Thập Nhất' có nghĩa là gì?" Chân Chân hỏi. Lâm Hoằng nói: "Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Quy về chốn này, như nhặt lại cái 'một' ấy (Thập Nhất hợp lại thành chữ 'Sĩ' - 士 hoặc ám chỉ sự đơn giản, khởi nguyên), hóa phức tạp thành đơn giản, gột rửa tạp niệm, giữ vững sơ tâm, không để ngoại vật trói buộc." Những lời này Chân Chân không hiểu lắm, trù trừ, còn đang nghĩ xem tình cảnh khó xử của Liễu Tiệp dư có nằm trong số "ngoại vật" mà chàng không muốn bị trói buộc hay không, chàng đã ngắt lời Chân Chân, mỉm cười nói: "Nàng đường xá xa xôi, chắc hẳn vô cùng mệt mỏi, tạm thời nghỉ ngơi trong vườn một chút, tối nay ta mở tiệc đón gió tẩy trần cho nàng. Nếu nàng có hứng thú, ta sẽ đưa nàng đi dạo Tô Châu ban đêm, làm tròn một nửa bổn phận chủ nhà." Bữa tối, Lâm Hoằng sai A Triệt lấy rượu ngon ra đãi khách. Hai vị nội thần hộ tống Chân Chân đến, một người là Nội thị điện đầu hơn bốn mươi tuổi Sử Hoài Ân, người kia là Nội thị cao ban chừng hai mươi tuổi Mạc Tư Cẩn. Sử Hoài Ân già dặn chín chắn, dọc đường cẩn thận chăm sóc Chân Chân, kiêm luôn việc giám sát ràng buộc hành vi của nàng. Mạc Tư Cẩn còn trẻ, tính tình hoạt bát hơn nhiều, tò mò với thế giới bên ngoài, dọc đường tìm cơ hội ngắm cảnh khắp nơi, hứng thú còn cao hơn cả Chân Chân. Sử Hoài Ân kia chẳng có sở thích gì khác, chỉ mê rượu ngon, đã thấy rượu quý của Lâm Hoằng, lại có Chân Chân và Mạc Tư Cẩn mời mọc, không tránh khỏi tham chén, sau một hồi uống thỏa thuê liền say bí tỉ, được A Triệt dìu vào phòng khách nghỉ ngơi. Mạc Tư Cẩn thấy vậy mừng như mở cờ trong bụng, kiếm cái cớ mua sắm rồi vui vẻ ra ngoài đi dạo phố, để lại Chân Chân và Lâm Hoằng cười ngượng, vốn tưởng họ muốn đi chơi sẽ rủ hai người đi cùng, không ngờ giờ xem ra lại bị hai người kia bỏ rơi rồi. Tô Châu so với Lâm An, cũng có thuyền hoa đàn sáo, lầu các vàng son, mà trong thành cầu nhỏ nước chảy rất nhiều, đường mòn ven sông uốn lượn thâm sâu, cảnh trí tú lệ. Ban đêm đèn đuốc rực rỡ, quán rượu ven sông nối liền nhau, trước cửa xe ngựa như nước, du khách như mắc cửi. Trong đó có một tửu lầu mặt tiền rộng rãi, cao đến ba tầng, trông khá xa hoa, Chân Chân dừng bước ngước nhìn lên, Lâm Hoằng tưởng nàng có hứng thú bèn mời nàng vào. Chân Chân thấy quán này rèm lụa bay bay, ngoài cửa sổ treo lồng đèn hoa trúc thấp thoáng, lại nghe truyền đến từng trận tiếng ca nữ kỹ nhạc, lo bên trong có kỹ nữ chuốc rượu, vội kéo Lâm Hoằng rời đi, chọn một quán rượu nhỏ khác. Quán rượu nhỏ này chỉ có một tầng ba gian, bố trí mở hướng ra bờ sông, trong sảnh bày hơn mười bàn, hai bên có bình phong ngăn ra thành vài nhã gian. Hai người vào trong, chủ quán bảo nhã gian đã đầy, Chân Chân bèn chọn một chỗ trong sảnh có thể ngắm cảnh sông ngồi xuống, sau đó gọi ít trà nước, trái cây và điểm tâm. Lúc này cua sông đang độ béo, bàn bên cạnh có một đĩa lớn, con nào con nấy hấp chín đỏ au, chỗ rốn cua cũng lộ ra màu đỏ cam, vô cùng hấp dẫn, khiến Chân Chân không kìm được nhìn thêm vài lần, Lâm Hoằng bèn gọi người phục vụ, gọi cho nàng hai con. Bất luận đồ ăn thức uống hay cua, Lâm Hoằng đều không động đũa, chỉ mỉm cười mời Chân Chân thưởng thức. Chân Chân mới nhớ ra Lâm Hoằng tính ưa sạch sẽ, nhất định sẽ không ăn uống ở quán xá, lần này hoàn toàn là vì bồi tiếp nàng mới vào, trong lòng chợt thấy ấm áp, nhưng lại ngại ăn một mình, dưới sự khuyên bảo của Lâm Hoằng mới ngồi ngay ngắn, cầm đũa gắp ít điểm tâm nhỏ, cố gắng dùng tư thái thục nữ đưa vào miệng nhai kỹ nuốt chậm, chỉ sợ bị chàng nhìn thấy tướng ăn khó coi nào. Vì thế, món cua ăn vào cực kỳ phiền phức kia nàng không dám động đến. Quán rượu nhỏ này khó tránh khỏi có những kẻ phàm phu tục tử, cách đó không xa có một người đàn ông hơn ba mươi tuổi đang thao thao bất tuyệt: "Ta nhìn món ăn và tướng ăn của mấy cặp nam nữ này là biết ngay quan hệ của họ. Nhìn cặp kia xem..." Hắn chỉ vào đôi nam nữ trung niên bàn gần cửa, "Mụ vợ kia ăn cua cứ dùng tay bẻ toạc ra, răng c.ắ.n càng cua rôm rốp, gã đàn ông ngồi đối diện nhìn cũng chẳng thèm nhìn, cắm đầu ăn mì, chắc chắn là vợ chồng già." Rồi lại chỉ vào một cặp khác chừng hơn hai mươi tuổi, bình phẩm: "Nhìn đồ ăn trên bàn họ kìa, toàn thứ đẹp mã nhưng vừa đắt vừa không no, chứng tỏ họ vừa mới quen nhau, rất có thể là đang xem mắt." Bạn hắn nghe mà gật đầu lia lịa, liên tục khen phải. Hắn càng đắc ý, nhìn quanh bốn phía, lần này ánh mắt hướng về phía Chân Chân và Lâm Hoằng, đ.á.n.h giá vài lần rồi cười nói: "Cặp này ấy à, gã đàn ông gọi cua, nhưng tiểu nương nương kia ngại ngùng, không dám gặm trước mặt hắn, chắc là liếc mắt đưa tình được một thời gian rồi, nhưng chưa có 'câu' được nhau đâu." Chân Chân nghe xong mặt nóng bừng bừng, vừa thẹn vừa giận, đang định mở miệng mắng, Lâm Hoằng lại khẽ lắc đầu, thấp giọng nói: "Hà tất chấp nhặt với hắn." Lâm Hoằng lập tức cầm lên một con cua sông, lại lấy một đôi đũa bạc đầu nhọn sạch sẽ, quen tay hay việc mở mai cua, dùng đũa bạc chọc, khều, gạt, gắp, chẳng bao lâu sau đã tách được hết thịt cua, bày ra đĩa. Chuỗi động tác này trôi chảy như mây trôi nước chảy, thần thái chàng cũng luôn điềm tĩnh tự nhiên, cuối cùng ung dung đẩy đĩa thịt cua đến trước mặt Chân Chân. "Ăn được rồi." Chàng mỉm cười với nàng. Chương 82 - Dạo Đêm Thịt cua Lâm Hoằng tách ra Chân Chân ăn thấy ngọt ngào vô cùng, lòng tràn đầy vui sướng cúi đầu thưởng thức, cũng không còn câu nệ như lúc đầu, rất nhanh đã ăn hết thịt cua, tiện thể ăn luôn không ít các món khác trên bàn. Trước đó trong tiệc tối ở vườn Thập Nhất, nàng mải mời rượu các nội thần, bản thân ăn rất ít, lúc này mới thấy đói. Giữa chừng ngẩng đầu lên, phát hiện Lâm Hoằng vẫn luôn mỉm cười nhìn nàng ăn, lập tức đỏ mặt, động tác khựng lại. Lâm Hoằng hiểu ý quay đầu đi, giấu nụ cười khỏi tầm mắt nàng, không nhìn chằm chằm nàng ăn nữa. Một lát sau chủ quán đi tới, nhiệt tình hỏi thăm đ.á.n.h giá của họ về món ăn, Chân Chân nói: "Nguyên liệu không tồi, cua rất tươi, nhưng nói thật, các món khác vị nhạt quá, đều như bỏ ít muối, nhất là mấy món hải sản muối chua, vì ít muối nên hơi có mùi lạ." Chủ quán nói: "Cô nương là người nơi khác đến phải không? Cái này cô không biết rồi, hiện nay giá muối tăng vọt, món ăn quán nào cũng nhạt cả. Quán chúng ta còn đỡ, lượng muối dùng tuy ít hơn chút, nhưng đảm bảo đều là muối tinh, không như mấy quán khác, để ép giá vốn, dùng toàn loại muối kém chất lượng lẫn cả bùn cát." Chân Chân cảm thấy lạ lùng hỏi: "Muối chẳng phải do quan phủ độc quyền bán sao? Sao giá muối lại tăng vọt được?" Muối của triều đình bắt buộc phải qua quan phủ bán độc quyền. Muối do diêm dân sản xuất phải bán cho quan phủ trước, thương nhân phân phối lại dùng tiền mặt mua muối từ quan phủ, nhận "giấy chứng nhận lĩnh và vận chuyển muối" do quan phủ cấp, sau đó mới bán cho các cửa tiệm và người dân. Giấy chứng nhận này gọi là "Diêm sao" (phiếu muối). Việc này nhằm ngăn chặn gian thương đầu cơ tích trữ, đẩy giá muối lên cao, triều đình cũng có thể nhờ đó mà tăng thêm thu nhập. Chủ quán than: "Tuy nói là quan phủ độc quyền, nhưng bán thế nào là do quan lại Ti quản muối (Diêm tư) các nơi kiểm soát. Năm nay quan lại Diêm tư ở chỗ chúng ta vì trục lợi, dùng giá cực thấp thu mua của diêm dân, còn thường xuyên khất nợ, dây dưa không trả tiền cho diêm dân. Lại nâng giá cao bán cho thương nhân buôn muối, thương nhân mua giá cao, tất nhiên chỉ có thể bán lại với giá cao hơn. Nếu thương nhân không mua nổi, bọn họ liền trộn bùn cát vào muối, hạ giá xuống một chút, ép thương nhân phải mua." "Thật là vô lý hết sức!" Chân Chân cau mày hỏi, "Nếu thương nhân không làm ăn nữa, không mua thì sao?" Chủ quán nói: "Thương nhân mua không hết, quan lại Diêm tư liền chia đều theo hộ tịch ép người dân mua giá cao, gọi là 'khẩu thực diêm' (muối ăn theo khẩu), ngay cả dân nghèo rớt mồng tơi chúng cũng không tha, bắt buộc phải mua... Thậm chí, đợi dân chúng nộp tiền rồi, chúng lại không vội phát muối, khiến dân chúng trả tiền mà muối thì quanh năm suốt tháng không nhận được, đành phải bỏ giá cao mua của thương nhân... Như thế, giá muối sao không tăng vọt cho được?" Lâm Hoằng nghe xong nói: "Chuyện Diêm sao này trước đây ta thường nghe người dân Phúc Kiến than phiền. Diêm dân không những bị Diêm tư nợ tiền, khi phát tiền, quan lại liên quan thường còn trấn lột thêm một khoản, diêm dân thường vì thế mà phá sản, thương nhân buôn muối cũng vì bị bóc lột tầng tầng lớp lớp mà khó lòng kinh doanh tiếp. Không ngờ ở đây cũng có tệ nạn này." "Chứ còn gì nữa," Chủ quán lại thở dài một tiếng, "Chừng nào chế độ Diêm sao chưa sửa đổi, thì ở đâu cũng có thể xảy ra chuyện này. Món ăn hôm nay quả thực vị muối hơi ít, rất xin lỗi hai vị, chỉ là bổn quán buôn bán nhỏ, lại không muốn tăng giá món ăn, nếu không kiểm soát chút đỉnh, e là cũng khó duy trì kinh doanh." Chân Chân và Lâm Hoằng tỏ vẻ thông cảm, chủ quán cảm tạ rối rít, tặng hai quả trái cây, trò chuyện vài câu rồi lui xuống. Nghe những lời này, Chân Chân dần thấy ăn không ngon miệng, dừng đũa không ăn nữa, mà Lâm Hoằng cũng nhìn bàn ăn đầy ắp suy tư, nhất thời cả hai đều im lặng. Lát sau, có một bé gái chừng tám chín tuổi quần áo tả tơi đi từ ngoài cửa vào, nhân lúc hai người không chú ý rụt rè đưa tay lấy một cái càng cua Lâm Hoằng vừa nãy chưa tách trên bàn, người phục vụ gần đó nhìn thấy, lập tức lớn tiếng quát, cô bé kia vội vàng ném cái càng cua lại xuống bàn, nước mắt lưng tròng suýt khóc òa. Chân Chân vội xua tay bảo người phục vụ không sao, gọi cô bé lại gần, đưa cái càng cua cùng mấy món điểm tâm cho cô bé. Cô bé vui mừng hành lễ cảm ơn. Chân Chân thấy cô bé mày thanh mục tú, cử chỉ lễ phép, không th* t*c như ăn mày bình thường, bèn hỏi: "Muội là người ở đâu? Trong nhà còn ai không? Sao lại lưu lạc đầu đường xó chợ thế này?" Cô bé nói: "Muội là người Thiệu Hưng. Quê muội năm ngoái lũ lụt, năm nay hạn hán, mất mùa đói kém, người nhà trừ muội và nương của muội đều c.h.ế.t đói cả rồi. Nên nương đành dẫn muội đến Tô Châu, ăn xin kiếm sống." Chân Chân hỏi: "Vậy nương của muội đâu?" Cô bé đáp: "Nương muội ốm rồi, đang nằm ở miếu." Chân Chân nghe mà xót xa, bảo người phục vụ lấy hộp đựng thức ăn, trút hết điểm tâm trên bàn cho cô bé mang về, Lâm Hoằng lại lấy ra ít tiền đưa cho cô bé, dặn dò mua t.h.u.ố.c chữa bệnh cho mẹ. Cô bé ngàn ân vạn tạ rồi rời đi, người phục vụ đứng xem thấy vậy nói với Chân Chân: "Năm nay dân chạy nạn từ Thiệu Hưng đến hàng ngàn hàng vạn, ngày nào bên ngoài quán chúng ta cũng tụ tập một đám trẻ con như thế này." Chân Chân hỏi: "Hai năm nay Lưỡng Chiết đều có thiên tai, Quan gia cũng hạ chiếu cứu tế dân bị nạn, giảm miễn thuế má, phát tiền lương thực cứu trợ, sao dân chạy nạn Thiệu Hưng lưu lạc vẫn nhiều thế này?" Người phục vụ nói: "Quan gia đúng là có hạ chiếu cứu trợ, nhưng quan lại các nơi thực hiện mỗi nơi một khác. Tình hình Tô Châu coi như tốt, đều làm theo chiếu thư của Quan gia, còn quan lại Thiệu Hưng thì rất qua loa, giấu giếm tình hình thiên tai với cấp trên, bớt xén tiền lương cứu trợ của triều đình với cấp dưới, bỏ túi riêng, đi các nơi thị sát đ.á.n.h giá thiên tai, còn đòi địa phương nộp một khoản tiền... Cô bảo cứu trợ kiểu đó, dân không bỏ đi sao được?" Chân Chân lắc đầu, hỏi: "Tình hình nghiêm trọng như vậy, không ai báo sự thật lên triều đình sao?" Người phục vụ cười nói: "Cô nương còn trẻ, không biết cái đạo lý quan bao che cho quan. Quan lại địa phương không ai báo, quan địa phương lân cận dù biết, đa phần cũng cảm thấy thêm một chuyện chi bằng bớt một chuyện, ai lại đi nhiều chuyện, tùy tiện tố giác người khác chứ?" Chân Chân trầm ngâm suy nghĩ, người phục vụ liền bỏ đi, lại đi tiếp đón khách khác. Lâm Hoằng thấy Chân Chân im lặng hồi lâu, bèn lại lấy con cua còn lại trên bàn, lặng lẽ tách thịt, đưa cho nàng lần nữa. Lần này hành động của chàng bị gã đàn ông thích bình phẩm thực khách lúc nãy để ý, lại bắt đầu nói hươu nói vượn: "Vị lang quân kia, tuổi còn trẻ mà là cao thủ đấy! Tiểu nương nương ngại ăn cua trước mặt hắn, hắn liền tách cua cho tiểu nương nương ăn, ân cần như thế, nếu hắn có đưa ra yêu cầu gì, tiểu nương nương sao nỡ từ chối!" Nói xong ghé sát tai bạn đồng hành, dùng giọng nói thấp hơn một chút, nhưng vẫn đủ để người bên cạnh nghe thấy cười cợt, "Ta dám cá, tối nay lang quân kia có thể đưa tiểu nương nương này về nhà." Chân Chân nghe vậy càng giận, đang định nổi đóa, lại nghe bạn đồng hành của gã kia đáp: "Chính phải. Cô nương nhà ai lại đi ăn tôm cua do nam t.ử không liên quan bóc cho chứ? Cô ta chịu ăn, chứng tỏ cô ta đã coi nam t.ử kia là tình lang rồi." Chân Chân ngẩn người, tự hỏi nếu cua là do Hàn Tố Vấn hay Mạc Cẩn Ngôn bóc, mình có ăn không. Kết quả đều là không, thế là không khỏi chột dạ, bao nhiêu lời định phản bác cũng nghẹn lại ở cổ họng. Tuy nhiên hai gã kia nói năng vô lễ như thế, muốn hoàn toàn lờ đi cũng khó chịu, huống hồ lời của chúng đã khiến không ít thực khách nhìn chằm chằm nàng và Lâm Hoằng đ.á.n.h giá, thì thầm to nhỏ, thi thoảng cười ám muội, rõ ràng coi nàng là loại phụ nữ lẳng lơ tư thông với người ta. Đang lúc ngượng ngùng, Lâm Hoằng bỗng nắm lấy một bàn tay nàng. "Về thôi." Chàng nhàn nhạt nói, dường như đang nói với nàng một chuyện việc nhà bình thường nhất, "Con ngủ mấy canh giờ rồi, chắc sắp dậy rồi đấy." Nhìn vào mắt chàng, nàng lập tức hiểu ý, trong nháy mắt đã rõ ý đồ của chàng, bèn nương theo lời chàng nói: "Đúng rồi, Nhị ca nhi sắp dậy rồi, chữ của Đại ca không biết đã viết xong chưa, mau về xem thôi." Lâm Hoằng để tiền ăn lại trên bàn, rồi dắt tay Chân Chân rời khỏi quán rượu. Không ít người trong quán nhìn theo họ với ánh mắt ngưỡng mộ, cảm thán: "Hóa ra là vợ chồng, ân ái thật đấy." Đợi đi xa khỏi quán rượu, Lâm Hoằng buông tay Chân Chân ra, nói với nàng một tiếng "Thất lễ". Chân Chân lại khoác lấy cánh tay chàng, mặt nhẹ nhàng tựa vào vai chàng, vẫn giữ tư thế thân mật như vợ chồng cùng chàng sánh bước. Cánh tay bị nàng khoác lấy trong khoảnh khắc cứng đờ, nhưng nhìn bóng hai người quấn quýt dưới chân, Lâm Hoằng dần thả lỏng, nhớ tới lời nói đùa họ cố ý nói cho mọi người nghe lúc nãy, bỗng cảm nhận được một tia ấm áp của trần thế mà trong lòng vẫn hằng mong ước. Đó là mùi vị của "nhà". Lâm Hoằng cúi đầu nhìn Chân Chân, thấy nàng nép vào mình, mang theo nụ cười điềm tĩnh, cũng đang cúi mắt nhìn cái bóng của họ, sống mũi bỗng nhiên cay cay, vội ngước mắt nhìn lên bầu trời đêm gió nhẹ lượn lờ, hy vọng hơi ẩm trong mắt sẽ mau chóng bị gió hong khô. Tết Trung Nguyên triều đình cho nghỉ ba ngày, trong thời gian đó bá quan dân chúng treo đèn kết hoa, cúng bái tổ tiên và Địa quan, cũng không quên đi chơi chợ đêm, náo nhiệt vô cùng. Đúng vào ngày đầu tiên của kỳ nghỉ lễ Trung Nguyên, ven đường ngoài những sạp bán đai giả sừng tê giác vàng, quần áo ngũ sắc, các loại hoa quả bánh trái, thỉnh thoảng cũng có nghệ nhân biểu diễn kịch hát tạp kỹ. Chân Chân và Lâm Hoằng đi đến một đoạn đường khá rộng, bỗng nghe sau lưng tiếng chiêng trống vang trời, một nam nghệ nhân đeo mặt nạ, đóng vai Chung Quỳ nhào lộn tới, thô bạo chen vào giữa tách hai người ra, sau đó vung quạt, cứ vây quanh Chân Chân múa may, lại có mấy nhạc kỹ cầm nhạc cụ cũng vây lại, tấu nhạc, dường như đang đệm nhạc cho "Chung Quỳ", thế nhưng vị trí đứng cũng chen vào giữa Chân Chân và Lâm Hoằng, cố tình hay vô ý ngăn cản Lâm Hoằng, không cho chàng đến gần Chân Chân. Chân Chân tưởng họ muốn xin tiền thưởng, bèn lấy ít tiền đồng đưa cho họ, nhưng họ cầm tiền chỉ vái chào cảm ơn chứ không đi, vẫn cứ vây quanh Chân Chân múa hát, Chân Chân đi họ cũng đi, kiên quyết cách ly Chân Chân và Lâm Hoằng. Lâm Hoằng nhận ra manh mối, hỏi gã "Chung Quỳ": "Các người nhận của người khác bao nhiêu tiền?" Gã "Chung Quỳ" kia cũng thật thà: "Ba trăm văn." Lâm Hoằng lập tức lấy ra tờ tiện tiền hội t.ử (tiền giấy) đưa cho "Chung Quỳ", Chung Quỳ vừa nhìn thấy số tiền liền mừng rỡ, lập tức vẫy tay với đồng bọn, ra hiệu cho họ ngừng tấu nhạc, nhanh chóng rời đi. Lâm Hoằng đang định cùng Chân Chân đi tiếp, bỗng nghe sau lưng có tiếng cười khẽ: "Mấy kẻ này, thấy tiền là sáng mắt." Chân Chân nghe tiếng quay đầu lại, cau mày gọi một tiếng "Nhị Đại vương", lập tức hiểu ra: "Họ là do ngài phái đến?" Triệu Ngai cũng không trả lời, cười bước đến trước mặt họ, nói với Chân Chân: "Ngô Chưởng thiện, nàng thân là nội phu nhân, ở ngoài cung càng nên tự trọng, không thể tiếp cận nam t.ử như thế." Chân Chân hơi bực mình, hỏi: "Ngài theo dõi ta?" "Không tính là theo dõi." Triệu Ngai nói, "Hỏi người ở vườn Thập Nhất hướng đi của các người, qua đây gặp mặt thôi." Sau đó Triệu Ngai không quên chào hỏi Lâm Hoằng, rồi lại bảo với Chân Chân: "Gần đây có một khu vườn tên là Dung Thu viên rất nhã nhặn yên tĩnh, ta đã thuê cho nàng rồi, hai ngày tới nàng cứ ở đó đi, đừng làm phiền Lâm cữu cữu nữa." Chân Chân im lặng, lát sau hỏi vặn lại: "Ta không tiện ở vườn Thập Nhất, chẳng lẽ lại tiện ở cùng ngài tại Dung Thu viên sao?" "Ai bảo ta muốn ở Dung Thu viên?" Triệu Ngai cười lớn, cực kỳ tự nhiên khoác vai Lâm Hoằng, nói với chàng: "Cữu cữu, chúng ta đã mới gặp như đã quen, đêm nay chi bằng kê giường cùng trò chuyện, ngủ chung một phòng, thế nào?" Chương 83 - Bên Đá Thái Hồ Đêm hôm đó Chân Chân theo sự sắp xếp của Triệu Ngai ngủ lại Dung Thu viên, còn Triệu Ngai quả nhiên theo Lâm Hoằng về vườn Thập Nhất, còn từ chối khéo việc Lâm Hoằng chuẩn bị phòng khách cho hắn, một mực đòi ở cùng phòng với Lâm Hoằng. Lâm Hoằng bất đắc dĩ, đành sai A Triệt trải một bộ chăn đệm lên trà sàng (giường ngồi uống trà/giường thấp) trong phòng mình cho Triệu Ngai dùng. Giường ngủ của Lâm Hoằng và trà sàng cách nhau chừng hơn hai trượng, sau khi hai người nằm xuống, Triệu Ngai chủ động bắt chuyện với Lâm Hoằng, dò hỏi chuyện giữa Lâm Hoằng và Chân Chân, Lâm Hoằng lại hời hợt nói vài câu cho qua chuyện, ngược lại dẫn đề tài sang chuyện thiên tai và dân lưu vong Thiệu Hưng, nói chuyện với hắn nửa đêm, nhờ hắn sau khi về kinh tâu rõ thực tình với Quan gia. Triệu Ngai nghe nói dân lưu vong Thiệu Hưng đến Tô Châu khá nhiều, không nơi nương tựa, thường phải lang thang xin ăn, bèn hỏi: "Tiền lương Thường Bình Thương có thể dùng để cứu tế dân bị nạn, châu phủ sao không mở kho lấy tiền lương an trí cho những người này?" Thường Bình Thương là kho lương thực do châu phủ các nơi thiết lập, hàng năm trích một phần trong số thuế thu được, vào mùa lương thực giá rẻ thì thu mua số lượng lớn, đợi khi giá lương thực trên thị trường tăng cao lại bán ra với giá thấp hơn, để bình ổn giá lương thực, đồng thời cũng nhân đó dự trữ lương thực, phòng khi đói kém dùng để cứu tế. Lâm Hoằng nói: "Mở Thường Bình Thương lấy tiền lương phải được triều đình phê chuẩn trước, năm nay Tô Châu cũng có thiên tai, trước đó châu phủ đã báo lên triều đình và mở Thường Bình Thương một lần rồi. Nay những dân lưu vong này từ nơi khác đến, châu phủ có lẽ cho rằng không thuộc quyền quản lý của mình, không muốn dùng Thường Bình Thương địa phương để cứu tế." Triệu Ngai nghe xong đăm chiêu suy nghĩ, dần dần không nói gì nữa. Hôm sau Chân Chân từ Dung Thu viên sang, thấy A Triệt đang chỉ huy mấy người hầu chia lương thực dự trữ trong kho của vườn ra thành nhiều túi nhỏ, bận rộn túi bụi, trong nháy mắt liền hiểu ra, hỏi A Triệt: "Là thầy Lâm bảo các người dùng lương thực trong vườn tiếp tế cho dân bị nạn phải không?" A Triệt xác nhận, rồi thở dài: "Số lương thực này là công t.ử tích trữ từ trước, nhìn thì nhiều, nhưng dân bị nạn đông quá, e là chẳng mấy chốc sẽ phát hết." Chân Chân nghĩ ngợi, cũng không đi gặp Lâm Hoằng ngay, mà tìm Sử Hoài Ân và Mạc Tư Cẩn, bảo họ: "Các ông viết tin Tuyên Nghĩa lang muốn phát lương thực tiếp tế dân bị nạn tại vườn Thập Nhất ra, mau đi tìm một xưởng in tem nhỏ, in thành một ngàn tờ, tìm vài người phát tán khắp hang cùng ngõ hẻm Tô Châu." "Một ngàn tờ?" Sử Hoài Ân trố mắt, "Không cần thiết đâu nhỉ? Ta thấy lương thực ở vườn Thập Nhất cũng chẳng nhiều nhặn gì, chỉ cần vài người nhận được, về một đồn mười, mười đồn trăm, rất nhanh dân bị nạn sẽ biết, đều sẽ đến nhận thôi, hoàn toàn không cần in tem, dù có in, một ngàn tờ cũng là quá nhiều." Chân Chân mỉm cười: "Không sai, cứ một ngàn tờ. Các ông cứ làm theo lời ta, in nhanh rồi đi phát." Sử Hoài Ân và Mạc Tư Cẩn nhìn nhau, không hiểu ra sao. Lúc này Triệu Ngai xuất hiện ở cửa, chắp tay sau lưng bước vào, vẻ mặt cười như đã hiểu, bảo họ: "Cứ làm theo ý Ngô Chưởng thiện, chỉ là một ngàn tờ ít quá, phải in ba ngàn tờ... Tiền in ấn, ta trả." Hôm sau lương thực đã chuẩn bị xong, tem nhỏ cũng in xong, Sử Hoài Ân theo lời Chân Chân cho người đi phát tán khắp nơi. Nhóm A Triệt chuyển lương thực đã chia nhỏ ra ngoài cổng lớn vườn Thập Nhất, gọi dân bị nạn đến lấy, rất nhanh trước cổng đã tụ tập đông nghẹt người, vòng trong vòng ngoài toàn là người. Lâm Hoằng đứng trên ngọn đồi nhỏ xếp bằng đá Thái Hồ trong vườn, nơi đó địa thế cao, có thể nhìn thấy cảnh tượng ngoài cổng lớn. Chẳng bao lâu sau Chân Chân cũng leo lên đồi, đứng bên cạnh chàng cùng quan sát tình hình dân bị nạn nhận lương thực. Còn Triệu Ngai sáng hôm đó nói với Lâm Hoằng một câu phải đến nha môn châu phủ một chuyến, rồi đi từ sớm, nửa ngày không thấy về. Người đến nhận lương thực ngày càng đông, không ít người tay còn cầm tờ t nhemỏ kia, nhìn trang phục giọng nói, trong đó có rất nhiều cư dân địa phương, không phải dân bị nạn do thiên tai. Mới đến giờ Ngọ, số lương thực chuẩn bị đã phát hết, vẫn còn rất nhiều người chờ đợi chưa nhận được, càng nhiều người cầm tem nhỏ vẫn đang ùn ùn kéo đến. A Triệt chắp tay xin lỗi mọi người, nói hôm nay việc cứu tế kết thúc, mời bà con về cho. Mọi người đâu chịu nghe, ai nấy vung vẩy tờ tem, nhao nhao nói, chủ nhân nhà ngươi rêu rao chuyện tặng lương thực rầm rộ, kết quả chỉ chuẩn bị có ngần ấy, chẳng lẽ là muốn mua danh chuộc tiếng, trêu đùa bá tánh. A Triệt hết cách, đành nhặt một tờ tem nhỏ vội vã chạy về vườn đưa cho Lâm Hoằng, báo cáo tình hình. Lâm Hoằng mở ra xem, lập tức cau mày, quay sang nhìn Chân Chân: "Cái này là nàng làm?" Chân Chân cũng không giấu giếm, thẳng thắn thừa nhận: "Là ta cho người in đấy. Thầy Lâm muốn thay mặt châu phủ cứu tế dân bị nạn, tất nhiên xuất phát từ thiện tâm, vốn là chuyện tốt, nhưng thầy đâu phải giàu nứt đố đổ vách như Đào Chu Công, dân bị nạn hàng ngàn hàng vạn, một mình thầy sao cứu xuể?" Lâm Hoằng quay đầu đi, không nói nên lời. Chân Chân bước lại gần chàng một bước, khuyên nhủ: “ Ta nghe Quan gia nói, tên của Thương Lãng đình lấy ý từ câu 'Nước sông Thương Lãng trong chừ, có thể giặt dây mũ ta; Nước sông Thương Lãng đục chừ, có thể rửa chân ta'. Quân t.ử xử thế, gặp thời trị thì ra làm quan, gặp thời loạn thì ở ẩn. Nếu Hoàng đế hôn dung, triều đình hủ bại, quân t.ử giấu tài, ở ẩn tránh đời, tự nhiên không có gì đáng trách, nhưng nay Quan gia thánh minh, từ khi lên ngôi đến nay luôn dốc lòng cầu trị, mong muốn trọng dụng hiền thần, trừng ác trừ gian, để nước giàu dân mạnh, khiến thiên hạ thêm an định. Ngài cầu hiền như khát nước, mà thầy có tài, cũng có tấm lòng kiêm tế thiên hạ, tại sao không vào kinh thành làm quan, trực tiếp bày tỏ chính kiến với Quan gia, làm một hiền thần có thể ảnh hưởng đến quyết sách của Quan gia, giúp ích cho việc hưng quốc an bang?" Lâm Hoằng trầm ngâm không đáp, Chân Chân lại nói: "Khi ta ở Vấn Tiều dịch, ngài thường khuyên ta quý trọng vật lực, nói vạn vật trên đời, từ t.h.a.i nghén đến trưởng thành, đều trải qua quá trình đằng đẵng, phải biết trân trọng, sử dụng thỏa đáng, dùng vào chỗ thực tế chớ lãng phí. Mà ngài mười năm đèn sách khổ đọc, tài hoa chẳng lẽ chỉ dùng để làm vài bài thơ phú thôi sao? Có tài mà chịu khuất nơi một góc, không chia sẻ với người đời, mới là sự lãng phí lớn nhất." Lúc này người đòi lương thực ngoài cổng lớn chỉ tăng không giảm, đã vây kín con đường trước cửa không lọt một giọt nước. Có mấy tên lưu manh côn đồ trà trộn trong đó, lớn tiếng dẫn đầu mọi người đòi lương thực. A Triệt lại ra giải thích, nói trong vườn đã hết lương thực, đám lưu manh lại hét lên: "Chủ nhân nhà ngươi đã xây được cái vườn to thế này, chắc chắn tiền tích trữ cũng không ít. Nếu không có lương thực, lấy tiền ra phát cũng được." A Triệt nói chủ nhân không phải phú hào, trong vườn cũng không có tiền mặt, đám người kia hoàn toàn không tin, tên nào tên nấy la lối om sòm hôm nay nhất định phải nhận được tiền gạo. Cảm xúc của những dân lưu vong còn lại cũng bị kích động, dưới sự dẫn đầu của đám lưu manh, thế mà lại xông vào trong vườn. Lâm Hoằng trên đồi thấy tình thế không ổn, lập tức kéo Chân Chân xuống núi, tránh vào một hang động giữa hòn non bộ đá Thái Hồ. Hang động đó đường đi quanh co, vốn thông ra lầu các dùng làm nơi ở phía sau, nhưng lúc này Lâm Hoằng thấy người tràn vào vườn đều đang xông về phía nhà cửa, cũng không dám mạo hiểm quay về, bèn tìm một chỗ khuất ánh sáng trong sâu hang động, cùng Chân Chân tạm lánh ở đó. Lát sau, bên ngoài ồn ào một trận, có tiếng bước chân vang lên, hình như có người đang rảo bước đi vào, Chân Chân giật mình, cũng không kịp nghĩ nhiều, xoay người đẩy Lâm Hoằng vào một hốc lõm trong góc, mình quay lưng ra ngoài, dùng thân mình che chắn cho chàng. Lâm Hoằng sững sờ, ngay lập tức hiểu ra hành động này của nàng là muốn bảo vệ mình, lập tức ôm lấy eo Chân Chân, nhanh như chớp giật, đã kéo nàng đổi vị trí với mình, đồng thời ôm chặt lấy nàng, khóa nàng trong lòng mình, không cho nàng cử động nữa. Hai người nín thở ôm nhau đứng yên, may mà người vào hang động rất nhanh đã chạy theo đường chính ra ngoài, không phát hiện ra họ trong hốc tối. Qua hồi lâu, tiếng ồn ào bên ngoài hang dần lắng xuống, cũng không biết đám người kia có phải đập phá cướp bóc một trận rồi bỏ đi hay không, trong vườn dường như đã khôi phục sự yên tĩnh vốn có. Lâm Hoằng hơi yên tâm, nhẹ nhàng vỗ lưng Chân Chân, nói với nàng: "Chúng ta có thể ra ngoài rồi." Chân Chân lại bắt đầu nức nở: "Xin lỗi, ta không ngờ họ sẽ xông vào..." "Không sao," Lâm Hoằng ôn tồn nói, "Nàng nói đúng, chút lương thực cứu tế của ta đối với dân bị nạn quả thực là muối bỏ biển, trước kia ta nghĩ đơn giản quá. Chuyện hôm nay, coi như một bài học." Chân Chân lại càng nghĩ càng buồn, hai vai run run, không kìm được tiếng khóc, nước mắt thi nhau rơi xuống. Lâm Hoằng vừa khuyên vừa dỗ, thỉnh thoảng vỗ về an ủi, Chân Chân lại khóc to hơn, Lâm Hoằng nghe mà lòng rối như tơ vò, tay chân luống cuống, một lát sau, kéo nàng vào lòng, cúi đầu hôn đi giọt nước mắt vừa trào ra của nàng. Cái chạm này khiến Chân Chân run lên toàn thân, tiếng khóc ngưng bặt. Nàng ngẩn ngơ nhìn chằm chằm Lâm Hoằng hồi lâu, chỉ thấy Lâm Hoằng mỉm cười với nàng, trong ánh sáng lờ mờ, đôi mắt hắn đang dịu dàng nhìn nàng vẫn sáng như sao trời. Nàng bỗng vòng hai tay ôm cổ hắn, ngẩng đầu hôn lên đôi môi đang mỉm cười ấy. Nàng vụng về ngậm lấy môi dưới của hắn, nhưng sau đó phải làm thế nào thì lại chẳng biết nữa. Lâm Hoằng dường như bị hành động này của nàng làm cho kinh ngạc, người cứng đờ, không nhúc nhích, đừng nói đến đáp lại. Nàng nghĩ ngợi, c.ắ.n nhẹ môi dưới của hắn một cái, không mạnh không nhẹ. Hắn không khỏi bị đau, theo bản năng đẩy nàng ra, lập tức không nhịn được cười nghiêng đầu, rồi lại sát lại gần nàng, cúi đầu nhìn nàng, không tiếng động nhếch khóe môi lên lần nữa. Nàng dường như bối rối nhiều hơn là xấu hổ, mở to mắt vẫn đang quan sát môi hắn. Xem ra chuyện này nàng cũng cần sự chỉ dạy của hắn. Như bị một con sóng ấm áp bất ngờ ập đến, ý nghĩ này khiến hắn xao xuyến, trong khoảnh khắc mọi cấm kỵ và lo toan đều quên sạch, giây tiếp theo liền nhắm mắt, từ từ hôn lên hàng mi ướt át của nàng. Tim nàng đập thình thịch, vội vàng nhắm mắt lại. Nhẹ nhàng hôn lên mi mắt phải của nàng, rồi chuyển sang hôn mi mắt trái, khiến nàng không còn cơ hội mở mắt. Sau đó, hơi cúi đầu, để môi mình chạm vào đôi môi nàng. Chỉ chạm nhẹ một cái rồi rời ra, như nụ hôn của hai chú cá trong nước. Môi nàng ẩm mượt mềm mại, có cảm giác như thịt quả vải tươi. Hơi thở nàng ngọt ngào, có mùi thơm như kẹo cánh kiến trắng. Hắn lại như uống được rượu ngon, lại có hai phần say, không tự chủ được tiếp tục đến gần nàng, để tiến hành thử nghiệm bước tiếp theo. Nhưng lần này hắn chưa kịp chạm vào nàng, liền nghe có người bên ngoài hang động ho khan một tiếng thật mạnh, rồi cao giọng nói: "Ra đi, không sao rồi." Lâm Hoằng nhận ra giọng A Triệt, lập tức nắm tay Chân Chân đi ra ngoài. Đến cửa hang, thấy A Triệt đứng canh ở đó, thấy họ thì cười khá gượng gạo, rồi hất hàm về phía trước, ra hiệu cho họ nhìn. Lâm Hoằng và Chân Chân nhìn theo hướng đó, thấy Triệu Ngai tay cầm một thanh kiếm, hai chân dang rộng ngồi trên tảng đá đối diện, đang sa sầm mặt lạnh lùng nhìn họ. Chương 84 - ung Giường Sau khi nghe Lâm Hoằng mô tả về tình hình thiên tai và dân lưu vong, Triệu Ngai vốn đã vạch ra một kế hoạch chu đáo. Tô Châu thuộc Lộ Chiết Tây, mấy chục năm trước được sắc phong thăng lên thành phủ Bình Giang, nhưng người dân vẫn theo thói quen triều trước gọi thành là Tô Châu. Sáng sớm hôm ấy Triệu Ngai đến nha môn phủ Bình Giang, đưa ra thẻ bài cá ngọc chứng minh thân phận với Tri Phủ Bình Giang Từ Tế Xuyên, đề nghị Từ Tế Xuyên mở Thường Bình Thương cứu tế dân bị nạn. Từ Tế Xuyên lộ vẻ khó xử, cách nói quả nhiên giống hệt dự đoán của Lâm Hoằng: "Đại vương có điều không biết: Động đến tiền lương Thường Bình Thương, phải được triều đình phê chuẩn, Tri phủ không có quyền tự ý mở kho. Thường Bình Thương năm nay đã mở rồi, nhờ hồng phúc của Quan gia, việc cứu tế nhanh chóng ổn định lòng dân. Nay phủ Bình Giang tình hình thiên tai đã giảm bớt, Thường Bình Thương đã đóng. Dân lưu vong Thiệu Hưng đến đây, thực chất là do địa phương đó cứu trợ không hiệu quả gây ra, những dân lưu vong này không thuộc quyền quản lý của phủ Bình Giang, hạ quan thực không có quyền hạn dùng Thường Bình Thương địa phương để cứu tế." Triệu Ngai sớm đoán được ông ta sẽ từ chối như vậy, ung dung nói: "Quan lại châu phủ các người, cứu tế dân bị nạn cũng phải xem hộ tịch trước, nhưng trong mắt Quan gia, đất đai dưới gầm trời này đâu đâu chẳng là đất vua, bất luận Bình Giang, Thiệu Hưng, dân bị nạn ở đâu cũng đều là con dân của ngài. Nay Bình Giang có lương thực dư, dân bị nạn Thiệu Hưng vì cầu sự sống mà đến đây, ngươi chẳng quan tâm ngó ngàng, mặc kệ họ tự sinh tự diệt, Quan gia nhìn vào, khác nào đứa con út đói khát của ngài đến nhà con cả chơi, lại bị con cả đuổi ra, ngay cả một miếng cơm cũng không cho ăn. Ngươi nói xem, Quan gia thấy cảnh này tâm trạng sẽ thế nào? Đối với Từ Tri phủ, sẽ có cái nhìn ra sao?" Từ Tế Xuyên nghe mà mồ hôi lạnh toát ra, nói: "Đa tạ Đại vương dạy bảo, hạ quan như được rót nước đỉnh đầu, mới biết kiến thức mình nông cạn... Hạ quan đi viết tấu sớ ngay đây, lát nữa cho người phi ngựa nhanh đưa đến Lâm An, xin chỉ thị Quan gia, mong Quan gia phê chuẩn cho ta mở Thường Bình Thương cứu tế dân lưu vong." Triệu Ngai xua tay: "Không kịp đâu. Đợi tấu sớ đưa đến Lâm An, dâng lên Quan gia xong ắt phải theo quy trình giao cho quan lại triều đình thảo luận, mấy ông quan đó chuyện nhỏ như cái móng tay cũng có thể cãi qua cãi lại, chưa chắc đã đồng ý hết, cho dù cuối cùng đồng ý, một đi một về này không biết sẽ chậm trễ bao nhiêu ngày, lại c.h.ế.t đói bao nhiêu dân lưu vong. Từ Tri phủ chi bằng quyết đoán ngay lúc này, mở kho cứu tế trước, sau đó dâng sớ tự hặc xin tội sau." Từ Tế Xuyên kinh hãi: "Tiền trảm hậu tấu, chuyện này... chuyện này sao được!" Triệu Ngai mỉm cười: "Ta có thể đảm bảo với ngươi, Quan gia chỉ cần nhìn ra hành động này của ngươi nhằm mục đích an dân cứu người, thì tuyệt đối sẽ không phạt ngươi, thậm chí còn khen thưởng nữa là khác." Từ Tế Xuyên vẫn còn chần chừ, Triệu Ngai lại nói: "Việc này không thể kéo dài. Một ngày không cứu tế, số người c.h.ế.t của dân lưu vong sẽ tăng lên không ít, hơn nữa, cơm no áo ấm nếu không giải quyết được, con người ta sẽ liều lĩnh làm bậy, đến lúc đó gây chuyện khắp nơi, phủ Bình Giang há có thể lo thân mình?" Nói xong Triệu Ngai đặt chén trà trong tay xuống, đứng dậy, nói với Từ Tế Xuyên: "Hiện giờ đang có một vụ, xin Từ Tri phủ phái một ít nha dịch theo ta đi dẹp loạn... Xuất phát ngay lập tức, muộn e khó thu dọn tàn cuộc." Từ Tế Xuyên theo yêu cầu của Triệu Ngai, điều động gần như toàn bộ nha dịch, đích thân dẫn theo cùng Triệu Ngai đến vườn Thập Nhất. Khi đám lưu manh hô hào bắt chủ nhân vườn Thập Nhất lấy tiền phát chẩn, nhóm Triệu Ngai đã đến nơi, canh giữ phía sau đám đông. Triệu Ngai bảo Từ Tế Xuyên tạm thời án binh bất động, xem tình hình phát triển. Chẳng bao lâu sau lưu manh dẫn đầu dân lưu vong xông vào trong vườn, Từ Tế Xuyên không dám chậm trễ, không đợi Triệu Ngai ra lệnh liền sai nha dịch nhanh chóng vào vườn, bắt giữ kẻ cầm đầu gây rối. Một số cư dân trà trộn trong đám dân lưu vong định thừa nước đục thả câu thấy cảnh này, ai nấy hét toáng lên "Quan gia đến rồi", rất nhanh bỏ chạy tán loạn như chim vỡ tổ, nhưng vẫn còn không ít dân lưu vong đói khát quanh quẩn không đi, còn đang đập phá cướp bóc khắp nơi trong vườn. Từ Tế Xuyên chỉ thấy cảnh tượng hỗn loạn, ngổn ngang bừa bãi, nhìn mà sợ hãi, cảm thấy lời Triệu Ngai nói rất có lý, bèn quyết tâm, cưỡi ngựa chạy đến chỗ dân lưu vong tụ tập trong vườn, lớn tiếng hô: "Thường Bình Thương sắp mở kho cứu tế dân bị nạn, bà con mau đến bên ngoài nhà kho chờ đợi!" Nha dịch cũng theo ông ta hô to lặp lại câu này với dân lưu vong, dân lưu vong dần dần dừng tay, nhao nhao quay đầu ra khỏi vườn, đi tìm vị trí nhà kho. Sự việc tiến triển đến đây, Triệu Ngai vẫn cảm thấy mọi thứ nằm trong tầm kiểm soát. Tăng lượng in tem nhỏ, khiến lương thực tiếp tế của vườn Thập Nhất nhanh chóng cung không đủ cầu, trong thời gian ngắn đã tụ tập rất nhiều người bên ngoài vườn. Chân Chân định in một ngàn tờ, người tụ tập có lẽ chỉ ồn ào ngoài cửa, nhưng nếu in ba ngàn tờ, số người đến tăng gấp mấy lần, quần chúng phẫn nộ thì có khả năng sẽ phá cửa xông vào. Đương nhiên hắn sẽ không để việc này mất kiểm soát. Gặp Từ Tế Xuyên trước, mang nha dịch tới, một khi có người gây rối liền kịp thời bắt giữ, sẽ không để vườn Thập Nhất chịu tổn thất quá nhiều. Sự loạn lạc này cũng chứng thực tệ nạn dân lưu vong mà hắn đã nói với Từ Tế Xuyên quả thực tồn tại, sẽ thúc đẩy ông ta quyết định kịp thời mở kho cứu tế. Hơn nữa, hành động này có thể tiện thể dọa Lâm Hoằng một chút, gây khó dễ cho hắn. Huống chi, dân lưu vong vừa vào vườn, chắc hẳn hắn sẽ kinh hoảng thất thố, để Chân Chân nhìn thấy, chắc chắn sẽ làm tổn hại lớn đến hình tượng của hắn trong lòng Chân Chân... Triệu Ngai không kìm được mỉm cười, thầm vỗ vai mình trong lòng: Một mũi tên trúng mấy con chim, Đại vương ta đúng là thiên tài mà! Chỉ là, vạn lần không ngờ tới, Lâm Hoằng thế mà lại kéo Chân Chân trốn vào trong hang động... Sau khi dân lưu vong giải tán, Triệu Ngai tìm Chân Chân trong vườn, nghe A Triệt nói nàng và Lâm Hoằng trước đó đứng trên ngọn đồi đá Thái Hồ, bèn qua đó xem xét, nhưng trên đồi không có dấu vết hai người, liền lập tức xuống dưới tìm. Đi vào trong hang động, thấy bên trong tối tăm u tịch, trong lòng liền có vài phần dự cảm chẳng lành, không khỏi bước chậm lại, không một tiếng động đi vào trong. Quả nhiên, hai người kia đang ở chỗ khuất trong hang. Lâm Hoằng đang nâng mặt Chân Chân, hướng về phía lông mi nàng mà hôn tới. Mà Chân Chân hoàn toàn không phản kháng, nhắm mắt, còn mang theo nụ cười như có như không! Triệu Ngai nhìn mà lửa giận bốc lên ngùn ngụt, lập tức định xông lên ngăn cản, không ngờ bị A Triệt đi theo ôm ngang hông, nửa kéo nửa lôi ra ngoài cửa hang. "Họ đang làm cái gì vậy? Thật vô lý hết sức, còn ra thể thống gì nữa!" Hắn chỉ tay vào trong hang, giận dữ nói với A Triệt. A Triệt mở to mắt, vô tội nhìn hắn: "Mắt Ngô Chưởng thiện rõ ràng bị bụi bay vào, công t.ử đang thổi giúp cô ấy mà!" Rồi lại hạ thấp giọng, khuyên, "Đại vương nói nhỏ thôi, bị người ta nghe thấy sợ là sẽ hiểu lầm." Lời này khiến một tia lý trí của hắn gạt đi tầng tầng lớp lớp lửa giận quay về não bộ: Quả thực không thể làm rùm beng, nếu chuyện này truyền ra ngoài, Chân Chân chắc chắn sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Thế là hắn chẳng thể làm gì, đành xông tới tảng đá lớn phía trước, hậm hực ngồi xuống. Còn A Triệt đã quay đầu vào trong hang, ho to một tiếng, mời hai người ra. Đợi Lâm Hoằng và Chân Chân ra ngoài, Triệu Ngai rút kiếm khỏi vỏ, tay phải cầm kiếm, từng bước đi về phía Lâm Hoằng. Khác với suy đoán trước đó của Triệu Ngai, Lâm Hoằng vẫn rất bình tĩnh, trên mặt không thấy dấu vết sợ hãi, đối mặt với sự ép sát của hắn và thanh kiếm cũng không tỏ ra hoảng loạn, chỉ lẳng lặng nhìn hắn. Đi đến trước mặt Lâm Hoằng, Triệu Ngai từ từ giơ kiếm lên, chĩa vào Lâm Hoằng. Chân Chân lập tức bước lên một bước, chắn trước mặt Lâm Hoằng, quát: "Nhị Đại vương, ngài làm cái gì vậy?" Trong nháy mắt phẫn nộ, chua xót, tủi thân, không cam lòng... đủ loại cảm xúc ùa lên trong lòng Triệu Ngai, cuộn trào không dứt. Chỉ thế này thôi sao? Triệu Ngai thầm nghĩ, mình bất chấp Phượng Tiên ngăn cản, nghĩ đủ cách rời kinh, ngàn dặm xa xôi đến núi Vũ Di, lại chạy tới Tô Châu, là muốn nhìn thấy cái này sao? Mình nơi nơi bảo vệ nàng, cho dù thấy nàng thân mật với Lâm Hoằng cũng im lặng không nói, mà nàng chẳng hề để ý, trong lòng trong mắt trước sau chỉ có Lâm Hoằng. Vành mắt hắn không khỏi đỏ lên. "Cữu cữu," Cuối cùng, hắn nhìn chằm chằm Lâm Hoằng, thanh kiếm trong tay vẫn kiên định chỉ vào người kia, mắt như muốn nứt ra, đằng đằng sát khí nói, "Trên kiếm của ta có bụi, phiền mượn cái khăn tay lau giúp cái." Lâm Hoằng hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn lấy ra một chiếc khăn vuông đưa cho hắn. Triệu Ngai nhận lấy, thu kiếm về dùng khăn vuông từ từ lau, ném trả khăn cho Lâm Hoằng, sau đó dựng lưỡi kiếm lên xoay qua xoay lại ngắm nghía, để ánh lạnh lướt qua mặt Lâm Hoằng, mới thổi đi một sợi tơ trên lưỡi kiếm, tra kiếm vào vỏ. "Ta đi đây." Hắn nói với Chân Chân. Hành động này của hắn khiến Chân Chân thấy khó hiểu, thấy hắn đột nhiên từ biệt, trong chốc lát cũng không biết trả lời thế nào cho phải, bèn chỉ gật đầu: "Ồ." Triệu Ngai vốn đang đợi nàng giữ lại, nào ngờ nàng hoàn toàn không có ý đó. Hắn lập tức hậm hực quay đầu bỏ đi ra ngoài, dọc đường đều nghĩ: "Ba ngàn tờ tem nhỏ thực sự quá ít, phải in ba vạn tờ mới đúng!" Lâm Hoằng và Chân Chân sau đó chỉ huy nô bộc trong vườn thu dọn tàn cuộc, lại bận rộn nửa ngày mới về thư phòng nghỉ ngơi một chút. Chân Chân mượn cơ hội hỏi Lâm Hoằng: "Chuyện hồi kinh, suy nghĩ thế nào rồi?" Lâm Hoằng trầm ngâm không đáp, Chân Chân bèn nói tiếp: "Về công, đạo lý gặp thời trị thì ra làm quan, ta trước đó đã nói rồi, chắc chắn ngài hiểu rõ hơn ta. Về tư mà nói... chẳng lẽ ngài không muốn thường xuyên gặp ta sao?" Lâm Hoằng quay mặt đi, che giấu ý cười sắp lộ ra mặt: "Không muốn." Chân Chân mỉm cười quay sang hướng chàng, nhất định phải nhìn thẳng vào chàng: "Khẩu thị tâm phi. Một hồ nước thu một vầng trăng, đêm nay cố nhân đến hay không... Tam Nương bảo với ta, có người đêm Trung thu đến phòng ta, ngồi một mình suốt cả đêm." Hai tai Lâm Hoằng lại bắt đầu ửng đỏ. Chân Chân càng thêm hứng thú, tiếp tục nói: "Hôm đó ở các Phù Dung, ngài vừa thấy ta đã gọi là Ngô Chưởng thiện, làm sao ngài biết chức quan của ta? Nhất định là vừa đến cung đã dò la khắp nơi, nóng lòng muốn biết tình hình gần đây của ta." Lâm Hoằng bất lực, dùng nụ cười nhẹ ngầm thừa nhận, rồi nói: "Được rồi, ta đồng ý theo nàng về kinh, chỉ là có một việc, nàng phải hứa với ta trước." Chân Chân hỏi: "Việc gì?" Lâm Hoằng nghiêm mặt nói: "Trong cung không giống ngoài phố, cung quy nghiêm ngặt... Nàng không được vô lễ với ta nữa." Chân Chân ngẩn người, lập tức hiểu ra hai chữ "vô lễ" này ám chỉ việc nàng hai lần chủ động hôn chàng. Thế là chớp chớp mắt, hơi xích lại gần chàng, thấp giọng hỏi: "Cho nên... chỉ có thể là ngài vô lễ với ta?" Lâm Hoằng câm nín bật cười. Chân Chân đắc ý phát hiện tai chàng lại đỏ thêm mấy phần. Tuy nhiên hắn đâu có dễ dàng bị một câu nói đ.á.n.h cho tơi bời hoa lá, bình tĩnh nhìn nàng một cái, ánh mắt lướt qua sau lưng nàng, gọi vào khoảng không bên cửa: "Nhị Đại vương." Chân Chân hoảng hốt quay đầu lại, thầm nghĩ câu nói không biết xấu hổ vừa rồi nếu bị Triệu Ngai nghe thấy thì mất mặt c.h.ế.t đi được. Thấy cửa trống không, mới biết là Lâm Hoằng trêu mình, Chân Chân lập tức vừa thẹn vừa giận, lại thấy Lâm Hoằng cười ra tiếng, đầy bụng yêu hận giận hờn nhất thời không biết trút vào đâu, đành lao về phía Lâm Hoằng, chộp lấy một bàn tay chàng, c.ắ.n một cái lên mu bàn tay. Lâm Hoằng cười, cứ ngồi yên để mặc nàng cắn, cho đến khi đau không chịu nổi nữa, mới rút tay đang bị nàng giữ lại về. Đêm đến Chân Chân vẫn về Dung Thu viên nghỉ ngơi, Lâm Hoằng một mình trong phòng thu dọn hành lý, lúc sắp xếp sách vở vô tình chạm phải một chiếc hộp nhỏ, chiếc hộp rơi từ trên giá sách xuống đất, nắp hộp cũng bị văng ra. Đó là một chiếc hộp gỗ đàn hương. Lâm Hoằng vừa thấy, liền dừng động tác trên tay, lặng lẽ nhìn chằm chằm giây lát, mới cúi người nhặt lên. Trong hộp chỉ đựng một cây kim châm bạc dùng để châm cứu, dưới ánh nến lung lay, lấp lánh ánh sáng yếu ớt như tơ trời. Lâm Hoằng cúi mắt nhìn, bàn tay nâng chiếc hộp dần dần run rẩy. Lát sau đóng mạnh nắp hộp lại, nhắm mắt hít sâu một hơi, không nỡ nhìn thêm nữa. Đúng lúc này, bên ngoài bỗng truyền đến một tiếng gọi vui vẻ: "Cữu cữu, mở cửa !" Lâm Hoằng giật mình, lập tức đặt hộp gỗ trở lại giá sách, rồi mới ra mở cửa. Triệu Ngai ôm một bộ chăn đệm sải bước đi vào, cười nói: "Cữu cữu, vẫn chưa ngủ à?" Lâm Hoằng không nói nên lời. Vốn dĩ chiều nay thấy hắn bỏ đi, trong lòng không khỏi thở phào nhẹ nhõm, về phòng mình thấy thoải mái hơn hẳn, lập tức sai A Triệt và người làm khiêng cái trà sàng đi, cọ rửa nhiều lần, bộ chăn đệm kia cũng không muốn nữa, bảo A Triệt tự xử lý. Không ngờ, Triệu Ngai thế mà lại quay lại. Triệu Ngai là tự mình nghĩ thông suốt. Vốn dĩ đầy bụng phẫn uất, bỏ lại Chân Chân, cưỡi ngựa chạy như bay, định một mình về kinh thành trước, ra khỏi thành rồi, càng nghĩ càng thấy không đúng: Mình cứ thế bỏ đi, chẳng ảnh hưởng gì đến họ cả, biết đâu họ còn chẳng còn gì e ngại, Chân Chân cần Lâm Hoằng thổi bụi nhiều hơn nữa thì sao... Mình tức giận bỏ về như vậy, trong mắt Chân Chân, có phải là tuyệt giao không? Thế sau này tìm nàng biết mở miệng thế nào?... Mình đi rồi, Chân Chân đêm nay còn ngủ ở Dung Thu viên không? Lâm Hoằng có kéo nàng bắt nàng ở lại vườn Thập Nhất không? Nghĩ đến đây cảm thấy không thể nhịn được, lập tức quay đầu ngựa, phi nước đại về thành. Trong vườn Thập Nhất, Lâm Hoằng nói với Triệu Ngai đang ôm chăn đệm: "Nhị Đại vương, thật không khéo, trà sàng ngài dùng hôm nay đã cọ rửa, vẫn chưa khô hẳn, chưa khiêng về. Hay là ta bảo A Triệt, chuẩn bị một phòng khách rộng rãi khác, để Đại vương dùng." "Ta biết trà sàng khiêng đi rồi, nên mới tìm A Triệt xin chăn đệm trước." Triệu Ngai nói, tự mình đi đến trước giường Lâm Hoằng đặt chăn đệm xuống trải ra, rồi cười với Lâm Hoằng lúc này mặt đã xanh mét, "Đây là ý trời để chúng ta đồng sàng cộng chẩm (ngủ chung giường chung gối) đấy, ta và cữu cữu, chính là có duyên như thế." Chương 85 - Yến Thiêu Vĩ Hôm sau, Lâm Hoằng theo đoàn người của Chân Chân hồi kinh. Triệu Ngai cũng đi cùng, thúc ngựa đi sát bên Lâm Hoằng, tấc bước không rời. Chân Chân thấy vành mắt Lâm Hoằng thâm quầng, khí sắc không tốt, bèn hỏi chàng đêm qua có phải ngủ không ngon không. Chẳng đợi Lâm Hoằng mở miệng, Triệu Ngai đã cười nói chen vào: "Ta chưa từng thấy ai cần cù hiếu học như cữu cữu. Đêm qua cữu cữu một mình ngồi bên cửa sổ chong đèn đọc sách, ta giục mấy lần cũng không chịu nằm xuống ngủ, ta đành phải ngủ trước, nửa đêm tỉnh dậy vẫn thấy cữu cữu đang đọc sách. Sáng nay lúc ta dậy thì thấy cữu cữu gục xuống bàn mà ngủ, nhưng ngủ cũng chẳng yên, nghe tiếng động khẽ là tỉnh ngay, trong tay vẫn khư khư cầm quyển sách ấy... Hóa ra tài t.ử đều là do khổ học mà thành, thật khiến người ta nhìn mà không theo kịp, nhìn mà không theo kịp a." Chân Chân trong lòng thừa hiểu Lâm Hoằng vì không muốn ngủ chung giường với Triệu Ngai nên mới ngồi chong mắt cả đêm, nhưng cũng không tiện vạch trần để làm bẽ mặt Triệu Ngai trước đám đông, đành lén lút trừng mắt lườm hắn một cái rõ sắc. Triệu Ngai giả vờ như không thấy, cười xòa cho qua chuyện. Còn Lâm Hoằng cưỡi ngựa đi phía trước họ, vẻ mặt vẫn không vui không giận, đối với chuyện đêm qua tuyệt nhiên không nhắc tới một lời. Về đến trong cung, Triệu Ngai đi gặp phụ hoàmg trước tiên, đem tình hình thiên tai và dân lưu vong tai nghe mắt thấy dọc đường tâu lên Hoàng đế. Tấu chương tự hặc tội của Tri phủ Bình Giang Từ Tế Xuyên cũng rất nhanh được gửi tới Lâm An. Hoàng đế xem xong quả nhiên không trách phạt ông ta, mà đúng như Triệu Ngai dự liệu, trên triều đường đã khẳng định quyết sách mở kho cứu tế kịp thời của ông, công khai khen thưởng. Sau đó phái Kỷ Cảnh Lan đến Thiệu Hưng, bãi chức Tri phủ Thiệu Hưng và các quan lại liên quan vì tội che giấu tình hình thiên tai, cứu trợ bất lực, đồng thời bổ nhiệm quan lại thanh liêm chính trực chủ trì việc cứu tế. Trong tấu chương của Từ Tế Xuyên không nhắc đến sự chỉ điểm của Triệu Ngai. Triệu Ngai vốn cũng không muốn Hoàng đế biết mình ở bên ngoài có tiếp xúc với quan lại triều đình, hành động này của Từ Tế Xuyên quả đúng ý hắn. Hoàng đế đối với việc Triệu Ngai lén lút xuất kinh vô cùng bất mãn, vốn định phạt, nhưng nghĩ đến việc hắn dọc đường không quên quan sát dân tình, trong lòng có bách tính, nên cũng không nỡ trách cứ nặng nề, hình phạt định ban ra rồi cũng bỏ qua không nhắc tới nữa. Hoàng đế triệu kiến Lâm Hoằng. Lâm Hoằng tự thỉnh tội tự ý rời kinh, Hoàng đế tuy không vui nhưng vẫn bày tỏ sự coi trọng và kỳ vọng đối với hắn, bắt hắn hứa không được hành xử tùy hứng như vậy nữa. Lâm Hoằng nhận lời, dập đầu tạ ơn, đồng thời xin Hoàng đế cho phép hắn dâng lên Quan gia một bàn "Yến Thiêu Vĩ". Yến Thiêu Vĩ bắt nguồn từ thời Đường. Khi sĩ t.ử được thăng tiến thân phận, ví như đăng khoa, vinh tiến hay thăng chức, đồng liêu và bằng hữu thường mở tiệc lớn chúc mừng. Ngoài ra, đại thần khi mới được phong quan, theo lệ cũng sẽ dâng món ăn lên Thiên tử. Tiệc rượu thiết lập trong hai trường hợp này đều gọi là "Yến Thiêu Vĩ". Nay Lâm Hoằng theo lệ bái quan xin dâng món ăn lên Quan gia, Quan gia tự nhiên vui vẻ ưng thuận, nhưng dặn dò: "Một mình ta ăn không được nhiều, không cần phô trương lãng phí, làm sơ qua vài món là được... Ta nghe nói người ngoài cung thân phận khác nhau thì khẩu vị ưa thích cũng khác nhau, đại để có thể chia làm món Quan phủ, món Văn nhân và món Thứ dân. Chi bằng ngươi làm mỗi loại một hai món cho ta nếm thử xem sao." Lâm Hoằng nhận lời ngay, trở về chuẩn bị một chút. Ba ngày sau vào cung, theo sự sắp xếp của Hoàng đế mượn dùng Ngự trù, cũng không cần người phụ giúp, một mình làm ra ba loại món ăn với phong cách khác biệt hoàn toàn. Đầu tiên dâng lên là hai món Quan phủ (món ăn của quan lại): Thịt Vân Mộng Quấn Hoa và Thủy Luyện Độc (Bê Luyện Nước). Món Thịt Vân Mộng Quấn Hoa là thịt thái lát ăn nguội, miếng thịt hình tròn, lớp da ngoài cùng màu đỏ nâu, mặt cắt ngang thấy mỡ trắng ngần, thịt nạc hồng hào, lại có những đường gân da trong suốt uốn lượn bên trong, quấn quýt lấy phần mỡ, hình dáng tựa như mây trôi. Chân Chân vừa nhìn màu sắc và thớ thịt đã biết là làm từ chân giò heo, thầm ngạc nhiên khi Lâm Hoằng lại chọn loại thịt mà chàng vốn coi thường. Lâm Hoằng theo quy củ trong cung mời nàng nếm trước. Chân Chân gắp một lát bỏ vào miệng, rất nhanh đoán ra cách làm món này: Lấy chân giò heo rút xương, tẩm ướp rồi trải phẳng cả da lẫn thịt, cuộn lại thành hình ống tròn, dùng vải bọc lại, lấy dây buộc chặt, thả vào nồi nước tương nấu chín, đợi nguội thì tháo dây cắt lát. Dùng loại thịt heo có hương vị đậm đà, ăn vào cảm giác mỡ thơm ngập miệng, dư vị kéo dài, mỡ mịn màng, nạc mềm mại, da heo hơi dai giòn, khi nhai tạo nên nhiều tầng cảm giác phong phú. Mọi thứ đều rất tốt, nhưng có một khuyết điểm rõ ràng — quá mặn. Tuy không đến mức không nuốt nổi, nhưng người ăn xong một miếng sẽ rất muốn uống nước ngay lập tức. Phản ứng của Hoàng đế sau khi dùng cũng chứng thực điều này, ngài nuốt xong một lát Thịt Vân Mộng Quấn Hoa liền nâng chén rượu uống một ngụm. Nhưng ngài không vạch trần khuyết điểm này ngay, mà cười hỏi Lâm Hoằng: "Ta nghe nói sĩ đại phu triều ta đều không thích thịt heo, sao Tuyên Nghĩa lang hôm nay lại dùng nó làm món Quan phủ?" Lâm Hoằng nghiêng mình đáp: "Sĩ đại phu không thích thịt heo, nhưng món này thì từ Tể tướng cho đến quan lại châu phủ, hầu như không ai là không thích. Bởi vì người thời Đường là Vi Cự Nguyên khi được phong chức Thượng thư Tả bộc xạ, trong bàn Yến Thiêu Vĩ dâng lên Trung Tông hoàng đế có món Thịt Vân Mộng Quấn Hoa này. Người đời sau ăn món này coi như điềm lành, cho nên thường thấy trong các bữa tiệc quan phủ." Món thứ hai tên là "Thủy Luyện Độc", nhưng Chân Chân nếm ra nguyên liệu không phải thịt bê, mà là dùng thịt dê cực non luộc trong nước hoa hồng đến khi vừa chín tới, rồi thái miếng nhỏ nướng sém cạnh, đồng thời rắc muối và bột nh h nghệ tây. Ngoài sém trong mềm, hoa hồng và nghệ tây hòa quyện tạo ra một mùi hương dị vực quyến rũ, ăn rất ngon. Chỉ là, muối vẫn cho hơi nhiều. Hoàng đế nếm xong cũng khen ngon, hết lời ca ngợi hương thơm gia vị và cảm giác hai tầng của thịt, nhưng lại thắc mắc với Lâm Hoằng: "Ngươi nói thịt này tên là Thủy Luyện Độc (Bê luyện nước), cớ sao lại dùng thịt dê?" Lâm Hoằng đáp: "Món này ở quan phủ dùng thịt bê, nhưng thần không muốn lấy thịt bê, nên dùng thịt dê thay thế." Hoàng đế lập tức hiểu ra, than rằng: "Trâu bò là sức kéo cày bừa, bất luận cung quyến hay bách tính cũng thường dùng xe bò, vì thế triều đình xưa nay không khuyến khích ăn thịt trâu bò, trong cung nếu không phải tế lễ thì cũng không g.i.ế.c mổ. Không ngờ quan lại các nơi không chút kiêng dè, chẳng những ăn thịt bò, còn g.i.ế.c cả bê con... Haizz, đạo lý 'vật mới sinh chớ g.i.ế.c’ chắc đã bị họ quẳng ra sau đầu từ lâu rồi." Hoàng đế đặt đũa bạc xuống, vẻ mặt không vui. Chân Chân lập tức sai người dọn món Thủy Luyện Độc này đi, ra hiệu cho Lâm Hoằng dâng món mới. Lâm Hoằng sau đó dâng lên hai món Văn nhân (món ăn của kẻ sĩ/người có học). Một món là mầm cúc tươi chần qua nước sôi, sau đó tẩm bột nhão pha từ nước cam thảo và bột củ mài, rồi chiên dầu thành món "Cúc Miêu Tiên" (Mầm cúc chiên). Hoàng đế nếm xong khen ngợi việc chọn nguyên liệu và hương vị thanh nhã, nói: "Sảng khoái tựa như gió mát vườn Sở." Món còn lại là những sợi mì màu xanh cực mảnh, đựng trong đĩa pha lê, xanh biếc đáng yêu. Lâm Hoằng mời Hoàng đế trộn giấm và nước tương đi kèm vào, Hoàng đế làm theo rồi nếm thử, mắt lập tức sáng lên, nói với Chân Chân: "Trong sợi mì này dường như có nước rau, nhưng mùi thơm thanh lạ, khác với các loại rau thường thấy, chế biến thế nào vậy?" Chân Chân cũng là lần đầu tiên nếm thử, không khỏi ngẩn người, ngượng ngùng nói: "Loại rau dùng trong đó, nô tỳ cũng nếm không ra..." "Là lá hòe." Lâm Hoằng ôn tồn giải thích thay nàng, trong mắt ẩn chứa ý cười, "Chọn kỹ những lá hòe mọc trên cao non nhất, chần qua nước sôi trong giây lát, rồi nghiền nhỏ, lọc lấy nước cốt xanh trong, nhào với bột làm thành sợi mì, gọi là 'Hòe Diệp Đào'. Món này Đỗ Phủ cũng từng làm, còn làm một bài thơ, trong đó có câu: 'Vạn dặm điện ngọc sương lạnh, mở băng bình ngọc thanh tao. Quân vương nạp mát đêm thâu, vị này cũng cần đôi lúc.' Đêm nay hơi nóng vẫn còn, Quan gia dùng món này giải nhiệt, thật đúng với cảnh này." Hoàng đế cười nói: "Lúc nãy món Quan phủ toàn là thịt, vị tuy thơm nồng nhưng hơi ngấy. Còn hương vị núi rừng này vừa vào miệng, lập tức thấy thần thanh khí sảng, hương thơm lưu lại kẽ răng." Nghĩ một chút lại nói, "Hơn nữa hai món Văn nhân này mặn nhạt vừa phải, món Quan phủ lúc nãy vị muối quá nặng, có phải do tẩm ướp quá tay không?" Lâm Hoằng ung dung đáp: "Người nơi núi rừng, không d.ụ.c không cầu, khẩu vị tự nhiên thanh đạm. Còn đạt quan quý nhân thường thích hương vị béo ngậy đậm đà, nhiều dầu nhiều muối cũng là điều không lạ." Hoàng đế gật đầu, uống một chén rượu, lại lệnh cho Lâm Hoằng dâng món Thứ dân (món ăn của dân thường). Món Thứ dân Lâm Hoằng chỉ làm một món, lúc này được người hầu đưa vào điện Gia Minh. Nội thị trong điện mở hộp thức ăn, lấy món ăn ra đưa cho Lâm Hoằng, Lâm Hoằng đích thân bưng lấy, đưa đến trước mặt Chân Chân. Những món Quan phủ trước đó dùng bát đĩa vàng, món Văn nhân dùng bát đĩa bạc, còn món này lại dùng đĩa gốm thô, bên trong đựng một đống hỗn hợp sền sệt màu vàng vàng trắng trắng, có cặn gạo và các loại đậu, trong đó còn lẫn cả vỏ trấu cứng. Trông như cám heo. Chân Chân vô cùng khó hiểu lấy một ít nếm thử, lập tức càng ngạc nhiên hơn, mở to mắt nhìn Lâm Hoằng. Lâm Hoằng bình tĩnh khẽ gật đầu với nàng, ra hiệu có thể mời Quan gia dùng. Chân Chân thấy vậy biết chàng ắt có thâm ý, cũng đành dâng món Thứ dân này lên cho Quan gia. Quan gia thấy hình dạng món này cũng sững sờ, nhưng nghĩ lại, cảm thấy Lâm Hoằng sùng bái hương vị tự nhiên, món này tuy trông như cám bã, biết đâu nêm nếm lại có chỗ tinh diệu, hoặc ẩn chứa hương vị tiên nhưỡng cũng chưa biết chừng. Thế là vui vẻ múc một thìa lớn đưa vào miệng. Nụ cười vốn định dành cho Lâm Hoằng trong nháy mắt tan biến không còn dấu vết, ngẩn ra một giây rồi vội vàng nhổ thức ăn trong miệng ra không kịp. Trông như cám, ăn vào đúng là cám, không có bất kỳ vị mặn nào, ngược lại còn thoang thoảng mùi thiu. Hoàng đế nhổ xong, đón lấy khăn mặt Chân Chân vội vàng đưa tới lau sạch miệng, rồi ném mạnh khăn xuống đất, đập bàn quát: "Ngươi có ý gì?" Lâm Hoằng không hề hoảng sợ, rời chỗ ngồi quỳ xuống trước mặt Hoàng đế tâu: "Những gì Quan gia nếm được qua mấy món ăn hôm nay, chính là sự khác biệt giữa món Quan phủ, món Văn nhân và món Thứ dân: Nhiều muối, ít muối và không có muối. Cửa son rượu thịt, ắt cầu vị đậm; văn nhân đạm bạc, còn có thể tự túc; thứ dân nghèo hèn, đâu dám bàn chuyện ngọt bùi!" Hoàng đế im lặng, một lát sau chậm rãi hỏi Lâm Hoằng: "Cho nên, ngươi mượn món ăn để can gián, chỉ thẳng vào tệ nạn Diêm sao (phiếu muối)?" Lâm Hoằng dập đầu, nói: "Triều đình thi hành luật Diêm sao, lệnh cho châu huyện thiết lập cơ quan quản lý độc quyền, vốn là để kiềm chế gian thương trục lợi, bình ổn giá muối, tạo phúc cho dân. Nào ngờ quan lại Ti quản muối ở một số châu huyện mượn đó để kiếm chác, ép giá diêm dân, trấn lột thương nhân, thậm chí dùng danh nghĩa 'muối khẩu phần' ép bách tính mua muối kém chất lượng. Tệ nạn trong đó, đặc biệt nghiêm trọng ở Lộ Phúc Kiến, diêm dân thường vì thế mà phá sản, người dân dù trả giá cao cũng khó mua được muối ăn kịp thời, không tránh khỏi oán thán dậy đất. Việc này quan hệ đến dân sinh, nếu bỏ mặc không lo, một khi tích oán bùng phát, e không phải là phúc của xã tắc." Lâm Hoằng lại đem những điều tai nghe mắt thấy về tệ nạn Diêm sao kể lại một lượt. Hoàng đế trầm ngâm, lát sau thở dài một tiếng: "Những chuyện này, ta cũng sớm có nghe thấy, chỉ là luật Diêm sao triều ta dùng đã nhiều năm, trải qua mấy đời Hoàng đế, nếu muốn bãi bỏ, không phải chuyện một sớm một chiều có thể làm xong." Lâm Hoằng nói: "Người ta nếu mọc ung nhọt, chẳng lẽ chỉ vì sợ đau mà không chữa trị, mặc kệ nó phát triển sao? Nếu không kịp thời rạch mủ dẫn lưu, cắt bỏ thịt thối, ắt sẽ tổn thương gân cốt, thối rữa khó lành." Chủ đề về Diêm sao hôm đó kết thúc bằng sự im lặng của Hoàng đế, nhưng ngài không hề phớt lờ lời can gián của Lâm Hoằng. Không lâu sau ngài bàn bạc với đại thần về việc này, kiên quyết bãi bỏ luật Diêm sao ở Lộ Phúc Kiến, lại phái quan viên nghiêm ngặt điều tra quan lại Ti quản muối các lộ, ngăn chặn hiện tượng th*m nh*ng liên quan, tuyên bố triều đình sẽ căn cứ vào tình hình từng địa phương để quyết định luật Diêm sao nên thực hiện hay bãi bỏ. Chương 86 - Tam Hoàng Tử Lâm Hoằng tiếp tục tham gia công trình vườn Tụ Cảnh, một khi đã nhận nhiệm vụ liền toàn tâm toàn ý, thường vì vẽ bản đồ mà quên ăn quên ngủ, hai tháng sau đó số lần gặp Chân Chân chỉ đếm trên đầu ngón tay. Giữa tháng Chín, tẩm điện của Thái hậu ở vườn Tụ Cảnh bước đầu đã thành hình, Lâm Hoằng mời Thái hậu và Hoàng đế đến thị sát, đồng thời góp ý kiến cho việc xây dựng cảnh quan sau này. Thái hậu trả lời rằng bản vẽ đã xem qua, khá hài lòng, có thể sửa đổi theo ý Quan gia, bản thân bà đợi tẩm điện hoàn toàn xây xong mới đến. Quan gia lại vui vẻ đi ngay, còn dẫn theo vài vị Hoàng t.ử và cung nhân hầu hạ đi cùng, trong đó có cả Chân Chân. Tẩm điện tuy chưa hoàn thiện, nhưng đã có thể thấy bố cục mấy tầng sân viện, nhiều lớp đài lộ thiên tinh diệu hơn cả điện các trong cung, hòa quyện khu vườn phương Nam với lầu các cung đình. Trước sau trong ngoài điện các đều có vườn hoa, hơn nữa bốn bức tường đều là cửa sổ cửa chính dạng ô lưới, mùa hè nếu cần hóng mát, có thể tùy ý tháo dỡ cửa ở bất kỳ hướng nào, thậm chí có thể khiến bốn mặt đều thông thoáng. Người ngồi trong đình, vừa ngắm hoa cỏ xung quanh, mặc cho gió mát mang theo hương hoa thỏa thích lưu chuyển trong các. Mùa đông bốn vách có thể lắp hai lớp cửa sổ lưới, dưới hành lang còn có thể treo mấy lớp màn trướng, giữ ấm cũng không phải lo. Khu vườn bên ngoài tẩm các nơi đặt giường ngủ của Thái hậu được Lâm Hoằng thiết kế rất thanh nhã, cây xanh hai bên vách chủ yếu là trúc, giữa sân sẽ trồng một cây tùng già, trong vườn rải đá cuội trắng, điểm xuyết vài tảng đá Thái Hồ. Lâm Hoằng giới thiệu bố cục trong vườn với Hoàng đế, lại nói: "Trong rừng trúc chi bằng treo một ít Toái Ngọc T.ử (mảnh ngọc vụn/chuông gió ngọc), nếu gió lùa qua trúc thưa, tiếng ngọc vang lên, có thể di dưỡng tính tình." Hoàng đế mỉm cười nói: "Toái Ngọc T.ử phong nhã, nghe có vẻ không tồi." Lại hỏi người bên cạnh, "Các ngươi thấy thế nào?" Người xung quanh đa phần hùa theo khen hay, riêng Chân Chân có ý kiến khác: "Toái Ngọc T.ử không tốt. Thái hậu tuổi tác đã cao, nếu treo Toái Ngọc Tử, ban đêm e là dễ bị giật mình tỉnh giấc." Lời vừa dứt Triệu Ngai liền cao giọng tán thưởng: "Lời Ngô Chưởng thiện nói không hẹn mà hợp ý ta. Thái hậu ngủ không yên giấc, thường chịu nỗi khổ mất ngủ, Toái Ngọc T.ử này không treo được." Hoàng đế cũng thấy có lý, bảo Lâm Hoằng không cần treo nữa. Triệu Ngai thấy vậy càng thấy khoan khoái, hiếm khi mình và Chân Chân đồng quan điểm, đều phản đối ý kiến của Lâm Hoằng, còn được phụ thân ủng hộ. Không kìm được nhìn Lâm Hoằng một cái thật sâu với nụ cười như có như không, tự cảm thấy mình đã thắng một ván, ngoài mặt tuy không nói gì, trong lòng lại dương dương tự đắc chắp tay với Lâm Hoằng: "Đa tạ nhường nhịn, đa tạ nhường nhịn..." Lâm Hoằng coi như không thấy. Phía sau chàng có một thuộc hạ tay cầm giấy bút sẵn sàng ghi chép ý kiến mọi người, lúc này Lâm Hoằng quay đầu nhìn thuộc hạ, nhàn nhạt dặn dò ghi thêm một câu: "Ngô Chưởng thiện bày tỏ, cô ấy không thích Toái Ngọc T.ử (mảnh ngọc vụn)." Chàng đưa mắt nhìn về phía Chân Chân, không hề lộ ra vẻ cười trộm, cười khẩy hay bất kỳ biểu cảm nào mang hàm ý sâu xa, khí định thần nhàn, mắt như nước mùa thu. Thế nhưng câu nói tưởng chừng như trần thuật sự thật, vô cùng bình thường này lại khiến Chân Chân trong nháy mắt đỏ bừng mặt, cúi đầu lùi lại một chút, chỉ hận không thể lập tức độn thổ biến mất. Nàng đương nhiên không quên, cái đêm ở Vấn Tiều dịch năm xưa, nàng và Lâm Hoằng từng nương tựa vào nhau. Nàng mê man đón nhận nụ hôn bắt đầu từ trán của chàng, nếu không phải mảnh toái ngọc t.ử treo trong rừng trúc bên nhà bỗng nhiên rơi xuống vỡ tan, e rằng sự quấn quýt ngày đó còn hơn thế nữa. Cho nên, "Ngô Chưởng thiện không thích toái ngọc tử" thực ra là một lời trêu chọc hàm súc mà chỉ hai người họ mới hiểu. Nàng có cảm giác muốn lao tới đ.ấ.m cho Lâm Hoằng một trận tơi bời, nhưng giữa thanh thiên bạch nhật, bao nhiêu cặp mắt nhìn vào, nàng ngoài đỏ mặt ra thì chẳng thể làm gì được. Triệu Ngai nhận thấy thần sắc Chân Chân khác lạ, không khỏi hơi nghi hoặc: Lâm Hoằng chỉ cho người ghi lại một ý kiến của nàng thôi mà, sao nàng lại thẹn thùng đến thế? Chẳng lẽ sợ vì thế mà bị ghi vào sử sách? Hắn lại nhìn Lâm Hoằng, quan sát kỹ lưỡng, nhưng nghi thái đoan trang của Lâm Hoằng vẫn hoàn hảo không chê vào đâu được như mọi khi, trong đôi mắt phẳng lặng như hồ nước không nhìn ra chút manh mối nào. Hắn cố gắng tự thuyết phục mình rằng hai người kia hoàn toàn bình thường, không cần nghĩ nhiều tự chuốc phiền não, nhưng một cái ta lý trí khác lại cứ trồi lên chất vấn: Vậy nàng đỏ mặt cái gì? Ván này ngươi hình như thua rồi... Mấu chốt là thua ở đâu cũng chẳng biết. Hắn chớp chớp mắt, quyết định không nghĩ sâu xa nữa, chuẩn bị dốc toàn lực trong trận Cúc cầu buổi chiều, giành lấy sự chú ý của Chân Chân. Trận Cúc cầu này diễn ra trên sân bóng đã xây xong trong vườn Tụ Cảnh. Thái t.ử xưa nay không thích Cúc cầu, bèn ngồi ở vị trí giữa một bên sân bóng tán gẫu với phụ hoàng và Lâm Hoằng. Nhị Hoàng t.ử Triệu Ngai và Tam Hoàng t.ử Triệu Hạo mỗi người dẫn một đội con em tông thất và ngoại thích tranh tài. Giữa sân bóng dựng hai cây cột gôn cao chừng ba trượng, khung thành phía trên đường kính một thước, gọi là "Phong Lưu Nhãn" (Mắt phong lưu). Sau khi phát bóng, hai bên tranh bóng, tâng bóng, dẫn bóng, cuối cùng bên nào có bóng thì chuyền cho đội trưởng, đội trưởng đá bóng vào Phong Lưu Nhãn, qua được thì tính một điểm, kết thúc trận đấu ai vào nhiều bóng hơn là thắng. Triệu Ngai thường đá cầu với đám Ân Đề, kỹ thuật vốn đã vô cùng điêu luyện, lần này phối hợp ăn ý với Ân Đề, đầu, vai, ngực, đầu gối, chân đều có thể đỡ bóng, ung dung như đi dạo trong sân vắng. Ân Đề đoạt bóng dẫn bóng rồi chuyền đến chân Triệu Ngai, Triệu Ngai dốc sức đá về phía Phong Lưu Nhãn, đa phần đều trúng. Chẳng bao lâu, số điểm đã vượt xa đội Triệu Hạo. Triệu Hạo mặt xám ngoét như tro tàn, càng đá càng nản, các thành viên khác cũng lòng quân tan rã, rất nhanh đã thua trận. Bên sân bóng vây quanh rất nhiều nội nhân, thấy Triệu Ngai dáng vẻ oai hùng, thỉnh thoảng lại phát ra từng tràng tiếng reo hò khen ngợi. Khi trận đấu kết thúc, họ càng ùa về phía Triệu Ngai sắp rời sân, tranh nhau ngắm nhìn người chiến thắng, cao giọng gọi "Nhị Đại vương", cố gắng thu hút sự chú ý của hắn. Phượng Tiên đã sớm chuẩn bị sẵn một bình nước lê đường mà nàng tốn hơn nửa ngày công phu tỉ mỉ nấu nướng, đứng đợi bên cạnh chỗ ngồi của hắn, thấy hắn trở lại liền bưng nước lê đường tươi cười đón tiếp. Thế nhưng Triệu Ngai chỉ dừng lại ở chỗ ngồi một chút, nhận lấy khăn mặt nội thị đưa tới lau qua loa, rồi lập tức đứng dậy cười híp mắt đi về phía Chân Chân, chưa đến gần đã gọi lớn: "Chân Chân, ta đá thế nào?" Hắn thậm chí không nhìn Phượng Tiên lấy một cái. Phượng Tiên bưng nước lê đường, vẫn giữ nguyên nụ cười nở ra khi nhìn thấy hắn, đứng cứng đờ tại chỗ. Hồi lâu sau, Phượng Tiên mới hoàn hồn, nhìn Triệu Ngai đang cười nói vui vẻ với Chân Chân ở phía xa, lặng lẽ bưng nươc lê đi về phía bờ hồ, định tìm một chỗ không ai để ý đổ chỗ nước đường này đi. Đi đến bên hồ, phát hiện dưới gốc liễu gần đó có một người đang ngồi ủ rũ cúi đầu, quay lưng về phía nàng. Nhìn chiếc áo màu tím trên người, chắc là thành viên đội Triệu Hạo vừa thua trận lúc nãy. Phượng Tiên không muốn để ý, đang định quay người bỏ đi, người kia nghe tiếng động, ngoảnh đầu nhìn lại. Thế mà lại là Triệu Hạo, trong đôi mắt lười biếng ngước lên u uất cả một trời âm u của mùa thu. Triệu Hạo đen đúa gầy gò, từ nhỏ dung mạo phong độ đều không bằng Thái t.ử và Triệu Ngai, lại vốn ít nói, tuy yến tiệc trong cung hắn cũng tham gia, nhưng một người bình thường không có gì nổi bật như hắn nếu không mở miệng thì rất khó được người ta chú ý. Vừa rồi sau trận đấu cũng vậy, các nội nhân đều đi vây quanh Triệu Ngai, hầu như không ai phát hiện ra sự tồn tại của hắn, còn việc hắn ra bờ hồ từ lúc nào lại càng chẳng ai quan tâm. Bốn mắt nhìn nhau, Phượng Tiên đành phải nhún mình hành lễ, gọi một tiếng "Tam Đại vương". Triệu Hạo liếc nhìn bát nước lê đường Phượng Tiên đang bưng, lạnh lùng nói: "Tránh ra, ta không cần." Phượng Tiên lập tức hiểu ra hắn hiểu lầm, tưởng mình đến đưa nước cho hắn, trong lòng không khỏi buồn cười. Nhưng hắn đã nói vậy, mình bỏ đi lại không tiện, bèn đi thẳng đến trước mặt hắn, đặt khay xuống, rót một bát nước lê đường, hai tay dâng đến trước mắt hắn: "Tam Đại vương, đá cầu ra nhiều mồ hôi, sau khi thi đấu nên uống chút nước ngay. Nước lê đường này nhuận phổi giải khát, uống lúc này là tốt nhất." Triệu Hạo nhìn nàng rồi lại nhìn bát nước, tỏ vẻ do dự. Phượng Tiên bèn mỉm cười với hắn: "Cao lê dùng để pha nước đường là do nô tỳ tốn bảy tám canh giờ nấu đấy ạ, cũng không biết mùi vị có đủ ngon không. Mong Đại vương nể mặt, nếm thử một chút, nói cho nô tỳ biết mùi vị thế nào." Đổ đi cũng phí, chi bằng cho hắn uống, làm cái tình thuận nước giong thuyền vậy. Phượng Tiên nghĩ. Triệu Hạo nhận lấy, nếm thử một ngụm, rồi uống cạn một hơi. "Rất ngon, ngon hơn nội nhân trong các của ta làm." Hắn đ.á.n.h giá, nở một nụ cười nhàn nhạt với nàng. Hiện nay nội nhân Thượng Thực cục hầu hạ ăn uống cho hắn là Đường Ly, Phượng Tiên vừa nãy thấy cô ta cũng hai mắt sáng rực chạy về phía Triệu Ngai gọi "Nhị Đại vương" rồi. Phượng Tiên cảm thấy buồn cười, nhưng cũng nảy sinh chút lòng trắc ẩn với Triệu Hạo. Liên tưởng đến cảnh ngộ của mình vừa rồi, họ dường như cũng được tính là cùng cảnh ngộ. "Là Nhị Đại vương bảo ngươi đến?" Triệu Hạo hỏi. Vì hai huynh đệ thường gặp nhau, hắn cũng nhớ mặt Phượng Tiên, biết nàng là người bên cạnh Triệu Ngai. Phượng Tiên lắc đầu: "Nô tỳ tự đến, Nhị Đại vương không biết." "Ngươi đặc biệt đến đưa nước đường cho ta?" Triệu Hạo vô cùng ngạc nhiên, "Tại sao? Là thương hại ta thua trận đấu sao?" "Đâu có," Phượng Tiên cười phủ nhận, trầm ngâm một chút, rồi như hạ quyết tâm nói với hắn, "Nô tỳ biết văn thao võ lược của Đại vương không thua kém bất kỳ ai trong cung, chút tài vặt đá cầu này có sá gì. Hôm nay thất bại, chỉ là thấy Nhị Đại vương hứng chí cao, cố ý nhường nhịn, không muốn làm sứt mẻ tình huynh đệ mà thôi. Hiện giờ chỗ này thanh tịnh, nô tỳ mới có vinh hạnh mời Đại vương nếm thử nước đường của nô tỳ, nên vội vàng chạy tới. Chứ đợi lần sau Đại vương thắng trận, người chúc tụng Đại vương ùa tới như ong vỡ tổ, nô tỳ có muốn chen cũng chen không lọt đâu ạ." Lời hay nói một câu cũng là nói, mười câu cũng là nói, chi bằng nói thêm vài câu, cho hắn vui vẻ một chút. Phượng Tiên nghĩ thế, lại rót thêm cho Triệu Hạo một chén nước đường... Dùng ấm nước lê đường này đổi lấy thiện cảm của một Thân vương, cũng không tính là lãng phí. Triệu Hạo nghe những lời này vô cùng xúc động, nhưng bướng bỉnh quay đầu đi, không để nàng nhìn thấy đôi mắt đỏ hoe của mình. Hồi lâu sau, hắn mới mở miệng: "Có thể cho ta biết tên khuê danh của ngươi không?" "Phượng Tiên," Phượng Tiên mỉm cười đáp, "Lăng Phượng Tiên." Đêm hôm đó, Chân Chân nằm một mình trên giường, tỉ mỉ nhớ lại chuyện buổi sáng. Nghĩ đến toái ngọc t.ử cảm giác xấu hổ trào dâng, nàng vội kéo chăn trùm kín đầu... Nghĩ ngợi một hồi, lại cảm thấy một tia ngọt ngào, chăn trượt khỏi đỉnh đầu, ý cười lan lên khóe mắt bờ môi, nhưng trong lòng lại hiện lên dáng vẻ trêu chọc lặng lẽ của Lâm Hoằng, yêu hận đan xen không biết làm sao cho phải, đành úp sấp người xuống, nắm tay đ.ấ.m thùm thụp vào vạt giường. Đầy bụng tâm sự thiếu nữ muốn tìm người giãi bày, Chân Chân nghĩ ngay đến Phượng Tiên. Hôm sau tìm gặp Phượng Tiên, kéo vào ch* k*n đáo, Chân Chân kể hết mọi chuyện từ khi rời kinh đến nay cho Phượng Tiên nghe, chỉ lược bỏ vài lần tiếp xúc thân mật với Lâm Hoằng. Phượng Tiên nghe xong hỏi: "Vậy giờ muội tính thế nào? Định nói rõ với Quan gia, xin ngài ban hôn sao?" Chân Chân thở dài: "Không được. Nếu bây giờ muội nói với Quan gia, ngài nhất định sẽ cho rằng muội xuất cung tìm thầy Lâm là lợi dụng việc công làm việc riêng, chỉ để được ở bên huynh ấy... Muội thì không sao, chỉ sợ liên lụy đến thầy Lâm, khiến Quan gia hiểu lầm huynh ấy." Phượng Tiên suy nghĩ một hồi, bảo Chân Chân: "Vậy chi bằng muội tìm cách xuất cung, khôi phục thân phận tự do. Như thế, muội muốn gả cho ai có thể tự mình quyết định theo ý muốn." Từ khi nhận tin dữ của nương mình, Chân Chân đối với cung đình đã chẳng còn luyến tiếc gì, sớm đã nghĩ đến chuyện xuất cung, ngặt nỗi việc này xem ra chẳng dễ dàng. "Muội đã dò hỏi rồi, nội nhân xuất cung thường có hai con đường." Chân Chân nói với Phượng Tiên, "Một là lớn tuổi, tự xin xuất cung lấy chồng hoặc dưỡng già; hai là không được lòng Quan gia hoặc quý nhân mình hầu hạ, bị đuổi khỏi cung, hoặc được đưa vào danh sách khi Quan gia thả nội nhân xuất cung." "Cách thứ nhất không hợp với muội." Phượng Tiên dứt khoát bác bỏ, "Muội mới mười tám tuổi, lấy lý do tuổi lớn xin xuất cung, ít nhất cũng phải gần ba mươi mới mở miệng được chứ?" Chân Chân gật đầu, lại hỏi: "Cách thứ hai có khả thi không?" "Bị đuổi khỏi cung thì càng không được, nội nhân phạm lỗi đa phần sẽ bị đưa đi làm nữ đạo sĩ." Phượng Tiên nói, "Có điều, nếu lỗi không lớn, không bị định tội trừng phạt, chỉ là khiến chủ t.ử không vui, thì có khả năng được đưa vào danh sách xuất cung, toàn thân trở ra." Chân Chân buồn bã nói: "Muội cũng hiểu đạo lý này, nhưng không biết lỗi lầm kiểu gì sẽ không bị định tội, nhưng lại có thể khiến Quan gia hoặc quý nhân nào đó không vui đến mức muốn tống muội ra khỏi cung." "Cái này chúng ta nghĩ thêm xem," Phượng Tiên lập tức dặn dò Chân Chân, "Nhưng sau này muội phải chú ý, đừng hầu hạ Quan gia quá tận tâm tận lực, khiến ngài cảm thấy không thể rời xa muội... Cũng phải cố gắng tránh thăng chức, chức càng lớn càng khó thoát thân... Muội nhìn Bùi Thượng thực xem, kẹt trong cung mấy chục năm rồi cũng không ra được." "Ồ, chuyện này muội có hỏi qua bà ấy." Chân Chân nói, "Muội nghe Quan gia bảo, nếu Bùi Thượng thực muốn xuất cung dưỡng già, sẽ ban cho bà một tòa nhà lớn, bổng lộc hậu hĩnh cũng có thể lãnh mãi. Nhưng Bùi Thượng thực bảo muội, nhà mẹ đẻ bà ấy chẳng còn ai, bà ấy ra cung cũng lủi thủi một mình, chi bằng ở lại trong cung, người qua kẻ lại, còn náo nhiệt hơn." Chương 87 - Lời Nói Thật Các nữ quan, nội nhân Thượng Thực cục được phân phái đến các điện các cứ năm ngày lại tụ tập một lần, lắng nghe Bùi Thượng thực dạy bảo, trao đổi kinh nghiệm tâm đắc gần đây. Thảo luận xong công việc, thường sẽ chuyển sang tiết mục tán gẫu chuyện mới lạ thú vị trong cung. Hôm nay cũng không ngoại lệ, đợi Bùi Thượng thực giảng bài xong, bóng dáng khuất sau cửa, Trang Lăng T.ử liền mày hớn hở mắt long lanh nói với các cô nương: "Các tỷ muội nghe nói chưa? Viện Hàn Lâm Y Quan gần đây thi tuyển đề bạt y quan trẻ tuổi, vốn dĩ Hàn Tố Vấn thi đứng nhất, nhưng mấy vị giám khảo bàn bạc, thế mà lại đổi luật, ép thêm một mục 'đánh giá của y quan', để các lão thái y viết lời nhận xét cho thí sinh. Kết quả mục này thành tích của Hàn Tố Vấn không bằng người đứng thứ hai, cơ hội thăng lên Hàn Lâm Y quan tòng thất phẩm cứ thế mà bay biến." Chuyện Hàn Tố Vấn thi trượt Chân Chân trước đó cũng có nghe, chỉ là không biết nguyên nhân. Chức danh hiện tại của cậu ta là "Hàn Lâm Y học", tòng cửu phẩm, tuy bình thường cũng được người ta tôn xưng là y quan, nhưng thực chất thuộc hàng y công. Kỳ thi lần này là để đề bạt một người từ y công lên "Hàn Lâm Y quan" tòng thất phẩm, đó mới là Ngự y danh chính ngôn thuận, cho nên Hàn Tố Vấn đã chuẩn bị rất nghiêm túc từ lâu, ban ngày chăm chỉ khám bệnh, ban đêm chong đèn khổ học, quyết tâm giành lấy vị trí này, vạn lần không ngờ tới, cậu ta lại thua ở mục đ.á.n.h giá của y quan. Các nội nhân nhao nhao tiếc nuối, đều nói bình thường thấy Hàn Tố Vấn đối xử với mọi người rất tốt, bạn bè lại đông, không ngờ lại không được lòng cấp trên đến thế. Không được lòng cấp trên. Chân Chân nhanh chóng nắm bắt trọng điểm. Gần đây nàng luôn suy nghĩ làm sao mới có thể trở nên đáng ghét, để lần tới Quan gia thả nội nhân xuất cung mình sẽ có tên trong danh sách, nghĩ mãi không ra phương án khả thi, bỗng nghe chuyện của Hàn Tố Vấn, lập tức như được khai sáng: Hóa ra Hàn Tố Vấn chính là nhân tài "không phạm tội mà vẫn bị cấp trên ghét" đây rồi! Phải mau chóng đi tìm cậu ta, xin cậu ta truyền thụ chút kinh nghiệm để học hỏi. Chân Chân nhanh chóng kiếm cớ mời y quan kiểm tra nguyên liệu nấu ăn, vội vã đến viện Hàn Lâm Y Quan. Đến nơi Hàn Tố Vấn không có đó, các y công khác bảo cậu ta theo Đặng thái y đi khám bệnh rồi, nhưng chắc sắp về, mời Chân Chân đợi một lát. Chân Chân đợi hồi lâu, vẫn không thấy cậu ta về, bèn ra khỏi cổng lớn viện Y quan, định rời đi, không ngờ vừa khéo nhìn thấy Hàn Tố Vấn và Đặng thái y mỗi người xách một hòm t.h.u.ố.c bằng gỗ, từ ngoài trở về. Chân Chân vội rảo bước đón đầu. Hàn Tố Vấn thấy nàng thì vui lắm, vừa định chào hỏi, bỗng nghe "cạch" một tiếng, quay đầu nhìn lại, thấy một đầu quai xách hòm t.h.u.ố.c của Đặng thái y bị tuột mộng gỗ, hòm t.h.u.ố.c lung lay sắp rơi. Hàn Tố Vấn lập tức đưa tay đỡ lấy, Đặng thái y nhanh chóng đón lấy, cũng chẳng màng quai xách nữa, ôm trọn cả cái hòm vào lòng. Đặng thái y tuổi đã ngoài năm mươi, dáng người gầy nhỏ, ôm hòm t.h.u.ố.c trông có vẻ khá vất vả. Hàn Tố Vấn bèn đề nghị: "Đặng thái y, hòm của ta mới phát tháng trước, còn mới lắm, hay là đổi cho ngài dùng nhé, ta dùng cái của ngài." Đặng thái y lắc đầu quầy quậy như trống bỏi: "Không được không được, hòm này của ta dùng bao năm rồi, cũ nát lắm, sao đổi lấy cái mới của ngươi được." "Không sao đâu," Hàn Tố Vấn cười nói, "Hòm cũ gỗ tốt lắm, ta mang về sửa sang, sơn lại một chút là như mới ngay." Nói xong nhiệt tình đưa tay ra định đỡ lấy hòm t.h.u.ố.c của Đặng thái y: "Ngài lát nữa còn phải đến Bắc Đại nội khám bệnh, hòm này nhất định phải đổi ngay..." Đặng thái y vèo một cái ôm hòm quay sang hướng cậu ta không với tới được, kiên quyết từ chối: "Trong hòm ta nhiều đồ lắm, hòm ngươi không đựng hết đâu." "Không đâu." Hàn Tố Vấn giơ hòm của mình lên cho ông xem, "Hòm ta dài rộng y hệt hòm ngài, còn cao hơn hòm ngài một chút nữa cơ, đồ nhiều mấy cũng chứa được tất." Nói rồi tay lại vươn về phía hòm của Đặng thái y. Đặng thái y vừa liên tục nói "không cần", vừa ôm chặt hòm mình không cho Hàn Tố Vấn chạm vào. Hàn Tố Vấn cứ tưởng ông khách sáo, quyết tâm làm việc tốt này, bèn không cho từ chối mà định giằng lấy cái hòm cũ. Hai người giằng co qua lại vài hiệp, Đặng thái y trượt tay, cái hòm bất ngờ rơi xuống, nắp hòm bung ra, t.h.u.ố.c men, dụng cụ, bút nghiên, đơn t.h.u.ố.c bên trong văng tung tóe đầy đất. Và hai thỏi bạc tròn vo sáng lấp lánh nhảy ra từ trong đó, lấp lánh ánh sáng trắng tuyết dưới ánh mặt trời, vui vẻ lăn lông lốc, lăn đến tận chân Chân Chân mới dừng lại. Hàn Tố Vấn im bặt trong nháy mắt, nhìn chằm chằm hai thỏi bạc hồi lâu, dần dần hiểu ra lý do Đặng thái y không cho mình đụng vào hòm thuốc. Đây mười phần chắc chín là tiền tạ lễ của gia đình vừa đi khám bệnh, số tiền rất lớn, theo lý thì Hàn Lâm y quan không được phép nhận. Phản ứng lại, cậu lập tức chạy đến trước mặt Chân Chân, đón lấy thỏi bạc từ tay Chân Chân vừa nhặt lên, rồi chạy về bên cạnh Đặng thái y, hai tay dâng trả cho ông. Đặng thái y "hừ" một tiếng, phất tay áo thật mạnh, bạc và hòm t.h.u.ố.c cũng chẳng cần nữa, phẫn nộ bỏ đi. Hàn Tố Vấn nhìn theo bóng ông đi xa, lại nhìn Chân Chân đang đi tới, nở nụ cười gượng gạo. Nhân tài, nhân tài, đây chính là nhân tài đáng để ta lặn lội tìm kiếm, khổ sở cầu được dạy! Chân Chân một lần nữa khẳng định kết luận này. "Loại chuyện này, cậu làm không ít nhỉ?" Chân Chân hỏi Hàn Tố Vấn. "Haizz..." Hàn Tố Vấn ngẩn ngơ thở dài, "Cũng chẳng biết tại sao, cứ dăm bữa nửa tháng lại xảy ra một vụ, rõ ràng ta toàn muốn làm việc tốt mà..." Chân Chân lại hỏi chuyện thi y quan: "Rốt cuộc cậu đã làm gì, mà khiến giám khảo có thể lâm thời đổi luật vì cậu, liên hợp với các lão thái y cùng nhau đ.á.n.h trượt cậu?" Hàn Tố Vấn đáp: "Ta cũng từng suy nghĩ vấn đề này, được đồng liêu nhắc nhở, ta thấy có liên quan đến lần ta từ chối tiền thưởng của Tam Đại vương... Lần trước Tam Đại vương bị cảm lạnh, Vương thái y dẫn ta đi khám cho ngài ấy. Vương thái y chẩn đoán xong bảo ta cạo gió cho Tam Đại vương. Ta cạo xong Tam Đại vương rất hài lòng, thưởng cho Vương thái y và ta mỗi người rất nhiều bạc. Ta từ chối không nhận, nói chúng ta làm việc ở viện Hàn Lâm Y Quan, bổng lộc hàng tháng đã hậu hĩnh hơn thầy t.h.u.ố.c dân gian rất nhiều, hàng năm quần áo đồ dùng lại không phải tự bỏ tiền mua, nhận thêm nhiều tiền thưởng của quý nhân như vậy sao yên tâm cho được. Tam Đại vương vẫn cứ muốn thưởng, ta cuống lên, bèn nói: 'Ta đến để hành y, không phải đến để xin thưởng.' Tam Đại vương đành thôi, liên tục khen ta phẩm tính cao khiết... Sau đó Vương thái y cũng tỏ vẻ không thể nhận tiền thưởng, rưng rưng nước mắt trả lại bạc..." "Cậu nói toạc móng heo ra làm gì." Chân Chân không nhịn được bật cười, "Cậu đường đường chính chính từ chối tiền thưởng trước mặt Vương thái y như thế, ông ta còn mặt mũi nào mà nhận một mình? Rưng rưng nước mắt trả lại bạc, trong lòng chắc đang c.h.ử.i thầm cậu đấy. Về kể lại với các thái y khác, chắc chắn nhiều người sẽ nghĩ cậu cố tình thể hiện trước mặt Tam Đại vương, mỉa mai bọn họ." "Chứ còn gì nữa..." Hàn Tố Vấn buồn bã nói: "Lúc đó ta hoàn toàn không nghĩ đến tầng nghĩa này, chỉ mải nói ra suy nghĩ trong lòng, không ngờ lại đắc tội nhiều người như vậy." Nói ra suy nghĩ trong lòng như thật... Chân Chân nhanh chóng đúc kết được "kim chỉ nam" đắc tội người khác này. Hàn Tố Vấn thấy nàng trầm ngâm, lại tốt bụng dặn dò: "Bài học này của ta cô phải nhớ lấy, trước mặt cấp trên hay quý nhân nói năng nhất định phải khéo léo, phàm chuyện gì cũng phải uốn lưỡi bảy lần. Ta lần này chỉ là không thi đỗ y quan, nhưng cô là người làm việc trước ngự tiền, nếu sơ sẩy một chút, nhẹ thì bị ghẻ lạnh, nặng thì bị đuổi khỏi cung, thế thì không hay đâu." Chân Chân kể chuyện Hàn Tố Vấn cho Phượng Tiên nghe, Phượng Tiên không khỏi cười ngặt nghẽo. Chân Chân lại dè dặt hỏi nàng: "Theo tỷ thấy, nếu muội cũng giống Hàn Tố Vấn gặp ai cũng nói thật, có phải sẽ rất nhanh bị người ta ghét không?" "Có." Phượng Tiên thu lại nụ cười, nghiêm túc nói, "Lời thật lòng là thứ rất nhiều người không muốn đối mặt. Nếu một người thường xuyên nói thẳng không kiêng nể về khuyết điểm của người khác, hoặc khuyên người khác làm những việc nên làm nhưng họ không muốn làm, đều sẽ gây chán ghét. Đạo lý 'thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng' ai cũng hiểu, nhưng tuyệt đại đa số đều khó lòng tiếp nhận lời ngay. Lời nói thật và người nói thật giống như hòn sỏi nhỏ trong giày, cái xước măng rô cạnh móng tay, tuy không gây tổn thương lớn cho người ta, nhưng cứ khiến người ta khó chịu, nhất định phải loại bỏ cho nhanh." Chân Chân yên tâm rồi, cười nói: "Vậy muội quyết định sau này sẽ nói thật, hy vọng sớm bị mọi người đuổi ra khỏi cung." Phượng Tiên trầm ngâm, lát sau nói: "Ta thấy được đấy. Chỉ là khiến người ta khó chịu, không phải phạm tội, hy vọng mượn cớ đó để toàn thân trở ra là rất lớn... Có điều muội thông minh lanh lợi, rất khó làm được cái kiểu đắc tội người khác nhẹ tựa lông hồng mà không tự biết như Hàn Tố Vấn." "Muội biết cái kiểu không thông thạo nhân tình thế thái một cách hồn nhiên như Hàn Tố Vấn là cần có thiên phú," Chân Chân nói, "Muội chắc chắn không theo kịp, nhưng muội sẽ học." Không lâu sau Chân Chân đã tìm được cơ hội thực hành. Hôm đó Hoàng đế nghe tin biên cương thắng trận, long nhan đại hỷ, dặn dò Ngự Thiện sở bữa trưa nay làm thêm hai món. Hai chữ "hai món" của Quan gia, Ngự trù sẽ không chỉ hiểu đơn giản là hai món, lập tức chuẩn bị theo tiêu chuẩn quốc yến, trước sau tổng cộng dâng lên ba mươi món, còn chưa tính điểm tâm, trái cây và nước đường. Một đoàn nội thị bưng bê trùng trùng điệp điệp đưa những món ăn này đến điện Gia Minh, qua từng lớp chuyền tay, bày từng món lên trước mặt Quan gia. Hoàng đế cầm đũa dùng bữa. Vì thức trắng mấy đêm lo việc nước, gió lạnh thấm vào xương, lúc gắp thức ăn không nhịn được hắt hơi một cái. Chân Chân nghe tiếng giật mình, lập tức nhận ra đây là cơ hội tốt. Có một sự thật to lớn nàng ấp ủ đã lâu, sớm muốn nói với Quan gia rồi, ngặt nỗi tình thì muốn nói nhưng lễ thì kìm lại, mỗi lần lời đến cửa miệng lại nuốt xuống. Nay đã quyết định phải nói thật mọi lúc mọi nơi, chi bằng bắt đầu từ việc này đi. "Quan gia," Nàng cúi người trước Hoàng đế, thẳng thắn đề nghị, "Sau này khi dùng bữa, có thể cho phép nô tỳ chuẩn bị thêm cho Quan gia một đôi đũa bạc, chuyên dùng để gắp thức ăn không ạ?" Hoàng đế rõ ràng có chút ngạc nhiên, tạm thời chưa trả lời. Chân Chân tiếp tục giải thích nguyên nhân: "Mỗi lần Quan gia dùng bữa, món ăn ít thì hơn mười món, nhiều thì mấy chục món, Quan gia chưa bao giờ ăn hết. Mà thức ăn thừa, chúng nô tỳ sẽ theo lệnh Quan gia, chia cho nội thị và nội nhân trong điện của Quan gia dùng. Việc này vốn xuất phát từ lòng yêu thương của Quan gia, để cung nhân bình thường cũng được nếm thử ngự thiện, người thụ hưởng không ai không cảm ân đội đức. Chỉ là, Quan gia dùng bữa chỉ dùng một đôi đũa, gắp thức ăn và đưa vào miệng đều là đôi này, như vậy, lại đem thức ăn thừa ban cho cung nhân, e là... không sạch sẽ." Nhập nội Đô tri đứng hầu một bên nghe mà trố mắt líu lưỡi, lập tức quát: "Ngô Chưởng thiện, thận trọng lời nói!" Chân Chân cũng vô cùng thấp thỏm, cảm thấy da đầu tê dại, nhưng vẫn c.ắ.n răng, kiên trì nói tiếp: "Ví như hôm nay, Quan gia đã nhiễm phong hàn, nước bọt qua đôi đũa sử dụng dính vào thức ăn, lại cho cung nhân ăn, những cung nhân đó rất có thể vì thế mà mắc bệnh, điều này chẳng phải trái với sơ tâm ban ngự thiện của Quan gia sao?" Nói xong trong điện lặng ngắt như tờ, còn Chân Chân lén thở phào một hơi dài. Cuối cùng cũng nói ra được những lời chôn chặt trong lòng bấy lâu, lập tức cảm thấy sảng khoái vô cùng. Hơn nữa, nàng trộm nhìn Quan gia, cảm thấy mục đích của mình chắc đã đạt được, có thể coi là trận đầu thắng lợi. Quan gia sa sầm mặt mày, lạnh lùng nhìn ngự thiện trước mặt, hồi lâu không nói một lời. Chương 88 - Nội Thiện Đôi mày nhíu chặt, Hoàng đế rơi vào sự tự trách sâu sắc. Việc này nói lớn không lớn nói nhỏ không nhỏ, tại sao mình trước giờ không nghĩ tới? Ngự thiện mình đã dùng qua, nguyên liệu dù phong phú đến đâu, cũng là cơm thừa canh cặn, bị đôi đũa bạc dính nước bọt khuấy qua, quả thực không sạch sẽ. Cung nhân không phải gia súc của mình, đối mặt với đồ thừa, vì không biết nên không cảm thấy gì; cũng không phải thê thiếp của mình, vì có tình nên không để ý, thản nhiên chấp nhận. Tại sao mình trước đây luôn coi việc ban đồ thừa cho họ là một ân điển mà dương dương tự đắc, hoàn toàn không ngờ họ có thể liên tưởng đến nước bọt mà sinh lòng ám ảnh? Huống hồ, đúng như Chân Chân nói, gắp thức ăn và ăn không chia đũa, rất dễ truyền bệnh cho cung nhân ăn đồ thừa của mình, cũng không biết bao năm qua có bao nhiêu cung nhân vì thế mà sinh bệnh. Quần thần thường khen mình yêu dân như con, haizz, chút việc này cũng suy nghĩ không chu toàn, thật đáng xấu hổ. Hoàng đế lại đưa mắt nhìn quanh, thấy trong điện từ Nhập nội Đô tri, Bùi Thượng thực trở xuống, ai nấy đều im thin thít như ve sầu mùa đông, còn Chân Chân đang rụt rè quan sát biểu cảm của mình, chạm phải ánh mắt mình liền vội cụp mắt xuống, không dám nhìn nữa. Cô nương này, thật không dễ dàng. Hoàng đế thầm than: Việc này người khác lẽ nào không nghĩ tới? Tự nhiên là có nghĩ tới, nhưng e là có người cho rằng Quan gia cao cao tại thượng, coi cung nhân bên dưới như gia súc cũng là lẽ đương nhiên, căn bản không cảm thấy việc này đáng nhắc tới. Còn những người khác, dù có ý kiến, nhưng đối mặt với cửu ngũ chí tôn, không dám nói bất cứ lời nào có thể làm mất hứng. Chân Chân phải dùng dũng khí lớn nhường nào, cam chịu rủi ro lớn nhường nào, mới có thể thẳng thắn can gián như vậy! Nhìn nàng xem, cúi đầu lén thở dài, trái tim kia chắc đập muốn nhảy ra ngoài rồi nhỉ? Mặc dù, bị nghe những lời này trước mặt mọi người, mình cảm thấy rất mất mặt, có sự lúng túng kiểu "đường đường thiên t.ử lại bị nội nhân nho nhỏ chê bai", nhưng so với áp lực to lớn nàng phải chịu khi đưa ra quyết định này, chút lúng túng ấy thực chẳng đáng là gì, chi bằng cười xòa cho qua. Nghĩ đến đây, ngài mỉm cười, ôn tồn nói với Chân Chân: "Ngô Chưởng thiện nói rất phải. Là Trẫm suy nghĩ chưa chu toàn, vô cùng hổ thẹn. Từ hôm nay trở đi, phàm là dùng ngự thiện, hãy chuẩn bị thêm một đôi đũa bạc, chuyên dùng để lấy thức ăn, tách biệt với đũa dùng để ăn." Chân Chân sững sờ. Vốn đã chuẩn bị tinh thần, đợi ngài nổi giận sẽ quỳ xuống, nghĩ sẵn bao nhiêu lời xin tội, lại không ngờ ngài thế mà ôn hòa chấp nhận đề nghị của mình như vậy, trong lúc nhất thời không biết ứng đối ra sao. Bùi Thượng thực đã ở bên cạnh cao giọng quỳ lạy: "Quan gia thương xót cung nhân, đoái hoài kẻ hèn, nghe lời can gián như nước chảy. Có thể hầu hạ quân chủ hiền minh như vậy, chúng thiếp thật may mắn biết bao." Nhập nội Đô tri Trương Tri Bắc cũng dẫn đầu đám nội thị phục lạy: "Bệ hạ vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!" Chân Chân lúc này mới hoàn hồn, theo mọi người dập đầu tạ ơn thiên ân. Chân Chân vẫn không dám tin lời nói thật vô lễ của mình lại nhận được sự lượng thứ của Quan gia, thầm nghĩ, có lẽ Quan gia không tiện nổi nóng giữa chốn đông người, tuy bị mình ép phải nhận lời khuyên, trong lòng chưa chắc đã không có chút khúc mắc nào, âm thầm ghi nợ, sau này đối phó mình cũng rất có khả năng. Nhưng Hoàng đế rất nhanh đã ban cho nàng rất nhiều tiền và lụa là, nói cảm ơn nàng đã thẳng thắn can gián. Chân Chân kiên quyết từ chối không nhận, Hoàng đế lại sai người cấp cho nàng một gian phòng rất lớn để ở, còn sai Sử Hoài Ân dẫn hai nội thị giúp nàng chuyển nhà. Từ khi thăng chức Chưởng thiện, Chân Chân cũng được một gian phòng ở riêng, nhưng gian đó rất chật hẹp, còn gian phòng Hoàng đế mới ban này rộng rãi sáng sủa, to gấp bốn năm lần chỗ cũ. Chân Chân nhìn mà kinh ngạc không thôi, nói với Sử Hoài Ân mình không dám vô công bất thụ lộc. Sử Hoài Ân cười nói: "Ngô Chưởng thiện cứ yên tâm mà ở. Quan gia nói rồi, ngày tháng còn dài, nhất định phải để Ngô Chưởng thiện ở thoải mái một chút, không có nỗi lo về sau. Sau này nhất định còn nhiều chỗ ngài ấy chưa lo liệu tới, còn mong Ngô Chưởng thiện kịp thời nhắc nhở. Gian phòng này cũng gần điện Phúc Ninh hơn, nếu có việc, Quan gia truyền gọi cũng tiện." Trong đầu Chân Chân ong ong, trong khoảnh khắc chỉ còn một câu nói lặp đi lặp lại: "Ngày tháng còn dài, còn dài..." Giữa tháng Mười, dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của Thái hậu, Hoàng đế quyết định sắc phong Lệ Quý phi làm Hoàng hậu. Từ khi vào thu sức khỏe Thái hậu không được tốt lắm, thường cảm thấy ù tai chóng mặt. Lệ Quý phi mỗi ngày đều đến Bắc Đại nội thăm hỏi, ân cần chăm sóc, bưng trà rót nước, vô cùng tận tâm. Thái hậu thấy Liễu Tiệp dư sau khi sinh con thánh quyến không giảm, số lần Quan gia đến các Phù Dung lại càng nhiều hơn, không khỏi lo lắng Liễu Tiệp dư dòm ngó ngôi Hậu, bèn đề nghị Hoàng đế lập Lệ Quý phi làm Hậu. Quan gia cũng cảm thấy Lệ Quý phi nhiều năm nay thay quyền quản lý lục cung, chưa từng sai sót, bản thân mình vốn cũng có lỗi với bà, có ý bù đắp, huống hồ Thái t.ử hiện giờ cũng sẽ không phản đối, bèn tuyên bố việc này, lệnh cho quan hữu tư chuẩn bị sách lễ, đồng thời chuẩn bị thiết lập Nội Thiện. Sau đó Hoàng đế cũng bày tỏ với Thái hậu, mình đang cân nhắc thăng Liễu Tiệp dư làm Chiêu nghi, Thái hậu nhàn nhạt nói: "Không vội. Liễu Tiệp dư lần này sinh chỉ là con gái, đợi cô ta sinh được Hoàng tử, hẵng bàn chuyện thăng chức." Những việc liên quan đến ăn uống của Hoàng hậu gọi là "Nội Thiện", đối ứng với "Ngự Thiện" của Hoàng đế. Từ khi Thái hậu chuyển sang cung Từ Phúc, Nam Đại nội đã nhiều năm không có Nội Thiện. Thiết lập Nội Thiện, tức là thiết lập sở Nội Thiện, xây nhà bếp Nội Thiện, bổ sung quan lại, đầu bếp, nội thị và nội nhân chuyên trách. Hoàng đế lệnh cho Nhập nội Nội thị sảnh, Tu Nội tư, Ngự Thiện sở và Thượng Thực cục bàn bạc các việc liên quan, tu sửa xây dựng nhà cửa tương ứng, và điều động hoặc tuyển mộ nhân sự thích hợp. Bùi Thượng thực nói chuyện tăng thiết Nội Thiện với Chân Chân, Chân Chân nói: "Lệ Quý phi sinh hoạt xưa nay giản dị, bình thường nội nhân Thượng Thực cục dùng đến chẳng qua chỉ vài người. Thiết lập Nội Thiện, hưng sư động chúng, Quý phi thực tế lại dùng chẳng được bao nhiêu, dường như không cần thiết đâu nhỉ?" Bùi Thượng thực cau mày, nghiêm túc cảnh cáo: "Lời này của ngươi không được nói với người ngoài, đặc biệt không được truyền đến tai Lệ Quý phi. Nội Thiện không phải xem dùng được bao nhiêu, mà là tượng trưng cho địa vị và thân phận của Hoàng hậu. Lệ Quý phi ngậm đắng nuốt cay bao nhiêu năm nay, cuối cùng cũng làm chủ trung cung, chút phô trương này tự nhiên không thể thiếu." Vì số nội nhân có thể điều động không đủ, Thượng Thực cục lại phải chuẩn bị tuyển chọn dân nữ vào cung. Chân Chân thấy việc này khiến các ti trong cung bận rộn loạn xạ, nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy có những lời không nói ra không chịu được, đằng nào bây giờ cũng chẳng sợ bị phạt, chi bằng nói thẳng, nếu vì thế mà bị đuổi khỏi cung, âu cũng là một mũi tên trúng hai đích. Thế là nàng cầu kiến Lệ Quý phi, sau khi trò chuyện thì tiến ngôn: "Ngự Thiện hiện nay, quan lại lớn nhỏ, đầu bếp, nội thị và nội nhân cộng lại gần sáu trăm người, thực tế dùng để hầu hạ bữa ăn hàng ngày của Quan gia chỉ chiếm một hai phần mười, may mà Quan gia cũng lệnh cho Ngự Thiện kiêm lý một phần yến tiệc và ăn uống ở Đãi Lậu Viện, sắp đặt như thế, không đến nỗi quá lãng phí. Nay tăng thiết Nội Thiện, cho dù không so bì với Ngự Thiện, ba bốn trăm người cũng là con số không thể ít hơn. Tu Nội tư đang chuẩn bị khởi công xây dựng rầm rộ, xây sở Nội Thiện và nhà bếp, Ngự Thiện sở và Thượng Thực cục sắp phái người đến các châu phủ tuyển mộ đầu bếp và nội nhân. Thứ cho nô tỳ nói thẳng, nô tỳ từng hầu hạ nương nuong, biết nương nương chi dùng ăn uống hàng ngày vô cùng tiết kiệm, ngay cả y phục mặc trên người, cũng là dùng đồ giặt đi giặt lại nhiều năm, cực ít may mới, nếu không phải Quan gia đến, bữa ăn trong các mỗi ngày chẳng quá vài món. Nay Quan gia hạ chỉ thiết lập Nội Thiện cho nương nương, cố nhiên là lễ số và vinh quang nương nương xứng đáng được hưởng, nhưng xét theo thói quen của nương nương, sau này mấy trăm người này e rằng phần lớn là ngồi chơi xơi nước. Nội Thiện lập ra, nếu không thể tận dụng hết công năng, một là hao phí tiền lương, hai là nuôi báo cô người nhàn rỗi. Huống hồ, Thượng Thực cục lần này lại sắp tuyển chọn dân nữ vào cung, chín tầng cung khuyết không giống nhà giàu cửa tía bình thường, một khi vào trong thì xương cốt chia lìa với người nhà, thực khó gặp lại. Nếu vì Nội Thiện mà tăng thêm bao nhiêu nội nhân mới phải xa cha mẹ, rời bỏ quê hương, e rằng không phải mong muốn của nương nương..." Nàng vừa nói, vừa cảm nhận được không khí trong các nhanh chóng nguội lạnh, tất cả cung nhân nội thị đều nín thở, không phát ra bất kỳ tiếng động nào, khiến cho giọng nói của nàng vang vọng khắp các, nghe chói tai vô cùng. Lệ Quý phi lẳng lặng nhìn nàng, kiên nhẫn lắng nghe, mà thần thái bà càng an tường, Chân Chân càng cảm thấy yêu cầu của mình quá đáng, e là sẽ làm tổn thương trái tim bà. Thế là giọng nói nhỏ dần, cuối cùng im bặt, cúi rạp người trước Quý phi, chôn sâu đầu xuống, lẳng lặng chờ bà hoặc cung nhân khác đuổi mình ra khỏi các. Nhưng Lệ Quý phi đứng dậy đi đến trước mặt nàng, nhẹ nhàng đỡ nàng dậy, mỉm cười nói: "Đứa trẻ ngoan, ngươi nói trúng tim đen của ta rồi. Ta đang định dâng biểu xin từ chối Nội Thiện đây, nhưng người bên cạnh đều phản đối. May mà ngươi đến, còn nói thêm một số điều trước đó ta chưa nghĩ tới. Ngươi cứ ở lại thêm chút nữa, chúng ta bàn bạc một chút, liệt kê thêm vài lý do, viết vào trong biểu." Chân Chân rất vui vì Lệ Quý phi có thể tiếp nhận lời can gián, nhưng đồng thời cũng buồn bã phát hiện, nguyện vọng cầu xin quý nhân chán ghét của mình lại thất bại rồi. Lệ Quý phi khẩn khoản từ chối Nội Thiện thành công, Hoàng đế tuyên bố việc này tạm dừng, quy mô bữa ăn của Hoàng hậu do bà tự quyết định. Lệ Quý phi cũng không quên tặng hậu hĩnh cảm ơn Chân Chân tiến ngôn, sai người đưa từng rương y phục đến phòng Chân Chân. Chân Chân mở ra xem, phát hiện là quần áo đủ màu từ xuân sang đông, công phục, thường phục, lễ phục đều có, mỗi loại vài bộ, khăn mũ, hoa cài, giày dép, đai lưng đi kèm, không thiếu thứ gì. Chân Chân trố mắt nói: "Sao lại ban nhiều thế này? Đủ cho ta mặc ba năm năm rồi." Hoạn quan đưa quần áo đến cười nói: "Nương nương nói rồi, thưởng tiền trực tiếp sợ Ngô Chưởng thiện không nhận, chi bằng ban nhiều y phục một chút, để Chưởng thiện chuyên tâm làm việc, mỗi khi chuyển mùa hay lễ tết, không cần lo chuyện áo quần. Vốn định ban cho mười năm luôn, lại đoán cô nương qua hai năm nữa có thể thăng chức, kiểu dáng y phục sẽ đổi. Chỗ này Ngô Chưởng thiện cứ mặc tạm, bao giờ cần đổi đồ mới cứ nói với người bất cứ lúc nào." Ban cho mười năm... Tim Chân Chân chùng xuống, hồi lâu sau mới miễn cưỡng nặn ra chút nụ cười, nói với hoạn quan kia: "Nương nương hào phóng, hứa cho nô tỳ mười năm cung trang... Nô tỳ vô cùng cảm kích." Hoạn quan đi rồi, Chân Chân đứng một mình trong gian phòng rộng lớn xa hoa này, nhìn đống cung trang chất như núi, nghĩ đến phú quý trường cửu trong cung mà họ âm thầm hứa hẹn cho mình, chứa hai bầu nước mắt nóng hổi, tâm trạng phức tạp cảm thán, Đế Hậu mình gặp, quả đúng là một đôi vợ chồng hiền đức hàng thật giá thật mà. Chuyện Nội Thiện coi như xong, nhưng lễ sắc phong Hoàng hậu thì bắt buộc phải làm. Ngày sách lễ sẽ có quốc yến long trọng, Ngự Thiện sở đã lên danh sách món ăn dự kiến cho ngày hôm đó, đồng thời liệt kê chủng loại, số lượng và ngân sách dự trù các nguyên liệu cần thiết, trình lên Bùi Thượng thực xem qua. Thị lực Bùi Thượng thực suy giảm, không nhìn rõ những chữ nhỏ như con ruồi kia, bèn bảo Chân Chân đọc cho bà nghe. Chân Chân đọc đến giá cả và ngân sách nguyên liệu, dần dần phát hiện giá của nhiều loại nguyên liệu quá cao, xa rời mức giá hợp lý trong ký ức của nàng. Trong đó chỉ riêng cua sông, giá đã cao gấp đôi giá ở chợ gần Đãi Lậu Viện. Thế là đọc xong giá cua, Chân Chân hơi dừng lại, khẽ gọi một tiếng "Thượng thực", muốn nhắc nhở bà chú ý. Nhưng Bùi Thượng thực vẫn giữ nguyên tư thế nhắm mắt dưỡng thần, mặt không cảm xúc nói: "Tiếp tục." Chân Chân suy đi tính lại, cảm thấy mình không thể nhắm mắt làm ngơ chuyện này, bèn nhân lúc Triệu Ngai kiếm cớ đến tìm nàng, lén đưa cho hắn danh sách nguyên liệu mua sắm cho quốc yến mà mình đã ghi lại, nói với hắn: "Nhờ Nhị Đại vương phái người đến mấy chợ lớn trong kinh, hỏi giá cả những nguyên liệu này, ghi lại cho ta." Triệu Ngai mở ra xem, đã đoán được tám chín phần: "Nàng nghi ngờ Ngự Thiện sở báo khống giá nguyên liệu?" Chân Chân gật đầu. Triệu Ngai bèn nói: "Báo khống một hai phần, cũng chẳng phải chuyện lớn gì, trong lòng Quan gia cũng hiểu. Làm việc trong cung, có những chuyện mắt nhắm mắt mở cho qua đi, cứ khăng khăng tra cho ra ngô ra khoai, sẽ tự gây thù chuốc oán cho mình." Chân Chân nói: "Không phải vấn đề một hai phần. Ta phát hiện giá một số nguyên liệu cao gấp hai ba lần giá thị trường ta biết, tính ra như thế, một bữa quốc yến số tiền thất thoát không rõ ràng là con số khổng lồ, nếu cứ để mặc nó phát triển, lâu dần, sẽ còn xuất hiện nhiều sâu mọt hơn nữa. Quan gia luôn đề cao tiết kiệm, Lệ Quý phi lại càng khẩn khoản từ chối Nội Thiện để làm gương, ngài và ta sao có thể ngồi nhìn hành vi th*m nh*ng mà họ không thấy này?" Triệu Ngai mỉm cười: "Nếu nàng quyết ý truy cứu, ta có thể giúp nàng hoàn thành. Chỉ là loại chuyện này thường liên quan rất rộng, không phải do một người làm, đến lúc đó nàng có thể sẽ phải đối mặt với đủ loại chỉ trích, vu khống, thậm chí hãm hại từ phía đối phương. Nàng đã nghĩ kỹ chưa?" Chân Chân thầm nghĩ, Quan gia thánh minh, cho dù đối phương vu khống hãm hại, đa phần cũng có thể phân biệt phải trái. Huống hồ, nếu cuối cùng sự việc nghiêm trọng đến mức đuổi mình ra khỏi cung, chẳng phải mình cũng được toại nguyện sao? Trong trường hợp cấp trên khoan dung đến mức không còn tính khí nóng nảy, thì chuyện nói thật bị ghét này, phải dựa vào người khác để thực hiện thôi. Một khi không còn lo lắng, đưa ra quyết định cũng dứt khoát gọn gàng lạ thường. Chân Chân nở nụ cười rạng rỡ với Triệu Ngai, đáp: "Nghĩ kỹ rồi, làm đi!" Lúc này người từ điện Phúc Ninh tới, bảo Quan gia triệu kiến. Chân Chân vâng dạ, cảm tạ Triệu Ngai, mặt mang nụ cười, bước chân nhẹ nhàng đi về phía điện Phúc Ninh. Triệu Ngai cầm danh sách nguyên liệu, chắp tay đứng đó, nhìn theo bóng nàng đi xa, thầm nghĩ đây quả là một cô gái hiếm có cùng chí hướng với mình, phải trái rõ ràng, không sợ gian tà, lại có khí khái "dẫu ngàn vạn người, ta vẫn cứ đi". Bất luận sự việc diễn biến thế nào, mình đều phải dốc sức bảo vệ nàng chu toàn. Số phận bi t.h.ả.m như bị vu khống, bị hãm hại, bị đuổi khỏi cung, tuyệt đối không thể rơi lên người nàng. Chương 89 - Sóng Gió Ngân Sách Hai ngày sau, Triệu Ngai đã đưa cho Chân Chân một bảng giá chi tiết các nguyên liệu liên quan ở các chợ trong kinh thành. Chân Chân xem xong nói: "Quả nhiên dự đoán không sai, giá của phần lớn nguyên liệu đều cao hơn giá thị trường gấp đôi trở lên, gấp ba thậm chí gấp bốn cũng có khá nhiều." Triệu Ngai hỏi: "Nàng định làm thế nào? Giao trực tiếp cho Quan gia?" Chân Chân trầm ngâm, nhất thời chưa đáp. Triệu Ngai bèn thẳng thắn nói ra suy nghĩ của mình: "Nếu nàng trực tiếp can gián với Quan gia, Quan gia có khả năng cho rằng việc này vượt quá phạm vi chức trách của nàng, trước khi xử lý việc này sẽ trút giận lên nàng trước. Huống hồ, vì việc này liên quan rất rộng, Quan gia để tránh gây ra sóng gió lớn trước sách lễ Hoàng hậu, rất có thể sẽ ém nhẹm tạm thời không xử lý." "Ta lại có một ý..." Chân Chân nói, "Nghe nói, Kỷ Cảnh Lan mới thăng chức Ngự sử trung thừa. Vốn dĩ chức trách của Ngự sử đài là giám sát thói hư tật xấu của bá quan, nghiêm tra trừng trị tham quan ô lại, chấn chỉnh kỷ cương pháp luật. Hơn nữa, vị Kỷ tiên sinh này kiếp trước nhất định là con mèo chỉ thích bắt chuột, cảm giác ông ta những năm nay một đường giám sát người phạm pháp không phải vì thăng quan, thì chính là đam mê bắt sâu mọt. Nay chuyện này để ông ta biết là thích hợp nhất. Chỉ là, ta thân là nội nhân, bàn luận chuyện này với quan lại triều đình là đại kỵ, ngài là Thân vương, cũng không nên lén lút qua lại với sĩ đại phu..." "Không cần khó xử, hôm nay đại triều hội, ta đã tìm một nội thị, lén ném bảng giá này cùng với bản dự toán chi phí tiệc tấn phong do Ngự Thiện sở làm xuống dưới chân Kỷ Cảnh Lan rồi." Triệu Ngai nhìn Chân Chân dần nở nụ cười, "Nàng và ta đúng là tâm linh tương thông." Từ khi phát hiện vấn đề ngân sách, Chân Chân thường cau mày suy tư, nay đã có cách giải quyết, lập tức cảm thấy tinh thần sảng khoái, lại khôi phục dáng vẻ thần thái rạng rỡ, gặp người là cười tươi như hoa. Bùi Thượng thực thấy vậy, tối hôm đó riêng tư hỏi nàng: "Ngân sách do Ngự Thiện sở liệt kê, có phải ngươi đã tiết lộ cho ngoại thần không?" Chân Chân giật mình, theo bản năng phủ nhận: "Không có." Rồi lập tức chột dạ nghĩ, mình đã tiết lộ cho Triệu Ngai, hắn nói ra thì cũng không tính là "ngoại thần". Bùi Thượng thực cũng không truy cứu kỹ, mà hỏi một câu khác: "Ngươi có phải cho rằng, ta không quan tâm chuyện này, là đồng lõa với bọn họ, thậm chí, cũng nhận tiền của bọn họ?" Chân Chân vội nói: "Nô tỳ chưa bao giờ nghĩ như vậy." Bùi Thượng thực thở dài: "Những năm qua, không phải không có người biếu tiền cho ta, nhưng ta già rồi, nhà cũng tuyệt hậu rồi, không có người nối dõi, cũng chẳng giống đám đại đương quan (hoạn quan lớn) kia có nhã hứng mua vườn tược ngoài cung 'kim ốc tàng kiều', ngươi nói xem, cần tiền làm gì?... Hai năm nay, Ngự trù Cán biện quan (quan lo việc vặt/quản lý) phàm đụng đến chỗ dùng tiền, chi phí liệt kê đều rất kinh người, ta cũng từng góp ý mấy lần, ông ta đều bỏ ngoài tai. Sau này ta dần hiểu ra, làm như vậy không phải ý của một mình ông ta. Một bữa tiệc, liên quan không chỉ có Ngự trù, còn có Hàn Lâm tư quản lý trà nước rượu ngự trái cây, Nghi Loan tư quản lý bày biện đồ đạc màn trướng, lên trên nữa, có Nhập nội Nội thị sảnh và Tuyên Huy viện chịu trách nhiệm kiểm tra, phê duyệt tài vật chi dùng, còn liên quan đến Tam Ti chủ quản tài chính... Nếu không phải các bên đều đã dàn xếp ổn thỏa, hay nói cách khác, có quý nhân sai bảo, một tên Ngự trù Cán biện quan nho nhỏ, sao dám ngang nhiên làm ra loại sổ sách này?" Chân Chân dè dặt hỏi: "Vậy Thượng thực nương nương có từng nghĩ đến việc cho Quan gia biết không?" Bùi Thượng thực nói: "Đã từng nghĩ, nhưng lại cảm thấy, tra ra chân tướng thì thế nào? Chưa chắc đã là điều Quan gia muốn thấy... Ta già rồi, không có nhuệ khí như ngươi, cũng không dám mạo hiểm... Tâm nguyện lớn nhất của ta hiện giờ, chính là bình bình lặng lặng c.h.ế.t già trong cung." Lời này khiến Chân Chân nghe mà chua xót trong lòng, nhớ lại thân thế của Bùi Thượng thực, chợt cảm thấy mình trước đó suy nghĩ chưa chu toàn, không màng đến tình cảnh của Bùi Thượng thực sau khi tố giác chuyện này. Nếu Kỷ Cảnh Lan thực sự điều tra kỹ việc này, Bùi Thượng thực với tư cách là người lần nào cũng xem qua sổ sách, cho dù không bị liệt vào kẻ đồng lõa, tội lơ là chức trách e rằng cũng khó tránh khỏi, nguyện vọng c.h.ế.t già trong cung chỉ sợ sẽ tan thành mây khói. Cân nhắc đi cân nhắc lại, Chân Chân quyết định đi tìm người lập ra bản ngân sách này - Ngự trù Cán biện quan, Nhập nội Cung phụng quan Hạ Thừa Nghĩa. Vì Chân Chân hầu hạ trước ngự tiền, Hạ Thừa Nghĩa tự nhiên không dám thất lễ, vừa thấy nàng liền tươi cười đón tiếp. Chân Chân cũng không nói nhiều, hàn huyên xong liền đưa bản ghi chép giá cả thị trường của nguyên liệu cho ông ta xem. Hạ Thừa Nghĩa lướt qua một cái mặt liền sa sầm xuống, nhanh chóng cho lui đám tiểu hoàng môn xung quanh, lạnh lùng nhìn Chân Chân: "Ngô Chưởng thiện có ý gì đây?" Chân Chân chỉ vào bảng giá: "Hiện nay thị trường trong kinh, một con thỏ đắt nhất đáng giá bốn ngàn văn, mà trong dự toán của Hạ Cán biện ghi tám ngàn; một con chim cút, giá thị trường cao nhất ba trăm, dự toán là tám trăm; còn cua hồ nặng sáu lạng, giá thị trường khoảng bảy trăm văn, đến chỗ Hạ Cán biện, liền thành hai ngàn. Hiện nay mười tám ngàn là có thể mua một con ngựa, theo giá Hạ Cán biện liệt kê xem ra, ăn chín con cua liền bằng ăn mất một con ngựa rồi." Hạ Thừa Nghĩa giảo biện: "Ngô Chưởng thiện có điều không biết. Nguyên liệu quốc yến không phải hàng chợ có thể so sánh, chọn lọc nơi sản xuất, do người cung cấp chăm sóc trồng trọt hoặc chăn nuôi kỹ lưỡng, giá vốn vốn dĩ đã cao, đắt gấp hai ba lần cũng không có gì lạ." "Giá thị trường ta nói, là giá ở chợ dưới Hồng Xoa T.ử (hàng rào đỏ) ngoài cửa Hòa Ninh, đó là chợ đắt nhất trong kinh, trước đó ta đã hỏi qua, nguồn hàng đa phần chính là nơi quốc yến thu mua nguyên liệu." Chân Chân ung dung nói, "Hạ Cán biện cũng có điều không biết, nhà ta mở tửu lầu, ta từ nhỏ đã biết, giá nguyên liệu mua số lượng lớn chỉ có rẻ hơn bán lẻ, làm gì có lý đắt hơn gấp hai ba lần. Một bữa quốc yến tiêu tốn hàng ngàn hàng vạn nguyên liệu, báo khống như thế, tiền tài quốc khố thâm hụt là bao nhiêu?" Hạ Thừa Nghĩa mặt mũi không nhịn được nữa, tức giận nói: "Nguyên liệu Ngự trù mua là đắt hay rẻ, Bùi Thượng thực đều chưa từng có dị nghị, không biết Ngô Chưởng thiện lấy đâu ra gan lớn, dùng bộ dạng nắm đại quyền Ngự trù, đến đây hưng sư vấn tội với ta." Chân Chân khẽ cười: “Hạ Cán biện ngài nói phải lắm, ta chỉ là kẻ bưng trà rót nước cho Quan gia, vốn chẳng nên quá phận hỏi đến việc này. Chỉ là tính ta trời sinh hay lo chuyện bao đồng, thấy ngựa chạy đến bên bờ vực thẳm, không kìm lòng được mà muốn kéo lại một phen thôi. Bản dự toán này, tốt nhất Hạ Cán biện nên tính toán lại cho thật kỹ. Nếu có con số nào nhất thời sơ suất mà nhớ nhầm, mong ngài lưu tâm sửa lại. Bằng không, cứ thế giao cho Quốc dụng ty thẩm hạch, e rằng sau này khó tránh khỏi có người đến hỏi tội.” Hạ Thừa Nghĩa tuy trong lòng bực bội, nhưng khi Chân Chân đi rồi, hắn ngẫm nghĩ kỹ lại lời nàng, không khỏi cảm thấy thấp thỏm bất an. Hắn thầm nghĩ, nàng đã dám nói thẳng thừng như vậy, ắt hẳn là biết được chút gì đó. Nếu nàng muốn tố giác thì đã chẳng cất công đến đây ra oai làm gì, nghe ý tứ trong lời nói, dường như chủ yếu là muốn nhắc nhở hắn sửa lại bản dự toán... Chợt nhớ đến việc Chân Chân là người hầu cận bên cạnh Quan gia, Hạ Thừa Nghĩa bỗng rùng mình: Chẳng lẽ là Quan gia ngầm ý bảo nàng đến truyền lời? Nghĩ đến đó, Hạ Thừa Nghĩa kinh hãi, mồ hôi tuôn như mưa, vội vàng cầm bút, tự mình rà soát và sửa lại từng dòng dự toán. Đợi đến khi các bản dự toán về yến tiệc lễ sách phong Hoàng hậu của Ngự trù, Hàn lâm ty và Nghi loan ty lần lượt được trình lên Quốc dụng ty, Kỷ Cảnh Lan bất ngờ dâng sớ trên triều, xin Hoàng đế cho phép ông được đích thân thẩm tra ngân sách của Ngự trù. Được Hoàng đế ưng thuận, Kỷ Cảnh Lan lập tức lệnh cho Ngự sử đài phối hợp cùng Quốc dụng ty chong đèn thâu đêm rà soát toàn bộ chi phí. Kết luận đưa ra là ngân sách mua nguyên liệu tuy có hơi cao một chút, nhưng vẫn nằm trong mức hợp lý. Thế nhưng Kỷ Đài trưởng của Ngự sử đài đâu phải kẻ hư danh, ông tự biết suy một ra ba, bèn tiếp tục tra xét kỹ sổ sách của Hàn lâm ty và Nghi loan ty. Rất nhanh sau đó, ông phát hiện hai ty này đã khai khống ngân sách với số lượng lớn, bèn lập tức dâng sớ đàn hặc quan lại của hai ty. Can biện quan của hai nơi này ngay sau đó liền bị cách chức hỏi tội. Nghe được tin dữ, Hạ Thừa Nghĩa sợ đến toát mồ hôi hột, vội vàng tìm đến Chân Chân, lựa chỗ vắng người mà hành đại lễ, nói lời cảm tạ ơn cứu mạng của nàng. Chân Chân đáp: “Hạ Can biện không cần làm thế. Ta chỉ nhắc nhở đôi câu, người kịp thời kìm cương trước bờ vực thẳm vẫn là chính ông. Qua chuyện lần này, hẳn Hạ Can biện cũng đã hiểu, thường đi bên bờ sông sao có thể không ướt giày, có những lỗi lầm một khi đã phạm phải thì sớm muộn gì cũng bị người ta phát hiện và trừng trị. Mong ông sau này hãy tự giải quyết cho tốt, tuyệt đối đừng tái phạm.” Hạ Thừa Nghĩa than thở: “Chẳng giấu gì Chưởng thiện, ta chỉ là một hoạn quan nhỏ bé, bổng lộc trong cung cũng đủ dùng, vốn chẳng có lòng tham lam gì lớn. Nhưng chuyện này cũng là thân bất do kỷ, người xung quanh đều muốn kéo mình xuống nước, nếu không ưng thuận thì nhẹ thì bị chèn ép, nặng thì... tính mạng khó bảo toàn.” Chân Chân hỏi ai là người ép buộc, hắn liền cảnh giác ngay, tuyệt nhiên không hé răng nửa lời, chỉ khuyên: “Ngô Chưởng thiện đừng hỏi nữa... Cô ghét cái ác như kẻ thù, hành xử trượng nghĩa, cố nhiên là rất tốt, nhưng lòng người hiểm ác, nhất là trong chốn thâm cung này. Nếu chuyện gì cô cũng muốn ra mặt, e rằng sẽ tự đẩy mình vào chốn hiểm nguy... Tóm lại, từ nay về sau, ngàn vạn lần phải nhớ tự bảo vệ mình.” Kỷ Cảnh Lan lại đề xuất muốn triệt để điều tra sổ sách cũ của Ngự trù, Hàn lâm ty và Nghi loan ty, nhưng lần này Hoàng đế đã từ chối. Trưa hôm đó, Hoàng đế triệu Chân Chân đến điện Phúc Ninh pha trà. Một lát sau, ngài cho những người khác lui ra, chỉ giữ nàng lại hỏi: “Chuyện dự toán lễ sách phong Hoàng hậu lần này, là ngươi ám chỉ cho Kỷ Cảnh Lan tra xét sổ sách phải không?” Chân Chân thầm kinh hãi, vội quỳ xuống thưa: “Nô tỳ riêng tư với Kỷ Đài trưởng vốn không có qua lại.” “Chưa hẳn cần qua lại trực tiếp, tìm một người chuyển lời hay chuyển vật cũng đâu có khó.” Hoàng đế cười nhạt, “Kỷ Cảnh Lan bỗng nhiên đề xuất tra xét dự toán Ngự trù, ắt hẳn là có người đã tiết lộ cho ông ta biết dự toán có vấn đề. Nhưng khi tra ra, nơi có vấn đề lại là Hàn lâm ty và Nghi loan ty, còn Ngự trù lại không sao. Mục đích của người tố giác là muốn mượn chuyện yến tiệc sách phong để vạch trần việc tham ô của các ty, đồng thời lại giúp Ngự trù và những người liên quan rút lui an toàn. Ta nghĩ, người tố giác này nếu không phải người trong Ngự trù thì cũng có quan hệ mật thiết với Ngự trù. Sở Ngự thiện và các đầu bếp Ngự trù đương nhiên không dám làm chuyện này, Bùi Thượng thực cũng sẽ không làm, bởi nếu bà ấy muốn tố giác thì đã chẳng đợi đến tận bây giờ. Cho nên, người có thể tiếp cận được bản dự toán của Ngự trù, lại nghĩ ra cách liên hệ với Kỷ Cảnh Lan, chỉ có thể là ngươi.” Chân Chân cũng không có ý định che giấu, cúi rạp người trước Hoàng đế: “Quan gia thánh minh, nô tỳ xin nhận tội, xin Quan gia nghiêm trị.” Hoàng đế lắc đầu: “Ngươi tuy có giở chút tâm cơ, nhưng sơ tâm là tốt, ta cũng hiểu ngươi muốn bảo vệ Bùi Thượng thực, nên lần này ta sẽ không trách phạt ngươi. Chỉ là sau này nếu có chuyện tương tự, ngươi cứ việc nói thẳng với ta, đừng tìm cách liên hệ với quan lại triều đình nữa. Đây là điều đại kỵ mà nội nhân tuyệt đối không được chạm vào.” Chân Chân cúi đầu thụ giáo. Hoàng đế lại nói: “Ta cũng hiểu, việc này liên lụy đâu chỉ riêng Ngự trù, Hàn lâm ty và Nghi loan ty. Kỷ Cảnh Lan muốn truy cứu đến cùng, nhưng ta đã ngăn lại, bởi không muốn trước đại lễ sách phong Hoàng hậu lại gây ra sóng gió lớn. Những món nợ cũ tạm thời không lật lại, chỉ mong lần này g.i.ế.c gà dọa khỉ, sẽ khiến những kẻ liên quan biết sợ mà sau này không dám tái phạm.” Nghe đến đây, Chân Chân len lén ngẩng đầu, khẽ hỏi: “Vậy Quan gia đã nghĩ ra cách gì để ngăn chặn những việc thế này tái diễn chưa ạ?” “Để Quốc dụng ty và Ngự sử đài tăng cường kiểm tra sao?” Thấy ánh mắt Chân Chân lấp lánh nhìn trộm mình, Hoàng đế không khỏi bật cười, “Xem ra, ngươi đã có chủ ý gì rồi?” “Nô tỳ có một ý tưởng nho nhỏ, tuy chưa được chín chắn lắm...” Chân Chân thưa, “Nô tỳ chỉ cảm thấy, sở dĩ trước đây bọn họ tham ô một cách trắng trợn là vì thấy hoàn cảnh dung túng, mọi người đều ngầm hiểu với nhau, bao che dung túng cho nhau. Vậy thì chi bằng sau này khi Ngự trù, Hàn lâm ty và Nghi loan ty làm dự toán, hãy bắt họ kiểm tra chéo lẫn nhau rồi mới trình lên Quốc dụng ty. Ý định là muốn phá vỡ cái thế cục 'kết bè tham ô' của họ, biến sự bao che dung túng thành sự giám sát và kìm kẹp lẫn nhau. Nếu họ xác nhận dự toán của hai ty kia không có vấn đề, mà sau đó Quốc dụng ty hoặc Ngự sử đài lại tra ra có khai khống, thì vị Can biện quan nào trước đó đã xác nhận thông qua sẽ phải bỏ tiền túi ra đền bù số tiền khai khống đó.” Hoàng đế không nhịn được cười: “Sợ là có g.i.ế.c họ cũng không đền nổi.” “Chính phải,” Chân Chân nghiêm mặt nói, “Chính vì đền không nổi, họ mới phải nghiêm túc đối chiếu dự toán của đối phương. Nếu phát hiện có vấn đề mà đối phương không chịu sửa, họ nhất định sẽ tố cáo lên Quốc dụng ty trước để tránh tai họa giáng xuống đầu mình.” Hoàng đế ngẫm nghĩ rồi nói: “Tuy cách này chưa thật sự vẹn toàn, nhưng không phải là không có lý, lát nữa ta sẽ bàn bạc với Kỷ Cảnh Lan... Mà ngươi làm sao nghĩ ra được cách này?” Chương 90 - Rượu Mi Tư Đạt Hoa Hoàng đế đem đề nghị của Chân Chân bàn bạc với Kỷ Cảnh Lan. Kỷ Cảnh Lan cũng thấy có thể thực hiện thử vài tháng để xem hiệu quả thế nào, sau khi thảo luận với Quốc Dụng ty đã sửa đổi một số chi tiết thực thi, nhưng việc Ngự trù, Hàn Lâm ty và Nghi Loan ty thẩm định lẫn nhau vẫn giữ nguyên, lệnh cho ba ty này sửa đổi và nộp lại dự toán cho sách lễ, phê duyệt theo quy định mới. Lần này dự toán nộp lên chi phí giảm mạnh, số tiền báo khống đương nhiên không còn, mà một số khoản chi tiêu đắt đỏ ban đầu cũng bị cắt giảm hoặc thay thế bằng vật tư bình dân. Hoàng đế xem xong cau mày nghi hoặc: "Thế này chẳng phải là quá đà sao?" Lệ Quý phi ngược lại không hề oán trách, nghiêng mình đáp: "Năm nay nhiều châu huyện bị thiên tai, không ít con dân lưu ly khổ sở, cầu một bữa no còn khó, thần thiếp nếu tiêu tốn tiền của khổng lồ làm sách lễ, làm sao có thể yên lòng? Chỉ mong mọi sự giản tiện, dự toán giảm mạnh chính hợp là ý thiếp." Không chỉ vậy, bà còn tỉ mỉ kiểm tra từng khoản chi phí, đích thân cầm bút gạch bỏ những chỗ cảm thấy chi tiêu quá mức, xong xuôi bảo Chân Chân đến xem, nói với nàng: "Ngươi giúp ta nghĩ xem, còn chỗ nào có thể cắt giảm nữa không." Chân Chân biết bà không phải làm màu, quả thực muốn tiết kiệm tiền của, bèn xem xét kỹ lại một lượt, đề nghị: "Dự toán cho Khán bàn của yến tiệc vẫn còn khá nhiều. Khán bàn trong quốc yến thường dùng bánh tủy, bánh vòng, bánh hồ, bánh táo, hoặc thịt chín thỏ, dê, gà, ngỗng, xếp chồng chất tầng tầng lớp lớp như núi, bày giữa tiệc để trang trí, mà khách khứa coi việc ăn đồ trong Khán bàn là hành vi thất lễ, tuyệt đối sẽ không ăn. Số lượng Khán bàn rất lớn, tốn kém không ít, làm cũng rất mất công, nhưng trước khi lên món chính thức lại bị dọn xuống, cuối cùng phần lớn sẽ bị vứt bỏ, gây lãng phí cực lớn, vì vậy, khoản này hoàn toàn có thể cắt giảm." Lệ Quý phi cho rằng lời Chân Chân có lý, nhưng Hoàng đế do dự, nói: "Khán bàn tuy không để ăn, nhưng có thể thể hiện sự phong phú thịnh soạn của yến tiệc, nếu cắt giảm quá nhiều thì cũng quá keo kiệt, khó mà thể hiện sự quý trọng của tiệc sách lễ." "Có một cách ạ." Chân Chân nói, "Năm xưa nô tỳ ở núi Vũ Di theo Tuyên Nghĩa lang học trù nghệ, thấy ngài ấy vào dịp năm mới dùng tùng trúc mai và cam quýt làm Khán bàn trước gia yến, bày biện trang trí theo phương pháp cắm hoa, hình dáng có thể lớn có thể nhỏ. Nhỏ thì bày trên bàn, lớn thì dùng cành tùng ghép thành cây tùng cổ thụ, điểm xuyết hoa quả, có thể đặt giữa sân, không khí hoành tráng. Trong Ngự uyển hoa cỏ rất nhiều, chỉ cần cắt tỉa sơ qua là có thể dùng cho yến tiệc, sau tiệc Khán bàn có thể ban cho các cung làm đồ bày biện tái sử dụng, sẽ không đến nỗi lãng phí." Lệ Quý phi mường tượng cảnh tượng Chân Chân mô tả, mỉm cười: "Tùng trúc mai thanh nhã, ngụ ý cũng tốt, thêm cam quýt vàng óng càng thêm sung túc. Có Khán bàn như vậy, yến tiệc cũng trở nên phong nhã hơn." Hoàng đế cười nói: "Như vậy rất tốt, chỉ là yến tiệc cần Khán bàn khá nhiều, muốn làm như vậy, không tránh khỏi làm phiền Tuyên Nghĩa lang, sẽ vất vả quá rồi." Chân Chân nghĩ ngợi, nói: "Có thể mời Tuyên Nghĩa lang thiết kế vài mẫu Khán bàn như vậy, rồi dạy cho nội thị của Hàn Lâm tư, Khán bàn cỡ vừa và nhỏ trong tiệc có thể để họ hoàn thành, chỉ có cây tùng cổ thụ giữa sân, độ khó rất lớn, e là phải mời Tuyên Nghĩa lang đích thân làm." Hoàng đế thấy khả thi, bảo Chân Chân hôm sau xuất cung đi tìm Lâm Hoằng, bàn bạc với chàng việc này, lại lệnh cho Sử Hoài Ân dẫn hai nội thị hộ tống dọc đường. Nơi ở Hoàng đế ban cho Lâm Hoằng khác biệt với mọi người, không phải quan xá gần cung thành, mà nằm ở phía Tây Bắc trên núi Phượng Hoàng, nghe nói là một khu nhà vườn nhã nhặn lưng chừng núi. Hoàng đế nói biết Lâm Hoằng thích yên tĩnh, nơi đó hẳn là khá hợp với chàng. Hôm sau Chân Chân ngồi xe bò, dưới sự hộ tống của đám người Sử Hoài Ân đi đến nơi ở của Lâm Hoằng. Một nội thị đ.á.n.h xe cho Chân Chân, Sử Hoài Ân và một người khác mỗi người cưỡi một con ngựa, một trước một sau đi hai đầu xe. Rạng sáng hôm nay mưa to, đường dưới núi trơn trượt, thỉnh thoảng nước mưa đọng trên lá cây rơi xuống, lộp bộp trên nóc xe. Đi đến bên một sườn núi, Chân Chân bỗng nghe trên núi truyền đến tiếng cành cây dây leo gãy răng rắc, vén rèm nhìn lên, kinh hoàng thấy một tảng đá núi tròn vo khổng lồ đang lăn từ trên đỉnh xuống, lao thẳng về phía xe bò. Chân Chân không kịp nghĩ nhiều, lập tức đạp tung cửa xe, nhanh chóng nhảy ra ngoài. Vì xe bò vẫn đang di chuyển, cú nhảy này khiến chân trái nàng bị trẹo, ngã xuống đất. Nàng không dám dừng lại, dùng sức bò về phía trước vài bước, rất nhanh sau lưng vang lên tiếng rầm trời, tảng đá lớn lăn xuống đã đập nát chiếc xe, con bò cũng bị đập gãy chân sau, ngã vật xuống đất không dậy nổi. Sử Hoài Ân và hai nội thị thì không sao, nhưng đột nhiên thấy biến cố này, đều sợ đến mặt cắt không còn giọt máu, nhất thời ngoài việc ghìm ngựa dừng lại cũng không biết ứng phó thế nào. Chân Chân còn chưa đứng dậy được, lại nghe phía sau đường tiếng vó ngựa dồn dập, quay đầu nhìn lại, chỉ thấy một con ngựa cao to mất cương đang điên cuồng lao về phía nàng, trong nháy mắt đã đến ngay trước mắt, mắt thấy sắp giẫm đạp lên người nàng. Đám Sử Hoài Ân vẫn chưa hoàn hồn sau vụ đá lở, mà ngựa phi quá nhanh, đã không kịp cứu Chân Chân. Chân Chân cũng không còn thời gian né tránh, chỉ đành đau khổ nhắm mắt, bất lực chờ đợi cú va chạm của con ngựa điên. Ngay lúc nàng nhắm mắt, một con chim ưng săn mồi bỗng lao xuống xoay tròn, mổ vào mắt con ngựa đang phi. Con ngựa bất ngờ bị tấn công một mắt, dừng bước giơ cao vó trước, hí vang trời, chim ưng vẫn không ngừng nghỉ, tiếp tục mổ vào đầu ngựa. Tiếng ngựa hí càng thêm thê lương, bỗng nhiên quay đầu, phóng ngược về hướng nó chạy tới. Chim ưng vẫn muốn đuổi theo, phía trước đường truyền đến một tiếng còi, chim ưng liền quay đầu, bay về phía tiếng còi phát ra. Sử Hoài Ân thấy vậy thở phào nhẹ nhõm, lập tức xuống ngựa, đỡ Chân Chân dậy. Phía trước có một đoàn người cưỡi ngựa chậm rãi đi tới, Chân Chân nhận ra người dẫn đầu là Thái t.ử Triệu Tích, theo sau là hơn ba mươi nội thị và cấm vệ. Bên cạnh phía sau chàng có một người đàn ông chừng bốn năm mươi tuổi, mặc áo gấm rộng, đầu quấn khăn vải dệt phiên bang, mũi cao mắt sâu. Người này dáng vẻ khá đẫy đà, ăn mặc sang trọng, cũng mang theo hơn mười tùy tùng, nhìn tướng mạo cách ăn mặc, rõ ràng không phải người Trung thổ. Con chim ưng săn mồi lúc nãy đang đậu trên vai ông ta, hẳn là do ông ta nuôi dưỡng. Chân Chân hành lễ với Thái tử, cảm ơn chàng kịp thời cứu giúp. Thái t.ử nhìn người bên cạnh, mỉm cười nói với Chân Chân: "Cứu cô thực ra là vị Thừa Tín lang này." Thừa Tín lang Bồ Lộc Tân Chân Chân cũng từng nghe Hoàng đế nhắc tới, là một thương nhân giàu có người Đại Thực (Ả Rập), hơn hai mươi năm trước đã dùng thuyền chở đầy hương liệu t.h.u.ố.c men từ Đại Thực đến Tuyền Châu buôn bán, chỉ riêng một thuyền nhũ hương (trầm hương) nộp thuế cho Tuyền Châu Thị Bạc Ty (Sở Thuế vụ cảng biển) đã lên tới ba mươi vạn quan tiền, vì thế Tiên đế phong cho ông ta chức quan tòng cửu phẩm "Thừa Tín lang". "Thừa Tín lang năm xưa vào kinh triều kiến Tiên đế, chính là Hoàng t.ử khi đó, tức Quan gia hiện nay tiếp dẫn. Lần này từ Tuyền Châu đến, Quan gia cũng lệnh cho ta tiếp đãi. Ta đón ông ấy về dịch quán, đi ngang qua đây, bỗng thấy ngựa điên sắp làm người bị thương, thế là Thừa Tín lang lệnh cho chim ưng bay đi cứu, không ngờ người được cứu lại là Ngô Chưởng thiện." Thái t.ử giải thích. Chân Chân lập tức hành lễ cảm tạ Bồ Lộc Tân. Bồ Lộc Tân sống ở Tuyền Châu nhiều năm, tiếng Hán đã nói rất lưu loát, đáp lễ xong liên tục cười nói với Chân Chân: "Không cần khách sáo, chuyện nhỏ thôi, chuyện nhỏ thôi." Thái t.ử hỏi mục đích chuyến đi này của Chân Chân, Chân Chân đem chuyện Quan gia muốn nhờ Lâm Hoằng thiết kế Khán bàn kể lại. Thái t.ử lại hỏi kỹ quá trình đá rơi đập vỡ xe bò, trầm ngâm rồi nói: "Rạng sáng mưa to, đá rơi còn có thể nói là do sạt lở đất, nhưng con ngựa điên kia có yên cương, rõ ràng không phải ngựa hoang, lại phi đến ngay sau khi đá rơi, rất khó nói không phải có người cố ý sắp đặt. Để an toàn, hay là để ta đưa cô đến chỗ ở của Tuyên Nghĩa lang." Chân Chân nói lo ngại làm lỡ hành trình của Thừa Tín lang, Bồ Lộc Tân cười nói: "Không sao không sao, ta đã lâu không đến Lâm An, đang muốn đi dạo khắp nơi, ta đi cùng các vị luôn." Thế là đoàn người chuyển hướng đến chỗ ở của Lâm Hoằng. Đến dưới núi, để tránh làm phiền Lâm Hoằng quá mức, Thái t.ử lệnh cho đa số tùy tùng đợi ở quán rượu nơi này, tự mình dẫn Chân Chân, Bồ Lộc Tân, Sử Hoài Ân và hai ba cận thị lên núi. Viện lạc trong núi này của Lâm Hoằng phong cách cũng tương tự Vấn Tiều dịch, trúc mai bao quanh, có thể nghe tiếng gió tùng trong u cốc, chỉ là nhỏ hơn một chút, không có ao sen hạc tiên, nhưng trong sân có một mạch suối núi, nước suối chảy ra từ khe đá, Lâm Hoằng dùng tre chẻ đôi nối lại dẫn nước, xây đá thành một hồ nhỏ, nước suối róc rách, rất có ý vị. Lâm Hoằng lần trước ở vườn Tụ Cảnh trò chuyện với Thái t.ử rất vui vẻ, lần này gặp lại cũng rất hân hoan. Chân Chân nói xong chuyện Khán bàn với chàng, Lâm Hoằng nhận lời ngay. Thấy trời sắp trưa, bèn mời mọi người. ở lại dùng bữa. Món chính trong bữa tiệc là "Sơn Chử Dương" (Dê núi nấu), là thịt dê hầm suông với hành, tiêu, nhìn qua chẳng có gì khác lạ, nhưng mọi người nếm thử mới thấy thịt dê hầm cực kỳ mềm thơm, ngay cả xương cũng mềm nhũn. Thái t.ử khen ngợi hương vị, hỏi Lâm Hoằng cách nấu, Lâm Hoằng nói: "Giã nát vài hạt hạnh nhân thật, bỏ vào nồi đất, dùng lửa ngọn nấu, thịt dê sẽ dễ mềm nhừ." Ngoài ra Lâm Hoằng còn lấy nước hầm dê nấu cùng với củ mài, hạt dẻ thái lát, gọi là "Kim Ngọc Canh" (Canh vàng ngọc), lấy ý củ mài như ngọc, hạt dẻ tựa vàng. "Củ mài bổ tỳ, dưỡng vị, ích phế, hạt dẻ có thể bổ thận cường gân, nay tiết trời ngày một lạnh, thịt dê canh dê có thể chống phong hàn, rất thích hợp dùng Kim Ngọc Canh." Lâm Hoằng nói. Mọi người đều khen món canh này sắc vị đều tuyệt, lại có thể dưỡng sinh. Riêng Bồ Lộc Tân nhìn chằm chằm bát canh trước mặt mình hồi lâu, bỗng hỏi Lâm Hoằng: "Tuyên Nghĩa lang, món canh này là ai dạy ngài làm?" Lâm Hoằng đáp: "Là gia phụ nhiều năm trước tùy tay ghi chép lại, kẹp trong sách, mấy năm trước ta vô tình tìm thấy trong đống sách người để lại." "Khéo thật đấy," Bồ Lộc Tân cười nói, "Ta hơn hai mươi năm trước đến Lâm An, khi đó Quan gia còn là Hoàng tử, vừa gặp ta đã như quen thân, chúng ta thường cùng đi săn bắn. Có một ngày, ngài ấy đưa ta đến một viện lạc trong núi, gặp gỡ hai người bạn của ngài ấy, trong đó một người là thái y, người kia là một văn sĩ rất tuấn tú..." Nói đến đây ông ta cố ý quan sát Lâm Hoằng, lại cười nói, "Nghi dung phong độ có vài phần giống Tuyên Nghĩa lang... Hôm đó người nấu cơm cho chúng ta là nương t.ử của thái y, trong các món ăn có món Kim Ngọc Canh này, vị văn sĩ kia rất thích, hỏi kỹ cách làm, nương t.ử thái y nói y hệt như những gì Tuyên Nghĩa lang vừa nói." Thái t.ử nghe xong mỉm cười nhìn Lâm Hoằng, nói: "Vị văn sĩ kia đã giống Tuyên Nghĩa lang, Tuyên Nghĩa lang lại nói cách làm Kim Ngọc Canh là do lệnh tôn ghi chép, chẳng lẽ vị văn sĩ Thừa Tín lang gặp năm xưa chính là lệnh tôn?" Lâm Hoằng gượng cười, nghiêng mình đáp: "Gia phụ phúc mỏng, sao có diễm phúc làm bạn với Kim thượng... Huống hồ, gia phụ cũng chẳng quen biết vị thái y nào cả." Nói xong chàng đưa tay định nhấc bình rượu trên bàn con của mình lên, trên mặt vẫn giữ nụ cười nhạt, nhưng Chân Chân nhận thấy tay cầm bình rượu của chàng hơi run rẩy. Lâm Hoằng nhấc bình rượu lên, phát hiện rượu bên trong không đủ, sai A Triệt đi lấy rượu, Bồ Lộc Tân lại nói: "Lần này ta cũng mang theo vài loại rượu, hương vị khác với rượu ngon Đại Tống, vừa hay nhân cơ hội tốt này mời chư vị cùng thưởng thức." Ông ta lập tức sai tùy tùng phía sau đi lấy rượu, lát sau tùy tùng mang rượu tới, Bồ Lộc Tân đích thân nhận lấy, đưa cho Lâm Hoằng, giới thiệu từng loại: "Đây là rượu ủ từ nước nho, màu như đá quý, hương quả mê người, uống vào ôn hòa ngọt ngào, nhưng uống nhiều cũng dễ say... Đây là 'Tư Tô Tửu' ủ từ hương d.ư.ợ.c nấu đường, mùi thơm nức mũi, nhưng độ rượu khá mạnh... Đây là rượu ủ từ mật ong và hương dược, gọi là 'Mi Tư Đạt Hoa Tửu' (Rượu Mistedah?), ngọt ngào thơm nồng hơn Tư Tô Tửu, uống vào mùa thu đông rất ấm người, cũng không gắt lắm, hương vị êm dịu." Lâm Hoằng ghi nhớ từng loại, rồi lần lượt hỏi Thái tử, Bồ Lộc Tân, Sử Hoài Ân xem muốn uống loại nào, sau đó bảo A Triệt rót cho họ, duy chỉ có Chân Chân là chàng không hỏi, mà trực tiếp ra hiệu cho A Triệt rót cho nàng một ly Mi Tư Đạt Hoa Tửu. Thái t.ử để ý thấy sự khác biệt đó, không khỏi cười hỏi Lâm Hoằng: "Tuyên Nghĩa lang và Ngô Chưởng thiện quen thân lắm sao?" Chân Chân nghe vậy sững sờ, lúc này mới nhớ ra quan hệ thầy trò giữa Lâm Hoằng và nàng, nàng chỉ mới nói cho Hoàng đế và Lệ Quý phi biết, Thái t.ử hẳn là chưa biết. Mà trước đó Hoàng đế phái nàng xuất cung tìm Lâm Hoằng, để tránh cung nhân bàn tán, mục đích thực sự cũng giữ bí mật không công bố, bên ngoài chỉ nói phái Chân Chân xuất cung tìm kiếm nguyên liệu nấu ăn quý hiếm, cho nên Thái t.ử cũng không biết chuyện này. Lâm Hoằng còn đang cân nhắc trả lời thế nào, Sử Hoài Ân bỗng mở miệng, thay chàng đáp: "Tuyên Nghĩa lang và Ngô Chưởng thiện có tình 'Toái Ngọc Tử' (Mảnh ngọc vụn), có thể gọi là quen thân." Tay Chân Chân cầm ly rượu Mi Tư Đạt Hoa run lên một cái, ly rượu suýt chút nữa rơi khỏi lòng bàn tay. Rượu này còn chưa uống, hai má nàng đã đỏ bừng như say. Mà Lâm Hoằng cũng quay đầu nhìn Sử Hoài Ân, độ mở của mắt rõ ràng lớn hơn bình thường, đủ thấy cũng vô cùng kinh ngạc. Cả hai lúc đó đều nghĩ: Sao ông ta biết được? Mà Sử Hoài Ân đứng dậy vái chào Thái tử, nhỏ nhẹ giải thích: "Lần trước ở vườn Tụ Cảnh, Tuyên Nghĩa lang đề nghị treo toái ngọc t.ử trong vườn hoa bên ngoài tẩm các của Thái hậu, Ngô Chưởng thiện bảo không ổn, hai người có trao đổi vài câu. Lúc đó Điện hạ cũng có mặt, không biết còn nhớ việc này chăng." Thái t.ử lập tức cười nói: "Nhớ chứ, nhớ chứ, hóa ra là vậy." Chân Chân lúc này mới thầm thở phào nhẹ nhõm, hiểu rằng Sử Hoài Ân có ý tốt che giấu cho họ, phòng ngừa Thái t.ử truy hỏi ra chuyện nàng và Lâm Hoằng từng lén lút ở bên nhau. Nhìn sang Lâm Hoằng, chàng cũng có vẻ như trút được gánh nặng, khoảnh khắc ngước mắt nhìn nhau với Chân Chân, trong đáy mắt gợn lên một tầng ý cười nhàn nhạt. Chương 91 - Bôi Thuốc Sau bữa trưa, Lâm Hoằng dẫn mọi người thưởng ngoạn cảnh trí trong ngoài tiểu viện. Thái t.ử tỏ ra rất hứng thú với mạch suối trong vắt trong sân, nói nước trong veo, không vương bụi trần, chạm vào lạnh buốt, chỗ nước b.ắ.n lên như pha lê nhảy múa, chất lượng nước nhất định rất tốt. Lâm Hoằng liền mời chàng và các vị khách khác vào hậu viện, ngồi xếp bằng trong thiền thất nơi chàng thường ngồi thiền tập tĩnh, uống trà pha bằng nước suối. Nước trà này quả nhiên khác biệt, uống vào miệng đặc biệt nhẹ nhàng mềm mại, Thái t.ử chỉ cảm thấy thứ mình ngậm trong miệng không phải nước, mà là một đám mây trôi. Thái t.ử tấm tắc khen ngợi, nói sau này mỗi ngày sẽ phái người lên núi lấy nước suối, dùng để pha trà. Lâm Hoằng nói: "Nước này có linh tính, vẫn là nước chảy lấy dùng ngay là tốt nhất, để lâu vài ngày, chất nước sẽ không còn thanh ngọt mềm mại như thế này nữa." Thái t.ử mỉm cười nói: "Ngặt nỗi ta là người tục cõi trần, không thể như tiên sinh sống trong núi, không có cái phúc uống nước nguồn như vậy bất cứ lúc nào." "Chưa hẳn phải sống trong núi mới uống được nước suối." Lâm Hoằng bảo chàng, "Có thể dùng tre to làm ống nước, dẫn nước suối về Đông cung." "Ồ?" Thái t.ử rất có hứng thú, "Phải làm thế nào?" Lâm Hoằng giải thích cặn kẽ: "Cắt lấy nhiều cây tre to, đục thông các đốt ở giữa, dùng dây gai quấn chặt và quét sơn nối lại với nhau. Dưới tảng đá nước suối rỉ ra đục một cái bể đá lớn để chứa nước, rồi dùng ống tre đã nối dẫn nước vào Đông cung, bên trên ống tre dùng cỏ tranh phủ lấp đất lên, để chống nắng mưa và va chạm giẫm đạp, bảo vệ ống nước." Thái t.ử nói: "Nghe có vẻ khả thi, chỉ không biết chi phí công trình như vậy có quá nhiều không." "Không đâu," Lâm Hoằng nói, "Dùng vật liệu như ta vừa nói, mỗi hai mươi dặm tốn phí không quá trăm quan tiền." Chân Chân cũng nhớ ra: "Quả thực khả thi, nô tỳ từng thấy nước suối dẫn vào hồ nước như vậy ở phủ Ân Quận vương." Lâm Hoằng gật đầu: "Đây là ý tưởng Đông Pha cư sĩ năm xưa nghĩ ra để dẫn nước cho thành Quảng Châu, đời sau thi thoảng có nhà giàu cũng dùng cách này dẫn nước suối." Thái t.ử nghĩ ngợi rồi hỏi: "Nhưng ống tre dùng lâu sợ dễ nứt vỡ, nếu một đoạn bị hỏng hoặc tắc nghẽn, kiểm tra rất khó, tháo dỡ thay toàn bộ đường ống lại sợ tốn kém sức dân tiền của." "Cái này không khó." Lâm Hoằng ung dung nói, "Có thể khoan một lỗ nhỏ bằng hạt đậu trên mỗi đoạn ống tre, bình thường dùng kim tre nhỏ bịt lại, nếu sau này đường ống hỏng hoặc tắc, chỉ cần rút kim tre ra, xem lỗ nhỏ có phun nước hay không, là biết đoạn nào có vấn đề. Chỉ cần tháo thay đoạn bị hỏng, cả đường ống dẫn nước lại có thể dùng tiếp." Thái t.ử bèn mỉm cười hỏi: "Không biết tiên sinh có rảnh rỗi làm công trình này cho Đông cung không?" Lâm Hoằng suy tư, nói: "Vườn Tụ Cảnh mùa xuân năm sau đại khái có thể hoàn thành, nếu Điện hạ nguyện ý đợi đến lúc đó, ta nguyện vì Điện hạ phục vụ." "Ta tự nhiên nguyện ý đợi," Thái t.ử cười nói, "Công trình như thế, cũng chỉ có người tài hoa lại tỉ mỉ như tiên sinh làm mới hoàn hảo." Sử Hoài Ân nghe bên cạnh, lúc này xen vào: "Chỉ là nước suối của Tuyên Nghĩa lang nằm ở địa thế khá cao, đường núi gập ghềnh, đục kênh đặt ống không biết có khó khăn lắm không." Bồ Lộc Tân lập tức nói: "Thái t.ử điện hạ chỉ nói muốn dẫn nước suối, chưa chắc nhất định phải dẫn mạch suối này của Tuyên Nghĩa lang. Lúc lên núi ta thấy hai bên đường còn có mấy miệng nước chảy ra, trông cũng không tệ, Điện hạ hoàn toàn có thể chọn một chỗ địa thế bằng phẳng hơn, tiện cho việc dẫn nước." Sử Hoài Ân ngờ vực hỏi: "Có sao? Sao vừa nãy ta không thấy?" "Có." Bồ Lộc Tân hứng chí đứng dậy kéo Sử Hoài Ân, "Đi đi đi, ta dẫn ông đi xem!" Hai người đi đến cửa, Bồ Lộc Tân lại quay đầu nhìn Thái tử, phát hiện chàng vẫn luôn mỉm cười nhìn theo họ, bèn nói với Thái tử: "Điện hạ chi bằng đi cùng chúng ta, xem chỗ nào chất nước tốt nhất?" Thái t.ử nói được, lập tức đứng dậy, đi ra cửa trước. Sử Hoài Ân vội vàng đi theo, Bồ Lộc Tân nối đuôi phía sau, sau khi ra khỏi cửa cố ý hay vô tình khép cửa thiền thất lại. Chân Chân bỗng phát hiện trong thiền thất chỉ còn lại mình và Lâm Hoằng, có chút vui mừng, cũng có chút thấp thỏm, còn đang nghĩ xem nên ôn chuyện cũ với Lâm Hoằng thế nào, Lâm Hoằng đã đứng dậy, đi đến tủ thuốc, lấy ra một lọ sứ nhỏ, rồi quay lại bên nàng. Chàng từ từ quỳ ngồi xuống trước mặt nàng, rồi bất ngờ nắm lấy chân trái của nàng, kéo vào lòng mình, mặc kệ nàng giãy giụa, không nói lời nào cởi bỏ tất lụa của nàng. Chỗ mắt cá chân của Chân Chân sưng đỏ một mảng, đó là vết thương do nhảy khỏi xe bò gây ra, nàng đã cố gắng che giấu, cố gắng đi lại bình thường, nhưng vẫn bị Lâm Hoằng nhìn ra thương tích. Ngài đối diện với ta chẳng phải luôn giữ vẻ vân đạm phong khinh sao? Chân Chân che mặt oán thầm, hóa ra vẫn luôn có một con mắt dõi theo ta. Lâm Hoằng tay trái nắm lấy bàn chân trần của Chân Chân, tay phải lấy một ít t.h.u.ố.c mỡ từ lọ sứ nhỏ, bôi lên chỗ sưng đỏ của nàng. Thuốc mỡ mát lạnh, hương thơm ngào ngạt, Chân Chân ngửi kỹ, không kìm được đoán: "Trong t.h.u.ố.c mỡ này có long não, xạ hương, nhũ hương..." "Còn có mộc dược, tùng hương, giáng chân hương, tiêu sưng giảm đau tan m.á.u bầm cực hiệu nghiệm." Lâm Hoằng bổ sung, cười nhẹ một cái, động tác bôi t.h.u.ố.c trên tay vẫn không ngừng, "Ngô Chưởng thiện ở trong cung quả nhiên kiến thức tăng trưởng, biết phân biệt cả hương d.ư.ợ.c rồi." "Đương nhiên rồi, hai năm nay khứu giác và vị giác của ta đều tăng cường không ít đâu." Chân Chân đắc ý nói. "Chỉ có cái tính hấp tấp, cẩu thả là không đổi." Lâm Hoằng cúi đầu xoa bóp mắt cá chân nàng, "Nếu không cái chân này đâu có sưng vù như móng heo thế này." "Phui!" Chân Chân co chân nhẹ nhàng đá chàng một cái, “Ta là bị người hãm hại đấy." Động tác của Lâm Hoằng khựng lại, cau mày nhìn nàng: "Ai muốn hại nàng? Nàng đã làm gì?" "Cũng chẳng làm gì, đại khái là chặn đường tài lộc của Ngự trù, Hàn Lâm ty và Nghi Loan ty..." Chân Chân trộm nhìn đôi mày ngày càng nhíu chặt của Lâm Hoằng, chột dạ nói, "Mà thôi." Nàng liền kể sơ qua những chuyện xảy ra gần đây và nguy hiểm gặp phải hôm nay, Lâm Hoằng nói: "Có những chuyện nàng dù chướng mắt cũng không thể vội vàng ra mặt. Nàng là một cô nương không có chỗ dựa, bọn họ lại là một đám người trong bóng tối, nàng đối đầu công khai như vậy chỉ khiến bản thân trở thành mục tiêu công kích, vô cùng nguy hiểm." "Thực ra ta không sợ họ hãm hại ta. Vốn nghĩ có khả năng bị họ đuổi khỏi cung, chẳng phải đúng ý ta sao, nên càng không sợ hãi gì..." Chân Chân than, "Chỉ là không ngờ họ ác độc như vậy, còn muốn lấy mạng ta." Lâm Hoằng xót xa nhìn nàng, muốn an ủi, nhưng nhất thời cũng không biết nói gì, đành giữ im lặng, lại cúi đầu nhẹ nhàng xoa bóp vết thương cho nàng. "Này, ngài cứ nắm chân ta thế này, không sợ Thái t.ử họ quay lại nhìn thấy sao?" Chân Chân hỏi. Lâm Hoằng nói: "Không sợ. Ta đang chữa trị cho nàng, tâm không tạp niệm, họ nhìn thấy cũng chẳng sao." "Nhưng mà..." Giọng Chân Chân nhỏ như tiếng muỗi kêu, "Ngài làm thế này, ta sẽ 'tâm có tạp niệm' đấy." Lâm Hoằng sững sờ, buông chân trái nàng ra. Chân Chân nghiêng người về phía chàng, mở to đôi mắt trong veo nhìn chằm chằm chàng, cười hỏi: "Mấy ngày nay, ngài có nhớ ta không?" "Ừm, có một chút..." Lâm Hoằng làm như không có chuyện gì nhìn nàng, bình tĩnh đáp, "Dù sao chúng ta cũng có tình 'Toái Ngọc Tử' mà." Chân Chân không kịp đề phòng, bị câu nói nhàn nhạt này của chàng trêu chọc đến vừa thẹn vừa giận, khẽ kêu lên một tiếng "A", rồi nhào tới đ.ấ.m chàng. Lâm Hoằng lúc này mới cười rộ lên, giơ tay nắm lấy cổ tay nàng, đè hai nắm đ.ấ.m đang vung vẩy của nàng xuống. Chân Chân thuận thế gục vào đầu gối chàng, nghiêng đầu nhìn ánh nắng chiều xuyên qua cửa lưới, hắt những đốm sáng xuống sàn nhà, ánh mắt cũng dần trở nên mơ màng. "Thầy Lâm, ta muốn lúc nào cũng được gặp ngài." Nàng gối đầu lên đùi chàng, thì thầm như nói mộng. Chàng nhẹ nhàng vuốt những sợi tóc mai tán loạn bên thái dương nàng, trầm ngâm giây lát rồi ôn tồn nói: "Đợi thêm chút nữa. Bây giờ ta vẫn chưa làm nên trò trống gì, trước mặt Quan gia chưa nói được lời nào có trọng lượng. Đợi vườn Tụ Cảnh hoàn thành, có lẽ có thể... Trong những ngày này, nàng ngàn vạn lần phải cẩn trọng lời nói việc làm, bảo vệ tốt bản thân. Những chuyện gây thù chuốc oán, đừng làm nữa." "Ngài mượn món ăn để can gián, xin Quan gia bãi bỏ luật Diêm sao có từng nghĩ tới, cũng có thể sẽ gây thù chuốc oán không?" Chân Chân hỏi. Lâm Hoằng nhất thời nghẹn lời. Chân Chân lại nói: "Những việc này, luôn phải có người làm, chúng ta muốn làm thì cứ làm thôi, cho dù rước lấy phiền phức, nghĩ cách giải quyết, rồi cũng sẽ xong cả thôi." Hồi cung, Sử Hoài Ân đem chuyện bị tập kích trên đường bẩm báo với Hoàng đế và Lệ Quý phi. Hoàng đế tạm thời chưa tỏ thái độ, còn Lệ Quý phi vô cùng đau lòng, nói riêng với Chân Chân: "Chuyện này, nói cho cùng là do sách lễ của ta mà ra, ngươi trượng nghĩa nói thẳng, vốn là làm việc tốt, lại bị người ta oán hận, suýt chút nữa mất mạng. Ta sẽ đề nghị Quan gia triệt để điều tra việc này, tìm ra kẻ chủ mưu, trả lại công đạo cho ngươi, cũng để ngăn chặn chuyện tương tự tái diễn." "Đa tạ ý tốt của nương nương, nhưng theo ý nô tỳ, không cần đao to búa lớn làm gì." Chân Chân nói, "Quan gia và nương nương, tuy biết rõ người liên quan th*m nh*ng không chỉ giới hạn ở Ngự trù, Hàn Lâm ty và Nghi Loan ty, vẫn chưa truy cứu đến cùng, chính là không muốn trước sách lễ hưng sư động chúng, dẫn đến triều đình chấn động. Nay chuyện nô tỳ bị tập kích chứng cứ không đủ, ngay cả con ngựa kia cũng không bắt được, không thể khẳng định là do ai làm, muốn điều tra cũng chẳng có manh mối, nếu thực sự đi tra, rất có thể tốn công vô ích mà không có kết quả. Vẫn là tạm thời án binh bất động, ngày sau đợi đối phương lòi đuôi cáo, tra cũng chưa muộn." Lệ Quý phi than: "Nếu không truy cứu, chỉ sợ đối phương năm lần bảy lượt bày mưu hại ngươi." Chân Chân quỳ lạy Lệ Quý phi, nói: "Nô tỳ có một cách, nương nương chỉ cần nói vài câu trước mặt mọi người, là có thể chấn nhiếp những kẻ đó, khiến chúng không dám hành động thiếu suy nghĩ." Hôm sau Lệ Quý phi triệu tập rất nhiều cung nhân, đến đình Mai trong Hậu uyển ngắm hoa mai nở sớm. Sau khi uống một chén trà trong đình, Lệ Quý phi gọi Nhập nội Đô tri Trương Tri Bắc đến, trước sự vây quanh của cung nhân hỏi ông ta: "Gần đây mưa nhiều, hãy cho người đi xem xét bốn phía núi Phượng Hoàng, chỗ nào cần sửa thì sửa, cần vá thì vá, đừng để sạt lở đất, lăn đá lớn xuống đè c.h.ế.t người." Trương Tri Bắc cúi đầu lĩnh mệnh. Lệ Quý phi lại nói: "Ngựa các ngươi cưỡi cũng buộc cho kỹ vào, đừng có vô tâm để ngựa chạy ra ngoài húc phải người ta." Trương Tri Bắc hiểu bà nói bóng gió, nhưng cũng không dám hỏi kỹ, chỉ một mực cúi đầu vâng dạ. Lệ Quý phi lạnh lùng quét mắt nhìn đám cung nhân xung quanh, cuối cùng nói: "Những gì ta nhắc tới, những gì chưa nhắc tới các ngươi tốt nhất đều để trong lòng, đừng gây ra t.a.i n.ạ.n làm bị thương người khác. Nếu còn xảy ra chuyện gì, chúng ta sẽ lôi hết chuyện thanh diêm, chuyện người treo cổ trên núi Phượng Hoàng ra mà tính sổ từ đầu, xem xem chỗ nào không đúng." Chân Chân đứng giữa đám cung nhân, im lặng lắng nghe, biết kẻ hại nàng đa phần cũng có tai mắt lẩn trốn trong đám người này, lời của Lệ Quý phi sẽ rất nhanh truyền đến tai kẻ chủ mưu. Kẻ có thể phát hiện việc Chân Chân làm, lại có thể biết rõ hành tung của nàng, bày ra kế hoạch ám sát kín kẽ như thế sẽ không phải là hoạn quan tiểu lại bình thường, rất nhiều bí ẩn chưa có lời giải trong cung này rất có thể liên quan đến kẻ đó, ví dụ như vụ án thanh diêm và Vương Mộ Trạch, cho nên chi bằng nhờ Lệ Quý phi nhắc luôn một thể, tỏ rõ quyết tâm nếu còn bị khiêu khích sẽ điều tra nghiêm trị. Nay bà sắp chính thức cai quản lục cung, thân phận quyền lực đều không như trước, đối phương sẽ không dám lộng hành không kiêng nể. "Lời Hoàng hậu các ngươi đều nghe cho kỹ." Lúc này Hoàng đế đột nhiên xuất hiện, sải bước lên đình Mai, cao giọng ném ra câu này, công khai khẳng định thân phận Hoàng hậu của Lệ Quý phi dù chưa làm lễ sách phong. Ngài đứng yên trong đình, nhìn bốn phía, lại lạnh lùng nói: "Trẫm xưa nay bận rộn việc nước, khó lòng lo hết chuyện hậu cung, nhưng có một số việc, Trẫm tạm thời chưa xử lý, không có nghĩa là không nhìn thấy. Nay đã giao quyền xử lý cho Hoàng hậu, nếu còn kẻ nào ôm tâm tư gây sóng gió, thì hãy liệu mà an phận, tự cầu phúc cho mình đi." Chương 92 - Bài Toán Khó Từ khi Đế Hậu công khai nói những lời đó, trong cung dường như lại khôi phục vẻ yên bình ngày trước, mỗi người làm tốt chức trách của mình, trật tự ngăn nắp chuẩn bị cho sách lễ, không xảy ra bất kỳ sai sót nào nữa. Chân Chân cũng không gặp phải nguy hiểm gì thêm, người trong cung đều đối xử với nàng khách sáo, thỉnh thoảng còn có người cố ý nịnh nọt, rõ ràng coi nàng là người tâm phúc trước mặt Đế Hậu. Một ngày nọ, Hoàng đế dùng bữa xong ở điện Gia Minh, vẫn ngồi tán gẫu với Chân Chân, bỗng nghe Hoàng hậu cầu kiến. Hoàng đế vội mời bà vào, cười hỏi: "Sao không đến sớm hơn cùng dùng bữa?" Hoàng hậu nghiêng mình đáp: "Thần thiếp đâu dám không được truyền gọi mà đến quấy rầy Quan gia dùng bữa. Lúc này đến đây, thực là có một bài toán khó liên quan đến Đông cung, thần thiếp không dám tự ý quyết định, nên đến xin Quan gia định đoạt." Hoàng đế bèn mời bà ngồi xuống từ từ nói. Hoàng hậu an tọa, Chân Chân dâng trà cho bà, bà cũng chẳng màng uống, kể rõ bài toán khó kia: "Nói ra thì, đây vốn là việc nhà của Đông cung... Trong số thị nữ đi theo Thái t.ử phi khi xuất giá, có một người tên Mạnh Vân Tụ khá thông văn mặc, giỏi thơ hay vẽ, còn có giọng hát hay, khi gảy đàn hát khúc người nghe đều bảo như thiên thanh. Thái t.ử phi hồi nhỏ đi học được cô ta chỉ điểm nhiều, rất thân thiết với cô ta, vì thế nhà họ Tiền cũng không nỡ gả cô ta ra ngoài, để cô ta theo Thái t.ử phi vào Đông cung. Thái t.ử phi có ý xin Thái t.ử nạp cô ta làm trắc thất, nhưng Mạnh Vân Tụ này lớn hơn Thái t.ử khá nhiều tuổi, năm nay đã ba mươi rồi, huống hồ Thái t.ử đối với cô ta tuy kính trọng nhưng không có tình nam nữ, vì thế Thái t.ử vẫn chưa nhận lời. Mà Thái t.ử cũng có rất nhiều cung nhân hầu hạ từ nhỏ, trong đó có một người tên là Vu Nhụy Nhi, tám tuổi đã bắt đầu bầu bạn chơi đùa với Thái tử, năm nay mười tám tuổi, tự nhiên cũng mong mỏi một ngày nào đó trở thành trắc thất của Thái tử. Vu Nhụy Nhi thấy Thái t.ử phi tiến cử Mạnh Vân Tụ cho Thái tử, khó tránh ghen tuông, châm chọc mỉa mai Mạnh Vân Tụ ra mặt lẫn âm thầm, nói cô ta mụ già ba mươi tuổi đầu còn dám mơ tưởng làm sủng thiếp Thái tử, thật là không biết xấu hổ. Mạnh Vân Tụ tính tình ôn nhu, xưa nay không so đo với cô ta. Hôm kia là sinh nhật ba mươi tuổi của Mạnh Vân Tụ, Thái t.ử phi muốn mở tiệc chúc mừng cô ta, cô ta không muốn làm phiền người Đông cung, khéo léo từ chối. Mà Vu Nhụy Nhi biết chuyện lại công khai châm chọc cô ta, bảo cô ta là muốn che giấu chuyện mình đã tròn ba mươi, nào biết trên dưới Đông cung đều hiểu cô ta đã là cặn bã gỗ mục ba mươi tuổi, Thái t.ử cũng thấy chướng mắt, cô ta còn mặt mũi nào vác cái mặt già nua dán vào đòi tranh sủng..." Lời này đến Hoàng đế nghe cũng không lọt tai, giận dữ nói: "Vu Nhụy Nhi này miệng lưỡi sắc bén, ác độc như vậy, Thái t.ử phi chẳng lẽ không biết trừng phạt?" Hoàng hậu than: "Thái t.ử phi quá mức lương thiện, lại nể tình Vu Nhụy Nhi là người cũ của Đông cung, cho rằng trừng phạt cô ta là làm mất mặt Thái tử, vì thế vẫn luôn nhẫn nhịn không nói. Mà Thái t.ử theo yêu cầu của Quan gia, dốc lòng học đạo trị quốc, cũng khó phân tâm lo liệu việc nhà, những chuyện tranh cãi miệng lưỡi này cũng chẳng ai nói cho nó biết... Hôm kia lời Vu Nhụy Nhi mỉa mai Mạnh Vân Tụ nói đặc biệt khó nghe, lại là nói trước mặt mọi người, Mạnh Vân Tụ cũng không bỏ được sĩ diện tranh cãi với cô ta, liền khóc chạy về phòng đóng cửa không ra. Thái t.ử phi nghe tin đích thân đi thăm, tỳ nữ gõ cửa không mở, Thái t.ử phi cho nội thị phá cửa vào, thấy Mạnh Vân Tụ đã treo cổ tự vẫn..." Hoàng đế cau mày hỏi: "Cứu được không?" Hoàng hậu nói: "May mà phát hiện sớm, mạng thì cứu được, chỉ là cổ sưng vù không ra hình thù gì. Hai ngày nay Mạnh Vân Tụ vẫn không nói được, thái y khám xong bảo cổ họng chắc chắn bị tổn thương, cho dù sau này nói được, giọng nói cũng sẽ khàn đặc khó nghe, giọng hát hay ngày xưa e là không còn nữa." "Vu Nhụy Nhi này khác nào g.i.ế.c người bằng lời nói, lòng dạ đáng chém!" Hoàng đế phẫn nộ nói, lại hỏi Hoàng hậu, "Thái t.ử phi và Thái t.ử xử phạt cô ta thế nào?" "Khó là khó ở chỗ này." Hoàng hậu khẽ thở dài, "Thái t.ử phi hai ngày nay luôn túc trực bên cạnh Mạnh Vân Tụ, lấy nước mắt rửa mặt, người khác hỏi nàng xử phạt Vu Nhụy Nhi thế nào, nàng chỉ lạnh lùng nói: 'Xin Điện hạ xử lý.' Mà Vu Nhụy Nhi kia đã sớm chạy đến trước mặt Thái t.ử khóc lóc t.h.ả.m thiết, liên tục kể lể quá trình bầu bạn Thái t.ử bao năm, nắm lấy vạt áo Thái t.ử khổ sở cầu xin. Thái t.ử xưa nay nhân hậu mềm lòng, muốn phạt nặng cũng không đành lòng, bèn sai người đưa Vu Nhụy Nhi đến giao cho Ngụy Cung chính (nữ quan quản lý hình phạt trong cung), xin Cung chính xử phạt. Mà Ngụy Cung chính cũng vô cùng khó xử, phạt nhẹ sợ khó bình ổn oán khí của Thái t.ử phi, phạt nặng sợ Thái t.ử không vui, cho nên đến xin chỉ thị của ta..." Hoàng đế hiểu ra: "Nàng cũng có nỗi lo giống Ngụy Cung chính, huống hồ liên quan đến Đông cung, nàng cũng không tiện làm chủ." Hoàng hậu ngượng ngùng cúi đầu: "Thần thiếp vô năng, chỉ cầu Quan gia thánh định." Hoàng đế nói: "Loại chuyện này, nếu theo lệ thường trong cung, chỉ cần đuổi Vu Nhụy Nhi ra khỏi cung, bắt buộc xuất gia, làm nữ tu." Hoàng hậu chần chừ, im lặng không đáp, rõ ràng cho rằng đây không phải phương án thích hợp. Chân Chân thấy vậy, khẽ nói với Hoàng đế: "Quan gia, thứ cho nô tỳ nói thẳng, nô tỳ nhớ lần trước nữ sử Hác Cẩm Ngôn hãm hại Phùng Điển thiện, Cung chính muốn đuổi bọn Hắc Cẩm Ngôn ra khỏi cung làm nữ tu, Thái t.ử đã ngăn lại, nói đuổi khỏi cung là được, không cần bắt buộc xuất gia, hủy hoại cả đời người ta. Thái t.ử và bọn Hắc Cẩm Ngôn vốn không quen biết, còn không nỡ nhìn họ xuất gia, huống hồ là cung nhân hầu hạ ngài ấy mười năm." Hoàng hậu cũng nói: "Đúng vậy, nếu Quan gia xử lý như thế, Thái t.ử dù không phản đối, trong lòng cũng nhất định không dễ chịu, e sinh oán khí." "Chỉ đuổi khỏi cung không bắt xuất gia?" Hoàng đế rất nhanh bực bội phủ quyết phương án này, "Thế chẳng phải hời cho ả ta quá sao! Không được không được." Chương 93 - Chương 93 Lâm Hoằng gần đây mệt mỏi vô cùng. Tẩm điện vườn Tụ Cảnh sắp hoàn công, nhưng chi tiết còn rất nhiều chỗ cần cân nhắc, Lâm Hoằng mỗi đêm đều chong đèn xem bản vẽ, suy nghĩ nát óc. Mà Khán bàn cho tiệc sách lễ cũng là một nhiệm vụ khó hoàn thành, ngoài việc hàng ngày dạy dỗ nội thị Hàn Lâm ty, cây tùng cổ thụ cần chàng tự mình sáng tạo ra càng khiến chàng hao tổn tâm lực và thể lực. Trước tiên vẽ ra dáng cây lý tưởng trong lòng, rồi chọn lựa kỹ càng trong số cành cây gốc cây do người làm vườn Ngự uyển cung cấp, dùng dụng cụ mộc xử lý cành thô, những cành nhỏ hơn đường nét uyển chuyển lại thường do chàng dùng tay không uốn từng cành một. Dù có người giúp đỡ, nhưng thấy họ xử lý không vừa ý, lại phải tự mình làm lại một lần. Chàng làm việc xưa nay cầu toàn, cành cây đã thiết kế xong dù người khác khen ngợi không ngớt, chàng cũng sẽ lặng lẽ ngắm nghía, thấy chỗ nào mình cảm thấy khiếm khuyết, lại sửa đi sửa lại, một ngày đối diện với cây tùng thường phải đứng làm việc sáu bảy canh giờ, trong lúc đó thậm chí không muốn dừng lại uống nước ăn cơm, mà ban đêm sau khi sửa xong bản vẽ vườn Tụ Cảnh, thời gian ngủ chỉ còn chưa đầy hai canh giờ. Nhiều ngày như vậy, người tiều tụy đi nhiều. Hôm nay như thường lệ ghép cành cây hành lang phía Đông điện Đại Khánh, bỗng thấy chóng mặt, người lảo đảo. Nhập nội Đô tri Trương Tri Bắc đang đứng xem chàng làm việc vội đưa tay đỡ, thấy chàng mặt mày trắng bệch, quầng mắt thâm đen, lập tức gọi mấy tiểu hoàng môn đến, bảo họ đưa Tuyên Nghĩa lang đến viện Hàn Lâm Y Quan. Thấy Trương Đô tri phái người đưa đến, viện Hàn Lâm Y Quan cũng không dám chậm trễ, lập tức mời Quách Tư Tề chẩn đoán cho Lâm Hoằng. Quách thái y vọng văn vấn thiết (nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch) một hồi, xác định là do lao lực quá độ, dặn Lâm Hoằng tạm thời nghỉ ngơi trong viện Y quan, hôm nay đừng làm việc nữa, lại bảo Hàn Tố Vấn xoa bóp đầu và vai gáy cho Lâm Hoằng. Một lát sau Lâm Hoằng tỉnh táo lại, Hàn Tố Vấn thấy sắc mặt chàng chuyển biến tốt, cười đề nghị chàng đến sảnh đường thưởng hương, thưởng trà. Sảnh đường viện Y quan cửa sổ sáng sủa bàn ghế sạch sẽ, mùi hương tỏa ra từ lư Bác Sơn chủ yếu là long não, khiến người ta tai mắt thanh tỉnh. Lâm Hoằng chậm rãi bước vào, dưới sự giới thiệu của Hàn Tố Vấn bắt đầu ngước nhìn những bức chân dung danh y các thời đại treo trong sảnh. Mấy bức đầu vẽ những thần y người đời đều biết, như Biển Thước, Hoa Đà, Trương Trọng Cảnh, Tôn Tư Mạc, sau đó là một số Quốc y của triều đại này, đa phần là y quan nổi tiếng của viện Hàn Lâm Y Quan. Nhận ra thân phận của những y quan phía sau, tim Lâm Hoằng đập nhanh, hơi thở cũng dần dồn dập, bước chân tiến về phía trước càng thêm nặng nề. Khi sắp đi đến trước bức chân dung cuối cùng, chàng có chút chần chừ, nhưng dưới sự dẫn dắt nhiệt tình của Hàn Tố Vấn cuối cùng vẫn tiếp tục cất bước, từ từ đi về phía vị Quốc y cuối cùng kia. Quả nhiên là ông ấy. Khuôn mặt gầy gò, thần tình lạnh lùng đều giống hệt trong ký ức. Lâm Hoằng bỗng thấy khí huyết dâng lên, vô thức ôm lấy ngực, bắt đầu thở không ra hơi. Mà Hàn Tố Vấn hoàn toàn không hay biết, hai mắt nóng bỏng nhìn chằm chằm bức chân dung của vị thần trong lòng mình vẫn thao thao bất tuyệt giới thiệu: "Đây là Trương Vân Kiều Trương Quốc y, Đại Quốc y được Quan gia tin tưởng nhất, đã chữa khỏi cho rất nhiều người... Không chỉ y thuật giỏi, ước chừng còn thành tiên rồi, có việc gì cầu nguyện với bức tranh của ngài ấy linh nghiệm lắm. Mỗi lần thi cử ta đều phải vái ngài ấy, tiếc là lần thi trước sảnh đường này tu sửa, gỡ chân dung danh y xuống cất vào kho, khiến ta không thể cầu nguyện hứa nguyện với ngài ấy, cho nên mới thi trượt..." Lời kể của cậu ta bị cắt ngang bởi một tiếng "cộp", đó là tiếng đầu Lâm Hoằng ngất xỉu va vào cây cột bên cạnh. Hàn Tố Vấn kinh ngạc quay đầu, thấy Lâm Hoằng trượt qua cây cột gỗ, ngã nghiêng xuống đất. Lâm Hoằng rơi vào một mảng hỗn độn tối tăm, lát sau dường như lại có ý thức, phát hiện mình biến thành đứa trẻ bốn năm tuổi, trước mắt thi thoảng có những hình ảnh vụn vặt lóe qua: Người mẹ mắt sưng đỏ mở cửa phòng ngủ của chàng, dắt tay chàng, nói: "Hoằng Ninh, đi, chúng ta đi gặp cha con." Nương dắt chàng, đi vào một nơi như đường hầm u tối, nơi đó có từng cánh cửa khóa chặt, bên mỗi cửa đều có mấy tên lính ngục đứng canh, họ nhìn bằng chứng trong tay nương, lạnh lùng mở khóa. Nương cứ thế dẫn chàng, đi về phía sâu nhất của đường hầm âm u ẩm ướt, hai bên vách toàn là nhà lao. Một người đàn ông từ phòng giam trong cùng bước ra, tay xách một hòm thuốc, phát hiện hai mẹ con, ông ta dừng bước, lạnh lùng nhìn họ. Nương chàng toàn thân run rẩy, giận dữ không kìm được lao tới, lớn tiếng quát hỏi người đó: "Tại sao ngươi lại ở đây? Ngươi lại làm gì phu quân ta rồi?" Người đó không trả lời. Người mẹ ngày thường là một thục nữ dịu dàng đến thế, lúc này lại không nén được nỗi phẫn uất ngập tràn, vung tay đ.á.n.h tới tấp vào người đó. Người đó cũng không né tránh, để mặc bà đ.á.n.h rất nhiều cái mới nắm lấy cổ tay bà, hất bà ra, rồi sải bước đi ra ngoài, biến mất trong ánh sáng nơi cửa vào. Chàng đi theo người mẹ thất thần bước vào phòng giam, thấy cha nằm trên đống rơm rạ dưới đất, trên áo tù đầy vết m.á.u do đòn roi, đa phần đã khô thành màu nâu, hai mắt nhắm nghiền, mày chau chặt, không một chút huyết sắc, cả người trông như tượng đá. Mẹ thử hơi thở của cha, ánh mắt và động tác đều trong nháy mắt đông cứng, hồi lâu sau mới ôm lấy cha òa khóc nức nở. Mà chàng chỉ đứng bên cạnh ngẩn ngơ nhìn, chưa ý thức được đây chính là cái c.h.ế.t, và cái c.h.ế.t của cha có ý nghĩa gì. Mẹ kìm nén tiếng khóc, vực lại tinh thần thay cho cha bộ quần áo mình mang đến, và chải đầu cho ông. Khi tay bà đỡ lấy gáy cha, dường như cảm nhận được gì đó, nhanh chóng đẩy cha nằm nghiêng, vạch tóc sau gáy ông ra, chăm chú tìm kiếm. Bà từ từ rút ra từ đó một cây kim châm cứu bằng bạc, vết m.á.u đỏ tím ở đuôi kim làm nổi bật ánh sáng lạnh lẽo của mũi kim. Nhìn chằm chằm điểm sáng lạnh lẽo đó, chàng không ngừng run rẩy, lần đầu tiên cảm nhận được nỗi sợ hãi sâu sắc đối với sự mất mát của sinh mệnh. Cảnh tượng phòng giam dần phai nhạt, thay vào đó là căn phòng lúc mẫu thân mình lâm chung. Bàn tay run rẩy của bà chộp lấy một chiếc hộp gỗ bên gối, đưa cho chàng. Chàng ngẩn ngơ mở ra, không hề phòng bị, để ánh sáng lạnh lẽo của cây kim châm kia một lần nữa đ.â.m nhói mắt chàng. "Người đó, tên là Trương Vân Kiều, thái y Trương Vân Kiều..." Mẹ dùng chút sức lực cuối cùng, lẩm bẩm. Đây là cơn ác mộng lặp đi lặp lại nhiều năm, khó lòng thoát khỏi của chàng, thường xuất hiện lúc nửa tỉnh nửa mê, khiến chàng không phân biệt được là mơ hay là ký ức trốn thoát từ trái tim bị khóa chặt. Từ nhỏ đến lớn chàng không biết đã bị cơn ác mộng này đ.á.n.h thức bao nhiêu lần, thường xuyên nước mắt đầm đìa, thậm chí khóc thét lên, may mà, có Lạc Vi, mỗi lần nghe thấy chàng la hét, nàng đều chạy đến bên chàng, ôm lấy chàng dịu dàng an ủi: "Có tỷ tỷ đây rồi, đừng sợ..." Lâm Hoằng từ từ mở mắt. Trong không khí tràn ngập mùi t.h.u.ố.c ấm áp, vì xung quanh yên tĩnh, thậm chí có thể nghe thấy tiếng nước t.h.u.ố.c trong siêu t.h.u.ố.c sôi sùng sục trên lửa. Chàng ngồi dậy từ trên giường, chỉ thấy cảnh vật trước mắt chao đảo, trong lúc nhất thời có chút hoảng hốt, không biết mình đang ở đâu. Trong góc phòng có một cái lò trà nhỏ, trên lò đặt một siêu t.h.u.ố.c bằng đất nung, mà một cô nương dáng người yểu điệu đang quay lưng về phía chàng, tay cầm quạt lá cọ, ngồi bên lò quạt lửa, thỉnh thoảng cúi đầu kiểm tra màu nước t.h.u.ố.c trong siêu, lát sau, có lẽ cảm thấy độ lửa đã vừa, nàng đứng dậy, khẽ vươn vai, thở phào nhẹ nhõm. Lâm Hoằng đôi mắt ướt át, bước những bước chân bồng bềnh đi về phía nàng, từ phía sau dang tay ôm lấy nàng. Nàng giật mình, hơi giãy giụa, lập tức nhận ra là chàng, liền yên lặng, ngoan ngoãn dựa vào lòng chàng, giữ im lặng. Như sợ nàng đột nhiên biến mất, chàng ôm nàng chặt hơn, cằm tựa nhẹ lên tóc mái nàng, chàng nhắm mắt, kìm nén vị chua xót nơi sống mũi, như nói mộng gọi ra cái tên vừa lởn vởn trong lòng: "Lạc Vi..." Nàng run lên bần bật, tư thế trong nháy mắt trở nên cứng đờ. Sau đó nàng nhẹ nhàng thoát khỏi vòng tay chàng, quay người nhìn chàng, cố gắng mỉm cười với chàng: "Thầy Lâm, t.h.u.ố.c sắc xong rồi, ta múc cho thầy một bát." Liễu Lạc Vi gần đây gặp nhiều chuyện không thuận lợi. Thấy Thái hậu long thể bất an, nàng chạy vạy khắp nơi, bỏ ra số tiền lớn mua rất nhiều d.ư.ợ.c liệu quý hiếm và t.h.u.ố.c bổ gửi đến cung Từ Phúc, không ngờ bị Thái hậu trả về nguyên vẹn, còn sai người truyền lời: "Thân già thể hư, sợ không chịu nổi sự tẩm bổ thế này, Liễu nương t.ử nên giữ lại tự dùng đi. Tâm can tì phế nếu có gì không ổn, mong sớm ngày điều dưỡng cho tốt, sớm sinh thêm cho Quan gia một Hoàng tử." Ngẫm nghĩ câu nói này mấy lần, Liễu Lạc Vi lại sai người đi mời Trình Uyên đến các Phù Dung, năm lần bảy lượt mời mọc, Trình Uyên mới miễn cưỡng đến, cúi người hỏi nàng có việc gì. Liễu Lạc Vi kể chuyện Thái hậu trả lại quà biếu, hỏi Trình Uyên: "Những năm nay ta phụng dưỡng Thái hậu không thể nói là không tận tâm, thế nhưng Thái hậu trước sau vẫn không ưa ta. Trước đó được Trình tiên sinh nhắc nhở, ta đã rất ít khi nấu cơm cho Quan gia, múa giờ cũng không múa nữa, Thái hậu tại sao đối với ta vẫn lạnh nhạt như thế?" Trình Uyên nói: "Thái hậu nửa đời trước từng theo Tiên đế phiêu bạt khắp nơi, nửa đời sau sống trong hậu cung như Tu La trường này, hạng người nào mà chưa từng gặp? Những việc nương t.ử làm, bà ấy nhìn ở trong mắt, dụng tâm của nương tử, bà ấy không nhìn cũng biết, sau này nương t.ử có hiếu kính bà ấy thế nào đi nữa, e rằng bà ấy cũng khó lòng xóa bỏ thành kiến với nương tử." Liễu Lạc Vi cho lui người hầu, lại mỉm cười với Trình Uyên: "Trình tiên sinh cứ nói xem, Thái hậu nhìn thấy ta làm gì rồi." Trình Uyên nhàn nhạt nói: "Ngự trù, Hàn Lâm ty và Nghi Loan ty báo khống sổ sách với số lượng lớn, đại khái bắt đầu từ ba năm trước, mà khi đó, chính là lúc Quan gia để nương t.ử thay thế Bùi Thượng thực quản lý việc nếm thử ngự thiện. Nương t.ử ban đầu chỉ là thay Bùi Thượng thực nếm ngự thiện hoặc làm món ăn cho Quan gia, sau đó liền nhúng tay giám sát sổ sách Ngự trù, từ đó về sau, sổ sách liên quan đến ngự thiện, yến tiệc liền không rõ ràng nữa." Liễu Lạc Vi cười khẩy: "Trình tiên sinh thận trọng lời nói, ta một nữ t.ử yếu đuối, làm sao chỉ huy được đám quan lại đó làm chuyện này." "Cho nên, trước đó Nhập nội Nội thị sảnh và Tuyên Huy viện chắc chắn đã sớm có người nương t.ử lo lót xong xuôi." Trình Uyên nói, "Nương t.ử mượn Ngự trù, Hàn Lâm ty, Nghi Loan ty vơ vét tài sản, lại lấy tài vật có được tiếp tục hối lộ quan lại triều đình, mấy phen như thế, trong cung ngoài triều ước chừng đã có không ít thân tín của nương tử." Liễu Lạc Vi cũng không phủ nhận, khẽ thở dài: "Ta xuất thân thấp hèn, trong cung không có chỗ dựa, nếu không tìm vài người có thể trợ giúp kịp thời, e là đã sớm lặng lẽ biến mất trong hậu cung này rồi." "Nương t.ử dừng tay đi, tiếp tục nữa, khó tránh lửa thiêu thân. Thái hậu đã sớm nhìn ra tâm tư của ngài, thấy Quan gia độc sủng ngài, lại không tiện nói thẳng, bèn nghĩ ra cách tuyển chọn dân nữ bổ sung vào Thượng Thực cục, cuối cùng âm dương sai lệch, lòi ra một Ngô Chân Chân, thay đổi cục diện nương t.ử thao túng Ngự trù. Có cô ấy ở đó, nương t.ử dù sinh xong cũng không thể nắm lại quyền nếm thử ngự thiện, cho nên những sổ sách kia cũng không còn lý do gì giám sát nữa..." Trình Uyên dừng lại, đặc biệt nhìn Liễu Lạc Vi, lại nói, "Nói đến đây, nương t.ử có phải nên giải thích một chút về chuyện Ngô Chân Chân gặp nguy hiểm ngoài cung không?" "Gặp nguy hiểm gì? Không liên quan đến ta, Trình tiên sinh xin đừng vu oan giá họa." Liễu Lạc Vi lạnh lùng nói. Trình Uyên vái nàng một cái: "Trình Uyên lỡ lời, mong nương t.ử lượng thứ." Liễu Lạc Vi lại nở nụ cười ôn hòa: "Trình tiên sinh nói quá rồi. Ta biết ông câu nào cũng xuất phát từ đáy lòng, vốn là lo nghĩ cho ta. Ta ở trong cung không thân không thích, may được tiên sinh quan tâm chiếu cố, vô cùng cảm kích. Ta nguyện bái tiên sinh làm nghĩa phụ, sau này phụng dưỡng tiên sinh như cha ruột, hy vọng tiên sinh cũng có thể coi ta như con gái, trước mặt Thái hậu, nói giúp ta vài câu tốt đẹp, phàm chuyện gì cũng nhắc nhở nhiều hơn..." "Lão nô không có cái phúc phận đó." Trình Uyên hơi cao giọng ngắt lời nàng, nói, "Ta hôm nay nói với nương t.ử những lời này, chẳng qua là cảm thấy nương t.ử có hai phần giống một cố nhân, nên không nhịn được nhắc nhở đôi chút. Sau này nên hành xử thế nào, mong nương t.ử tự mình cân nhắc, lão nô sao dám can thiệp chuyện của nương t.ử nữa." Nói xong, Trình Uyên xoay người định ra cửa, Liễu Lạc Vi lại cao giọng gọi ông ta: "Trình tiên sinh!" Trình Uyên dừng bước, nhưng cũng không quay đầu lại. Liễu Lạc Vi đứng dậy, chậm rãi bước đến trước mặt ông ta, mỉm cười đầy ẩn ý, hỏi ông ta: "Cúc phu nhân dạo này có khỏe không?" Chương 94 - Vòng Tuổi (Niên Luân) Không ngoài dự đoán, Liễu Lạc Vi nhìn thấy trong đôi mắt Trình Uyên quay sang nhìn nàng b.ắ.n ra hai tia sáng sắc bén. Nàng không khỏi cười tươi hơn, rành rọt kể lại quá trình phát hiện bí mật của ông ta: "Lần trước ta muốn tặng đầu bếp nữ cho tiên sinh, tiên sinh từ chối, ta thầm khâm phục, cho rằng tiên sinh khác người, giữ mình trong sạch, ăn uống sắc d.ụ.c đều không ham, nên đổi sang tặng hoa quỳnh cho tiên sinh. Nội thị đưa hoa đến vườn Thích An về nói, nô bộc trong vườn tiên sinh đều là người câm điếc, ta không nén nổi tò mò, vừa khéo có một đầu bếp nữ bị bệnh sốt hỏng giọng, bèn phái cô ta đến vườn Thích An ứng tuyển. Tiên sinh không quên cho người kiểm tra thính lực của cô ta, may mà cô đầu bếp này định lực tốt, thế mà lại qua cửa, vào được vườn tiên sinh." Trình Uyên cười lạnh: "Người do nương t.ử bồi dưỡng, tất nhiên là vô cùng thỏa đáng, chút định lực này tính là gì, chỉ cần nương t.ử cần, lúc nào cũng có thể sinh bệnh hủy giọng." Liễu Lạc Vi cũng không phủ nhận, tiếp tục nói: "Cô ta không lâu sau liền biết được tiên sinh mua vườn Thích An này vốn là để 'kim ốc tàng kiều', nhốt một mỹ nhân như tiên nữ trên lầu trong vườn. Mỹ nhân này hàng ngày trà không nhớ cơm không nghĩ, cũng là cơ duyên xảo hợp, món ăn do đầu bếp của ta làm còn lọt được vào mắt xanh mỹ nhân, cơ hội cô ta đưa cơm lên lầu nhỏ liền nhiều hơn chút, thi thoảng vài lần, nghe được đối thoại giữa tiên sinh và nữ t.ử kia... Tiên sinh gọi bà ấy là, Cúc phu nhân." Trình Uyên mặt không biến sắc, nói: "Cô ấy là vũ kỹ ta mua về, vì ta ngưỡng mộ phong thái Cúc phu nhân năm xưa, nên gọi cô ấy bằng tên Cúc phu nhân." Liễu Lạc Vi cười khẩy: "Vị Cúc phu nhân này, mấy lần gặng hỏi tiên sinh tình hình gần đây của một cô nương tên là Chân Chân, câu trả lời của tiên sinh, rõ ràng là đang nói về Ngô Chưởng thiện, chuyện này càng thú vị hơn... Ta tra thân thế Ngô Chân Chân, biết được cô ấy là người Phố Giang, mẹ tên là Ngô Thu Nương. Sau đó ta lại cho người tra hành tung những năm gần đây của tiên sinh, hỏi thăm nội thị đi theo tiên sinh, biết được tiên sinh từng đến Phố Giang, và mang về một người phụ nữ tên là Ngô Thu Nương, nhưng Ngô Thu Nương này vừa đến Lâm An, tiên sinh liền tuyên bố bà ấy nhiễm bệnh qua đời. Ta khéo léo hỏi Quan gia về tung tích Cúc phu nhân, ngài nói Cúc phu nhân năm xưa tự xin xuất cung, sống ở khu vườn Tiên đế ban cho, nhưng không lâu sau liền mất tích, từ đó bặt vô âm tín. Ta lại hỏi thăm người Tiên Thiều viện, họ nói người Cúc phu nhân qua lại mật thiết trước khi xuất cung là Lưu Tư thiện và thái y Trương Vân Kiều, mà sau khi Cúc phu nhân xuất cung, hai người này cũng đồng thời mất tích. Ta lại cho người đến viện Hàn Lâm Y Quan tra ghi chép khám bệnh của Trương Vân Kiều năm xưa, phát hiện trước khi Cúc phu nhân xuất cung thường xuyên được ông ta chẩn trị..." Liễu Lạc Vi nhìn chằm chằm sắc mặt ngày càng u ám của Trình Uyên, nói chậm lại, đưa ra kết luận mình suy đoán: "Nếu ta đoán không lầm, Cúc phu nhân hẳn là nảy sinh tình cảm với Trương thái y, sau khi xuất cung liền bỏ trốn cùng ông ta... Có lẽ, còn có cả Lưu Tư thiện? Hai người học theo Nga Hoàng Nữ Anh (hai bà phi của vua Thuấn) chung chồng cũng không có gì lạ... Mà Ngô Chân Chân chính là con gái của Cúc phu nhân và Trương thái y." Sắc mặt Trình Uyên không đổi, nhưng nắm đ.ấ.m giấu trong tay áo rộng đã siết chặt. Liễu Lạc Vi vẫn giữ nụ cười, đi đến bên cạnh ông ta, thấp giọng nói: "Ông nói xem, nếu chuyện này bị Thái hậu biết được, bà ấy sẽ có bao nhiêu lý do, liệt kê ra bao nhiêu tội danh, dùng bao nhiêu loại hình phạt để đối phó Cúc phu nhân? Chỉ riêng tội phản bội Tiên đế, tư thông sinh con gái, cũng đủ để xương tan thành tro bụi rồi chứ?" "Bà ấy chưa từng phản bội Tiên đế!" Trình Uyên cuối cùng không nhịn được trừng mắt nhìn nàng giận dữ nói, "Bà ấy chưa từng sinh con, Ngô Chân Chân là con gái của Trương Vân Kiều và Lưu Tư thiện." Liễu Lạc Vi có chút ngỡ ngàng, lập tức lại cười, dịu dàng nói: "Thế này mới đúng chứ, ta và ông thẳng thắn với nhau, biết gì nói nấy, thế có phải tốt không. Chỉ cần tiên sinh cùng ta nương tựa lẫn nhau, cùng tồn tại trong cung này, ta tự sẽ bảo vệ Cúc phu nhân như bảo vệ chính mình." Trình Uyên tự biết đã trúng kế của nàng, nhắm mắt điều chỉnh hơi thở, lát sau nhìn lại Liễu Lạc Vi, thở dài một tiếng: "Nương t.ử rốt cuộc muốn gì?" Liễu Lạc Vi không trả lời ngay, im lặng giây lát, tay nhẹ nhàng đặt lên bụng mình, ánh mắt hướng ra sân nhỏ sâu hun hút ngoài cửa, cười nhạt: "Ta lại có t.h.a.i rồi. Thái y nói, nhìn mạch tượng, rất có khả năng là một Hoàng tử." Hai tiếng "Lạc Vi" vừa thốt ra, bầu không khí thân mật ngày càng tăng giữa Chân Chân và Lâm Hoằng mấy tháng nay bỗng chốc tan vỡ. Hôm đó cả hai đều không nói thêm gì nhiều, Chân Chân chuyển lời quan tâm của Đế Hậu đến Lâm Hoằng, Lâm Hoằng khách sáo cảm ơn. Sau khi nhìn Lâm Hoằng uống hết bát thuốc, Chân Chân dặn dò chàng nghỉ ngơi nhiều, rồi vội vã rời đi. Lâm Hoằng cũng không tỏ ý giữ lại, chỉ là ánh mắt dõi theo bóng nàng đi xa có phần buồn bã. Mặc dù Hoàng đế cho phép Lâm Hoằng nghỉ ngơi vài ngày, tạm dừng mọi công việc, nhưng hôm sau Lâm Hoằng vẫn xuất hiện ở điện Đại Khánh, vẫn dẫn dắt nội thị tiếp tục chỉnh sửa Khán bàn. Gần đến giờ Dậu, Lâm Hoằng thấy việc của nội thị đã hoàn thành hòm hòm, bèn cho họ về nghỉ ngơi, còn mình vẫn ở lại Đông vu ngắm nghía cây tùng, thỉnh thoảng chỉnh sửa cành lá. Một lát sau, Chân Chân bưng một thố bánh canh hoa mai nước cốt gà đi vào, nói là Quan gia sai nàng đưa tới, dặn Lâm Hoằng chú ý ăn uống. Lâm Hoằng cảm tạ, rửa sạch tay, nhận lấy bánh canh nếm thử, liền hiểu ngay đây là cách làm chàng đã dạy cho Chân Chân, bèn mỉm cười ý nhị: "Làm ngon hơn hồi nàng ở Vấn Tiều dịch nhiều lắm." Chân Chân mỉm cười: "Rốt cuộc vẫn không bằng ngài làm." Lâm Hoằng chợt nhớ lại, đêm bão tuyết năm xưa, chàng cứu Chân Chân về phòng mình, sau đó liền làm món bánh canh hoa mai này, để dành cho nàng tỉnh lại ăn. Chắc hẳn nàng vẫn luôn nhớ kỹ, hai năm nay không biết đã làm bao nhiêu lần, mới có thể đạt đến trình độ hình, sắc, vị đều gần như y hệt thố bánh canh của chàng. Tim khẽ run lên, ánh mắt nhìn nàng càng thêm dịu dàng vài phần. Chân Chân mời chàng tiếp tục ăn, mình ngồi xuống lẳng lặng chờ đợi, trong hành lang liền trở về vẻ yên tĩnh, chỉ thỉnh thoảng vang lên tiếng thìa chạm nhẹ vào bát. Để che giấu sự gượng gạo lúc này, Chân Chân nhìn quanh bốn phía, lát sau nhặt lên một lát cắt ngang mỏng của cành tùng, tỉ mỉ quan sát. Đó là mẩu gỗ cưa ra khi Lâm Hoằng sửa độ dài cành cây. Thấy ngón tay Chân Chân lướt qua những vòng tuổi (niên luân), Lâm Hoằng bèn nói: "Những vòng tròn này, một sáng một tối tượng trưng cho cây lớn lên một năm. Nàng đếm thử xem, cây này sống được bao nhiêu năm rồi." Chân Chân đếm cẩn thận từ trong ra ngoài, lát sau ngẩng đầu lên, cười nói: "Mười tám, nó bằng tuổi ta." Lâm Hoằng cười mà không nói. Chân Chân lúc này thấy hứng thú, tiếp tục tìm kiếm xung quanh, nói: “Ta tìm xem có cái nào bằng tuổi thầy không." Tìm được mấy miếng, đếm xong đều không khớp tuổi Lâm Hoằng, thấy Chân Chân khá thất vọng, Lâm Hoằng bới bới trong đống gỗ vụn bên cạnh, nhặt một miếng đưa cho Chân Chân. Chân Chân đếm đếm, mắt ánh lên vẻ vui mừng: "Hai mươi ba, quả nhiên là tuổi của ngài." Chân Chân ngắm nghía miếng gỗ đó, phát hiện không hoàn hảo như miếng của mình, bên trong có không ít chỗ nứt gãy và vết sâu ăn, bèn than: "Cây này xem ra nhiều tai đa nạn, để lại nhiều vết tích trên vòng tuổi thế này." Lâm Hoằng nói: "Vòng tuổi ghi lại những trải nghiệm cả đời của cây, hạn hán lụt lội, sấm sét sâu bệnh, đều sẽ để lại dấu vết." Chân Chân thấy vết sâu ăn lớn nhất xuất hiện ở ngoài vòng thứ năm, là một cái lỗ hổng không nhỏ, bèn nói: "Cây này lúc năm sáu tuổi chắc chắn đã chịu không ít khổ sở." Lâm Hoằng nghe vậy giật mình, đặt thìa xuống. Chân Chân nhận thấy thần sắc chàng khác thường, quan tâm gọi: "Thầy Lâm..." Lâm Hoằng rũ mi mắt, nói với nàng: "Lúc đó... cha ta qua đời." "A... xin lỗi..." Chân Chân lập tức có chút hối hận, vì lời vô tâm của mình mà khơi gợi ký ức không vui của thầy Lâm. Lâm Hoằng cười nhẹ với nàng, tỏ ý không để bụng, một lát sau, nói với nàng: "Đó là chuyện cũ ta không nỡ nhìn lại. Mỗi lần nhớ về chuyện hồi nhỏ, ta luôn ép bản thân bỏ qua đoạn này, thế là năm này, trong ký ức của ta cũng có một lỗ hổng tựa như sâu ăn." Nghĩ ngợi một chút, Chân Chân nhặt cây kéo dưới gốc cây lên, cắt một miếng nhỏ từ miếng gỗ tương ứng với tuổi mình, dán vào vết sâu ăn trên miếng gỗ của Lâm Hoằng, rồi nói với Lâm Hoằng: "Năm này, Chân Chân cũng ra đời rồi, vậy thì, sau này hãy để vòng tuổi của ta lấp đầy lỗ hổng này nhé... Sau này khi ngài nhớ đến năm này, có thể tự nhủ với mình: Trên đời này có thêm một cô bé tên là Chân Chân." Lâm Hoằng giữ nụ cười, ngắm nhìn mảnh vòng tuổi nàng dùng để lấp đầy lỗ hổng của chàng. Chân Chân lại cắt một miếng nữa, dán vào vết thương vòng tuổi tiếp theo của Lâm Hoằng: "Năm này, Chân Chân và mẹ sống vui vẻ ở Phố Giang, quen biết Bồ á, bá ấy là một người tốt bụng lương thiện giống như thầy Lâm vậy." Tiếp tục cắt, tiếp tục dán, cố gắng để đường cong của miếng vòng tuổi cắt ra khớp với của Lâm Hoằng: "Năm này, Chân Chân đi học rồi. Ta ấy cảm thấy đám con trai cùng lớp thật đáng ghét, suốt ngày đ.á.n.h nhau leo tường giật tóc muội ấy lấy trứng chim trên cây, vạn lần không ngờ tới, mười năm sau, sẽ quen biết một nam t.ử như thầy Lâm." "Năm này, Chân Chân cầu xin mẹ dạy nấu ăn, bị mẹ từ chối, muội ấy liền chạy đi tìm mấy bạn nam cùng học, cùng ra bờ sông nhóm lửa nướng mấy con cá, nướng đen thui, nhưng muội ấy vẫn ăn rất vui vẻ... Chân Chân à muội đợi thêm chút nữa nhé, qua vài năm nữa, sẽ có thầy Lâm dạy muội làm những món ăn cực kỳ ngon." "Năm này, mẹ hứa gả Chân Chân cho Dương Thịnh Lâm, may mà Dương Thịnh Lâm thích xem nữ t.ử đá cầu, bị Chân Chân bắt gặp tại trận, từ hôn... Chân Chân quyết định sau này về Phố Giang nhất định phải mời Dương Thịnh Lâm ăn một bữa ra trò, cảm tạ ơn không cưới của hắn..." Lâm Hoằng không nhịn được cười, nhưng nhìn vẻ mặt nghiêm túc của Chân Chân, trong lòng bỗng dâng lên nỗi chua xót vô cớ. "Ta nói thật đấy." Chân Chân nghiêng đầu nhìn chàng, nói, "Nếu gả cho Dương Thịnh Lâm,ta sẽ không gặp được thầy Lâm, vậy thì, có lẽ cả đời cũng không lĩnh ngộ được thế nào là đạo ăn uống, cũng sẽ không thực sự hiểu... tình yêu là cái gì." Nói đến đây, đôi mắt nàng long lanh, giọng nói không kìm được bắt đầu nghẹn ngào: "Thầy Lâm, ta thích huynh. Bất luận trong lòng huynh vương vấn ai, ta vẫn cứ thích huynh." Nói ra câu nói chôn chặt đáy lòng này, nàng như trút được gánh nặng, nước mắt đọng trong khóe mi cũng theo đó rơi xuống, lập tức xấu hổ cúi đầu, không dám nhìn chàng, cho đến khi nghe thấy giọng nói của chàng vang lên lần nữa. "Đừng gọi ta là thầy Lâm nữa," Lâm Hoằng dịu dàng đề nghị với nàng, "Nếu nàng không ngại, có thể gọi ta là Hoằng Ninh... Người nhà của ta đều gọi ta như vậy." "Hoằng... Hoằng Ninh?" Chân Chân khẽ gọi một cách không chắc chắn. "Ừ, Chân Chân." Lâm Hoằng mỉm cười nắm lấy tay nàng, kéo nàng vào lòng, nhẹ nhàng ôm lấy, nói bên tai nàng, "Sau này, hãy để chúng ta dùng thời gian nửa đời còn lại, để lấp đầy vòng tuổi của nhau." Họ nương tựa vào nhau, lặng lẽ ngồi trong Đông vu, nhất thời đều không nghĩ đến việc phải tránh tai mắt người khác, cũng không để ý trận tuyết đầu tiên của mùa đông năm nay đã lặng lẽ kéo đến, có vài bông tuyết lác đác bay vào khung cửa sổ đang mở. Triệu Ngai ở bên ngoài hành lang không tiếng động kéo cửa sổ đóng lại cho họ, rồi từ từ ngồi xuống bậc thềm đá lạnh lẽo ngoài cửa sổ, buồn bã ngẩng đầu nhìn bầu trời mịt mù, để mặc vài bông tuyết rơi vào mắt, làm dịu đi sự nóng rát do nước mắt mang lại. Hắn đến điện Gia Minh gặp phụ hoàng, lại phát hiện Chân Chân bưng thố canh đi về phía điện Đại Khánh, đoán nàng đi gặp Lâm Hoằng, bèn đi theo, ẩn mình bên ngoài Đông vu nhìn thấy cảnh này. Nghe thấy những lời cuối cùng của họ, nỗi bực dọc và phẫn uất ban đầu dần tan biến, trong lòng chỉ thấy một nỗi bi lương bất lực, hắn phẩy tay ra hiệu cho nội thị định đến gần lui ra, lặng lẽ canh giữ bên ngoài cánh cửa sổ vừa được hắn đóng lại. Cũng không biết qua bao lâu, Chân Chân từ bên trong đi ra, bất ngờ nhìn thấy Triệu Ngai đang ngồi lặng lẽ trên bậc thềm đá, giật mình kinh hãi: "Nhị Đại vương!" Triệu Ngai đứng dậy, do dự một chút, rồi gọi nàng: "Ngô Chưởng thiện." Chân Chân lập tức nhận ra sự thay đổi trong cách xưng hô của hắn, cũng ý thức được hắn có thể đã nghe thấy lời nàng nói với Lâm Hoằng, mặt đỏ bừng ngay tức khắc, nhưng nhìn Lâm Hoằng nghe tiếng đi tới phía này, nàng vẫn ngẩng đầu nhìn thẳng vào Triệu Ngai, bày tỏ tiếng lòng của mình: "Ta thực sự rất thích rất thích thầy Lâm." Triệu Ngai cố gắng mỉm cười với nàng, ôn tồn nói: "Ta biết." Chân Chân lùi lại vài bước, trước khi Lâm Hoằng bước ra khỏi cửa, quay người chạy về phía Thượng Thực cục. Chương 95 - Trăm Sự Như Ý Trong buổi yến tiệc sách lễ Hoàng hậu, sau khi tuần rượu thứ chín kết thúc, các tiết mục tấu nhạc, múa hát diễn ra như thường lệ trong các đại yến cung đình. Nhưng điều khiến mọi người chú ý nhất chính là những Khán bàn mới mẻ, lạ mắt. Khán bàn thịt dê, thịt gia cầm bày trước sân điện Đại Khánh vốn có nay đã được thay thế bằng một cây tùng cổ thụ. Cành lá mang đậm ý vị như tranh vẽ của các bậc văn nhân mặc khách, thần thái như hư không, khí thế như cầu vồng, dáng cây mạnh mẽ mà ưu mỹ. Phía dưới thân cây ở trung tâm cắm thêm hoa lạp mai, hoa diên vĩ, lá sơn trà và dây nam xà đằng kết trái đỏ mọng như san hô, cành lá vươn ra bốn phía, dài ngắn khác nhau, tư thái uyển chuyển. Trong chậu vuông dưới gốc cây đặt hai tảng đá kỳ lạ gồ ghề, khiến toàn cảnh trông như mang ý vị núi cao rừng thẳm, rêu xanh cỏ thơm. Khán bàn trên bàn tiệc cũng bày biện không ít hoa quả. Hoa phần nhiều dùng tùng, mai, sơn trà, thủy tiên; quả dùng kim quất, bưởi đỏ và phật thủ, hoặc cắm bình, hoặc bày đĩa, thanh nhã thoát tục, màu sắc và ngụ ý đều làm nổi bật không khí cát tường. Tre trúc phần nhiều được dùng làm đồ cắm hoa, chế tác thành ống tre, thuyền con, đựng nước cắm hoa, treo trên xà, cột, trụ, đấu củng trong điện. Trước khi nhập tiệc, Thái hậu đặc biệt chú ý đến cây tùng cổ thụ trước sân, thầm khen ngợi, hỏi Trương Tri Bắc: "Cây này là ở Hậu uyển sao? Hình như trước đây chưa từng thấy." Trương Tri Bắc nghiêng mình đáp: "Cây này không phải cây tự nhiên, là Tuyên Nghĩa lang Lâm Hoằng dùng cành lá cắt tỉa từ Hậu uyển ghép lại mà thành." "Không phải cây thật sao?" Thái hậu ngạc nhiên, lại tỉ mỉ quan sát chi tiết thân cây, lát sau cảm thán, "Quả thực là khéo léo đoạt công tạo hóa." Sau khi an tọa, Thái hậu lại phát hiện đồ bày biện trên bàn mình khác biệt với mọi người. Có hai bình hoa một cao một thấp, bình cao là bình gốm Nhữ, cắm lần lượt từ cao xuống thấp là cành tùng, hoa mai, hoa sơn trà. Cành tùng xanh biếc, hoa sơn trà to đẹp rực rỡ, hoa mai đỏ uốn lượn rủ xuống như vách núi, tạo hình phú quý mà không mất đi vẻ nhã nhặn. Bình thấp là một chậu nước bằng sứ trắng, bên trong dùng nấm linh chi và núi giả trầm hương bố trí thành tiểu cảnh, bên cạnh bình hoa còn bày hai củ bách hợp và một quả hồng. "Dùng những hoa quả này là lấy ý 'Trăm sự như ý (Bách sự như ý), trường thọ đón xuân'." Trương Tri Bắc mỉm cười giải thích. "Hoa này, cũng là do Tuyên Nghĩa lang cắm sao?" Thái hậu hỏi. Trương Tri Bắc đáp: "Chính phải ạ. Tất cả hoa quả trang trí trong điện hôm nay đều do ngài ấy dẫn dắt nội thị Hàn Lâm ty thực hiện, riêng hoa trên bàn Thái hậu là do ngài ấy một mình hoàn thành." Thái hậu gật đầu: "Cũng là người có lòng." Nghe nói Khán bàn trong yến tiệc lần này đều dùng hoa quả, Thái hậu vốn dĩ khá không vui, cho rằng sẽ làm mất đi khí tượng thiên gia, toát lên vẻ nghèo túng. Nay xem ra, cảnh tượng lại khiến người ta hài lòng ngoài mong đợi, hoa quả cũng có thể điểm xuyết không khí phồn thịnh vui tươi. Hơn nữa, trong tất cả các chất liệu làm Khán bàn, nấm linh chi và núi giả trầm hương quý giá nhất đã được chàng bày lên bàn của Thái hậu. Hai thứ này vừa trân quý, nhã nhặn, làm Khán bàn phù hợp với cách điệu chung của yến tiệc, lại không làm mất đi thể diện mà Thái hậu cần, chứng tỏ chàng hoàn toàn hiểu rõ tâm thái của Thái hậu. Lâm Hoằng tuy từng nhiều lần đến Bắc Đại nội bàn bạc chuyện vườn Tụ Cảnh, nhưng Thái hậu phần nhiều để Trình Uyên tiếp đãi truyền lời, thi thoảng có hai lần Thái hậu trực tiếp đối thoại với chàng, cũng để chàng đứng xa xa sau mấy lớp rèm, chưa từng thấy dung mạo thật. Hoa quả trong tiệc hôm nay khiến Thái hậu thầm khâm phục tài hoa của chàng, đối với bản thân chàng cũng có vài phần tò mò. Sau năm tuần rượu, nhân lúc khách khứa nghỉ ngơi thay áo cài hoa, Thái hậu liền lệnh cho Trương Tri Bắc gọi Lâm Hoằng đến trước rèm, trò chuyện với chàng. Lâm Hoằng theo lễ nghi cài một đóa hoa lụa lớn màu đỏ bạc bên cạnh khăn ô sa, da chàng trắng, dưới sự tôn lên của đóa hoa càng thêm vẻ mặt đẹp như ngọc. Thái hậu cho người vén rèm châu lên, ngắm nghía Lâm Hoằng một hồi, sau đó mỉm cười nói: "Tuyên Nghĩa lang quả nhiên là một nhân tài tuấn tú." Thái hậu hỏi tuổi tác Lâm Hoằng, lại hỏi đã thành thân hay chưa, sau khi nhận được câu trả lời liền cười nói với Đế Hậu: "Chuyện này kể cũng lạ, mấy ông quan có con gái trong triều lại chịu buông tha cậu ta sao?" Đế Hậu đều cười mà không nói, Trương Tri Bắc bèn đứng bên cạnh đáp thay: "Người muốn cầu thân với Tuyên Nghĩa lang sắp xếp hàng từ núi Phượng Hoàng đến tận phường Thanh Hà rồi ạ, ngặt nỗi Tuyên Nghĩa lang đóng cửa không tiếp, vẫn chưa từng bàn chuyện cưới hỏi." Thái hậu bèn nói với Lâm Hoằng: "Tuyên Nghĩa lang phải chăng chưa gặp được người ưng ý? Ngươi cứ nói thử xem, để ý tiểu nương t.ử thế nào, biết đâu lão thân có thể làm mai cho ngươi." Lâm Hoằng bái tạ Thái hậu mà không đáp, sắc mặt ửng đỏ. Thái hậu thấy vậy cười nói: "Thôi được rồi, giữa chốn đông người, không làm khó ngươi nữa. Mấy tháng này ngươi lao tâm khổ tứ vì công trình vườn Tụ Cảnh, lúc rảnh rỗi cũng nên nghĩ đến chuyện hôn nhân đại sự của mình. Thích tiểu nương t.ử nhà ai, đợi đến khi tẩm điện vườn Tụ Cảnh hoàn thành thì nói cho lão thân biết, lão thân sẽ làm chủ cho ngươi." Trương Tri Bắc vội nhắc nhở Lâm Hoằng: "Thái hậu ban hôn, đây là vinh dự to lớn đấy!" Lâm Hoằng bèn quỳ lạy tạ ơn Thái hậu lần nữa, trong lòng nghĩ đến Chân Chân, cảm thấy lời hứa của Thái hậu ắt sẽ giúp họ được toại nguyện, trong lòng cũng vô cùng vui sướng. Tiệc tàn, Thái hậu trở về Bắc Đại nội, Trình Uyên hầu hạ dọc đường, nhớ lại thái độ của Thái hậu đối với Lâm Hoằng hôm nay có phần bất ngờ, dè dặt hỏi Thái hậu: "Nương nương thực sự định ban hôn cho Tuyên Nghĩa lang sao?" "Ừ." Thái hậu nhắm mắt, nhàn nhạt nói, "Lâm Hoằng ánh mắt trong veo, toàn thân sạch sẽ, giống như người được tạc từ băng ngọc. Liễu Tiệp dư và cậu ta, xem ra chẳng giống chị em chút nào." Thái hậu có ý ban hôn lại khiến Hoàng đế khá bất an. Ngài biết rõ một khi để Lâm Hoằng tự chọn thê thất, Lâm Hoằng mười phần chắc chín sẽ chọn Chân Chân, mà điều này sẽ phá hỏng kế hoạch của ngài. Suy tính mấy bận, Hoàng đế cảm thấy việc này không thể chậm trễ, bèn một ngày nọ triệu Thái t.ử và Chân Chân cùng đến điện Phúc Ninh, để Hoàng hậu nói với họ sự sắp xếp của mình. Hoàng hậu ôn tồn nói với hai người: "Thái t.ử từ khi thành hôn đến nay vẫn chưa nạp trắc thất. Tuy nói vợ chồng Thái t.ử tình cảm mặn nồng, Thái t.ử phi cũng vô cùng hiền huệ, nhưng Đông cung nhà cao cửa rộng, việc cần lo liệu không ít, Thái t.ử phi chưa chắc đã quán xuyến hết được. Quan gia hy vọng Thái t.ử chọn một nữ t.ử thông tuệ lương thiện làm thiếp, hỗ trợ quản lý nội vụ Đông cung. Như vậy, vừa có thể hầu hạ Thái tử, lại có thể giúp đỡ Thái t.ử phi, để nàng ấy không đến nỗi quá vất vả. Mà Chân Chân, thông minh tháo vát, trù nghệ xuất sắc, làm việc lại cực kỳ thỏa đáng, nhập cung đến nay lập được nhiều công trạng, tuổi tác dung mạo cũng rất xứng đôi. Cho nên, nếu các con đồng ý, ta sẽ chuẩn bị của hồi môn cho Chân Chân, chọn một ngày lành, đưa nó sang Đông cung." Chân Chân hoàn toàn không chuẩn bị tâm lý, chợt nghe chuyện này, kinh ngạc đến ngẩn người, nhất thời không biết đối đáp ra sao. Thái t.ử thấy vậy, nghiêng mình thưa với Đế Hậu: "Thần nhi tạ ơn ý tốt của phụ hoàng và nương nương, chỉ là thần nhi và Thái t.ử phi xưa nay chung sống hòa thuận, Thái t.ử phi cũng không có lỗi lầm gì, lúc này nạp thiếp, e sẽ khiến nàng ấy đau lòng." "Chuyện của Mạnh Vân Tụ lần trước, cũng có thể coi là lỗi lầm của Thái t.ử phi." Hoàng đế tiếp lời, "Nàng ấy không màng ý kiến của ngươi, công khai để lộ ý định muốn chọn Mạnh Vân Tụ làm thiếp thất cho ngươi, khiến Mạnh Vân Tụ trở thành mục tiêu công kích. Sau khi Mạnh Vân Tụ bị sỉ nhục treo cổ, nàng ấy chỉ biết khóc lóc rồi đẩy việc trừng phạt Vu Nhụy Nhi cho ngươi. Là chủ mẫu Đông cung, không trừng phạt tỳ nữ phạm tội, không răn đe nô tỳ khác, hoàn toàn là thất trách." Thái t.ử biện giải: "Nàng ấy chỉ là quá lương thiện, không nỡ trừng phạt nô tỳ nặng tay." "Nàng ấy không phải lương thiện, là nhu nhược!" Hoàng đế thẳng thừng nói, "Chuyện nhỏ như vậy còn trốn tránh không quản, tương lai làm sao có thể làm mẫu nghi thiên hạ?" Thấy Thái t.ử im lặng, Hoàng hậu nhẹ nhàng khuyên giải: "Thái t.ử phi xuất thân từ gia đình vương hầu, lớn lên trong nhung lụa, chưa biết nỗi khổ nhân gian, cho nên kinh nghiệm xử thế có phần ít ỏi... Đề nghị của Quan gia tự có lý lẽ, Chân Chân hỗ trợ quản lý Đông cung, nhất định sẽ xử lý thỏa đáng những việc thế này, để Thái t.ử không còn nỗi lo về sau." "Quan gia, Hoàng hậu, xin cho phép nô tỳ nói vài câu." Chân Chân lúc này lên tiếng, "Hai người bàn đến nhân duyên, ắt là chuẩn bị cùng nhau đi hết quãng đời còn lại mấy chục năm, vậy điều đầu tiên cần cân nhắc, chẳng lẽ không phải là tính tình đôi bên có hợp nhau không, chí hướng sở thích có tương đồng không sao? Quan gia muốn nạp thiếp cho Thái tử, dường như không phải xem ngài ấy có thích hay không, mà là muốn tìm một người hỗ trợ quản lý nội vụ Đông cung. Thực ra, đây là mục đích chỉ cần phái một nữ quan đến là có thể đạt được, tại sao nhất định phải bắt Thái t.ử nạp thiếp, khiến giữa ngài ấy và Thái t.ử phi có thêm một người chứ?" "Thái t.ử là Trữ quân, tương lai sẽ trở thành Thiên tử, hậu cung sẽ không chỉ có một Hoàng hậu. Nó nạp phi thiếp là chuyện sớm muộn, đã vậy, sao không nạp ngay bây giờ, vừa hỗ trợ quản lý Đông cung, vừa khai chi tán diệp, một công đôi việc." Hoàng đế nói đến đây, lại nhìn chằm chằm Chân Chân, giọng điệu tâm tình, "Chân Chân, ta cũng là vì chuyện chung thân của ngươi mà suy tính, hy vọng tìm cho ngươi một người thích hợp nhất, vừa có thể để ngươi tiếp tục phát huy sở trường, lại có thể cho ngươi đủ vinh hiển tôn quý. Mà Thái tử, chính là người thích hợp nhất đó." Chân Chân lắc đầu: "Đối với nô tỳ, người thích hợp nhất là người tâm đầu ý hợp với nô tỳ, chứ không phải người có thể cho nô tỳ sự tôn quý." Hoàng đế nghe vậy lửa giận bốc lên ngùn ngụt, kéo Thái t.ử đến trước mặt Chân Chân, giận dữ nói với nàng: "Ngươi nói xem, con trai ta chỗ nào không bằng kẻ mà ngươi tự cho là tâm đầu ý hợp với ngươi. Là dung mạo, tài hoa, hay là phẩm cách, tính tình?" Chân Chân rưng rưng cúi đầu, phục lạy: "Nô tỳ đâu dám vọng nghị Hoàng thái tử. Là nô tỳ phúc mỏng, không dám trèo cao với Điện hạ." Thái t.ử nhẹ nhàng gỡ tay cha mình ra, cũng quỳ xuống trước mặt phụ vương, chắp tay nói: "Phụ hoàng, lời Ngô Chưởng thiện nói không phải không có lý. Trong mắt người hữu tình, danh lợi vinh hoa đều là phù vân, tâm đầu ý hợp mới có thể bên nhau trọn đời. Ngô Chưởng thiện đã có người trong lòng, không có ý với thần nhi, thần nhi cũng không muốn vì thưởng thức tài năng của cô ấy mà ép cô ấy vào Đông cung, kính mong cha suy xét lại." Chàng trịnh trọng dập đầu trước Hoàng đế, sau đó ngẩng đầu lên, lại từ từ nói với phụ vương một câu: "Nhân tài có thể bồi dưỡng lại, còn người hữu tình ly tán, chính là cả một đời." Câu nói này cuối cùng khiến Hoàng đế im lặng. Suy nghĩ hồi lâu, ngài phất tay cho Thái t.ử và Chân Chân lui ra. Lui ra ngoài điện, Chân Chân giơ tay lên trán, hành đại lễ với Thái tử, cảm tạ chàng đã lên tiếng giải vây. Thái t.ử không nhịn được cười: "Giải vây? Chắc hẳn vào Đông cung trong mắt cô là dê vào miệng cọp." Chân Chân vội xua tay: "Không không, nô tỳ không có ý đó..." Thái t.ử ôn tồn an ủi: "Ta nói đùa thôi, cô đừng để ý." Rồi lại cười nói, "Chúc cô và Tuyên Nghĩa lang sớm kết lương duyên, cầm sắt hòa hợp." Chân Chân kinh ngạc, đỏ mặt hỏi: "Điện hạ biết ạ?" Thái t.ử mỉm cười: "Hôm đó Tuyên Nghĩa lang không hỏi qua cô đã sai người rót rượu Mi Tư Đạt Hoa cho cô, rõ ràng phải cực kỳ thân thiết với cô mới làm như vậy. Sau đó Bồ Lộc Tân kéo Sử Hoài Ân và ta đi xem suối, Tuyên Nghĩa lang với tư cách là người chỉ huy công trình Đông cung lại ở lại thiền thất, về tình về lý đều không nên, ta liền hiểu ra, nhất định là ngài ấy rất muốn ở riêng với cô nên mới ở lại." Chân Chân ngượng ngùng cúi đầu, theo lời chàng suy đoán tâm tư Lâm Hoằng khi đó, trong lòng không khỏi cảm thấy một dòng nước ấm chảy qua. "Đợi thêm chút nữa," Thái t.ử mày mắt dịu dàng, vẫn vương ý cười, "Không lâu nữa, các người sẽ có thể bên nhau dài lâu rồi." Chương 96 - Muốn Phá Thiền Đã nói rõ sự tình, Hoàng đế cũng không ép Thái t.ử nạp Chân Chân nữa, coi như ngầm đồng ý hôn sự tương lai của Lâm Hoằng và Chân Chân. Hoàng hậu thậm chí còn rất chu đáo sắp xếp cơ hội cho Chân Chân gặp gỡ Lâm Hoằng. Vườn Tụ Cảnh dự kiến sẽ hoàn công vào tháng Năm, tháng Sáu. Hoàng đế vốn định khi đó tổ chức một buổi lễ long trọng trong vườn, cung nghênh Thái hậu vào vườn, nhưng Thái hậu lại bảo không cần hưng sư động chúng như vậy, bày một buổi "khúc yến" (tiệc nhỏ, tiệc gia đình), cũng không cần mời quá nhiều người, chỉ mời tông thất và ngoại thích thân cận đến dự, nếm thử vài món ăn theo mùa là được. Hoàng hậu bèn triệu Chân Chân đến, bảo với nàng: "Ta thấy ý tứ của Thái hậu là không muốn những sơn hào hải vị như trong các buổi yến tiệc ngày thường. Món ăn cần phù hợp với thời lệnh, nhưng vạn lần không thể hiểu thật thà là rau dưa tầm thường, phải có sự mới lạ độc đáo mới hợp ý Thái hậu. Việc này ước chừng Tuyên Nghĩa lang có thể nghĩ ra cách, ngươi đã tinh thông trù nghệ lại có thể nói chuyện được với cậu ta, chi bằng đi bàn bạc với cậu ta xem khúc yến này nên sắp xếp thế nào." Chân Chân đương nhiên lập tức lĩnh mệnh. Mấy ngày nay Hoàng đế thường bảo Lâm Hoằng buổi chiều mang những cành hoa mới nở trong vườn Tụ Cảnh đến điện Gia Minh cắm một bình hoa cho ngài, Hoàng hậu bèn nhân tiện nói rõ chuyện khúc yến với Hoàng đế, xin ngài cho phép Chân Chân bàn bạc với Lâm Hoằng tại điện Gia Minh. Hoàng đế biết tỏng ý đồ của bà, nhưng giờ cũng lười so đo, nên thuận thế đồng ý. Hôm đó Lâm Hoằng mang theo một ít hải đường đỏ thắm mới nở đến điện Gia Minh. Hoàng đế không có trong điện, Sử Hoài Ân bảo Liễu Tiệp dư lần này m.a.n.g t.h.a.i sức khỏe không tốt, Quan gia thường xuyên đến ăn trưa cùng nàng, hôm nay cũng vậy, trước khi đi có nhắn lại, mời Lâm Hoằng cứ tự nhiên, cần gì thì bảo Sử Hoài Ân. Lâm Hoằng ngồi xuống bắt đầu cắm hoa. Một lát sau Chân Chân dâng trà vào, nói chuyện khúc yến với chàng. Lâm Hoằng nói: "Việc này không khó, nhưng cụ thể làm thế nào để ta nghĩ kỹ rồi bàn bạc với nàng sau. Cũng may còn một thời gian nữa mới hoàn công, cũng không vội vàng." Chân Chân bèn ngồi xuống phía sau chàng, lẳng lặng xem chàng cắm hoa. Đợi chàng cắm xong một bình, thấy vẫn còn thừa năm cành hoa chưa dùng, bèn hỏi Sử Hoài Ân cũng đang đứng xem bên cạnh: "Ta có thể xin Tuyên Nghĩa lang dạy ta cắm hải đường được không?" Sử Hoài Ân vui vẻ đồng ý, lập tức lấy một cái bình vuông bằng đồng xanh khác cho nàng làm bình cắm hoa. Lâm Hoằng nói sơ qua cho nàng về độ dài cần cắt tỉa và cách uốn cành hoa, rồi đứng dậy nhường bàn cho nàng, để nàng tự mình cắm hoa. Kiểu hoa Lâm Hoằng dạy nàng cần cắm ít nhất năm cành, mà số hoa còn lại cũng chỉ vỏn vẹn năm cành, hoàn toàn không có sự lựa chọn nào khác. Trong năm cành này, có cành gần như trụi lủi bán khô, có cành chỉ toàn nụ, duy nhất một cành gần ngọn có một đóa hoa đang nở rộ cô độc. Chân Chân chăm chú nhìn đóa hoa duy nhất đó, hít sâu một hơi, thầm nghĩ phải nhẹ tay cẩn thận, tuyệt đối đừng làm rụng nó, cả bình hoa trông chờ vào nó để giữ thể diện đấy. Thế là quá trình cắt tỉa và uốn cành nàng cẩn thận vô cùng, cố gắng không chạm vào đóa hoa ấy. Có nỗi lo lắng này, cảm giác cắm hoa càng thêm khó khăn. Miệng bình đồng vuông rộng, cần cắt một đoạn cành cây chẻ đôi kẹp vào miệng bình, cắm lần lượt các cành hoa đã cắt tỉa vào khe hở, rồi cắt một đoạn cành hải đường chắn ngang phía sau cành hoa, bên trên cành kẹp, đầu đuôi tì sát vào thành trong bình vuông mới cố định được cành hoa. Chân Chân tốn bao công sức mới cố định được cành hoa vào bình vuông mà không chạm vào đóa hoa. Cắm xong, Chân Chân đưa tay lau mồ hôi trên trán, thầm thở phào, tự mình ngắm nghía bình hải đường. Thấy xa xa có cành khô vươn ra phía sau, gần gần có nụ hoa nhoài về phía trước, chính giữa đầu cành nở rộ đóa hoa mà nàng dốc lòng che chở, trước sau có cành lá cao thấp làm nền, độ cong eo cành hoa rất đẹp mắt, giống với tác phẩm của Lâm Hoằng, trong lòng có vài phần đắc ý, đứng dậy tránh ra, mời Lâm Hoằng bình phẩm, thầm mong chờ lời khen ngợi của chàng. Lâm Hoằng chậm rãi đi tới, ngồi xuống, nhìn đóa hoa đang nở rộ trên cành, mỉm cười, sau đó cầm kéo cắt hoa trên bàn đưa về phía cành hoa, kéo cắt dứt khoát một cái, đóa hải đường được Chân Chân nâng niu cẩn thận suốt quá trình rơi xuống theo tiếng kéo. "A..." Chân Chân thất thanh kêu khẽ, trố mắt nhìn đóa hoa rơi xuống, rồi nhìn sang Lâm Hoằng, kinh ngạc tột độ. "Tại sao?" Nàng khó hiểu hỏi, "Đây là đóa hoa duy nhất đang nở của ta, cắt đi rồi chỉ còn cành khô và nụ thôi." "Nàng quá để ý đến nó rồi." Lâm Hoằng chăm chú nhìn Chân Chân, ôn tồn nói, "Cành khô là quá khứ có thể tham khảo, nụ hoa là tương lai có thể mong chờ, đều đáng để chúng ta trân trọng. Còn đóa hoa nở rộ hoàn toàn là sự phồn hoa trước mắt, có thể ngày mai sẽ tàn úa, ngược lại không cần quá cố chấp." Chân Chân lại một lần nữa tâm phục khẩu phục nghiền ngẫm thiền ý của thầy Lâm, nhưng nhìn đóa hoa bị cắt, trong lòng lờ mờ có dự cảm chẳng lành lướt qua: Thời gian này trôi qua quá thuận buồm xuôi gió, mọi việc dường như đều có kết quả tốt nhất, đây có được coi là "sự phồn hoa trước mắt" không? Sử Hoài Ân thấy họ cắm hoa xong, bèn gọi hai tiểu hoàng môn đang hầu trong điện ra ngoài lấy nước quét dọn đại điện, rồi nói với Chân Chân: "Trong điện cứ giao cho chúng ta, Ngô Chưởng thiện và Tuyên Nghĩa lang về nghỉ ngơi sớm đi." Chân Chân nói: "Ta còn một số vấn đề về cắm hoa muốn xin Tuyên Nghĩa lang chỉ giáo." Sử Hoài Ân mỉm cười gật đầu lia lịa: "Hiểu, hiểu, cứ tự nhiên, cứ tự nhiên." Vừa nói vừa lui ra ngoài. Ông ta theo Chân Chân đi Tô Châu sớm đã nhìn thấu tình ý của hai người, hiểu tâm tư nhỏ của Chân Chân, cũng có ý tác thành, nên sẵn lòng cho họ chút không gian riêng tư. Đợi Sử Hoài Ân ra ngoài, Lâm Hoằng cũng không hỏi Chân Chân muốn thỉnh giáo điều gì, mang theo nụ cười như có như không xoay người, lặng lẽ thu dọn cành lá vụn nàng để lại trên bàn. Hồi ở Vấn Tiều dịch, dù là nhà bếp hay thư phòng, chàng sẽ không giúp Chân Chân dọn dẹp tàn cuộc sau khi nấu ăn hay cắm hoa, nếu nàng quên dọn, chàng sẽ sa sầm mặt mày, cho đến khi nàng tự ý thức được và bắt tay vào làm. Vậy mà bây giờ chàng lại chủ động giúp Chân Chân dọn dẹp, đủ thấy đối xử với nàng quả thực khác xưa rồi. Chân Chân nghĩ đến điều này, trái tim như bị thứ gì đó va phải, dâng trào ngàn vạn sợi tơ tình, không kìm được đến gần Lâm Hoằng, từ phía sau ôm lấy eo chàng, áp má phải vào lưng chàng. Động tác của chàng khựng lại, lập tức trầm giọng nói: "Buông ra... sẽ có người đến." Nàng ngược lại càng ôm chặt hơn: "T mặc kệ, huynh trả lời ta một câu hỏi đã." Chàng hỏi: "Gì cơ?" Nàng vùi đầu thật sâu, giấu đi nụ cười sắp bật ra: "Bao giờ huynh mới vô lễ với ta?" Chàng run lên, cành vụn trong tay rơi lả tả xuống mặt bàn, nhưng điều đó đã không còn quan trọng nữa. Chàng vung tay gạt phăng, quét sạch cành lá trên bàn xuống đất, rồi xoay người, nhanh như chớp bế bổng nàng lên xoay một vòng, đặt nàng ngồi lên bàn. Hai tay chàng chống lên mặt bàn hai bên eo thon của nàng, tuy giữ một chút khoảng cách, nhưng chẳng khác nào nửa giam cầm nàng, không cho nàng chạy thoát. Trong đôi mắt sâu thẳm u tối của chàng chứa đựng nụ cười thấp thoáng, dần dần áp sát nàng. Nàng chỉ cảm thấy bị cuốn vào sóng mắt chàng, có cảm giác đuối nước, sắp không thở nổi. Lúc này mặt hướng ra ngoài, khóe mắt liếc thấy cánh cửa lớn vẫn đang mở toang, bỗng nhiên hoảng hốt, không khỏi hối hận vừa rồi buông lời trêu chọc chàng, bèn nhón mũi chân đá nhẹ vào đầu gối chàng, nói: "Này, này, sẽ có người đến!" Chàng không vì thế mà ngừng lại việc tiếp cận nàng. Nàng càng thêm căng thẳng, hai tay ấn lên vai chàng chống cự: "Cung quy nghiêm ngặt, huynh đừng có biết rõ còn cố..." Chữ "phạm" chưa kịp thốt ra, bởi vì khi sắp chạm vào mặt nàng chàng nhắm mắt lại, dùng hàng mi quét nhẹ lên má trái nàng, nàng lập tức cảm thấy một sợi dây nối từ đầu đến ngón chân đột ngột bị siết chặt, toàn thân run rẩy một trận. Nàng nhắm mắt lại, đợi cảm giác khiến tim đập chân run này qua đi, mở mắt nhìn chàng, thấy chàng vẫn giữ vẻ ung dung nhàn nhã, mỉm cười nhìn nàng, không khỏi vừa thẹn vừa giận, dứt khoát quyết tâm, tay đang chống vai chàng vươn về phía trước, ôm lấy cổ chàng, ép chàng cúi đầu, bản thân bất chấp tất cả hôn lên môi chàng. Chàng cũng không hề tỏ ra yếu thế, khi môi nàng định rời đi liền dứt khoát hôn đáp trả. Nàng là ngọn gió xuân thổi vào đáy lòng khô cằn của chàng, nàng là hương hoa đến phá vỡ sự tĩnh lặng thiền định của chàng. Chàng chìm nổi trong con sóng do chính mình khuấy lên, mơ hồ nghĩ, đối với sự cố tình phạm quy không hề báo trước này, chàng cam tâm tình nguyện như uống mật ngọt. Cuối tháng Ba, Công chúa Nghi Gia do Liễu Tiệp dư sinh tròn một tuổi. Hoàng đế vốn định mở tiệc trong cung mời rộng rãi khách khứa chúc mừng, bị Liễu Lạc Vi khuyên ngăn. Liễu Lạc Vi nói: "Nó chỉ là con gái, mới tròn một tuổi thôi, không cần tốn kém tiền của tổ chức linh đình, nếu không sợ sẽ tổn hại phúc khí, giảm tuổi thọ của con bé. Chi bằng bày một bữa tiệc nhỏ ở các Phù Dung, người nhà ngồi lại nói vài câu chúc tụng, thế là được rồi." Hoàng đế nghĩ cũng thấy có lý, bèn đồng ý. Liễu Lạc Vi liền xin chỉ thị: "Hôm đó có thể mời Tuyên Nghĩa lang đến không? Tên khuê danh của Công chúa là do cậu ấy đặt, từ lần từ biệt ở các Phù Dung dạo trước chúng thiếp chưa gặp lại nhau, vẫn chưa có cơ hội cảm ơn cậu ấy." Mỹ danh "Nghi Gia" của Công chúa là do Hoàng đế định, tên khuê danh "Như Anh" là do Lâm Hoằng đặt. Hồi đó Hoàng đế muốn đặt tên cho Công chúa, suy nghĩ mãi không ra cái tên ưng ý, vừa khéo Lâm Hoằng có việc vào đối đáp, Hoàng đế bèn nhờ chàng nghĩ giúp. Lâm Hoằng cân nhắc một chút, nói: "Hai chữ 'Như Anh' (như trẻ sơ sinh) có được không? 'Lão Tử' nói: 'Chuyên khí trí nhu, năng như anh nhi hồ?' (Tập trung khí để đạt đến sự mềm mại, có thể như trẻ sơ sinh chăng?). Trẻ sơ sinh ngây thơ vô tà, nguyên khí dồi dào. Nghe nói côn trùng độc, thú dữ, chim ác đều sẽ không làm hại trẻ sơ sinh. Hy vọng tiểu công chúa bất cứ lúc nào cũng giữ được tâm cảnh thuần khiết như trẻ sơ sinh, thần nhàn khí tĩnh, không bị ngoại vật làm tổn thương, không bị hồng trần quấy nhiễu, một đời bình an thuận lợi." Hoàng đế liên tục khen hay, bèn chọn làm tên khuê danh cho Công chúa. Lúc này nghe Liễu Lạc Vi nhắc lại công lao đặt tên của Lâm Hoằng, Hoàng đế vui vẻ đồng ý mời chàng đến dự gia yến. Liễu Lạc Vi lại nói: "Chỉ là gia yến ở các Phù Dung thôi, Quan gia tin tưởng thiếp thì đừng cho Chưởng thiện đến. Món ăn đằng nào cũng do thiếp định, Quan gia sợ thiếp bỏ gì vào trong đó hay sao mà nhất định phải dẫn theo một người nếm thử?" Hoàng đế cười nói: "Ngự thiện có người nếm trước là quy củ tổ tông đặt ra, nhưng nàng đã không thích, ta sẽ không dẫn Chưởng thiện đến các của nàng, dù sao ở đây ta ăn gì uống gì nàng đều nếm qua cả, ta có gì mà không yên tâm?" Liễu Lạc Vi hờn dỗi: "Ngài còn nhắc chuyện này! Vốn dĩ thiếp ngày ngày hầu hạ Quan gia, ngự thiện ở điện Gia Minh đều do thiếp nếm trước, Ngô Chân Chân vừa đến, ngài liền không cho thiếp hỏi đến nữa." Hoàng đế ôm lấy nàng, dịu dàng dỗ dành: "Đây chẳng phải sợ nàng sinh con vất vả, không tiện lo liệu cả chuyện ăn uống sao. Ăn uống của bản thân nàng còn cần đặc biệt thận trọng, để người ta nếm trước, ta sao nỡ để nàng nếm trước cho ta chứ?" Liễu Lạc Vi bực bội nói: "Toàn là dỗ ngọt thiếp. Ngài chính là coi trọng Ngô Chân Chân mới để cô ta lúc nào cũng hầu hạ bên cạnh!" Hoàng đế cười lớn: "Trong mắt ta nó chỉ là con bé con ngang hàng với nhi t.ử ta, huống hồ nó cũng sắp lấy chồng rồi." Liễu Lạc Vi sững sờ: "Lấy chồng? Cô ta lấy ai?" Ý cười của Hoàng đế càng sâu: "Để Tuyên Nghĩa lang nói cho nàng biết nhé." Chương 97 - Mai Thê Hạc Tử Hôm sinh nhật Công chúa Nghi Gia, Lâm Hoằng đến dự tiệc trưa ở các Phù Dung đúng hẹn. Trong tiệc người trong các liên tục chúc rượu Công chúa, đều do Hoàng đế uống thay. Tiệc tàn Hoàng đế say bí tỉ, Liễu Lạc Vi sai người dìu ngài vào tẩm các ngủ, lại sai thị nữ bày tiệc trà trong vườn hoa, mời Lâm Hoằng uống trà. Liễu Lạc Vi trong lòng nhớ chuyện Ngô Chân Chân, hàn huyên với Lâm Hoằng vài câu, liền nói với chàng: "Gần đây ta nghe vài lời đồn đại, nói đệ và Ngô Chưởng thiện..." "Đệ đang định nói với Tiệp dư chuyện này." Lâm Hoằng hơi ngừng lại, nhìn đám thị nữ bày trà xung quanh. Liễu Lạc Vi hiểu ý, lập tức lệnh cho thị nữ lui ra xa, chỉ giữ lại Ngọc bà bà như hình với bóng sau lưng mình. Lâm Hoằng lấy ra một chiếc hộp sơn mài đen nhỏ, đưa đến trước mặt Liễu Lạc Vi. Liễu Lạc Vi mở ra xem, thấy bên trong lót gấm đặt một chiếc vòng tay phỉ thúy lấp lánh ánh nước, toàn thân xanh biếc, trong suốt, chất lượng cực tốt. Lâm Hoằng bắt đầu kể lại nguyên do: "Năm xưa tỷ rời nhà vào kinh, đệ đuổi theo đến bờ sông dưới núi, định nắm lấy cổ tay tỷ tỷ, tỷ tỷ giãy giụa, tay tuột khỏi chiếc vòng phỉ thúy đệ đang nắm, trong lúc cấp bách đệ vứt chiếc vòng đi để kéo tỷ tỷ, tỷ tỷ đã bảo lái đò chèo thuyền đi mất... Chiếc vòng đó rơi xuống đất vỡ tan. Sau này, đệ kén chọn vạn phần, mới tìm được một khối phỉ thúy có chất lượng gần giống chiếc vòng của tỷ, tự mình điêu khắc mài giũa rất lâu, cuối cùng làm thành chiếc vòng tay này." Liễu Lạc Vi mỉm cười nói: "Một chiếc vòng tay, chuyện to tát gì đâu, hiếm cho đệ vẫn luôn nhớ, tốn bao nhiêu tâm tư làm cái khác." Nói xong lấy chiếc vòng xanh ra, tỉ mỉ ngắm nghía. "Chiếc vòng này đệ vẫn luôn mang bên mình, nay đến lúc phải trả lại cho tỷ tỷ." Lâm Hoằng ngừng một chút, lại nói, "Đệ sắp cưới vợ rồi, cô ấy là người đệ muốn ở bên cạnh cả đời, chuyện cũ đã qua, đệ không muốn cô ấy vì vật này mà nảy sinh bất kỳ hiểu lầm nào." Nụ cười của Liễu Lạc Vi đông cứng. Đặt chiếc vòng trở lại hộp, nàng nhìn Lâm Hoằng, hỏi: "Đệ muốn cưới ai?" "Ngô Chân Chân." "Hừ." Nghe chính miệng chàng nói ra đáp án đã dự liệu, Liễu Lạc Vi vẫn không kìm được ngỡ ngàng, lập tức bật ra tiếng cười lạnh. Hai người im lặng nhìn nhau giây lát, Liễu Lạc Vi lại hỏi Lâm Hoằng: "Đệ rất thích cô ta?" Lâm Hoằng ngước mắt lên, kiên định nói: "Là yêu." Liễu Lạc Vi hít sâu một hơi, quay đầu nhìn mây trôi xa xa, một lúc sau quay lại, lại nở nụ cười, nhỏ nhẹ hỏi: "Hoằng Ninh, cây kim bạc kia, đệ còn mang theo bên người không?" Lâm Hoằng giật mình, cau mày nhìn chằm chằm nàng. "Mợ (mẹ Lâm Hoằng) trước lúc lâm chung, giao cây kim bạc cho đệ, bảo đệ chớ quên chuyện của cậu (cha Lâm Hoằng). Từ đó về sau bao năm, đệ cẩn tuân di mệnh của mẹ, đi đâu cũng mang theo." Liễu Lạc Vi vẫn cười nhạt, dẫn dắt chàng nhớ lại chuyện cũ tàn khốc kia, "Có điều sau này không cần mang theo người nữa, chuyện của cậu, nhìn người đầu ấp tay gối của đệ là có thể nhớ lại." Lâm Hoằng bối rối và bất an, trầm giọng hỏi dồn: "Tỷ muốn nói gì?" Liễu Lạc Vi nhìn thẳng vào mắt chàng, từng chữ từng chữ nói: "Ngô Chân Chân là con gái của Trương Vân Kiều." Lâm Hoằng trong nháy mắt câm nín, nhưng đôi mày nhíu chặt nhìn chằm chằm nàng, ánh mắt dò xét như muốn đ.â.m thủng vào sâu trong mắt nàng. "Không tin?" Liễu Lạc Vi cười khẩy, rồi cụp mắt, buồn bã nói, "Tỷ tỷ lừa đệ bao giờ chưa? Bây giờ nói những điều này, chẳng qua là không nỡ nhìn thấy người vợ ngày đêm đối mặt với đệ lại trở thành một cây kim đ.â.m vào tim đệ đau hơn." Liễu Lạc Vi bắt đầu kể về mối quan hệ giữa Trương Vân Kiều với Lưu Tư thiện và Ngô Thu Nương, cũng như thân thế của Ngô Chân Chân. Ngọc bà bà vẫn luôn đứng sau lưng Liễu Lạc Vi lặng lẽ quan sát, thấy Lâm Hoằng nghe đến hồn xiêu phách lạc, bèn ngăn Liễu Lạc Vi nói tiếp, gọi hai nội thị đến, bảo họ đưa Lâm Hoằng về. Đợi Lâm Hoằng đi rồi, Ngọc bà bà thong thả bước lên, nắm tay Liễu Lạc Vi, ôn tồn khuyên: "Gió lên rồi, nương t.ử vào nhà thôi, cẩn thận kẻo lạnh." Bà dắt Liễu Lạc Vi vào phòng mình, đóng cửa lại, sau đó sắc mặt đột ngột thay đổi, giáng cho Liễu Lạc Vi một cái tát. "Con nói với Lâm Hoằng những chuyện này làm gì?" Bà giận dữ nói, "Ngô Chân Chân giỏi gây chuyện như thế, ở lại trong cung sớm muộn gì cũng hỏng đại kế của ta và con. Với tính cách của Lâm Hoằng, sẽ không ở lại kinh thành lâu, để Ngô Chân Chân theo nó về núi Vũ Di làm đôi vợ chồng quê mùa có gì không tốt?" "Cô ta gả cho ai cũng được, duy chỉ không thể là Hoằng Ninh!" Liễu Lạc Vi ôm mặt khóc nức nở, "Hoằng Ninh là người duy nhất trên đời này thực sự yêu con!" Bà Ngọc sững sờ, nhìn Liễu Lạc Vi đang khóc không thành tiếng trước mặt mình, vẻ giận dữ dần tan biến, lát sau lạnh lùng nói: "Con phá hỏng chuyện tốt của chúng nó, cứ chờ mà xem, Ngô Chân Chân tương lai không bị Quan gia thu nhận thì cũng được ngài ấy ban cho Thái tử, đến lúc đó làm phi làm hậu, ngược lại sẽ khiến con phải nhìn sắc mặt nó mà kiếm cơm." "Sẽ không đâu." Liễu Lạc Vi lau nước mắt đầm đìa trên mặt, quật cường ngẩng đầu lên, "Con sẽ không để chuyện đó xảy ra." Giữa tháng Năm, điện các vườn Tụ Cảnh hoàn công, Đế Hậu mời Thái hậu vào vườn thưởng ngoạn, đồng thời mở khúc yến trong vườn theo mô hình tiệc thưởng hoa câu cá ở Biện Kinh, mời tông thất và ngoại thích cùng đến dự. Thái hậu xuống kiệu ở điện Hội Phương, Hoàng đế và Hoàng hậu đã đến điện Thúy Hoa trước đó, sau đó mời Thái hậu cùng đến đình Dao Tân ngồi nghỉ một chút, rồi đi bộ dạo vườn ngắm hoa. Trong lúc đó tông thất ngoại thích đón tiếp hành lễ trong vườn, sau đó tản ra khắp vườn, tốp năm tốp ba ngắm hoa, câu cá, làm thơ, tập b.ắ.n cung, vui vẻ hòa thuận. Thái hậu ngắm hoa xong, lại đến hiên tây Dao Tân, chủ khách an tọa, bắt đầu yến tiệc. Khúc yến hay còn gọi là tiểu yến, khác với đại yến chín tuần rượu, trước sau chỉ có năm tuần rượu, hơn nữa không khí cũng thoải mái hơn đại yến nhiều. Đại yến trang trọng nghiêm túc, khách khứa trong tiệc không được ồn ào, không được say rượu thất lễ, nếu không sẽ bị đàn hặc, còn khúc yến không chịu sự hạn chế của nghi lễ rườm rà, chủ khách có thể khá tùy ý nâng ly vui vẻ, qua lại chúc rượu, cười nói lớn tiếng cũng không sao, càng thuận lợi cho việc giao lưu trò chuyện. Khúc yến lần này Lâm Hoằng và Chân Chân đặc biệt lên một thực đơn độc đáo cho Thái hậu, nhưng cũng đề nghị tông thất ngoại thích nếu có chuẩn bị món ngon cũng có thể dâng lên trong tiệc, mời Thái hậu nếm thử. Món ăn tông thất ngoại thích dâng lên đa phần vẫn là sơn hào hải vị, vì Thái hậu thích ăn chay, thực đơn Lâm Hoằng định cho bà chủ yếu là món chay, lại dùng hoa quả theo mùa để chế biến, ví dụ hái lá non cây mộc hương, chần qua nước sôi rồi trộn dầu muối ăn nguội, hoặc lấy cánh hoa đồ mi (mâm xôi), chần qua nước cam thảo, nấu chung với cháo gạo, lại phối với đài sen non trắng luộc chín giã nhỏ, trộn bột gạo và đường hấp thành bánh bông. Thái hậu nếm thử dường như rất hài lòng, nói với Đế Hậu: "Người đời đều cho rằng nhung hươu, thạch nhũ là bổ dưỡng nhất, có thể kéo dài tuổi thọ, lão thân lại thấy những nguyên liệu núi rừng này mới đại bổ, vừa không sát sinh hại vật lại tốn kém rất ít, đúng với phong thái tiết kiệm mà Quan gia đề xướng." Hoàng đế tuy thấy những món này phong nhã, nhưng lại cảm giác dâng cho Thái hậu có vẻ quá đạm bạc, lúc này nghe Thái hậu nói vậy, trong lòng cứ suy đoán mãi xem Thái hậu có ý châm chọc ngầm hay không, không khỏi có chút thấp thỏm. Khi uống đến tuần rượu thứ ba, Chân Chân dâng cho Thái hậu một món làm từ hoa sen: hoa sen đỏ bỏ tâm và cuống, chần qua nước nóng rồi nấu chung với đậu phụ, tắt bếp thêm muối và chút tiêu, gừng. Món này đỏ trắng đan xen, màu sắc cực đẹp, Thái hậu vừa nhìn đã khen đẹp, lại hỏi tên món ăn, Chân Chân đáp: "Gọi là 'Tuyết Hà Canh' (Canh sen tuyết)." Thái hậu gật đầu: "Cánh hoa in trên đậu phụ, quả nhiên như ráng chiều sau tuyết tạnh, cái tên này rất hợp." Lời Thái hậu vừa dứt, liền thấy Phượng Tiên yểu điệu bước lên, hành lễ xong nói: "Nhị Đại vương nghe nói khúc yến lần này tông thất có thể dâng món ngon cho Thái hậu để trọn hiếu đạo, vô cùng vui mừng, từ mấy tháng trước đã khổ sở tìm kiếm nguyên liệu, chọn lựa kỹ càng, gần đây mới tìm được thứ vừa ý, sai nô tỳ dốc lòng chế biến, hôm nay dâng lên, kính mong Thái hậu cười nhận." Thái hậu mỉm cười nhìn Triệu Ngai, lập tức sai Phượng Tiên dâng món ăn lên. Phượng Tiên ra hiệu cho hai tiểu nội nhân phía sau bưng hai món ăn dâng lên bàn Thái hậu, chỉ thấy một món là nộm hoa năm màu trộn rau sống, món kia là hai đóa hoa nở rộ, một vàng một tím, tẩm bột mỏng chiên giòn, rắc chút muối tinh, điểm xuyết lá xanh, đặt trong đĩa pha lê, dùng muối kết tinh hạt to màu trắng lót dưới, vẫn xếp thành dáng vẻ đối vũ trong gió xuân. Thái hậu nhìn kỹ, ngạc nhiên nói: "Đây là hoa mẫu đơn?" Phượng Tiên xác nhận: "Trộn rau sống dùng Tiềm Khê Phi, Ngọc Bản Bạch, Chiếu Điện Hồng, Lộc Thai Hoa và Đảo Vựng Đàn Tâm, chiên giòn là Diêu Hoàng và Ngụy Tử." Triệu Ngai nghe vậy mở mắt nhìn Phượng Tiên, hơi cau mày. Thái hậu hỏi: "Mẫu đơn ở Lâm An cuối tháng Ba đã tàn hết rồi, những danh phẩm này từ đâu mà có?" Phượng Tiên mỉm cười: "Nhị Đại vương biết Thái hậu vốn yêu mẫu đơn, nên đã sớm bố trí, sai người đi phương Bắc mua về, mời người làm vườn am hiểu trồng mẫu đơn nhất, dọc đường dùng băng cẩn thận chăm sóc, ngăn hoa nở sớm, mới vận chuyển nguyên vẹn đến Lâm An như ý nguyện." Thái hậu than: "Tốt thì tốt thật, nhưng vận chuyển như vậy tốn công quá." Phượng Tiên nói: "Nhị Đại vương nói, chỉ cần vừa ý Thái hậu, dù tốn công tốn sức bao nhiêu, cũng đều đáng giá." Thái hậu quay sang nhìn Triệu Ngai, cười nói: "Lão thân cứ tưởng Nhị ca vẫn là đứa trẻ chưa hiểu chuyện, không ngờ nay vì chuẩn bị hai món ăn, lại có lòng như thế." Triệu Ngai gượng cười, nghiêng mình đáp: "Nương nương thích là tốt rồi." Thái hậu nếm thử món mẫu đơn khen không dứt miệng, Triệu Ngai lại có chút lơ đễnh. Sau tuần rượu thứ ba có một khoảng thời gian khá dài để khách khứa thay áo cài hoa, Triệu Ngai bèn nhân cơ hội bảo Phượng Tiên theo mình đến đình Quỳnh Phương ở khá xa, hỏi thẳng nàng: "Tại sao ngươi tự ý nói ta mua mẫu đơn từ phương Bắc về làm món ăn cho Thái hậu?" Phượng Tiên hành đại lễ với hắn, nói: "Đại vương tha tội. Đại vương quả thực chỉ cho nô tỳ số tiền lớn bảo nô tỳ chọn nguyên liệu ngon làm món ăn cho Thái hậu, mua mẫu đơn là chủ ý của nô tỳ. Nhưng nô tỳ nghĩ, tuy nguyên liệu không phải Đại vương chọn, nhưng tấm lòng này là của Đại vương, Thái hậu hỏi tới, nô tỳ tự nhiên không dám tranh công, nói là nguyên liệu nô tỳ chọn." Triệu Ngai hỏi: "Mẫu đơn mua ở đâu?" Phượng Tiên đáp: "Lạc Dương." Triệu Ngai lạnh lùng nói: "Lạc Dương cách đây núi cao sông dài, trạm kiểm soát trùng trùng, ngươi nhờ ai đi mua? Những đóa mẫu đơn đó giá trị bao nhiêu? Tiền ta đưa ngươi còn lâu mới đủ chứ?" Phượng Tiên nói: "Ba tháng trước cha nô tỳ vào kinh báo cáo công tác, có gặp nô tỳ một lần, nô tỳ bèn nhờ ông ấy tìm cách mua mẫu đơn từ Lạc Dương. Những đóa mẫu đơn đó cũng được, trừ Diêu Hoàng một đóa năm ngàn tiền, Ngụy T.ử một đóa một ngàn tiền ra, những đóa khác cũng không đắt lắm, nô tỳ bảo cha bù thêm tiền cũng không nhiều..." "Ngươi thật to gan lớn mật!" Triệu Ngai ngắt lời nàng giận dữ quát, "Hành động này khác gì ép ta nhận hối lộ? Ngươi không biết tông thất không được lén lút kết giao đại thần sao? Huống hồ còn là võ tướng! Hơn nữa, Quan gia và Hoàng hậu đều đích thân làm gương đề xướng tiết kiệm, ngươi lại trước mặt mọi người nói ta vì mấy đóa hoa này mà không tiếc hao người tốn của vận chuyển từ phương Bắc về Lâm An, Quan gia nghe xong sẽ nghĩ thế nào?" "Đại vương cứ yên tâm, bất luận Thái hậu hay Quan gia đều sẽ không vì chuyện này mà trách tội ngài." Phượng Tiên không kinh không sợ ung dung giải thích, "Quan gia không phải con ruột Thái hậu, nô tỳ lại nghe nói, vốn dĩ Hoàng t.ử Thái hậu muốn phò tá là người khác, dẫn đến hai cung hiện nay... Thái hậu có suy nghĩ gì, sẽ không thẳng thắn nói với Quan gia, cho nên lời Thái hậu không thể chỉ nghe nghĩa đen, phải cân nhắc nhiều. Lần này bà ấy đề nghị dùng khúc yến thay đại yến, chỉ dùng rau quả theo mùa, nhìn như là thông cảm cho tấm lòng đề xướng tiết kiệm của Quan gia, nhưng nếu thật sự dùng rau quả tầm thường đãi tiệc, bà ấy sẽ không hài lòng, tuy không nói ra, trong lòng ắt sẽ oán Quan gia thờ ơ. Thực đơn Lâm Hoằng định ra, tuy có vẻ phù hợp yêu cầu của Thái hậu, nhưng Quan gia khó tránh khỏi lo lắng quá mức đạm bạc, cho nên lúc này Đại vương dâng lên hai món hoa nhìn như thanh đạm nhưng tốn bao công sức mới có được, tự nhiên sẽ vừa ý Thái hậu, mà Quan gia cũng sẽ cảm thấy bù đắp được lỗi lầm tiết kiệm thái quá, tuyệt đối sẽ không trách tội Đại vương." "Vọng nghị chuyện cũ hai cung, phỏng đoán tâm ý Thái hậu và Quan gia như vậy, có phải việc một nội nhân Thượng Thực cục như ngươi nên làm không?" Triệu Ngai nhìn chằm chằm Phượng Tiên, từ từ hỏi. Phượng Tiên chợt thấy lỡ lời, vội quỳ xuống xin tội. Triệu Ngai nói: "Ngươi không cần cầu xin ta tha thứ nữa, nội nhân tâm cơ như ngươi ta cũng không dám dùng. Về cung ngươi thu dọn đồ đạc, quay về Thượng Thực cục đi. Chúc ngươi chọn được cành cao khác, kiếm được tiền đồ tốt. Tiền cha ngươi mua hoa mẫu đơn, ta cũng sẽ trả lại đầy đủ cho ngươi." Nói xong bỏ lại Phượng Tiên dứt khoát rời đi. Phượng Tiên đuổi theo vài bước, gọi hai tiếng "Đại vương", không thấy hắn quay đầu, nhớ lại mình hai năm nay vì hắn mà chịu bao ấm ức, trước sau làm bao nhiêu việc đều là tính toán cho hắn, lại không ngờ hắn từ đầu đến cuối chẳng hề cảm kích. Nhất thời tủi thân, nước mắt tuôn rơi như mưa, nghẹn ngào khóc nức nở. Lúc này từ sau bụi hoa phía sau đình đi ra một người, chậm rãi bước đến trước mặt Phượng Tiên, đưa cho nàng một chiếc khăn lụa. Phượng Tiên ngẩng đầu lên, sợ hết hồn, lập tức cúi người hành lễ: "Liễu nương t.ử vạn phúc!" Cũng không biết cuộc đối thoại vừa rồi với Triệu Ngai bị nàng ta nghe được bao nhiêu. Tim Phượng Tiên đập thình thịch, sợ đến mức nước mắt cũng không dám rơi nữa. Liễu Lạc Vi thấy nàng không nhận khăn, mỉm cười tự mình lau nước mắt trên mặt Phượng Tiên, lại nắm lấy tay nàng, dùng giọng nói mềm mại như thiếu nữ ôn tồn an ủi: "Đàn ông không thể chiều hư được. Hắn không cần ngươi hầu hạ, ngươi hãy lập tức quẳng hắn ra sau đầu. Một người thông minh như ngươi, chẳng lẽ rời xa hắn thì không sống nổi sao?" Ngừng một chút, lại cười khẩy, "Chàng chẳng nhớ ta, thiếu gì người khác. Kẻ kia ngông cuồng, âu cũng là kẻ ngốc thôi!" Phượng Tiên ngơ ngác nhìn nàng, ngẫm nghĩ câu nói cuối cùng của nàng: "Chàng chẳng nhớ ta, thiếu gì người khác..." Tiệc Khúc yến vừa qua tuần rượu thứ năm, nội thị liền cho dỡ bỏ các ô cửa sổ bao quanh Dao Tân Tây Hiên. Thoáng chốc, phía tây trở nên thông thoáng, gió mát ùa vào, xua tan ngay cái oi bức của ngày hè. Bùi Thượng thực tiến lên, cung kính mời Thái hậu thưởng lãm cảnh hồ bên ngoài. Thái hậu phóng tầm mắt nhìn ra, chỉ thấy một chiếc thuyền con do nội thị cầm sào đang lướt nhẹ trên mặt nước, tiến về phía đầm sen sâu hút. Nơi đầu thuyền, Lâm Hoằng đứng đó, tay áo rộng phiêu phiêu, đang cầm sáo trúc thổi khúc “Hái sen” thanh thoát, du dương. Giữa thuyền là Chân Chân đang ngồi. Đợi thuyền đến nơi hoa sen vừa chớm nở, nàng dùng mái chèo nhẹ nhàng rẽ lối giữa tầng tầng lớp lớp hoa lá, tìm những cuộn lá sen vốn đã được gói buộc kỹ càng từ trước đang đứng thẳng trong nước, rồi lần lượt cắt xuống, đặt vào lòng thuyền. Đoạn, nàng ra hiệu cho nội thị quay đầu, tiếp tục chèo thuyền len lỏi qua đầm sen, theo lối cũ trở về. Lúc này, khúc nhạc của Lâm Hoằng đã qua khúc thứ hai, chàng khẽ dừng lại rồi chuyển sang điệu mới. Tiếng sáo uyển chuyển du dương, nhưng nếu lắng lòng thưởng thức, sẽ nhận ra trong đó phảng phất đôi phần bi thương. Mà Chân Chân nghe tiếng nhạc, trong lòng trống rỗng, vô thức cất tiếng hát hòa theo điệu sáo: “Lội sông hái đóa phù dung,Đầm lan cỏ dại mịt mùng thơm hương.Hái hoa gửi tặng người thương,Người thương nay ở dặm Tr**ng X* xăm...” Thuyền cập bến trước điện, Lâm Hoằng và Chân Chân lên bờ, mang những cuộn lá sen vào Dao Tân Tây Hiên rồi mở ra. Lúc này Thái hậu mới vỡ lẽ, hóa ra trong những lá sen ấy, một phần bọc rượu quý, phần còn lại bọc món cá muối chua đã ướp sẵn. “Rượu và cá này đã được chúng thần chèo thuyền ra bọc vào trong lá sen từ hôm qua,” Chân Chân giải thích, “Hôm nay gió nồm ấm áp, nắng hạ chói chang, rượu đã đượm hương, cá cũng vừa chín tới, dùng vào lúc này là thích hợp nhất.” Thái hậu nếm thử một chút, chỉ thấy hương sen thanh khiết phả vào mặt, thấm đẫm trong từng giọt rượu và từng thớ cá, làm dịu đi cái nồng gắt của men say, lại xua tan mùi tanh của cá, chỉ để lại dư vị ngọt ngào của thịt cá lặng lẽ lan tỏa sau vị mặn mòi. “Món cuối cùng này, chẳng những rượu thơm cá đượm, mà còn giúp già này được thưởng ngoạn một bức tranh cảnh sắc tuyệt mỹ. Tâm tư khéo léo nhường ấy, quả thực khiến người ta phải trầm trồ.” Thái hậu mỉm cười, “Đây là chủ ý của Tuyên nghĩa lang phải không?” Lâm Hoằng bước lên thi lễ, đáp một tiếng “Vâng”. Thái hậu lại nói: “Lần trước già này có hứa, khi nào Tụ Cảnh viên hoàn thành sẽ ban hôn cho ngươi. Nay ngươi đã nghĩ kỹ muốn cưới tiểu nương t.ử nhà ai chưa?” Lâm Hoằng rũ mắt, nhất thời im lặng không đáp. Hoàng hậu chỉ ngỡ chàng da mặt mỏng, ngại ngùng không dám nói thẳng, bèn cười nói đỡ với Thái hậu: “Nương nương, tình cảnh hôm nay Người cũng đã thấy rồi, chắc không khó để đoán ra người trong mộng của Tuyên nghĩa lang là ai đâu nhỉ?” “Ồ...” Thái hậu lập tức quay sang nhìn Chân Chân, đ.á.n.h giá một hồi lâu rồi cười nhạt: “Không tệ. Con bé này thật có vận may, lấy được Tuyên nghĩa lang đúng là phúc phận tu ba đời mới có.” Thái hậu và Chân Chân vốn không thân thiết lắm, nhưng Chân Chân đã là người bên cạnh Quan gia, mọi hành động thường ngày tự nhiên có người bẩm báo cho bà biết. Bà không thích sự thẳng thắn của Chân Chân, cảm thấy nàng hành xử nhiều khi vượt quá bổn phận của một nội nhân, song cũng chưa đến mức chán ghét. Lúc này thấy Hoàng hậu ngụ ý người Lâm Hoằng muốn cưới là Chân Chân, dù trong lòng không ưng ý lắm, bà cũng không đến nỗi phản đối. Chân Chân nghe Thái hậu nói vậy, hiểu rằng bà đã chấp thuận hôn sự của mình và Lâm Hoằng, trong lòng khấp khởi mừng thầm, hai má ửng hồng cúi đầu e thẹn. Lâm Hoằng vẫn rũ mi mắt, gương mặt lạnh tanh không chút biểu cảm, chẳng ai đoán được tâm tư chàng lúc này ra sao. Liễu Lạc Vi nãy giờ vẫn lạnh lùng quan sát thái độ của hai người, lúc này bỗng nở nụ cười tươi rói, dịu dàng gọi: “Ngô Chưởng thiện, lại đây, ta có chuyện muốn nói với ngươi.” Chân Chân vâng lời bước đến trước mặt nàng ta, nghiêng mình hành lễ. Liễu Lạc Vi bảo Chân Chân lại gần, lấy ra chiếc vòng ngọc phỉ thúy mà Lâm Hoằng tặng nàng ta trước kia, nói với Chân Chân: “Thảo nào ta và ngươi thuở đầu mới gặp đã như thân quen, hóa ra là có cái duyên làm chị em dâu. Chiếc vòng này là người nhà mẹ đẻ tặng ta, ta vẫn luôn tiếc không nỡ đeo, nay xin tặng lại cho ngươi, coi như lễ ra mắt ta dành cho em dâu vậy.” Nói đoạn, nàng ta nắm lấy tay trái của Chân Chân, đẩy chiếc vòng vào cổ tay nàng. Chiếc vòng hơi khựng lại ở chỗ rộng nhất của bàn tay, nhưng Liễu Lạc Vi chỉ cần dùng chút sức là đã đeo lọt vào cổ tay, chứng tỏ kích thước khá vừa vặn. Liễu Lạc Vi thoáng chút thất thần, rồi lại cười rạng rỡ: “Tuyệt thật, cổ tay ngươi trắng ngần thon thả, đeo chiếc vòng thúy ngọc này đẹp vô cùng.” Chân Chân nhìn chiếc vòng, bàng hoàng không nói nên lời: Nhìn màu sắc và độ trong của ngọc, rất có thể nó được mài giũa từ hòn đá xanh mà năm xưa Lâm Hoằng thường cầm trên tay ở trạm Vấn Tiều. Lại nghe Liễu Tiệp dư nói là do “người nhà mẹ đẻ” tặng, suy đoán này gần như đã chắc chắn. Vậy ra... Lâm Hoằng đã tốn bao tâm huyết bao năm trời, mài giũa chiếc vòng này, rồi mang theo bên mình suốt chặng đường dài đến Lâm An để tặng cho nàng ta sao? Ký ức về hình ảnh Lâm Hoằng cầm hòn đá ấy chăm chú nhìn bức họa Lạc Thần trên tường ùa về không sao kìm nén được, Chân Chân chợt thấy tim mình như bị d.a.o sắc đ.â.m xuyên, nỗi đau nhói buốt từ trong tâm can lan ra, khiến toàn thân toát mồ hôi lạnh. Nhưng nỗi đau lúc này mới chỉ là bắt đầu, ngay sau đó, nàng nghe thấy câu trả lời của Lâm Hoằng dành cho Thái hậu. “Trong Tụ Cảnh viên hoa mai rất nhiều, thần khẩn cầu Nương nương ban cho thần mười tám gốc mai cổ thụ.” Lâm Hoằng quỳ lạy Thái hậu, dõng dạc thưa, “Thần nguyện noi gương Hòa Tĩnh tiên sinh triều Nhân Tông, lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con, trọn đời không cưới nữ t.ử thế gian.” Lời vừa thốt ra, cả điện đều kinh ngạc. Thái hậu hồi lâu không đáp lời, còn Hoàng đế thì cau mày ngầm cảnh cáo Lâm Hoằng: “Tuyên nghĩa lang, trước mặt Thái hậu, chớ có nói đùa.” “Thần không hề nói đùa.” Lâm Hoằng quay sang Hoàng đế dập đầu, “Thần quanh năm sống nơi sơn dã, sớm đã quen cảnh một mình ôm đàn dưới bóng cây, ngắm mưa trong lều cỏ, thực sự không cần nữ t.ử bầu bạn. Có mai làm vợ, hạc làm con, đời này đã mãn nguyện rồi.” Giọng điệu của chàng quyết tuyệt không cho phép ai nghi ngờ, Chân Chân trong khoảnh khắc nhận ra lần này nàng thực sự không thể nào níu giữ được chàng nữa rồi. Mồ hôi lạnh vã ra như tắm, giữa cái nóng hầm hập của ngày hè mà toàn thân nàng lạnh toát. Nàng nghe thấy trong điện bắt đầu râm ran những tiếng xì xào bàn tán, chẳng cần nhìn cũng biết tất cả mọi người lúc này đều đang dán mắt vào nàng. Có kẻ ghen ghét, kẻ xem kịch hay, kẻ thừa nước đục thả câu, đang chỉ trỏ, cười cợt mỉa mai nàng - người con gái bị Lâm Hoằng công khai ruồng bỏ trước bao cặp mắt người đời. Còn Liễu Lạc Vi vẫn nắm c.h.ặ.t t.a.y trái của nàng, mắt không chớp nhìn chằm chằm, khóe môi âm thầm nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý sâu xa. “Xem ra là ta hiểu lầm rồi, ta không có phúc phận làm chị của Ngô Chưởng thiện.” Liễu Lạc Vi cười nói, lại đưa tay kia vỗ nhẹ lên bàn tay trái của Chân Chân đang bị mình nắm giữ, “Nhưng không sao, chiếc vòng này ta đã tặng thì ngươi cứ giữ lấy, không cần trả lại đâu.” Chân Chân lạnh lùng gạt tay nàng ta ra, tháo chiếc vòng đặt trả lại lên bàn, nhìn thẳng vào mắt đối phương mà đáp rằng: “Ta không cần.” Không một chút khách sáo giả tạo, cũng chẳng còn sự khiêm cung mà thân phận vốn buộc nàng phải giữ gìn, ba chữ ấy thốt ra thẳng thừng và dứt khoát. Điều này khiến nụ cười trên môi Liễu Lạc Vi tắt ngấm, thoáng vẻ ngượng ngùng. Chân Chân lùi lại vài bước ra giữa điện, sắc mặt trắng bệch, bước chân loạng choạng như đi trên mây, tai ù đi, thân mình chao đảo chực ngã. Nhất thời nàng chẳng biết phải đi về đâu, chỉ có thể cố gắng gượng để bản thân không gục ngã trước những ánh mắt rực lửa của mọi người. Đúng lúc ấy, Thái t.ử bỗng nhiên đứng dậy, cúi người vái chào phụ vương, dùng chất giọng không lớn nhưng đủ để cả điện nghe rõ, thưa với Hoàng đế: “Thần nhi to gan xin hỏi phụ hoàng, việc hôm qua ngài đã hứa cho Ngô Chưởng thiện sang trông coi việc ăn uống ở Đông cung, ngài vẫn chưa công bố phải không ạ? Thế nên Nương nương và Liễu Nương t.ử mới có sự hiểu lầm như vậy.” Chương 98 - Trắc Thất (Vợ Lẽ) Lời Thái t.ử vừa thốt ra, tiếng xì xào bàn tán như nước sắp sôi bỗng chốc im bặt, tất cả mọi người đều nín thở, ngấm ngầm chờ đợi câu trả lời của Hoàng đế. "Ồ, đúng vậy." Hoàng đế như vừa tỉnh mộng, rất nhanh hiểu ra ý đồ của Thái tử, nương theo lời chàng nói tiếp, "Hôm qua ta đã đồng ý với con, điều Ngô Chân Chân sang Đông cung, sau đó Thẩm Tham chính có việc xin đối đáp, vừa đến đã ngồi rất lâu, ta liền quên mất thông báo cho Hoàng hậu và Thượng cung, Thượng thực. Nhưng cũng chưa muộn, hôm nay ở đây đông người, vừa hay tuyên bố việc này..." Ngài chỉnh lại tư thế ngồi, chuẩn bị chính thức tuyên bố, Triệu Ngai lại bất ngờ đứng dậy chắp tay với ngài: "Phụ hoàng, chuyện điều Ngô Chưởng thiện sang Đông cung, đã từng hỏi qua ý kiến của cô ấy chưa?" Hoàng đế ném ánh mắt mang chút nghi vấn về phía hắn, lát sau đáp: "Chưa." Triệu Ngai khẩn thiết nói: "Nữ quan là người chứ không phải đồ vật, Ngô Chưởng thiện cần cù hầu hạ ngài bấy lâu, nay muốn đổi chủ nhân cho cô ấy, có thể đoái hoài đến tâm trạng của cô ấy, hỏi xem ý cô ấy thế nào không?" Hoàng đế im lặng một chút, rồi quay sang nhìn Chân Chân: "Ngô Chưởng thiện, ngươi có nguyện ý sang Đông cung hầu hạ Thái t.ử không?" Chân Chân từ cuộc đối thoại của cha con Hoàng đế không khó nhận ra thiện ý họ dành cho mình, hiểu rằng hành động này của Thái t.ử là muốn chứng minh cho mọi người thấy, nàng đã sớm là người được Đông cung coi trọng, Hoàng đế hoàn toàn không có ý định ban nàng cho Lâm Hoằng, vì thế nàng không phải là người vợ bị Lâm Hoằng ruồng bỏ, mà là có tiền đồ xán lạn hơn. Thế là nàng quỳ xuống trước Hoàng đế, kìm nén đủ loại cảm xúc đang cuộn trào, cố gắng dùng giọng điệu bình ổn đáp: "Nô tỳ xuất thân thấp hèn, được Hoàng thái t.ử không chê, có hy vọng vào hầu hạ Đông cung, may mắn biết bao, đâu có lý gì không nguyện ý." Thái t.ử dùng cách này, nhặt lên lòng tự trọng bị Lâm Hoằng đập nát vụn vương vãi khắp nơi của nàng, cứu nàng khỏi số phận bị nhấn chìm trong những lời đàm tiếu thị phi, nàng quyết định dốc lòng báo đáp. Hoàng đế cũng như trút được gánh nặng, ngồi nghiêm chỉnh, trịnh trọng nói: "Truyền khẩu dụ của Trẫm: Thăng Chưởng thiện Ngô thị làm Điển thiện, từ hôm nay đến Đông cung, quản lý việc ăn uống của Hoàng thái tử." Chân Chân giơ tay ngang mày, hành đại lễ tạ ơn Hoàng đế. Lát sau ngẩng đầu lên, gắng gượng nở nụ cười, nhưng vẫn có một giọt nước mắt không ngăn được lăn qua khóe môi đang nhếch lên, lặng lẽ rơi xuống đất tạo thành một vòng tròn ẩm ướt. Thái hậu thấy Lâm Hoằng vẫn im lặng quỳ giữa điện, bèn nói với chàng: "Tuyên Nghĩa lang, lão thân chuẩn tấu, lát nữa ngươi ra vườn chọn mai cổ thụ, ưng cây nào thì bảo Cung Uyển sứ, để ông ta phái người đưa đến nhà ngươi." Lâm Hoằng dập đầu tạ ơn Thái hậu. Thái hậu bảo chàng bình thân lui xuống, lại nhìn Trương Tri Bắc, Trương Tri Bắc hiểu ý, lập tức lệnh cho nhạc kỹ tấu nhạc, rất nhanh trong điện tiếng đàn sáo lại vang lên, tay áo múa dập dờn, lại khôi phục cảnh tượng thái bình lúc đầu. Lâm Hoằng nhân lúc người xung quanh đang hăng say chúc rượu hành lệnh rời tiệc, lặng lẽ đi ra ngoài điện. Vừa xuống thềm ngọc, liền nghe sau lưng có người gọi "Lâm Hoằng", chàng nghe tiếng quay lại, chưa kịp nhìn rõ người đến, người đó đã nhanh như chớp ra tay, đ.ấ.m một cú vào dưới má trái chàng. Lâm Hoằng định thần đứng vững, ngẩng đầu nhìn thẳng vào Triệu Ngai đang trừng mắt giận dữ nhìn mình. Triệu Ngai vung nắm đ.ấ.m định đ.á.n.h tiếp, nhưng bị mấy nội thị chạy tới vừa ôm eo vừa đè tay ngăn lại. Lâm Hoằng đưa tay áo lau vệt m.á.u rỉ ra nơi khóe môi, vái dài chào Triệu Ngai, lẳng lặng lùi lại vài bước, rồi quay người bỏ đi. Chàng biết rõ nguyên nhân Triệu Ngai tức giận, không muốn giải thích gì, cũng không muốn trả thù cú đ.á.n.h bạo lực của hắn, tự biết so với nỗi đau khổ và tủi nhục Chân Chân phải chịu hôm nay, chút đau đớn này căn bản chẳng đáng nhắc tới. Đúng như Liễu Lạc Vi nói, từ khi biết Chân Chân là con gái Trương Vân Kiều, mỗi lần gặp nàng đều trở thành một sự giày vò, chàng khó lòng kìm nén khát vọng được gần gũi nàng, nhưng lý trí lại không ngừng cảnh báo chàng, ép chàng rời xa nàng. Nụ cười của nàng, cái ôm của nàng, ánh mắt tình tứ của nàng và những lời thì thầm bên tai chàng đều hóa thành chiếc chìa khóa tẩm mật, chàng vừa mới cảm nhận được vị ngọt, trong nháy mắt ký ức tuổi thơ bị mở khóa lại từng trang bay ra, cứa vào tim chàng m.á.u chảy đầm đìa. Cũng từng nghĩ sẽ nói rõ ràng với nàng, từ đó cắt đứt qua lại, nhưng lại sợ chia tay như thế quá dịu dàng, ngược lại khiến cả hai đều còn nuôi hy vọng. Tình cảm của Chân Chân nồng nhiệt, mà chàng trước mặt nàng luôn không đủ kiên định, nếu một ngày nào đó nàng lại đến tìm chàng, khóc lóc trước mặt chàng, hay đột nhiên ôm chàng, hôn chàng, chàng e rằng sẽ bất chấp hiếu nghĩa, một lần nữa cùng nàng rơi vào cõi a tu la. Cứ thế do dự lần lữa kéo dài từng ngày, cuối cùng đến lúc Thái hậu nhắc lại chuyện ban hôn, không thể tránh né được nữa. Sau khi nghe Thái hậu hỏi chàng vẫn đang cân nhắc làm sao từ chối hôn sự này một cách khéo léo, nhưng Liễu Lạc Vi muốn tặng vòng ngọc cho Chân Chân, sự im lặng của Chân Chân khi đó lọt vào mắt chàng, chàng liền hiểu chiếc vòng đó đã làm tổn thương nàng. Vậy thì cứ thế đi, dứt khoát tiếp tục dùng "Mai thê hạc tử" (lấy mai làm vợ, xem hạc như con) khiến nàng đau một lần triệt để, nàng có lẽ sẽ hận chàng, rồi cũng sẽ c.h.ế.t tâm với chàng, ngẩng đầu nhìn về phía trước, đi tìm bến đỗ tốt hơn chàng. Chàng hờ hững đi về phía rừng mai, thầm nghĩ, đây có lẽ là kết cục tốt nhất có thể có vào lúc này. Chương 99 - Có Chút Nhớ Nhung Sau bữa tiệc Triệu Ngai trở về các của mình, nghĩ đi nghĩ lại, càng nghĩ càng lo, cảm thấy không thể để mặc Chân Chân ở lại Đông cung, bèn đến Đông cung, yêu cầu gặp mặt Thái tử. Thái t.ử đang đọc sách trong Chiêm Lục Đường bao quanh bởi trúc xanh, thấy Triệu Ngai vẻ mặt lo lắng vội vã đi vào, liền đoán được mục đích chuyến đi này của hắn. Quả nhiên Triệu Ngai vừa mở miệng đã thẳng thắn yêu cầu chàng cho Chân Chân chuyển sang làm việc tại các Thanh Hoa của hắn, nói sẵn sàng phái vài nội nhân khác vào Đông cung để trao đổi. Thái t.ử cười nhạt, gập cuốn sách trên tay lại, nói với Triệu Ngai: "Ta hỏi đệ, đệ đã trân trọng Ngô Điển thiện như thế, hôm nay lúc Lâm Hoằng từ hôn tại sao đệ không đứng ra giải vây cho cô ấy giống như ta?" Triệu Ngai cụp mắt, một lát sau nói: "Đệ chưa nghĩ ra phải nói thế nào." "Ta biết nỗi lo của đệ." Thái t.ử nói toạc ra, "Lời mai thê hạc t.ử của Lâm Hoằng vừa thốt ra, tất cả mọi người đều hiểu hắn từ chối cưới Ngô Chân Chân. Muốn giúp Chân Chân thoát khỏi cái danh kẻ bị ruồng bỏ, chỉ có thể chứng minh tiền đồ của cô ấy đã có sự sắp xếp, hoàn toàn không liên quan đến Lâm Hoằng, hơn nữa tiền đồ này, còn tốt hơn là gả cho Lâm Hoằng làm vợ. Đệ nhất định đã từng nghĩ đến việc đứng ra xin Quan gia cho đệ cưới Chân Chân, nhưng đệ là Hoàng tử, nguyên phối phu nhân của Hoàng t.ử triều ta nếu không xuất thân từ gia đình công thần cũ, thì cũng chọn trong dòng dõi ngoại thích hoặc hậu duệ vương khác họ, con gái chủ quán trà quán rượu như Chân Chân, nếu đệ cầu cưới làm chính thất, là sự khiêu khích công khai đối với tông pháp và tôn nghiêm thiên gia. Nếu chỉ yêu cầu nạp cô ấy làm thiếp, làm cơ thiếp của tông thất đối với cô ấy mà nói còn không bằng gả cho quan lại triều đình làm vợ, thân phận ngược lại còn thấp đi, không đủ để giúp cô ấy tránh khỏi sự chê cười của mọi người. Cho nên, việc này chỉ có thể do ta làm. Đệ cũng biết, chỉ có ta mới có thể vớt vát lại thể diện bị Lâm Hoằng vứt bỏ cho cô ấy." "Nhưng mà, huynh để cô ấy vào Đông cung sẽ khiến tất cả mọi người trong cung cho rằng huynh định nạp cô ấy làm thiếp!" Triệu Ngai bực bội nói, "Ai cũng biết, nội nhân được Đế Hậu các đời đặc biệt ban cho Thái t.ử cuối cùng đều trở thành cơ thiếp của Thái tử, hậu phi tương lai." "Suy nghĩ này cũng không sai," Thái t.ử thản nhiên nhìn thẳng vào em trai mình, "Ta cũng nghĩ như vậy." Cơn giận của Triệu Ngai bốc lên: "Chẳng lẽ huynh không chỉ là vì giải vây cho cô ấy?" "Ta quả thực cần một người quán xuyến việc Đông cung." Thái t.ử bình tĩnh nói, "Thái t.ử phi lực bất tòng tâm, ta không có tâm trí lo việc này, Chân Chân là ứng cử viên rất thích hợp. Huống hồ... ta là Trữ quân, duy trì huyết mạch thiên gia là trách nhiệm của ta, cần sinh nhiều con cái, sớm muộn gì cũng sẽ bị yêu cầu nạp thiếp. Đối với bản thân Chân Chân, vào Đông cung có nghĩa là tương lai có thể làm phi tần, cũng có lợi cho cô ấy phát huy tài năng, đạt được một số công tích có ích cho nước cho nhà. Đúng như phụ hoàng nói, có lẽ đây là sự sắp xếp tốt nhất." "Nhưng đó cũng là làm thiếp!" Triệu Ngai phẫn nộ nói, "Gả cho đệ, cho dù hiện tại không làm được tam môi lục sính rước dâu, sau này cũng sẽ tìm cách đưa cô ấy lên làm chính thất." "Đệ sớm dứt bỏ ý định này đi." Thái t.ử ngưng mắt lạnh lùng nói, "Làm thiếp của ta tương lai có thể làm phi, đệ nếu lấy thiếp làm vợ chính là phạm tội, sẽ bị luật pháp trừng trị nghiêm khắc, thậm chí sẽ liên lụy đến cô ấy." Triệu Ngai lập tức nghẹn lời, biết những gì huynh trưởng nói đều là sự thật. Làm thiếp của Thái t.ử tương lai không chỉ có thể làm phi, nếu có cơ duyên, sau khi Thái t.ử lên ngôi sách lập làm Hậu cũng là có thể. Hoàng thái hậu và Hoàng hậu hiện nay năm xưa chẳng phải đều là làm thiếp sao? Mà tông thất nếu lấy thiếp làm vợ quả thực sẽ bị định tội, chịu hình luật nghiêm trị. Cho nên nhìn từ người ngoài, vào Đông cung đương nhiên có tiền đồ hơn vào các của Thân vương, mà nhìn từ phía Hoàng đế, Chân Chân nếu gả cho Thân vương mà không gả cho Thái t.ử càng là nhân tài không được trọng dụng. "Nhưng Chân Chân không thích huynh." Im lặng hồi lâu, Triệu Ngai buồn bã nói ra lý do phản đối cuối cùng này. Thái t.ử lập tức đưa ra một câu hỏi khiến hắn hoàn toàn câm nín: "Vậy cô ấy thích đệ sao?" Sau bữa tối, Thái t.ử phi lại sai nội nhân đến hầu hạ Chân Chân tắm gội nước thơm, lát sau chải chuốt trang điểm cho nàng, thay một bộ đồ ngủ màu trắng. Một lúc sau có một nữ quan trung niên đến, giải thích sơ qua với Chân Chân về chuyện phòng the, dặn nàng nhất định phải tận tâm hầu hạ Thái tử. Nữ quan đi rồi, nội nhân trong viện mời Chân Chân quỳ ngồi trong phòng tĩnh chờ Thái tử, bọn họ cũng lui ra hành lang đợi. Chân Chân quyết định tối nay thị tẩm, một nửa lý do là muốn báo ơn Thái tử, một nửa là muốn mượn chuyện này cắt đứt mọi vướng bận với Lâm Hoằng, để mình không còn đường lui, phòng ngừa sau này còn luôn nhớ thương Lâm Hoằng, thậm chí không nén nổi tương tư mà đi tìm chàng. Nhưng giờ thấy bóng đêm ngày càng đậm, Thái t.ử có thể vào bất cứ lúc nào, không kìm được căng thẳng. Nghĩ đến chuyện phòng the nữ quan truyền dạy, càng thêm mặt đỏ tai hồng, cảm thấy mình tự đào một cái hố to chôn mình, thầm hối hận. Nhìn bộ đồ ngủ mỏng manh trên người, không khỏi thầm lầm bầm trong bụng: Dù sao cũng tính là động phòng hoa chúc, chẳng lẽ một cái áo khoác đỏ cũng không có sao? Lại bắt người ta mặc ít thế này gặp Thái tử. Lập tức nghĩ lại: Làm thiếp thôi mà, còn trông mong lục lễ đầy đủ sao? Chắc là Thái t.ử việc nước bề bộn, bận đến đêm khuya, cho nên người dưới cũng chẳng bày vẽ những thứ hư ảo nữa, thế nào tiện thì làm thế ấy thôi. Liên tưởng đến chuyện ban ngày, càng thấy chua xót, trong mắt đọng hai bầu nước mắt, mắt thấy sắp rơi xuống, nhưng nàng nhanh chóng dùng tay áo lau đi, tự nhủ với mình: "Dù sao cũng là con đường mình tự chọn, không trách được người khác. Nào nào nào, nhân đêm đẹp này, phải uống một ly thật to!" Trên bàn trong phòng có một bình rượu và một số điểm tâm đồ nhắm, Chân Chân đứng dậy đi đến bên bàn, rót đầy một chén rượu, ngửa cổ uống cạn, lập tức cảm thấy trong lòng ấm áp, dường như dễ chịu hơn nhiều. Đợi thêm một lát, thấy Thái t.ử vẫn chưa đến, bèn lại tự rót tự uống một chén. Cứ thế đợi đến sau canh hai, rượu trong bình gần như đã cạn sạch. Lúc này mặt nàng ửng hồng như hoa đào, mắt say lờ đờ, bỗng nhớ tới một bài hát Hương Lê Nhi từng hát trước đây, cảm thấy rất hợp với tâm trạng muốn ân đoạn nghĩa tuyệt với Lâm Hoằng của mình lúc này, bèn gục xuống bàn, gõ nhịp lên mặt bàn hát rằng: "Có chút nhớ nhung, ở tận biển nam. Cần gì hỏi tặng chàng, trâm đồi mồi hai hạt châu. Dùng ngọc quấn quanh nó. Nghe chàng có lòng khác, đập nát đốt nó đi. Đốt nó đi, tung tro trước gió! Từ nay về sau, đừng tương tư nữa, tương tư tuyệt giao với chàng!" Hai câu "Đốt nó đi, tung tro trước gió! Từ nay về sau, đừng tương tư nữa, tương tư tuyệt giao với chàng!" bị nàng nghiến răng nghiến lợi hát đi hát lại, càng hát càng thấy sảng khoái, trong lòng Chân Chân dễ chịu hơn nhiều, mi mắt dần trĩu nặng, tiếng hát nhỏ dần, cuối cùng mang theo nụ cười chìm vào giấc ngủ. Mơ mơ màng màng ngủ hồi lâu, bỗng nhiên có người bế bổng nàng lên, nhẹ nhàng đặt lên giường. Chân Chân cảm nhận được, mở mắt ra, phát hiện người bế mình lại là Thái tử, trong nháy mắt sợ đến mức bật dậy ngồi thẳng, cơn say cũng bị dọa bay mất quá nửa. Thái t.ử ngồi xuống mép giường, nhìn nàng cười nhẹ. "Điện... Điện hạ sao lại đến đây?" Nàng ấp úng hỏi, vừa nãy ngủ hơi mụ mị, nhất thời chưa nhận ra tình cảnh trước mắt. "Chẳng phải nàng đang đợi ta sao?" Thái t.ử hỏi vặn lại, rồi nói, "Vốn dĩ ta nghĩ, đêm nay đã đến chỗ nàng thì hơi vội vàng, nên chọn một ngày tốt, ít nhiều mời vài vị khách, chúng ta làm lễ ra mắt nhau. Nhưng Thái t.ử phi nói với ta, nàng cảm thấy hôm nay ngày rất tốt... Ta nghĩ lại, tiểu nương t.ử người ta đã hào sảng như thế, ta không đến, lại thành ra làm bộ làm tịch." Chân Chân dở khóc dở cười, thầm tự tát mình hai cái trong lòng. Thái t.ử thấy hai má nàng ửng hồng, hơi thở còn vương mùi rượu, bèn cười nói: "Sợ à? Nên uống rượu?." Chân Chân thầm nghĩ, chuyện đã đến nước này cũng không thể nhận là mình nhát gan, bèn nói: "Không phải, là nô tỳ đợi Điện hạ đến đêm khuya, hơi lạnh, nên uống rượu giữ ấm." Thái t.ử nghe vậy cúi mắt nhìn bộ đồ ngủ của nàng, Chân Chân lập tức xấu hổ vô cùng, khép chặt ống tay áo hơi co người về phía sau. "Ừm, tấu sớ triều trước Quan gia bắt ta xem chưa xem xong, nên dây dưa đến tận giờ, lẽ ra nên sai người báo trước cho nàng." Thái t.ử giải thích, liếc nhìn cây nến cung đình đã cháy gần một nửa, ôn tồn nói: "Muộn quá rồi, đi ngủ thôi." Sau đó chàng hơi dang hai tay, nghiêng đầu nhìn nàng. Chân Chân ngẩn người một lúc mới phản ứng lại, đây là ý bảo nàng cởi áo, bèn đỏ mặt xích lại gần, đưa tay cởi đai lưng của chàng. Đai lưng của Thái t.ử khác với đai lưng nữ quan nàng thường dùng, nàng không nắm được mấu chốt, khóa đai cởi mãi không ra, vốn đã căng thẳng, lúc này càng thấy khó xử, trên trán rịn ra một lớp mồ hôi. Thái t.ử thấy vậy, tự mình cởi khóa đai. Chân Chân ngượng ngùng cúi đầu, khẽ nói: "Rất xin lỗi, chuyện khoan y giải đới cho người khác này, nô tỳ làm chưa quen lắm." "Không sao," Ánh mắt Thái t.ử lướt qua dải áo thắt nút của nàng, rất thông cảm nói, "Nàng có thể cởi của mình." Câu nói đầy ám muội thế này mà chàng lại cứ nói ra một cách nho nhã ôn hòa như thế, hơn nữa tư thế ngồi đoan chính, thần sắc thản nhiên, Chân Chân nhất thời cứng họng không biết nói gì. Thấy Chân Chân ngồi im không động đậy, Thái t.ử nghiêng người, lịch sự hỏi han: "Cần giúp đỡ không?" Chân Chân không đáp, chàng liền đưa tay về phía dải áo, dường như định cởi cái nút thắt kia thật. Chân Chân khẽ kêu một tiếng, nhanh chóng rụt vào góc giường. Thái t.ử cười vang, thắt lại đai lưng của mình, đứng dậy rời xa giường ngủ, sải bước đến bên bàn ngồi xuống. "Nàng yên tâm." Chàng nói với Chân Chân, "Lúc này nạp nàng, bất luận nàng có nguyện ý hay không đều là lợi dụng lúc người ta gặp khó khăn, ta sẽ không làm như vậy." Như tảng đá lớn trong lòng rơi xuống đất, Chân Chân thở phào nhẹ nhõm, di chuyển ra mép giường ngồi đối diện Thái tử, vui mừng nói: "Lần đầu tiên nô tỳ gặp Điện hạ, đã biết Điện hạ là người tốt." "Ồ? Lần đầu tiên nàng gặp ta là khi nào?" Thái t.ử hỏi. Chân Chân bèn kể lại chuyện lần đầu gặp chàng và Thái t.ử phi ở cửa Lệ Chính, rồi nói: "Khi đó nô tỳ mới vào cung, không rành lễ nghi, bất ngờ gặp Điện hạ thế mà lại quên hành lễ, nội nhân xung quanh đều cúi người vái chào rồi mà nô tỳ còn đứng ngây ra như phỗng, vậy mà Điện hạ hoàn toàn không để ý, mỉm cười nhìn nô tỳ, còn gật đầu chào lại, lúc đó nô tỳ đã cảm thấy, Điện hạ thực sự rất hiền hòa!" "Ta nhớ ra rồi." Thái t.ử mỉm cười nói, "Tuy nhiên, đó chỉ là cảnh tượng lần đầu tiên nàng nhìn thấy ta, còn lần đầu tiên ta nhìn thấy nàng, sớm hơn lúc đó nhiều." "Hả?" Chân Chân vô cùng ngạc nhiên, "Điện hạ trước đó đã thấy nô tỳ rồi?" Thái t.ử gật đầu, nói: "Hậu viện Thượng Thực cục và Đông cung cách nhau một bức tường. Có một hôm, ta đọc sách trong lầu các sau bức tường đó, lâu quá thấy mắt mỏi, bèn đi ra lan can nhìn xa ngắm cảnh, bỗng nghe thấy tiếng ồn ào trong hậu viện Thượng Thực cục, cúi xuống nhìn, thấy mấy nội nhân chặn đường nàng, đại khái muốn biết nàng muốn đến các của ai, bèn hỏi thẳng nàng, Hoàng thái tử, Nhị Đại vương và Tam Đại vương, nàng chọn ai. Sau đó nàng hỏi ngược lại: 'Chọn rồi thì các tỷ tặng người đó cho muội sao?'" Chân Chân cười che mặt: "Nô tỳ quên béng mất mình từng nói câu không biết xấu hổ này." "Ta thấy câu nói này thú vị, bèn đặc biệt nhìn nàng, nhớ kỹ nàng." Thái t.ử mỉm cười, rồi lại nghiêm túc nói với Chân Chân, "Có lẽ bây giờ nàng thực sự có quyền lựa chọn. Hôm nay Nhị Đại vương đến tìm ta, đòi ta điều nàng sang các của đệ ấy, bị ta từ chối, bởi vì ta biết chưa chắc nàng đã muốn đi. Bây giờ, nàng cứ làm Điển thiện trước đã, nếu chúng ta ở chung một thời gian, nàng cảm thấy ta không đến nỗi đáng ghét, làm trắc thất của ta không đến nỗi quá thiệt thòi, thì hoan nghênh nàng ở lại bên cạnh ta. Nếu nàng nghĩ lại vẫn thấy Nhị Đại vương tốt hơn, thì ta cũng sẵn lòng thả nàng sang chỗ đệ ấy." Lời này khiến Chân Chân vô cùng cảm động, lập tức đi đến trước mặt Thái tử, trịnh trọng hành đại lễ với chàng, cảm tạ chàng đã đối đãi t.ử tế với mình như vậy. Thái t.ử nhẹ nhàng đỡ khuỷu tay nàng, đỡ nàng dậy, mỉm cười nói: "Câu 'chọn ngày không bằng gặp ngày' hôm nay của nàng khá có phong thái năm xưa, hào khí y hệt câu 'chọn rồi thì các tỷ tặng người đó cho muội sao'... Đừng để nỗi buồn đ.á.n.h bại, nàng cởi mở tự tin như thế mới là nàng." "Ngủ sớm đi, ngày mai đến ăn cơm với ta." Trước khi đi chàng nói, "Phải xốc lại tinh thần đấy, về phương diện ăn uống, có lẽ ta còn khó hầu hạ hơn cả Quan gia." Chương 100 - Triệu Hoài Ngọc Phượng Tiên bị Triệu Ngai trả về Thượng Thực cục, Bùi Thượng thực tạm thời cũng chưa quyết định sẽ phái nàng đi đâu, chỉ bảo nàng hàng ngày giúp các nữ quan khác làm vài việc lặt vặt. Hai ngày sau, người ở các Phù Dung bỗng có nội thị đến tìm Phượng Tiên, nói Liễu Tiệp dư mời nàng qua, có chuyện muốn nói. Phượng Tiên đến các Phù Dung, bàng hoàng thấy Hứa cô cô hầu hạ mẹ mình đang đợi ở đó, vừa thấy nàng liền gọi "Đại cô nương", khóc lóc quỳ xuống. Liễu Lạc Vi đứng bên giải thích cho Phượng Tiên: "Vị Hứa cô cô này gần đây ngày nào cũng canh ở cửa Hòa Ninh, hễ thấy nội nhân đi ra là chạy lại hỏi có quen cô không, nhờ chuyển lời. Những nội nhân đó có người không quen cô, có người quen nhưng không biết lai lịch bà ấy, sợ rước họa vào thân nên không dám nhận lời. Hôm nay Ngọc bà bà có việc xuất cung, cũng bị bà ấy kéo lại hỏi thăm, vừa khéo hôm kia ta có khen ngợi cô trước mặt Ngọc bà bà, Ngọc bà bà bèn kiên nhẫn nghe bà ấy kể lể, thấy chuyện bà ấy nói hệ trọng, chi bằng để bà ấy trực tiếp nói với cô nương là tốt nhất, nên tìm cách đưa bà ấy về các, bảo ta mời cô qua đây." Phượng Tiên vội hỏi Hứa cô cô: "Sao cô cô lại đến đây? Chẳng lẽ trong nhà xảy ra biến cố gì?" Hứa cô cô khóc nói: "Phu nhân qua đời rồi..." Trong đầu Phượng Tiên nổ một tiếng "oanh", một lúc sau mới định thần lại, đôi mày dựng ngược, nén nước mắt truy hỏi: "Chuyện là thế nào? Có phải có người hại mẹ không?" Hứa cô cô nói: "Trước khi đi cô nương từng cảnh cáo Chu ngũ nương tử, bảo bà ta chăm sóc phu nhân cho tốt. Hai năm đầu còn đỡ, Chu ngũ nương t.ử có kiêng dè, đối xử với phu nhân cũng không đến nỗi thất lễ, phu nhân cơm no áo ấm không phải lo. Nhưng năm nay, tướng quân lại nạp thêm một Nhan thập nương tử, ả ta cậy được sủng ái, hành sự kiêu ngạo, đối với thê thiếp của tướng quân đều vô cùng vô lễ. Chu ngũ nương t.ử cũng chịu không ít khổ sở vì ả, trong lòng oán hận, lại vì phu nhân ốm đau triền miên, Chu ngũ nương t.ử thấy phu nhân tiêu tốn không ít tiền của trong nhà, liền trút oán khí lên người phu nhân, đối với phu nhân ngày càng mất kiên nhẫn. Sau đó bà ta nghĩ ra một kế một mũi tên trúng hai đích, sai người dưới tung tin đồn, nói tướng quân vốn có ý đưa Nhan thập nương t.ử lên làm chính thất, nhưng vì phu nhân vẫn còn đó, không làm gì được, Nhan thập nương t.ử đành phải từ vợ xuống làm thiếp. Nhan thập nương t.ử nghe xong thế mà lại tin, ngoài mặt sai người ngày ngày đến trước mặt phu nhân khiêu khích, trong tối lại dùng bùa chú nguyền rủa phu nhân. Chu ngũ nương t.ử cũng cố ý kiếm cớ gọi ta đi hỏi chuyện lúc ta đang sắc t.h.u.ố.c cho phu nhân, để người của Nhan thập nương t.ử có cơ hội tiếp cận siêu thuốc, sau đó, không biết chúng bỏ cái gì vào thuốc, phu nhân uống xong bệnh tình ngày càng nặng, tháng trước đã buông tay đi rồi..." Hứa cô cô nói đến đây lại òa khóc nức nở, Phượng Tiên ngược lại không khóc thành tiếng, đôi môi run rẩy hỏi tiếp: "Những chuyện này, làm sao cô cô biết được?" Hứa cô cô nói: "Chu ngũ nương t.ử thấy phu nhân qua đời, liền đến trước mặt tướng quân cáo trạng, nói là do Nhan thập nương t.ử giở trò. Tướng quân những năm nay tuy không đối xử tốt với phu nhân, nhưng dù sao cũng là vợ chồng bao năm, ít nhiều vẫn còn chút tình nghĩa, phu nhân mất đi dường như ngài ấy cũng có chút đau lòng, bèn gọi Nhan thập nương t.ử đến, đ.á.n.h cho một trận. Nhan thập nương t.ử khóc lóc kêu oan, đổ ngay cho Chu ngũ nương t.ử giở trò quỷ, thế là hai người c.h.ử.i bới cấu xé lẫn nhau, ta đứng nghe bên cạnh, cũng hiểu ra tám chín phần. Sau đó ta hỏi riêng Chu ngũ nương tử, có phải lúc trước bà ta cố ý điều ta đi chỗ khác không, bà ta không phủ nhận. Ta liền chất vấn bà ta tại sao quên lời dặn của cô nương, bà ta thế mà cười lạnh nói: 'Đại cô nương vào cung hơn hai năm nay cũng chẳng nghe tin thăng chức gì, chẳng qua cũng chỉ là con nha đầu nhóm lửa cho hoàng gia, e rằng bản thân còn khó bảo toàn, đâu còn rảnh rỗi lo chuyện trong nhà?'... Ta đã xé rách mặt với Chu ngũ nương tử, tự nhiên cũng không ở lại được nữa, bèn thu gom hết tiền tích cóp bao năm nay, lén lút trốn đi, đến Lâm An tìm cô nương, một lòng nghĩ rằng phu nhân không thể c.h.ế.t oan ức tức tưởi như vậy, nhất định phải nói chân tướng cho cô nương biết." Phượng Tiên buông tay đang ôm Hứa cô cô ra, lặng lẽ đứng cứng đờ trong các, lát sau hai hàng lệ lăn dài trên khuôn mặt lạnh lùng bướng bỉnh, bị nàng hung hăng lau đi. Liễu Lạc Vi thấy vậy bèn đến nắm tay nàng dẫn nàng ngồi xuống, dịu dàng khuyên: "Chu ngũ nương t.ử là mụ đàn bà quê mùa thiển cận, lời bà ta nói cô không cần để trong lòng. Cô tài mạo song toàn, còn sợ tương lai không có ngày ngóc đầu lên được sao?" Phượng Tiên đột ngột đứng dậy, lập tức quỳ xuống lạy Liễu Lạc Vi: "Hôm nay nương t.ử cứu giúp Hứa cô cô, cho nô tỳ gặp bà ấy, nô tỳ cảm kích khôn cùng, mong có ngày được dốc sức báo đáp. Nếu nương t.ử không chê, nô tỳ nguyện đến các Phù Dung, dốc hết khả năng hầu hạ nương tử." Liễu Lạc Vi đưa hai tay đỡ Phượng Tiên dậy, ôn tồn nói: "Tấm lòng của cô ta xin nhận, chỉ là bản thân ta suy cho cùng cũng chỉ là một cung nhân hầu hạ Quan gia, cô mang huyết hải thâm thù phải báo, ta lo mình lực bất tòng tâm, không giúp được cô. Nhưng ta có thể chỉ cho cô một con đường sáng..." Phượng Tiên cau mày, ánh mắt nghi hoặc nhìn nàng. Liễu Lạc Vi cười nhẹ, cầm lấy chiếc quạt tròn, từ từ phe phẩy nói: "Cô chi bằng cầu người ta phái cô đến cung Từ Phúc hầu hạ Thái hậu. Thái hậu chú trọng dưỡng sinh, cô thông minh, nghe nói lại rất biết làm d.ư.ợ.c thiện, nhất định dễ dàng lấy lòng Thái hậu. Chỉ cần Thái hậu thích cô, tương lai cô muốn gả cho phu quân tôn quý thế nào cũng không khó, đến lúc đó muốn trả đũa đám tiểu nhân nhà mẹ đẻ, chẳng phải dễ như nghiền c.h.ế.t mấy con kiến sao?... Sau này cô có khó khăn gì, cũng cứ đến tìm ta, chỉ cần ta làm được, nhất định sẽ giúp cô. Còn Hứa cô cô, có thể ở lại các Phù Dung làm việc, ta sẽ chăm sóc bà ấy. Nhưng để tránh người ta đàm tiếu sinh chuyện, các người sau này tốt nhất đừng nói cho ai biết là có quen biết nhau." Phượng Tiên thấy lời Liễu Lạc Vi có lý, bắt đầu tính toán làm sao để được đến cung Từ Phúc, nhưng rất nhanh có một chuyện đột ngột xảy ra, tạm thời phá vỡ kế hoạch này. Hai năm nay Triệu Hoài Ngọc làm quan ở bên ngoài, tiếng tăm rất tốt, truyền đến tai Hoàng đế, Hoàng đế có ý đề bạt chàng, bèn lệnh cho chàng về kinh, triệu vào thi tuyển chức Quán các (chức quan văn làm việc trong các viện bảo tàng sách, sử quán). Triệu Hoài Ngọc không phụ sự mong đợi, biểu hiện xuất sắc, được vào Quán các, Hoàng đế liền thăng chàng làm Hiệu thư lang, còn đặc biệt sai người cấp một nơi ở trong khu quan xá cho chàng và mẹ ở. Vì thân phận tông thất của chàng, Hoàng đế luôn dành cho chàng cái nhìn khác biệt, cho nên dù quan phẩm chàng không cao, nhưng thường xuyên có cơ hội vào đối đáp diện thánh. Hôm đó Hoàng đế lại triệu chàng vào điện Diên Hòa, bảo chàng đàm luận kỹ càng với Thái t.ử về việc quốc sự đã đề cập trong bài sách luận trước đó. Triệu Hoài Ngọc giảng giải xong, Thái t.ử tỏ vẻ tâm phục khẩu phục, Hoàng đế cũng cực kỳ vui vẻ, ban thưởng hậu hĩnh cho Triệu Hoài Ngọc một số văn phòng tứ bảo, sau đó lúc tán gẫu lại hỏi chàng đã thành gia lập thất chưa, Triệu Hoài Ngọc ngượng ngùng nói vẫn chưa cưới vợ, Hoàng đế lạ lùng hỏi: "Sĩ t.ử chưa vợ một khi bảng vàng đề danh, ắt có đại thần nhà giàu đến cầu thân. Khanh sớm có công danh, tại sao vẫn chưa thành hôn?" Triệu Hoài Ngọc vái chào Hoàng đế thật sâu, nói: "Bệ hạ, thực không dám giấu, trước khi thần đi thi Cống cử từng ngụ cư ở Phố Giang, ở đó gặp được một nữ tử, đem lòng yêu mến đã lâu, đáng tiếc nữ t.ử đó sau này ứng tuyển vào cung, làm nội nhân Thượng Thực cục. Thần khó lòng quên được, nên độc thân đến giờ." "Nội nhân Thượng Thực cục đến từ Phố Giang... Chẳng lẽ là Ngô Chân Chân?" Hoàng đế ngạc nhiên nói, lập tức thầm nghĩ, Triệu Hoài Ngọc nói ra chuyện này rõ ràng là muốn cầu cưới Chân Chân, phải dập tắt ý định này của chàng ngay, bèn không đợi Triệu Hoài Ngọc trả lời đã cười nói, "Chỉ là thật không khéo, Ngô Chân Chân mấy ngày trước vừa được Trẫm ban cho Thái tử." Sau đó lại quay sang Thái tử, cố ý hỏi, "Nghe nói, con đã đến chỗ cô ấy rồi? Trẫm có nên bổ sung một ý chỉ sắc phong, phong cô ấy làm Quận phu nhân không?" Thái t.ử sững sờ, nhưng vẫn thấp giọng trả lời đúng sự thật: "Thần nhi chỉ đến thăm cô ấy một chút, chưa từng lưu lại qua đêm." Hoàng đế rất không vui, cau mày oán trách vẻ chỉ tiếc rèn sắt không thành thép: "Có chút chuyện cỏn con này mà làm cũng lề mề chậm chạp!" Thái t.ử lập tức cúi người: "Nhi thần hổ thẹn." Triệu Hoài Ngọc thấy vậy liền hiểu tình hình, vội cúi người nói: "Bệ hạ, nội nhân thần nói, không phải họ Ngô, mà là họ Lăng, tên chữ là Phượng Tiên." "Lăng Phượng Tiên?" Thái t.ử mỉm cười nói, "Ta biết cô ấy. Vốn là nội nhân hầu hạ ăn uống cho Nhị ca, gần đây không biết vì cớ gì, lại trở về Thượng Thực cục." Hoàng đế vừa nghe người Triệu Hoài Ngọc để ý không phải Chân Chân, lập tức nở nụ cười, vô cùng sẵn lòng thể hiện sự rộng lượng của quân vương với vị thần t.ử này: "Trở về Thượng Thực cục, chứng tỏ trời cao tự có an bài, ý trời để Lăng Phượng Tiên kết mối lương duyên này. Trẫm liền ban Lăng Phượng Tiên cho khanh, làm vợ hay làm thiếp, tùy ý khanh định đoạt." Triệu Hoài Ngọc mừng rỡ vô cùng, lập tức dập đầu tạ ơn thánh ân. Hoàng đế lại hỏi chàng: "Ngươi muốn khi nào đón Lăng Phượng Tiên xuất cung?" Triệu Hoài Ngọc đỏ mặt tía tai, nhưng chần chừ giây lát, vẫn thẳng thắn bộc bạch: "Tất nhiên là càng sớm càng tốt ạ..." Hoàng đế cười lớn: "Tốt, tốt, chuyện vui nên làm sớm không nên chậm trễ. Trẫm lập tức lệnh cho Thượng thực thả người, lại ban thêm ít tài vật cho Lăng Phượng Tiên. Khanh cứ đợi ở trong cửa Hòa Ninh, đợi cô ấy thu dọn xong xuôi, muộn chút hôm nay sẽ theo khanh về nhà." Triệu Hoài Ngọc dập đầu tạ ơn lần nữa: "Bệ hạ vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!" Hoàng đế bảo chàng bình thân, lại liếc nhìn Thái tử, thấm thía nói nhỏ với con mình: "Ngươi nhìn người ta xem..." Thái t.ử cười mà không nói, nhưng vái dài tỏ ý thụ giáo. Chuyện này rất nhanh truyền khắp Thượng Thực cục, các nội nhân nhao nhao đến chúc mừng Phượng Tiên, nói Triệu Hoài Ngọc là tài năng trẻ hiếm có, lại vào Quán các, tương lai vào Hàn Uyển, thăng Trung Thư (làm Tể tướng) chỉ là chuyện sớm muộn, Phượng Tiên sau này ắt hưởng hết vinh hoa phú quý. Còn Phượng Tiên chỉ mỉm cười đáp lại, tuy biết đối với nội nhân mà nói đây quả thực là mối lương duyên hiếm có, nhưng trong lòng cứ thấy trống trải lạ lùng, không thể gọi là vui mừng quá đỗi. Phượng Tiên nhận tài vật Quan gia ban thưởng, về phòng thu dọn đồ đạc chuẩn bị xuất cung. Vì không mấy mong chờ, động tác liền chậm chạp lề mề, dây dưa đến khi cổng cung sắp đóng mới ra, lên chiếc xe bò do một nội thị đánh, đi theo sau con ngựa của Triệu Hoài Ngọc, theo chàng về nhà. Nơi ở của Triệu Hoài Ngọc cách cung thành khá xa, xe bò đi chậm, dọc đường Triệu Hoài Ngọc lại gặp không ít đồng liêu, người thì chặn đường chúc mừng, người chưa biết chuyện gì thấy sau lưng chàng có xe cung đình đi cùng, không khỏi kéo lại hỏi han một hồi, cứ thế trễ nải không ít thời gian, đợi khi về đến trước cửa nhà thì trời đã tối muộn, Triệu Hoài Ngọc nhẹ nhàng đẩy cửa, cửa không nhúc nhích, rõ ràng đã khóa chặt từ bên trong. Triệu Hoài Ngọc vẻ mặt áy náy nói với Phượng Tiên vừa bước ra từ xe bò: "Nương ta có thói quen ngủ sớm, hôm nay chúng ta về muộn quá, nương ta chắc tưởng ta hôm nay không về, nên đã khóa cửa đi ngủ rồi." Phượng Tiên thấy chàng sau đó không có hành động gì, bèn khó hiểu hỏi: "Công t.ử không thể gõ cửa xin lão phu nhân mở cửa sao?" Triệu Hoài Ngọc nói: “Nương ta ngủ không sâu, rất dễ bị đ.á.n.h thức, tỉnh rồi rất khó ngủ lại, cho nên chúng ta tạm thời đừng gõ cửa, cứ đợi một chút đã, nếu thấy trong viện có ánh đèn, hẵng xin nương mở cửa." Phượng Tiên đành phải đồng ý, cùng chàng đợi ngoài cửa. Nội thị đ.á.n.h xe thấy người đã đưa đến nơi, bèn dỡ hành lý của Phượng Tiên xuống, cáo từ rời đi. Phượng Tiên cùng Triệu Hoài Ngọc ngồi xuống bậc thềm đá trước cổng viện, vốn định trò chuyện vài câu với chàng, nhưng thấy Triệu Hoài Ngọc nói chuyện giọng cực nhỏ, hiểu là chàng sợ to tiếng đ.á.n.h thức mẹ, cũng mất hứng nói chuyện, hai người lặng lẽ ngồi cạnh nhau, chờ đợi mòn mỏi. Lần chờ đợi này kéo dài mấy canh giờ. Ban ngày mưa, ban đêm gió mát hiu hiu, Phượng Tiên mặc áo mùa hè, gần canh ba thấy khá lạnh, bèn gục đầu vào đầu gối, ôm chặt hai vai. Triệu Hoài Ngọc thấy vậy cởi áo khoác ngoài của mình định khoác cho Phượng Tiên, Phượng Tiên vội từ chối, thế nào cũng không chịu nhận, Triệu Hoài Ngọc đành ngượng ngập thu về, một lát sau nói: "Nhờ nàng đợi thêm chút nữa, có lẽ nương sắp tỉnh rồi." Phượng Tiên chưa ăn tối, lúc này vừa lạnh vừa buồn ngủ vừa đói, thỉnh thoảng quay đầu nhìn qua khe cửa vào trong viện, nhưng mãi không thấy nến sáng, bèn dè dặt đề nghị: "Hay là chúng ta đi tìm một quán ăn, ăn chút gì đó rồi quay lại đợi?" Triệu Hoài Ngọc nhìn hành lý của Phượng Tiên với vẻ khó xử, Phượng Tiên chợt nhận ra mang theo đống hòm xiểng tay nải này quả thực bất tiện, bèn chán nản không nói nữa. Triệu Hoài Ngọc vốn định tự mình đi một lát mua đồ ăn về, nhưng nghĩ lại, cảm thấy không thể để nàng một mình trơ trọi ở đây, bèn thôi không nhắc tới. Một lát sau tiếng trống canh vang lên, đã đến canh ba, Phượng Tiên chỉ thấy thềm đá lạnh buốt, ngồi đến toàn thân phát lạnh, khớp xương đau nhức, lưng mỏi eo đau, lại đói đến hoa mắt chóng mặt, suýt ngất xỉu, thoi thóp gục đầu lên gối, liên tưởng đến chuyện của nương mình, trong lòng càng thấy thê lương vô hạn. Đúng lúc này, chợt nghe phía trước truyền đến tiếng vó ngựa gõ lên nền đá xanh, từ xa đến gần, tiếng sau dồn dập hơn tiếng trước. Phượng Tiên thẳng lưng nhìn ra, chỉ thấy một đầu ngõ có người cưỡi ngựa đi tới, dần dần đến gần. Người này đầu đội khăn mềm, mặc áo dài cổ tròn tay bó, giày da đen viền thêu hoa văn mây như ý bằng chỉ vàng. Ánh mắt Phượng Tiên di chuyển lên mặt người đó, nhận ra hắn, kinh ngạc đứng dậy, nhất thời quên cả hành lễ, gọi thẳng: "Tam Đại vương!" Triệu Hạo bốn mắt nhìn nhau với nàng giây lát, rồi giơ lên một gói giấy dầu đưa cho nàng, nhàn nhạt nói: "Tranh thủ lúc còn nóng ăn đi." Phượng Tiên nhận lấy mở ra, thấy bên trong là hai cái bánh bao lớn nóng hổi. Chương 101 - Thề Không Làm Thiếp Dường như bị hơi nóng của bánh bao làm cho cay mắt, đôi mắt Phượng Tiên ươn ướt. Nàng ngẩng đầu nhìn Triệu Hạo trên lưng ngựa, hỏi: "Đại vương sao lại ở đây? Muộn thế này rồi mà chưa về cung?" Triệu Hạo lập tức tỏ vẻ lúng túng, không tự nhiên quay đầu nhìn về phía xa, mới đáp: "Ồ, ta ở phủ một vị tông thất bình phẩm thư họa, nhất thời quên để ý giờ giấc, không kịp về trước khi cổng cung đóng, nên nghĩ nhân cơ hội này dạo quanh trong thành một chút, cũng là tình cờ, gặp được nàng..." Có lẽ chính hắn cũng cảm thấy lý do này không thuyết phục lắm, càng nói mặt càng đỏ bừng đến tận mang tai. Phượng Tiên đoán được vài phần tâm tư của hắn, cũng không truy hỏi tại sao hắn lại nhớ mua đồ ăn cho mình, lặng lẽ nhìn cái bánh bao trong tay một lát, nàng đặt nó lên chiếc rương mình mang theo, rồi giơ tay lên trán, hành đại lễ với Triệu Hoài Ngọc. Triệu Hoài Ngọc giật mình, vội đưa hai tay đỡ, hỏi: "Cô nương sao lại thế này?" Phượng Tiên kiên quyết quỳ, nói với Triệu Hoài Ngọc: "Phượng Tiên có một chuyện muốn cầu xin, mong công t.ử thành toàn." Triệu Hoài Ngọc hỏi nàng cầu xin chuyện gì, Phượng Tiên nói: "Công t.ử là bậc tài năng trẻ tuổi tuấn tú, lẽ ra nên cưới một tiểu thư khuê các danh môn làm vợ. Gia phụ xuất thân thảo võ biền, Phượng Tiên từ nhỏ bị cha bỏ rơi, lớn lên ở chốn quê mùa, không có tài hoa học thức gì, không xứng làm thê thất của công tử. Nếu làm thiếp, công t.ử chưa thành hôn, sau này bàn chuyện cưới hỏi với hào môn vọng tộc, e rằng đối phương sẽ để ý sự tồn tại của nô tỳ. Cho nên, công t.ử có thể cho phép nô tỳ hồi cung, công t.ử hãy chọn người khác xứng đôi hơn?" Triệu Hoài Ngọc không nói nên lời, đứng lặng lẽ trong gió đêm hồi lâu, mới hỏi: "Nàng là không muốn gả cho ta phải không? Có phải đã có người trong lòng?" Phượng Tiên không đáp, nhưng khóe mắt vô tình hay cố ý liếc về phía Triệu Hạo. Triệu Hoài Ngọc thấy vậy cười buồn, nói: "Được, nàng theo Tam Đại vương về cung đi." Triệu Hạo nghe vậy lập tức xuống ngựa, đỡ Phượng Tiên dậy, nói với nàng: "Ta đưa nàng về." Phượng Tiên lại nhún mình hành lễ với Triệu Hoài Ngọc: "Đa tạ công tử... Sau này Quan gia có hỏi, công t.ử có thể nói là lệnh đường đã sớm có con dâu ưng ý, không muốn tiếp nhận Phượng Tiên, nên công t.ử mới để nô tỳ hồi cung được không?" Triệu Hoài Ngọc im lặng một chút, nhưng vẫn nói một chữ "Được". Phượng Tiên mừng rỡ, cảm tạ rối rít. Triệu Hạo giục nàng lên ngựa, rồi tự mình dắt ngựa định đưa nàng đi. Phượng Tiên quay đầu do dự nhìn đống hành lý, Triệu Hạo quay lại chỉ lấy gói bánh bao trên rương, đến đưa cho Phượng Tiên, nói: "Mấy thứ đó không quan trọng, lát nữa ta cho người đến lấy sau." Phượng Tiên ngồi trên lưng ngựa, c.ắ.n một miếng bánh bao ấm áp, lại nhìn Triệu Hạo đang dắt ngựa cho mình, nở nụ cười vui vẻ thật lòng hiếm thấy từ khi vào cung. Cái bánh bao đó chỉ là bánh bao thịt bình thường của quán ăn dân dã, nhưng lúc này Phượng Tiên ăn vào, lại cảm thấy chẳng khác gì cao lương mỹ vị nhân gian. Phượng Tiên dọc đường trò chuyện với Triệu Hạo, qua lời kể ấp úng che giấu của hắn mà suy đoán, dần dần đoán ra tám chín phần mười sự tình chuyến đi này của hắn: Từ sau lần gặp gỡ ở vườn Tụ Cảnh, Triệu Hạo liền rất để ý động tĩnh của Phượng Tiên, biết tin nàng bị trả về Thượng Thực cục liền bắt đầu tính toán làm sao xin nàng về các của mình, không ngờ nửa đường nhảy ra một Triệu Hoài Ngọc, lại khiến Quan gia ban Phượng Tiên cho hắn. Triệu Hạo nghe tin vừa giận vừa cuống, phi ngựa xuất cung một đường tìm đến đây. Trước đó nấp trong bóng tối quan sát tình hình Triệu Hoài Ngọc, phát hiện hắn thế mà để Phượng Tiên chịu đói chịu rét, mình bèn quay lại chợ đêm, mua bánh bao mang đến cho Phượng Tiên. Phượng Tiên nghĩ đến việc hắn chỉ mua hai cái cho mình, từ đầu đến cuối không hề có ý chia một cái cho Triệu Hoài Ngọc, không khỏi cảm thấy buồn cười, lại có hai phần cảm động, bèn nói: "Sau này Đại vương muốn ăn gì cứ nói với nô tỳ, nô tỳ làm xong sẽ đưa đến các của Đại vương." Triệu Hạo lặng lẽ dắt ngựa đi tiếp, hồi lâu mới đáp: "Không cần đâu. Nàng đến các của ta đi, ta bảo người làm cho nàng ăn." Phượng Tiên tự nhiên hiểu "đến các của ta" nghĩa là gì, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm, bỗng nhớ tới câu Liễu Tiệp dư nói với mình trước đó "Chàng chẳng nhớ ta, thiếu gì người khác"... Nhưng nàng nhanh chóng thu lại tinh thần, nghiêm túc nói: "Đại vương, ta không làm thiếp đâu." Triệu Hạo ngẩng đầu, có chút ngạc nhiên nhìn nàng. "Phượng Tiên đời này, chỉ đường đường chính chính gả cho người ta làm chính thất, thề không làm thiếp." Phượng Tiên thản nhiên nhìn thẳng vào hắn, bình tĩnh nhắc lại. Phượng Tiên trở về cung, lập tức gây ra cuộc bàn tán sôi nổi trong Lục Thượng, mọi người đều đoán già đoán non nguyên nhân nàng bị Triệu Hoài Ngọc trả về. Có người nói mẹ Triệu Hoài Ngọc ghét bỏ nàng, có người nói Triệu Hoài Ngọc sau một đêm ân ái với nàng thì không hài lòng, có người không bỏ qua chi tiết nàng được Triệu Hạo đưa về, thêu dệt nên một tin đồn sinh động rằng nàng vốn tư thông với Tam Đại vương, nói Triệu Hoài Ngọc phát hiện tư tình của nàng và Tam Đại vương, không muốn cưới một nữ t.ử thất tiết, nên mới không cho nàng vào cửa. Mà Phượng Tiên sáng sớm hôm sau liền cầu kiến Ngụy Cung chính, trước cửa Cung chính công khai cao giọng nói: "Xin Cung chính phái nữ quan nghiệm thân cho Phượng Tiên, nếu Phượng Tiên không còn là xử nữ, nguyện chịu mọi hình phạt, cho dù Quan gia ban c.h.ế.t, cũng không oán thán." Cung chính quả nhiên cho người kiểm tra, kết quả là Phượng Tiên vẫn giữ được tấm thân hoàn bích. Phượng Tiên đập tờ giấy ghi kết luận này lên trán kẻ bịa đặt tin đồn, lạnh lùng nói: "Trên này giấy trắng mực đen, ngươi nhìn cho kỹ. Tam Đại vương hôm đó từ phủ tông thất trở về, tình cờ gặp ta trên phố Ngự, Tam Đại vương lòng dạ nhân hậu, nên đưa ta về, trước đó chúng ta không hề có quan hệ gì. Sau này nếu ta còn nghe thấy tin đồn nhảm nhí nào, nhất định sẽ xin Cung chính nghiêm trị kẻ tung tin. Nếu phát hiện tin đồn vẫn là do ngươi bịa ra, không đợi Cung chính lên tiếng, ta sẽ đến xé nát miệng ngươi trước!" Thế là kẻ tung tin im hơi lặng tiếng, lời đồn đại nhanh chóng lắng xuống. Hoàng đế tuy thấy kỳ lạ không vui, nhưng Triệu Hoài Ngọc đã nói là nghe theo ý mẹ không nạp Phượng Tiên, nên cũng chỉ nhàn nhạt nói một câu "Khanh hiếu tâm đáng khen", không quản chuyện này nữa. Chân Chân sau đó lén hỏi Phượng Tiên, Triệu Hoài Ngọc người tốt tâm thiện, tiền đồ vô lượng, sao nàng không nắm bắt cơ hội này xuất cung làm phu nhân Triệu Hoài Ngọc, Phượng Tiên kể sơ qua tình cảnh chờ đợi mòn mỏi trước cửa nhà họ Triệu đêm đó, nói: "Hắn tốt thì tốt thật, nhưng không cùng một đường với ta. Hắn hiếu kính nương mình, tự nhiên là tốt, nhưng rõ ràng, hắn đặt nương mình lên trên tất cả, hắn có thể vì nương mà đ.á.n.h mất bản thân, ta so với nương hắn, càng là nhỏ bé không đáng kể, sau này nếu ta và nương hắn có tranh chấp gì, hắn chắc chắn không cần suy nghĩ sẽ bênh vực nương mình. Đây không phải người tướng công ta muốn." Chân Chân gật đầu tỏ vẻ đã hiểu: "Tỷ muốn tìm một người coi trọng tỷ nhất trong mọi việc." Phượng Tiên nói: "Đúng vậy, ta hy vọng chàng để ý ta hơn tất cả mọi thứ. Cho dù ta gây ra sóng gió ngập trời, chàng cũng sẽ không oán không hối kéo ta nấp sau lưng chàng, che chắn mọi va chạm cho ta." Mặc dù Triệu Hạo rất muốn Phượng Tiên đến các của mình, nhưng bị Phượng Tiên thẳng thừng từ chối, mà qua chuyện Triệu Hoài Ngọc, các nương t.ử trong hậu cung đều nhận ra Phượng Tiên là một nhân vật lợi hại, cũng chẳng mấy ai muốn để nàng bên cạnh mình, thế là Phượng Tiên tạm thời đành tiếp tục ở lại Thượng Thực cục làm việc vặt. Một hôm, Tôn Tư thiện của cung Từ Phúc đến Thượng Thực cục giảng bài cho các tiểu nội nhân, lần này bà ta dẫn theo đệ t.ử đắc ý của mình là Trần Khả Nghiên đi cùng, trước mặt mọi người hết lời khen ngợi Trần Khả Nghiên: "Khả Nghiên ngộ tính cực cao, bất kể món gì, ta dạy một lần là biết, còn có thể suy một ra ba, học một món làm được mấy món cùng loại... Làm việc ở Bắc Đại nội, lúc nào cũng nghĩ cho long thể Thái hậu, món ăn làm ra không những sắc hương vị đầy đủ, còn rất bổ dưỡng, thích hợp nhất cho Thái hậu dùng. Người lại cẩn thận tỉ mỉ, nấu nướng xong, tất cả dụng cụ đều rửa sạch sẽ kịp thời, đâu vào đấy, không loạn chút nào, chưa từng phạm lỗi. Đáng quý nhất là, nó sắp xếp đồ đạc, không chỉ lo cho mình, nếu thấy người khác chưa dọn dẹp xong, sẽ lặng lẽ giúp người ta thu dọn, cũng không cầu người ta báo đáp..." Sau đó Tôn Tư thiện bảo Trần Khả Nghiên làm một món "Thập Viễn Canh" sở trường của cô ta để làm mẫu. Món canh này cần mười loại nguyên liệu: mộc nhĩ đá, tóc đá, dây đá, rong biển tím, rau gạc hươu,nấm thiên hoa, cá nhám, bong bóng cá mập trắng,bào ngư và tôm khô. Lại lấy gà, dê, chim cút, hầm thành nước dùng trước, rồi cho các nguyên liệu kia vào hầm. Trần Khả Nghiên kiểm tra nguyên liệu trong bếp lớn Thượng Thực cục, phát hiện thiếu một vị bong bóng cá mập trắng, Bùi Thượng thực bèn nói: "Trong bếp nhỏ của ta có một ít, để trong tủ, ngươi tự đi lấy đi." Lo Trần Khả Nghiên không quen chỗ để đồ trong bếp nhỏ, Bùi Thượng thực lại sai Phượng Tiên dẫn cô ta đi. Trần Khả Nghiên vừa bước vào bếp nhỏ, vẻ khiêm tốn lúc đầu liền biến mất tăm, cũng không đợi Phượng Tiên chỉ dẫn, tự mình mở tủ, lục lọi bên trong. Phượng Tiên bước tới nói mình có thể giúp, Trần Khả Nghiên kiêu ngạo từ chối, khăng khăng tự mình tìm kiếm. Bong bóng cá mập trắng là bong bóng cá mập khô, Bùi Thượng thực đựng trong một cái hũ sứ, để cùng chỗ với các loại hải sản khô khác. Trần Khả Nghiên mở từng nắp hũ ra tìm, phát hiện ở hàng trong cùng sát tường, bèn vui vẻ với tay lấy hũ sứ đó, không ngờ tay nhanh quá, chạm đổ hàng hũ sứ phía trước, một cái trong đó lập tức rơi xuống, vỡ tan tành trên mặt đất, hải sản bên trong văng tung tóe. Tôn Tư thiện bên ngoài nghe thấy tiếng vỡ giòn tan, lập tức xông vào bếp nhỏ, vừa thấy hũ sứ vỡ nát, mặt mày xám ngoét, nghiêm giọng hỏi hai người: "Ai làm vỡ?" Phượng Tiên bất động thanh sắc, còn Trần Khả Nghiên đã sợ đến mặt cắt không còn giọt máu, môi run rẩy lắp bắp nói: "Thần, thần không cố ý..." Bùi Thượng thực và các nội nhân khác theo sau bước vào, họ không nghe thấy câu nói vừa rồi của Trần Khả Nghiên, ánh mắt đảo qua mặt cô ta và Phượng Tiên, đều đang đoán xem là ai đập vỡ. Tôn Tư thiện bỗng rảo bước đi về phía Phượng Tiên, giáng cho nàng một cái tát trời giáng, quát: "Ta thấy ngươi tuổi cũng không nhỏ, sao làm việc còn tay chân vụng về thế, còn không bằng tiểu nội nhân mười tuổi!" Phượng Tiên sững sờ, lập tức nhận ra bà ta đang ép mình gánh tội thay cho đệ tử, ban đầu không khỏi tức giận, nhưng rất nhanh bình tĩnh lại, dứt khoát quỳ thẳng xuống, cúi đầu nói: "Là Phượng Tiên nhất thời sơ ý, lỡ tay chạm đổ hũ sứ làm vỡ. Phượng Tiên biết lỗi, nguyện chịu sự trừng phạt của Thượng thực." Lời này vừa thốt ra, Tôn Tư thiện và Trần Khả Nghiên nhìn nhau, đều vô cùng kinh ngạc. Tôn Tư thiện vốn đã chuẩn bị sẵn đầy bụng lời lẽ mắng Phượng Tiên "chối bay chối biến ngụy biện", nay lại chẳng cần nói ra nữa. Bùi Thượng thực lạnh lùng nhìn Phượng Tiên, nói: "Dọn dẹp sạch sẽ bếp nhỏ trước đã. Hôm nay sân Thượng Thực cục do ngươi quét, quét xong úp mặt vào tường hối lỗi hai canh giờ, bữa tối khỏi ăn." Phượng Tiên cúi đầu lĩnh mệnh, không quên tạ ơn Bùi Thượng thực đã phạt nhẹ. Khi Phượng Tiên quét xong sân thì mọi người trong Thượng Thực cục đã giải tán từ lâu, nàng cất chổi vào chỗ cũ, lau mồ hôi trên trán, đang định đi rửa tay, quay người lại bỗng thấy Tôn Tư thiện đang đi về phía mình. Phượng Tiên vội hành lễ với Tôn Tư thiện. Tôn Tư thiện đi đến trước mặt nàng, lạnh lùng hỏi: "Tại sao ngươi chịu nhận lỗi?" Phượng Tiên cúi mắt nói: "Cái hũ đó là do Phượng Tiên làm vỡ, tự nhiên phải thừa nhận." Tôn Tư thiện nheo mắt quan sát kỹ Phượng Tiên, cảm thấy lời đồn không sai, cô nương này quả nhiên khác thường. Mình vừa khen ngợi Trần Khả Nghiên trước mặt mọi người, mà cô ta lại lập tức đập vỡ hũ của Thượng thực, nếu vì thế mà công khai trừng phạt Trần Khả Nghiên, chẳng khác nào tự tát vào mặt mình trước đám đông, cho nên bà ta bắt buộc phải lôi Phượng Tiên ra chịu tội thay. Phượng Tiên cũng ngầm hiểu ý, không những cam tâm tình nguyện phối hợp, khi không có người ngoài cũng tiếp tục thừa nhận đó là lỗi của mình, lại không tranh công không xin thưởng, đủ thấy là một người cực kỳ thông minh. "Ngươi cần gì? Ta thưởng cho ngươi." Tôn Tư thiện nói. Phượng Tiên nghiêng mình đáp: "Phượng Tiên không thiếu gì cả, chỉ là ngưỡng mộ Tư thiện đã lâu, nếu có cơ hội làm việc dưới trướng Tư thiện, thì nguyện vọng đã đủ rồi." Tôn Tư thiện cau mày: "Ngươi muốn đến hầu hạ Thái hậu?" Phượng Tiên khẽ nói: "Nô tỳ muốn làm việc cho Tư thiện. Nô tỳ tuy không thông minh, nhưng nguyện ý dốc lòng dốc sức làm trợ thủ cho Tư thiện, có lòng tin làm tốt hơn Trần Khả Nghiên." Tôn Tư thiện trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng đồng ý: "Vậy ngươi cứ đến thử xem, nếu làm không tốt, ta cũng sẽ trả ngươi về Nam Đại nội bất cứ lúc nào." Chương 102 - Điện Hạ Như Rượu Sau khi Chân Chân đến Đông cung, Bùi Thượng thực chọn Phùng Tịnh thay thế Chân Chân làm trợ thủ cho mình quản lý việc nếm thử ngự thiện. Bữa ăn của Đông cung vẫn do Tần Tư thiện chủ trì, thực đơn của Thái t.ử do bà định ra, món ăn dâng lên Thái t.ử chỉ cần bà có mặt sẽ do bà nếm trước. Nhưng hiện nay bà là ứng cử viên Thượng thực tiếp theo được Quan gia và Bùi Thượng thực ngầm định, thường xuyên phải về Thượng Thực cục hỗ trợ công việc trong cục, nên bà rất coi trọng việc bồi dưỡng Chân Chân, để nàng đảm nhận việc nếm thử ăn uống cho Thái t.ử khi mình không có ở Đông cung, đồng thời liệt kê một cuốn sổ dày những điều kiêng kỵ trong ăn uống giao cho Chân Chân, dặn dò rằng tỳ vị Thái t.ử yếu, ăn uống hơi không cẩn thận là sẽ nôn mửa, tiêu chảy, khó tiêu, nhất định phải cẩn thận mọi bề. Chân Chân thấy cuốn sổ đó ghi chép cực kỳ chi tiết, ví dụ như hải sản thủy sản không được ăn cùng lựu, nho, hồng... thịt thỏ không được ăn cùng cần tây, thịt ngỗng không được ăn cùng lê, chim cút không được ăn cùng nấm, mộc nhĩ, trước sau khi uống rượu không được ăn hồng, cá chép không được nấu chung với các loại đậu... Ngoài ra còn chú thích rõ dâng thức ăn sống lạnh nhiều dầu mỡ cho Thái t.ử phải đặc biệt thận trọng, càng không được dâng đồ nướng hun khói, bề ngoài cháy sém. Chân Chân quan sát bữa ăn Tần Tư thiện sắp xếp cho Thái tử, thấy cơ bản đều là đồ hấp luộc hầm, món chiên xào bằng dầu rất ít, hơn nữa gia vị thanh đạm, nguyên liệu và cách chế biến lành mạnh không chê vào đâu được, chỉ là... giống như đồ ăn cho trẻ lên ba vậy. Chân Chân thầm đoán, Thái t.ử ngày ngày ăn những món thế này, không béo ngậy không k*ch th*ch, liệu có cảm thấy cuộc đời vô vị không? Một ngày nọ, Triệu Ngai đi săn về ghé Đông cung, muốn tặng một con hoẵng cho huynh trưởng, nói: "Thịt hoẵng bây giờ rất mềm, ngon hơn thịt dê, thích hợp nướng nhất." Mắt Thái t.ử sáng lên, rõ ràng có ý muốn thử, Tần Tư thiện lại lập tức ngăn cản: "Điện hạ không thể ăn đồ nướng, nhất là đồ rừng, hại tỳ vị. Con hoẵng này xin mời Nhị Đại vương mang về đi ạ." Triệu Ngai cười nói: "Đã mang đến rồi, làm gì có lý mang về. Đã Đại ca không ăn được, ta tặng cho Ngô Điển thiện vậy." Nói xong không cho từ chối đưa con hoẵng cho Chân Chân. Chân Chân ngạc nhiên đón lấy, nhìn Tần Tư thiện dò hỏi, Tần Tư thiện có lẽ thấy không thể năm lần bảy lượt phật ý Nhị Đại vương, im lặng không phản đối nữa, Chân Chân lại liếc nhìn Thái tử, thấy chàng mỉm cười gật đầu, bèn nhận lấy. Triệu Ngai đi rồi, Tần Tư thiện cũng đến Thượng Thực cục bàn việc với Bùi Thượng thực, Chân Chân nhân lúc xung quanh không có ai, khẽ nói với Thái tử: "Điện hạ có phải muốn nếm thử thịt hoẵng không? Tần Tư thiện nhất thời nửa khắc chưa về ngay đâu, hay là bây giờ nô tỳ đi nướng rồi mang lên cho Điện hạ?" "Được thì được, nhưng nếu nàng nướng ở bếp Đông cung, ở đó đông người, chắc chắn sẽ có người báo với Tần Tư thiện." Thái t.ử nghĩ ngợi, đề nghị, "Hay là nàng mang về chỗ ở của nàng, tối nướng trong sân, lát nữa ta đến tìm nàng, chúng ta cùng thưởng thức?" Chân Chân thấy lời Thái t.ử có lý, bếp Đông cung quả thực người đông miệng tạp, nếu nướng ở đó rồi mang cho Thái t.ử Tần Tư thiện nhất định sẽ biết, bèn gật đầu chấp nhận đề nghị của Thái tử. Thái t.ử lập tức nâng chén trà trước mặt lên, giấu nụ cười đang lan tỏa vào động tác uống trà. Đêm đến Chân Chân dùng muối, rượu, gia vị tẩm ướp thịt hoẵng đã thái miếng, sau đó thái mỡ dê bọc thịt hoẵng lại, xiên từng miếng vào que sắt, dựng bếp nướng trong sân. Một lát sau nghe có tiếng gõ cửa nhẹ, Chân Chân rảo bước ra mở cửa, thấy người đến quả nhiên là Thái tử. Chàng bước chân nhẹ nhàng đi vào, tay xách một bình rượu ngự Tường Vi Lộ, sau lưng không mang theo bất kỳ tùy tùng nào. Hai nội nhân hầu hạ Chân Chân giật mình, vội hành lễ với Thái tử, rồi nhìn nhau một cái, ăn ý lui ra xa tránh đi chỗ khác, không dám làm phiền họ. Chân Chân mời Thái t.ử ngồi xuống bàn trong sảnh hoa, mình lại chạy ra nướng thịt hoẵng khí thế ngất trời, lát sau nướng xong, bèn dùng đĩa đựng mang lên bàn Thái tử, lại lấy chén ra rót rượu, dùng đũa gạt bỏ phần mỡ dê nướng cháy, đưa phần thịt hoẵng sạch sẽ cho Thái tử. Thịt hoẵng được mỡ dê bao bọc, nên hoàn toàn không có dấu vết cháy sém, cực kỳ mềm, mà mỡ dê nướng chảy thấm vào thớ thịt hoẵng, càng thêm vài phần béo ngậy, một miếng vào miệng nhai, hương thịt mang chút vị khói nồng nàn tràn ra, như cơn bão trong nháy mắt chiếm lĩnh vị giác, nhấm nháp kỹ, hương thơm của nghệ tây và thì là Ba Tư dần dần từng sợi từng sợi dâng lên, quấn quýt trong khoang miệng, át đi mùi tanh của đồ rừng, lại hoàn hảo cùng hương thịt nhảy múa, làm phong phú thêm hương vị miếng thịt lớn này. Thái t.ử khen tay nghề Chân Chân, lại kéo nàng ngồi bên cạnh mình, bắt nàng cùng ăn. Thế là hai người nhắm với rượu Tường Vi Lộ mỗi người ăn hai xiên, thỉnh thoảng cười nói vài câu chuyện phiếm, đều cảm thấy không khí lúc này khác hẳn lúc Thái t.ử ngồi nghiêm chỉnh ăn trước mặt Tần Tư thiện, vô cùng thoải mái vui vẻ. "Thịt nướng thế này rất thơm, lại không bị cháy, là ai dạy nàng vậy?" Thái t.ử bỗng hỏi Chân Chân. Chân Chân sững sờ, nhưng vẫn trả lời: "Là Tuyên Nghĩa lang. Nô tỳ từng theo ngài ấy học trù nghệ ở núi Vũ Di, ngài ấy bản thân không thích đồ nướng hun khói, nô tỳ ăn đồ thanh đạm nhiều quá, bèn lén lút nướng sau lưng ngài ấy. Sau này ngài ấy phát hiện, bèn dạy nô tỳ cách này, nói như vậy thịt sẽ không bị cháy, tốt cho sức khỏe hơn." Thái t.ử nghe xong thản nhiên "ồ" một tiếng, rồi im lặng hồi lâu, cũng không ăn thịt hoẵng nữa. Chân Chân có chút thấp thỏm, dò hỏi Thái tử: "Điện hạ, nô tỳ nói sai gì sao?" Thái t.ử đưa tay nhẹ nhàng vén tóc mai bên thái dương nàng ra sau tai, dịu dàng nhìn nàng, cười khẽ: "Cô bé ngốc, tuy ta hỏi như vậy, nhưng nàng hoàn toàn không cần trả lời thật thà thế... Ta không vui khi nghe nàng nhắc đến hắn." Cho nên chàng đang... ghen? Chân Chân bị ý nghĩ này làm cho giật mình, cúi đầu không dám nhìn chàng, lát sau khẽ nói: "Điện hạ xưa nay khoan dung độ lượng, cũng sẽ vì chuyện này mà không vui sao?" "Đúng vậy, ta không vui." Thái t.ử thẳng thắn đáp, "Lúc trước thấy hắn không hỏi nàng đã cho người rót rượu Mi Tư Đạt Hoa cho nàng ta đã không vui rồi." Chân Chân vô cùng ngạc nhiên, buột miệng hỏi: "Đã như vậy, hôm đó tại sao ngài còn để nô tỳ và ngài ấy ở riêng? Nếu là Nhị Đại vương, nhất định sẽ ở lại phòng trà hoặc kéo huynh ấy cùng ra ngoài." "Trẻ con mới làm thế." Thái t.ử đẩy chén rượu trước mặt ra, cúi người gối đầu lên cánh tay, nghiêng đầu nhìn nàng, nụ cười điềm đạm trông lại có vẻ như mang hai phần cảm thương, "Ta chỉ cần nàng nhớ kỹ cái tốt của ta." Chân Chân nhớ lại lúc dự tiệc Văn Hỷ, chàng ngồi ngay ngắn trên điện đường, nghi thái trang trọng, dung chỉ đoan nhã, như người trời, còn chàng trước mắt, lại như một chú nai con ngoan ngoãn nằm trước mặt mình, đôi mắt hoa đào lặng lẽ nhướng lên nhìn nàng ưu tư hoảng hốt, lại ẩn chứa ý cười, trong vắt như nước, lại sáng như sao trời. Chân Chân bỗng cảm thấy sự nguy hiểm của chàng. Lâm Hoằng giống như một chén trà xanh, từ trong ra ngoài đều tỏa ra hương cỏ cây, còn Thái t.ử thì giống như rượu mơ mẹ ủ nàng lén uống hồi nhỏ, ngọt ngào thanh thơm, từng giọt đều thể hiện sự ôn lương vô hại, dụ nàng uống từng ngụm từng ngụm, bất tri bất giác uống nhiều rồi, mới biết rượu này không phải nước trái cây, sẽ khiến người ta mặt đỏ tim đập, say sưa như đứng trên cầu mây lơ lửng. Thái t.ử vẫn đang gối đầu lên cánh tay vô tội nhìn nàng. Chân Chân thở dài, không kìm được đưa tay chạm vào khuôn mặt như ngọc tạc của chàng, nói: "Nhưng mà, Điện hạ, bây giờ ngài đang cố ý tỏ ra trẻ con, để khiến người ta thương xót sao?" "Cũng không hẳn..." Thái t.ử ôm ngực, cau mày nói, "Chân Chân, ta đau dạ dày." Chân Chân giật mình, nhanh chóng lục tìm trong trí nhớ cuốn sổ kiêng kỵ ăn uống của Tần Tư thiện, suy nghĩ xem thịt hoẵng có phải không được ăn cùng rượu hay không. Thấy Thái t.ử đau đớn như vậy, lập tức cảm thấy không thể chậm trễ, bật dậy nói: "Nô tỳ đi mời thái y." "Thôi." Thái t.ử kéo tay nàng lại, ấn nàng ngồi xuống, rồi đứng dậy, mỉm cười nói, "Ta không sao, về nghỉ ngơi chút là khỏi. Nàng bảo hai nội nhân kia đừng nói cho người khác biết ta từng đến đây." Chàng cáo từ rời đi, trước khi đi để lại một tiếng thở dài mang theo ý cười: "Đúng là một cô bé ngốc mà..." Mặc dù Chân Chân dặn đi dặn lại, nhưng đoán chừng hai nội nhân kia vẫn để lộ phong thanh. Gần đây Thái t.ử phi thấy Thái t.ử chăm lo chính sự, quá mức vất vả, bèn tìm mấy ca vũ kỹ của Tiên Thiều bộ đến Đông cung, hàng ngày dâng ca múa trợ hứng lúc Thái t.ử dùng bữa, đại khái cũng có ý tuyển thiếp cho Thái tử, trong đó có cả Hương Lê Nhi. Ca múa Thái t.ử xem một cách lơ đãng, cũng không trò chuyện với các ca vũ kỹ, Hương Lê Nhi vui vẻ nhàn rỗi, buổi chiều rảnh rỗi liền đến tìm Chân Chân tán gẫu, vừa mở miệng đã hỏi nàng: "Nghe nói Thái t.ử mấy hôm trước đến chỗ cô ban đêm?" Chân Chân thầm than tin tức lan truyền nhanh thật, nhưng thấy Hương Lê Nhi là bạn bè cực thân thiết của mình, bèn nói thật với cô ấy, thanh minh Thái t.ử chỉ đến ăn thịt hoẵng, không ở lại qua đêm. Hương Lê Nhi nghe xong ngạc nhiên nói: "Ngài ấy bảo đau dạ dày cô liền nói đi mời thái y?" "Đúng vậy," Chân Chân hỏi ngược lại, "Có gì không ổn sao?" Hương Lê Nhi day trán: "Tỷ tỷ, tỷ mười chín tuổi rồi, nên hiểu chút chuyện đi chứ... Cách ứng phó đúng đắn của việc này là thế này: Thái t.ử nói đau dạ dày, tỷ liền hỏi: 'Đau chỗ nào? Nô tỳ xoa bóp cho Điện hạ nhé.' Ra tay xoa mấy cái, Thái t.ử đại khái sẽ tỏ vẻ bớt đau rồi, nhưng vẫn chưa hết hẳn, có khi còn bồi thêm một câu: 'Có lẽ đêm lạnh quá, rượu lạnh quá.' Nếu không bồi, câu này nên do tỷ nói. Sau đó tỷ đề nghị Thái t.ử vào phòng ấm áp của tỷ nằm nghỉ ngơi một chút... Chuyện sau đó thì thuận lý thành chương rồi." Chân Chân nghe mà đỏ mặt, nói: "Thái t.ử là chính nhân quân tử, đến chỗ ta sẽ không mang mục đích đó đâu." Hương Lê Nhi lắc đầu, ghé sát lại thì thầm: "Muội nói cho tỷ biết, một nam nhân ban đêm đến chỗ ở của một nữ nhân, bất luận thân phận cao thấp sang hèn, bất luận miệng hắn nói lý do gì, mục đích cuối cùng đều là muốn ngủ lại." "Đi đi!" Chân Chân ngượng ngùng mắng, "Muội tuổi còn trẻ, còn nhỏ hơn ta hai tuổi, mà học đâu ra lắm đạo lý méo mó thế?" Hương Lê Nhi cười nói: "Muội ở Tiên Thiều bộ, ngày nào chẳng nghe người ta nói chuyện nam nữ. Chưa ăn thịt heo, chẳng lẽ chưa thấy heo chạy bao giờ sao?" Lâm Hoằng sau khúc yến ở vườn Tụ Cảnh liền muốn từ quan về núi Vũ Di, Thái t.ử kịp thời khuyên ngăn chàng, nhắc chàng trước đó đã nhận lời chủ trì công trình dẫn nước suối vào Đông cung. Lâm Hoằng cũng thấy đã hứa thì không tiện thất tín với người ta, bèn đồng ý ở lại hoàn thành việc này. Một ngày nọ Lâm Hoằng đến Đông cung khảo sát địa hình, Thái t.ử đích thân ra cửa đón, vừa gặp đã chủ động vái dài, thể hiện đầy đủ phong thái chiêu hiền đãi sĩ. Lâm Hoằng cũng lập tức hành lễ, hai người ung dung nhường nhịn, vô cùng khách sáo. Xong việc Thái t.ử mời chàng đến Chiêm Lục Đường uống trà, sai Chân Chân lấy ra một bánh trà Tiểu Long Đoàn mới tiến cống từ Phúc Kiến, đề nghị Lâm Hoằng đấu trà với mình. Lâm Hoằng thấy chàng hứng thú cao, đành phải nhận lời. Chân Chân lấy hai cái bát Kiến Diêu,dâng trà cụ, nghiền bột trà cho họ, Thái t.ử và Lâm Hoằng mỗi người cầm chổi khuấy trà, lần lượt rót nước đ.á.n.h trà. Chuyện vườn Tụ Cảnh đã qua hơn nửa tháng, nhưng Chân Chân gặp lại Lâm Hoằng lòng vẫn đau như kim châm, liếc vội một cái, chỉ thấy chàng tiều tụy đi nhiều, cũng không dám nghĩ sâu thêm, lúc họ đấu trà nàng cúi đầu đứng sau lưng Thái tử, cố tình không nhìn Lâm Hoằng. Lâm Hoằng cũng luôn rũ mi mắt nhìn nước trà, tránh nhìn nhau với Chân Chân. Sau một hồi đ.á.n.h trà, trong bát trà của hai người đều nổi lên lớp bọt trắng sữa, bám chặt vào thành bát, trắng như tuyết. Hai người đặt chổi trà xuống, ngồi ngay ngắn chờ đợi. Một lát sau bọt trà trong bát Lâm Hoằng tan nhanh hơn một chút, lộ ra ngấn nước, Lâm Hoằng bèn vái Thái t.ử một cái, nhận thua: "Điện hạ kỹ nghệ siêu quần, thần tâm phục khẩu phục." "Tiên sinh kỹ nghệ nào có kém ta," Thái t.ử mỉm cười nói, "Chẳng qua hôm nay tâm không tịnh bằng ta mà thôi." Nói xong Thái t.ử mời Lâm Hoằng uống trà, mình cũng cầm bát trà lên, định nếm thử, không ngờ Chân Chân bỗng đi tới, giật lấy bát trà từ tay chàng. "Tần Tư thiện đã nói, trà điểm quá đặc, tính quá hàn, không thích hợp cho Điện hạ uống." Chân Chân nói, "Điểm chơi thì không sao, uống thì không cần thiết." Thái t.ử hơi nghiêng đầu về phía nàng, cười nhẹ thương lượng: "Ta chỉ uống nửa bát thôi." Chân Chân lắc đầu: "Nửa bát cũng không được." "Vậy ta uống một ngụm thôi, nếm thử mùi vị là được." Thái t.ử tiếp tục nhỏ nhẹ nài nỉ. "Không được." Chân Chân dứt khoát từ chối, "Lần trước Điện hạ cũng nói thế, kết quả cầm lấy là uống cạn." Sau đó không nghe chàng biện giải nữa, bưng bát trà quay người đi ra cửa, ngay cả hành lễ cáo lui cũng quên mất. Thái t.ử cười lắc đầu, thu hồi ánh mắt dõi theo Chân Chân, tỏ vẻ áy náy với Lâm Hoằng đang lặng lẽ đứng xem: "Trị gia vô phương, để tiên sinh chê cười rồi." Chương 103 - Lá Cây Xanh Tốt (Kỳ Diệp Trăn Trăn) Nghe câu này của Thái tử, Lâm Hoằng không hề lộ vẻ giận dữ, chỉ buồn bã lặp lại một tiếng: "Nhà..." Khóe môi định nhếch lên, nhưng rốt cuộc không cười nổi. Trầm ngâm giây lát, chàng ngước mắt nhìn Thái tử, nhưng ánh mắt dường như xuyên qua chàng nhìn thấy Chân Chân, vô cùng dịu dàng: "Đào chi yêu yêu, kỳ diệp trăn trăn. Chi t.ử vu quy, nghi kỳ gia nhân... (Cây đào tơ tươi tốt, lá mọc sum suê. Cô gái về nhà chồng, làm đẹp lòng người nhà chồng/tốt cho gia đình chồng). Bài thơ này rất hợp với Chân Chân. Cô ấy nếu thích ai, sẽ dùng tấm lòng son sắt để đối đãi, cho cô ấy một chút thiện ý, cô ấy đều sẽ đáp lại bằng nụ cười rạng rỡ. Có cô ấy ở bên, mỗi ngày giá lạnh dường như đều biến thành mùa xuân." Thái t.ử cảm nhận được tình ý trong đó, bất động thanh sắc hỏi: "Ngươi vẫn còn thích cô ấy?" "Ta thấy may mắn vì đã gặp được cô ấy." Lâm Hoằng nói. Giữa hai người có một khoảng im lặng ngắn ngủi, sau đó Lâm Hoằng tiếp tục nói: "Cô ấy bề ngoài hoạt bát, phô trương, hấp tấp, thực ra nhạy cảm, đa sầu đa cảm, trong lòng buồn cũng không nói. Ta và cô ấy kiếp này duyên mỏng, đi đi lại lại, rốt cuộc vẫn là phụ cô ấy quá nhiều. Mà ta chưa bao giờ nghi ngờ, bất kể cô ấy gả cho ai, đều sẽ toàn tâm toàn ý yêu phu quân, làm một người vợ hiền. Nếu người đó là Điện hạ, hy vọng Điện hạ có thể dùng sự trân trọng và yêu thương dành cho người nhà, để xoa dịu nỗi bất an và tủi thân của cô ấy." Nói xong chàng đứng dậy vái dài Thái tử, không đợi Thái t.ử phản hồi liền quay người rời khỏi nơi này. Bánh trà Tiểu Long Đoàn đó vô cùng hiếm, quý hơn vàng, Chân Chân bản thân không nỡ uống, quyết định bưng đi mời Thái t.ử phi. Vào đến các của Thái t.ử phi, nghe nói là trà do Thái t.ử điểm, Thái t.ử phi rất vui vẻ nhận lấy, lại bảo nàng ngồi xuống, ôn tồn nói với nàng: "Ta đang định tìm muội đây." Lập tức quay đầu ra hiệu cho Mạnh Vân Tụ phía sau, Mạnh Vân Tụ bèn lấy ra một cuộn văn thư cho Chân Chân xem. Chân Chân ngạc nhiên hỏi: "Đây là gì ạ?" Thái t.ử phi nói: "Nghe nói Thái t.ử mấy hôm trước đã đến viện của muội... Ta trước đó đã hứa sẽ cho muội danh phận, tự nhiên sẽ không nuốt lời, chuẩn bị dâng biểu lên Quan gia, xin ngài phong muội làm Quận phu nhân. Đây là biểu chương ta nhờ Vân Tụ thay ta soạn thảo, muội xem thử, lời lẽ đã thỏa đáng chưa?" Chân Chân mở ra xem lướt qua, chỉ thấy biểu chương từ ngữ hoa mỹ, có rất nhiều lời khen ngợi quá mức, nói phẩm tính nàng "nhu gia duy tắc, thục thận kỳ thân" (dịu dàng tốt đẹp làm phép tắc, hiền thục cẩn trọng giữ mình), lại khen nàng hầu hạ Thái t.ử tận tâm tận lực, "khắc cần bất đãi, bỉnh tâm túc cung" (cần cù không lười biếng, giữ lòng cung kính), sau đó đưa ra yêu cầu phong nàng làm Quận phu nhân, nạp làm trắc thất của Thái tử. Chân Chân gấp biểu chương lại trả cho Mạnh Vân Tụ, mỉm cười nói: "Lời văn thật đẹp, muội nghe còn ít nghe thấy, khó cho tỷ tỷ viết ra được. Chỉ là, muội đâu có tốt như thế, e là không xứng với lời khen quá lời này." Mạnh Vân Tụ dáng người cao gầy thanh tú, khí chất cao nhã, nhưng đặc biệt gầy gò, đứng sau lưng Thái t.ử phi như cành liễu trong sương khói. Từ sau khi được cứu khỏi treo cổ giọng nàng luôn khàn, giờ càng ít nói, nghe Chân Chân nói chỉ lễ phép cười nhẹ, không đáp lời. Chân Chân lại đứng dậy thi lễ với Thái t.ử phi, nói: "Nô tỳ tạ ơn ý tốt của Thái t.ử phi, nhưng tối đó Thái t.ử đến chỗ nô tỳ, chỉ ngồi nói chuyện với nô tỳ, ăn chút điểm tâm, rất nhanh đã về, không hề lưu lại qua đêm. Thái t.ử và nô tỳ đều cho rằng nô tỳ hiện tại vẫn nên làm Điển thiện thì hơn, chưa đến lúc có thể làm trắc thất." "Đó chẳng phải chuyện sớm muộn sao." Thái t.ử phi nói, "Ta dâng biểu trước cũng không sao, quay về định ngày tốt, chúng ta lại làm lễ ra mắt." Chân Chân vẫn không muốn nhận: "Việc này không vội, hay là xem ý của Thái t.ử điện hạ trước đã, ngài ấy thấy thích hợp, dâng biểu cũng chưa muộn." Thái t.ử phi nghĩ ngợi, nói: "Như vậy cũng được, biểu chương ta giữ trước, đợi thời cơ thích hợp, sẽ dâng lên Quan gia." Sau đó lại nhìn Mạnh Vân Tụ, nói với Chân Chân, "Biểu chương này cũng là tấm lòng của Vân Tụ đối với muội. Cô ấy sắp rời Đông cung, trước khi đi cân nhắc từng câu từng chữ viết cho muội bài văn này, nói là muốn cảm ơn muội đã xử lý chuyện năm ngoái giúp cô ấy." Chân Chân khá bất ngờ: "Mạnh tỷ tỷ sao lại muốn đi? Đi đâu?" Thái t.ử phi thở dài: "Cô ấy nói không muốn ở lại đây nữa, ta bèn định xin cha mẹ sắp xếp cho cô ấy một mối hôn sự, nhưng cô ấy kiên quyết từ chối, nói đã không còn ý định kết hôn, nguyện xuất gia làm ni cô, bầu bạn với thanh đăng cổ phật. Nhà ta có xây một am đường trên núi Phượng Hoàng, sẽ đón cô ấy đến đó." Chân Chân lắc đầu, nói với Mạnh Vân Tụ: "Tỷ tỷ một thân tài hoa, nếu quãng đời còn lại chôn vùi trong am đường, không được thi thố, thật là đáng tiếc." Mạnh Vân Tụ buồn bã nói: "Dưỡng mẫu cho ta đọc sách từ nhỏ, chăm chỉ học thi từ ca phú, vốn là muốn chọn cho ta một sĩ đại phu làm chồng, có chút học thức, mới có thể tương phu giáo t.ử (giúp chồng dạy con). Nhưng tạo hóa trêu ngươi, cũng từng bỏ lỡ lương duyên, nay luân lạc đến nông nỗi này, ta cũng tuyệt vọng với ý định làm vợ người ta, chỉ muốn tìm một chốn thanh tịnh, kết thúc tàn sinh." "Tỷ tỷ đọc nhiều sách như thế, chỉ là để tương phu giáo t.ử sao?" Chân Chân chân thành khuyên, "Nữ t.ử nếu có học thức, hoặc nắm giữ một nghề, hoàn toàn có thể không dựa vào đàn ông mà sống. Muội chăm chỉ học trù nghệ, có một ý nghĩ là tương lai nếu xuất cung, cũng có thể dựa vào trù nghệ mà sống, mở quán cũng được, dạy học cũng được, chưa chắc phải dựa vào phu quân. Tỷ tỷ nếu không muốn kết hôn, chi bằng đặt tâm trí vào những việc mình giỏi." "Việc mình giỏi..." Mạnh Vân Tụ đăm chiêu. Chân Chân gật đầu, lại nói: "Muội nghe nói chức Tư tịch (quản lý sách vở) dưới quyền Thượng nghi đang khuyết, Thượng Nghi cục quản lý việc dạy lễ nghi trong hậu cung, Tư tịch quản lý kinh sách, dạy học, giấy bút trong cung, vô cùng quan trọng. Lần này Hoàng hậu quyết định không bổ nhiệm theo thâm niên, dặn Thượng nghi công khai tuyển chọn trong số các nội nhân, nhất định phải là người tài hoa xuất chúng mới được tiếp nhận chức này. Muội thấy tỷ tỷ rất thích hợp, chi bằng đi ứng thi xem sao. Một khi trúng tuyển, tỷ tỷ có thể dạy học cho các nội nhân, thậm chí có thể giống Ban Chiêu, làm thầy của hậu phi và công chúa, nếu có tác phẩm, cũng có thể lưu truyền hậu thế, lưu lại dấu vết của mình trong sử sách. Cuộc đời như vậy, chẳng lẽ không có ý nghĩa hơn là trốn ở một góc tiêu tốn quãng đời còn lại không mục đích sao?" Thái t.ử phi nghe vậy cũng lộ vẻ vui mừng, khuyên Mạnh Vân Tụ: "Chân Chân nói rất có lý. Đã có cơ hội này, ngươi cứ đi ứng thi thử xem. Cho dù không thành, ngươi lại xuất cung, cũng chưa muộn." Mạnh Vân Tụ suy nghĩ rất lâu, cuối cùng gật đầu đồng ý. Chân Chân sau đó cáo từ, Thái t.ử phi bảo Mạnh Vân Tụ tiễn nàng ra cửa, Mạnh Vân Tụ dừng lại ngoài cửa các, cảm ơn Chân Chân. Chân Chân cười nói: "Người nên cảm ơn là muội mới phải." "Vậy sao?" Mạnh Vân Tụ mỉm cười nói, "Ta còn lo viết sai chỗ nào khiến muội không vui đấy." "Từ ngữ đều rất tốt, nếu nói sai ấy à, ngược lại có một chỗ." Chân Chân bảo nàng, "Chữ 'Chân' trong tên muội, là bộ thảo đầu dưới là chữ chân trong chân giả, tỷ tỷ viết thành chữ 'Trăn' trong 'kỳ diệp trăn trăn' (lá cây xanh tốt) rồi." "Chân Chân (蒖)?" Mạnh Vân Tụ dường như giật mình, quan sát lại Chân Chân từ đầu đến chân, rồi hỏi nàng, "Muội là người ở đâu? Mẹ họ gì?" Chân Chân nói: "Người Phố Giang, mẹ muội họ Ngô... Sao vậy?" "Ồ," Ánh sáng trong mắt Mạnh Vân Tụ nhạt đi một chút, cười nhẹ nói, "Không có gì, chỉ là bỗng nhiên cảm thấy muội trông hơi giống một cố nhân." Chân Chân trở lại Chiêm Lục Đường, trước tiên nhìn quanh một lượt, mới hành lễ với Thái tử. Thái t.ử hiểu ý, nói với nàng: "Lâm Hoằng đi rồi." Chân Chân cúi đầu tránh ánh mắt dò xét của chàng, lặng lẽ bước lên thu dọn chén trà. "Nàng vẫn rất để ý đến hắn." Thái t.ử khẳng định. "Điện hạ," Chân Chân dừng động tác trên tay, quay người đối diện Thái tử, "Là ngôn hành của nô tỳ thất thố sao? Nô tỳ thậm chí còn không nhìn huynh ấy." "Ta không phải trách nàng, đừng căng thẳng như vậy." Thái t.ử mỉm cười nói, "Ta biết nàng luôn cố tránh nhìn hắn. Nhưng nếu trong lòng đã hoàn toàn buông bỏ một người, đối mặt với người đó cũng sẽ như đối mặt với người khác, nên nói thì nói, nên cười thì cười, càng sẽ không cố ý tránh ánh mắt của đối phương." Chân Chân không còn gì để nói. Thái t.ử lại bảo: "Vừa rồi sau khi nàng đi, ta nói với hắn một câu khiêu khích, nhưng hắn thực sự có phong độ tốt, thế mà hoàn toàn không giận, ngược lại còn nói với ta một số lời thật lòng." Chân Chân ngạc nhiên ngẩng đầu nhìn chàng, Thái t.ử bèn kể lại câu "trị gia vô phương" và phản ứng sau đó của Lâm Hoằng một lượt, Chân Chân nghe đến đoạn Lâm Hoằng nói "Ta thấy may mắn vì đã gặp được cô ấy", không kìm được nước mắt tuôn rơi, đối mặt với Thái t.ử lại không tiện khóc lớn, nước mắt vừa rơi xuống liền dùng mu bàn tay lau đi. Thái t.ử đứng dậy đi tới, lấy khăn tay của mình lau nước mắt cho Chân Chân, ôn tồn nói: "Tuy nói thế này chẳng có lợi gì cho ta, nhưng ta vẫn muốn nói với nàng, hắn đối với nàng vẫn còn tình cảm, khi nhắc đến nàng trong mắt có ánh sáng, điều này không thể giả bộ được." Chân Chân buồn bã nói: "Đều qua rồi, chút tình cảm này có hay không cũng không quan trọng nữa." Thái t.ử dắt nàng ngồi xuống đối diện mình, nói: "Chuyện giữa các người ta vẫn luôn không hỏi, nhưng bây giờ rất muốn biết, đã hai người vẫn còn tình cảm với nhau, tại sao lại chia tay?" Chân Chân im lặng một lát, chậm rãi nói: "Trong lòng huynh ấy luôn có một người, được huynh ấy coi như Lạc Thần, trong nhà huynh ấy treo bức tranh của người đó, thường xuyên nhìn ngắm chìm vào suy tư. Sau này gặp nô tỳ, tuy ở bên nô tỳ cũng có lúc vui vẻ, nhưng huynh ấy trước sau vẫn không quên được người kia, lúc chóng mặt thậm chí còn nhận nhầm nô tỳ là người đó. Nhưng nô tỳ quá thích huynh ấy, nô tỳ nguyện ý nhẫn nhịn, miễn là được ở bên huynh ấy. Nhưng nô tỳ không ngờ, huynh ấy cuối cùng vẫn không muốn lừa dối bản thân... Huynh ấy từ chối Thái hậu ban hôn, đại khái là đã nghĩ thông suốt, nô tỳ vĩnh viễn không thể thay thế người huynh ấy yêu, mà huynh ấy kiếp này không thể có được người đó, cho nên chi bằng mai thê hạc tử..." Nói đến đây nàng rưng rưng nhìn Thái tử: "Điện hạ, khoảnh khắc đó nô tỳ cũng hiểu ra, trái tim huynh ấy trước sau vẫn là vùng đất nô tỳ khó lòng chạm tới nhất." Thái t.ử cảm thông nhìn nàng, hỏi: "Người đó, là Liễu Tiệp dư phải không?" Chân Chân rũ mi mắt, im lặng không đáp. "Điểm này rất dễ nhận thấy." Thái t.ử nói, "Nghe nói Lâm Hoằng và Liễu Tiệp dư cùng lớn lên ở núi Vũ Di, hai người tài mạo tương xứng, nảy sinh tình cảm luyến mộ cũng không có gì lạ." "Đúng vậy, họ đã ở bên nhau mười năm." Chân Chân cười thê lương, "Mà nô tỳ và Lâm Hoằng ở bên nhau cộng lại chưa đến một năm, huynh ấy đối với nô tỳ cho dù có tình cũng có hạn, nô tỳ lấy cái gì để so với mười năm nương tựa vào nhau lúc hoạn nạn của họ?" Thái t.ử lại lau đi giọt nước mắt sắp rơi của nàng, thấy trên mu bàn tay nàng cũng có vệt nước mắt, bèn kéo qua lau sạch từng chút một, mới nói: "Tình cảm sâu cạn, cũng không phải tính bằng số năm bên nhau." "Vậy tính bằng trước sau sao? Người đầu tiên yêu có phải rất khó quên không?" Chân Chân bỗng hỏi chàng, "Điện hạ, ngài làm sao quên được Phùng Tịnh?" Thái t.ử trong nháy mắt im lặng, cúi mắt suy nghĩ hồi lâu, mới nhìn Chân Chân, nghiêm túc trả lời câu hỏi của nàng: "Ta không quên cô ấy, cô ấy sẽ mãi mãi lưu lại trong ký ức của ta, trở thành một trang ta rất trân trọng. Đối với tương lai của chúng ta, cô ấy nhìn rất rõ, thân phận và hiện trạng của ta định trước ta không thể đáp ứng kỳ vọng của cô ấy về hôn nhân. Cho nên giống như cô ấy đã nói, chúng ta đều sẽ không quay đầu lại, không có ai đuổi theo ai, chỉ có mỗi người đi về phía trước. Con người không phải sống vì ngày hôm qua, luôn phải nhìn về phía trước. Đắm chìm trong việc l.i.ế.m láp vết thương ngày cũ, chỉ khiến con người ngày càng tiêu trầm, bỏ mặc hiện tại." Ánh mắt chàng dần trở nên dịu dàng, lúc này nở nụ cười với nàng: "Chân Chân, ta hy vọng nàng cũng nghĩ như ta. Ngày hôm qua đã trôi qua tan nát, chúng ta đừng đ.á.n.h mất cả ngày hôm nay nữa." Chân Chân nhìn nhau với chàng, cố gắng mỉm cười. Chàng thấy nàng tuy đang cười, đôi mắt đẹp vẫn ướt át, lấp lánh ánh sáng yếu ớt u tối, không khỏi trong lòng run lên, cảm thấy vô cùng thương xót, bèn nghiêng người tới, lịch sự nho nhã hỏi ý kiến nàng: "Ta muốn giống như người anh trai ôm nàng một cái, có được không?" Mà Chân Chân lần trước được Hương Lê Nhi chỉ điểm, lúc này bỗng nhiên suy một ra ba, phúc chí tâm linh, nói thẳng thừng: "Điện hạ, anh trai lớn thế này sẽ không ôm em gái đâu." Thái t.ử sững sờ một chút, ngồi thẳng dậy, day trán bật cười. Chân Chân thấy vậy cũng cười, hai người nhìn nhau cười hồi lâu, ngược lại đã hòa tan nỗi bi thương của nàng và sự lúng túng của chàng vào trong tiếng cười. Chương 104 - Chương 104 Mạnh Vân Tụ tham gia kỳ thi tuyển Tư tịch, trải qua một hồi sát hạch, đến giữa tháng Sáu kết quả được công bố, quả nhiên nàng được như ý nguyện, đảm nhận chức vụ này. Trước khi dọn khỏi Đông cung, nàng mời Chân Chân đến phòng mình, nói: "Có một chuyện, ta suy đi tính lại, cảm thấy vẫn nên nói rõ với muội." Sau đó, nàng dẫn Chân Chân đến bên án thư, cầm bút viết xuống hai cái tên: Trương Vân Kiều, Mạnh Vân Tụ. Chân Chân vừa nhìn thấy ba chữ "Trương Vân Kiều", liền nói: "Đây chẳng phải là tên của Trương Quốc y sao?" Mạnh Vân Tụ gật đầu, lại đưa bút gạch bỏ chữ "Mạnh", viết sang bên cạnh một chữ "Trương". Ánh mắt Chân Chân lướt qua lại giữa hai cái tên, chợt bừng tỉnh đại ngộ: "Tỷ tỷ hóa ra họ Trương, Trương Quốc y và tỷ là anh em ruột?" Mạnh Vân Tụ đáp: "Chú của Trương Quốc y là cha ta, ta là biểu muội của huynh ấy. Mẹ ta mất sớm, cha lấy kế thất, khi đó ta mới sáu tuổi, kế mẫu không dung được ta, thường xuyên ngược đãi. Cha thấy đường huynh ta là ngự y, thường qua lại chốn quyền quý, bèn nhờ huynh ấy tìm một gia đình tốt nhận nuôi ta. Đường huynh từng chữa trị cho thiếp thất của cha Thái t.ử phi là Mạnh thị, Mạnh thị biết chuyện này, bèn nhờ đường huynh đưa ta vào phủ họ Tiền, nhận nuôi ta, từ đó ta đổi họ Mạnh, lớn lên ở Tiền phủ." Chân Chân cười nói: "Hóa ra là vậy. Thảo nào muội thấy tỷ tỷ có nét quen quen, thì ra là thần thái có phần giống với bức họa của Trương Quốc y." Mạnh Vân Tụ quan sát kỹ biểu cảm của nàng, hỏi: "Muội chưa từng gặp Trương Quốc y?" Chân Chân lắc đầu: "Ngưỡng mộ đại danh Trương Quốc y đã lâu, nhưng ngài ấy mất tích từ lâu rồi, muội vẫn chưa có duyên gặp mặt." Mạnh Vân Tụ tiếp tục múa bút, viết thêm ba chữ "Lưu Mịch Sơ" bên cạnh tên Trương Vân Kiều, rồi lại hỏi Chân Chân: "Muội có biết người này không?" Chân Chân nhìn cái tên xa lạ này, ngơ ngác đáp: "Không biết." "Bà ấy là cung nhân triều trước, từng giữ chức Tư thiện ở Thượng Thực cục." Mạnh Vân Tụ nói. "A, hóa ra bà ấy là Lưu Tư thiện!" Chân Chân vui mừng nói, "Muội nghe rất nhiều giai thoại về bà ấy, nhưng hôm nay mới biết tên thật." Mạnh Vân Tụ bèn hỏi: "Vậy muội có nghe chuyện của bà ấy và Trương Quốc y chưa?" Chân Chân thành thật đáp: "Trong cung có nghe nói một chút. Nghe đồn bà ấy và Trương Quốc y yêu nhau, sau đó trốn khỏi cung, nhưng bị truy bắt, cuối cùng bị xử t.ử tại tư dinh của Tề Thái sư." "Đúng vậy, bà ấy là tẩu t.ử (chị dâu) của ta." Mạnh Vân Tụ nói, "Sau khi ta vào Tiền phủ, mỗi lần đường huynh đến khám bệnh ở Tiền phủ đều ghé thăm ta, nên ta và huynh ấy khá thân thiết. Nữ quyến Tiền phủ thường có cơ hội vào cung dự tiệc, đôi khi dẫn ta theo cùng, Lưu Tư thiện biết ta là em gái Trương Vân Kiều nên thường đặc biệt tìm đến ta, cho ta rất nhiều điểm tâm. Năm ta mười hai tuổi, dưỡng mẫu đưa ta đi dâng hương ở chùa Linh Ẩn, đến nơi bỗng bảo tỳ nữ lén đưa ta đến viện Thiên Trúc Xem Kinh gần đó, cho ta gặp đường huynh và Lưu Tư thiện đang đợi ở đấy. Đường huynh nói họ sắp rời khỏi Lâm An, e rằng sau này khó gặp lại, nên xin dưỡng mẫu cho phép từ biệt ta. Lúc đó Lưu Tư thiện đã mang thai, bà ấy tràn đầy vui sướng kể với ta về cái tên đường huynh đặt cho đứa bé, nói nếu là con trai thì gọi là 'Trương Tranh', trong tranh tranh thiết cốt (xương sắt leng keng/cứng cỏi), nếu là con gái..." Nói đến đây Mạnh Vân Tụ dừng lại, chăm chú nhìn Chân Chân, rồi mới nói tiếp, "Thì gọi là 'Chân Chân'." Chân Chân sững sờ, lát sau hỏi: "Chính là chữ 'Chân' (蒖) trong tên muội?" "Phải." Mạnh Vân Tụ chỉ ngón tay vào chữ "Mịch" (蓂) trên giấy, giải thích cặn kẽ: "Mịch là chữ 'Mịch' trong 'Mịch giáp' (cỏ thi). Mịch giáp là loài cỏ lành được ghi chép trong 'Trúc thư kỷ niên', ngày mùng một mỗi tháng mọc một lá, đến rằm thì mọc mười lăm lá, sau ngày mười sáu, mỗi ngày rụng một lá, đến cuối tháng thì rụng hết. Nếu là tháng thiếu, thì có một lá héo mà không rụng. Cứ thế, một vòng tuần hoàn là một tháng, cho nên Mịch giáp còn gọi là Lịch giáp. Tương truyền đây là loài cỏ lành xuất hiện thời vua Nghiêu, chỉ khi bậc minh quân thịnh đức trị vì mới sinh trưởng. Lưu Tư thiện sinh vào ngày Chính Đán (mùng 1 Tết), Tề Thái sư đặt tên cho bà ấy là 'Mịch Sơ', sau này dâng bà ấy cho Tiên đế, có lẽ cũng mượn cái tên này để nịnh nọt Tiên đế. Còn 'Chân' (蒖), chính là hạt của cỏ Mịch giáp, vì thế đường huynh ta đặt tên cho con gái của Mịch Sơ là 'Chân Chân'." Hồi nhỏ Chân Chân cũng từng hỏi mẹ về ý nghĩa chữ "Chân", mẹ chỉ bảo là hạt của một loại cỏ lành, nhưng chưa bao giờ giải thích cặn kẽ đến thế. Giờ đây chợt nghe con gái của Trương Quốc y và Lưu Tư thiện cũng tên này, chỉ thấy tâm tư rối bời, nhìn chằm chằm cái tên Lưu Mịch Sơ hồi lâu mới nói: "Muội và con gái Lưu Tư thiện trùng tên, e là trùng hợp thôi nhỉ?" Mạnh Vân Tụ nói: "Lúc mới nghe muội nói tên ta cũng nghĩ như vậy, có điều, càng nhìn càng thấy muội có vài phần giống Lưu Tư thiện. Sau đó lại hỏi thăm sinh nhật muội, thấy khớp với ngày dự sinh đứa bé của tẩu t.ử ta. Cái tên này rất hiếm gặp, mấy điểm này nếu đều trùng hợp, thì quả là sự trùng hợp ngàn năm có một rồi." "Không thể nào!" Chân Chân dứt khoát phủ nhận phỏng đoán chưa nói rõ của nàng, "Muội là do mẹ muội đích thân nuôi lớn, sống cùng bà mười mấy năm. Mẹ muội mất cách đây hơn hai năm, không phải Lưu Tư thiện." Mạnh Vân Tụ muốn nói lại thôi, cân nhắc hồi lâu, ôn tồn bảo: "Dưỡng mẫu của ta là một người phụ nữ rất lương thiện, coi ta như con đẻ, ân cần chăm sóc, để ta lớn lên vô lo vô nghĩ ở Tiền phủ. Tuy bà ấy không phải mẹ ruột ta, nhưng trong lòng ta, bà ấy chính là mẹ ta, tình yêu của chúng ta dành cho nhau sẽ không vì không có quan hệ huyết thống mà giảm bớt." Thấy Chân Chân vẫn im lặng không nói, Mạnh Vân Tụ nhẹ nhàng kéo tay nàng ngồi xuống, lại nói: "Ta nói những điều này không phải muốn ly gián tình cảm mẹ con muội, chỉ là nói cho muội biết những gì ta biết liên quan đến cái tên của muội. Tất nhiên có khả năng muội và Trương Quốc y, Lưu Tư thiện hoàn toàn không liên quan, nhưng nếu tương lai muội muốn biết thêm thông tin về họ, có lẽ có thể dựa theo những gì ta nói, đi tìm những người biết chuyện khác để hỏi." Chân Chân gật đầu: "Muội hiểu, cảm ơn tỷ tỷ đã kiên nhẫn kể cho muội nghe những chuyện này." Mạnh Vân Tụ mỉm cười: "Ta sắp rời Đông cung, sau này muốn gặp mặt có lẽ không tiện lắm, nên đem những chuyện nhớ ra mấy ngày nay kể hết cho muội. Nếu sau này muội có thắc mắc, muốn tìm hiểu thêm chi tiết, có thể cầu cứu Thái tử. Tuy hiện tại danh phận muội chưa định, nhưng ai cũng biết, ngài ấy chính là phu quân tương lai của muội, là người đáng tin cậy và nương tựa nhất, có chuyện gì, cứ bàn bạc với ngài ấy." Chân Chân nhớ tới Mạnh Vân Tụ cũng từng là ứng cử viên trắc thất của Thái tử, vậy mà nay nhắc đến quan hệ giữa nàng và Thái t.ử lại không hề có chút ghen tị nào, không khỏi có chút cảm động, lại lo lắng là do mình đến ép nàng phải đi, bèn hỏi: "Tỷ tỷ, muội đến Đông cung, có khiến tỷ thấy không thoải mái nên mới muốn đi không?" "Đương nhiên không phải." Mạnh Vân Tụ phủ nhận ngay, lập tức giải thích, "Ta tuy kính trọng Thái tử, nhưng hoàn toàn không có tình cảm luyến mộ." Trầm ngâm giây lát, Mạnh Vân Tụ lại dốc bầu tâm sự với Chân Chân: "Thuở thiếu thời, ta từng ngưỡng mộ một người đã có gia đình, nhưng gả cho người đó sẽ làm tổn thương người ta tôn trọng nhất, lại không muốn gả cho người mình không thích, nên cứ lần lữa mãi. Sau này Thái t.ử phi gả vào Đông cung, muốn ta đi cùng, khi đó dưỡng mẫu đã qua đời, ta không còn vướng bận gì, thấy Thái t.ử phi sợ hãi cuộc sống sau khi rời nhà mẹ đẻ, bèn đồng ý theo nàng xuất giá, vốn chỉ định làm thị nữ thôi. Sau này Thái t.ử phi quyết định nạp thiếp cho Thái tử, muốn tìm một người biết rõ gốc rễ, dễ chung sống, bèn tiến cử ta với Thái tử, thực ra ta không có ý đó, sau lại xảy ra những chuyện kia... May mà có muội chỉ đường, nay ta đã có nơi chốn thích hợp, cũng có chỗ gửi gắm mới, cuộc sống sẽ trôi qua tốt đẹp. Cảm ơn muội, Chân Chân, sau khi từ biệt hãy bảo trọng." Sau khi Mạnh Vân Tụ đi, Chân Chân luôn muốn lờ đi những chuyện nàng ấy nói, nhưng những lời nói không thể quên và những nghi hoặc kéo theo cứ như cơn gió lốc mùa này, chẳng biết lúc nào lại ập đến tối tăm mặt mũi, hoàn toàn không chịu sự kiểm soát của bản thân. Có một hôm nàng rót trà trong vừa nấu xong cho Thái tử, Thái t.ử thuận miệng kể cho nàng nghe công trình dẫn suối vào Đông cung tiến triển thuận lợi, nguồn nước được chọn nằm ngay chân núi gần Đông cung nhất, dự kiến nhanh nhất đầu tháng sau có thể đưa vào sử dụng. Mà Chân Chân mải nghĩ chuyện Lưu Tư thiện, ngẩn ngơ không biết, trà tràn ra khỏi chén lúc nào không hay, Thái t.ử gõ nhẹ lên mặt bàn nàng mới giật mình, vội vừa lau bàn vừa tạ lỗi. Thái t.ử ôn tồn hỏi nàng: "Mấy ngày nay nàng cứ thẫn thờ, có tâm sự gì sao?" Thấy chàng nhìn mình với ánh mắt dịu dàng, Chân Chân chợt nhớ lời Mạnh Vân Tụ nói chàng là phu quân tương lai, là người đáng tin cậy và nương tựa nhất, không khỏi đỏ mặt, cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu, cuối cùng hỏi chàng: "Điện hạ, ngài có biết Lưu Tư thiện không?" "Lưu Tư thiện? Là cung nhân triều Tiên đế phải không?" Thái t.ử nói, "Hồi nhỏ ta có gặp bà ấy." "Vậy nô tỳ có giống bà ấy không?" Chân Chân truy hỏi. Thái t.ử cười nói: "Khi bà ấy hầu hạ Tiên đế ta còn là một đứa trẻ. Bà ấy xuất cung đã nhiều năm, ký ức của ta về bà ấy rất mơ hồ, đã không nhớ rõ bà ấy trông thế nào nữa. Sao vậy, có người bảo nàng giống bà ấy à?" "Vâng..." Chân Chân ngập ngừng, "Còn nói con gái Lưu Tư thiện cũng tên là Chân Chân." Nàng bèn thuật lại những lời Mạnh Vân Tụ nói cho Thái t.ử nghe, dưới sự hỏi han của Thái t.ử lại kể hết thân thế và tình hình của Thu Nương cho chàng biết, bao gồm cả biến cố gia đình, chuyện Trình Uyên đưa Thu Nương đi, rồi đưa nàng đi thăm mộ Thu Nương, cuối cùng giọng nói có chút yếu ớt: "Hồi ở phủ Diên Bình Quận vương, v.ú nuôi của Ân Kỳ từng kể với nô tỳ chuyện Lưu Tư thiện, nói bà ấy bị xử t.ử bằng tư hình tại phủ Tề Thái sư, Ân Kỳ tận mắt chứng kiến, đó là chuyện mười mấy năm trước rồi. Cho nên, bà ấy sẽ không phải là mẹ nô tỳ, đúng không?" "Ừ, Lưu Tư thiện sẽ không phải là người mẹ nuôi nàng khôn lớn." Thái t.ử bình tĩnh trả lời, nhưng rất nhanh đưa ra một câu hỏi khiến Chân Chân cảm thấy chói tai: "Nhưng nàng có từng nghĩ tới, người mẹ nuôi nàng khôn lớn, có một chút khả năng nào đó, không phải là mẹ ruột của nàng?" "Không thể nào!" Chân Chân lập tức phản bác kịch liệt, "Mẹ nô tỳ là người mẹ tốt nhất thiên hạ, chăm sóc nô tỳ khôn lớn từng li từng tí, để nô tỳ có cuộc sống thoải mái bà ngày nào cũng làm lụng vất vả từ sáng sớm đến tối mịt, lại không nỡ để nô tỳ làm bất cứ việc nhà nào. Hồi nhỏ nô tỳ ốm vặt một chút bà cũng sẽ bế nô tỳ cả ngày cả đêm không ngủ, còn từng liều mạng cứu nô tỳ ra khỏi biển lửa... Không phải mẹ ruột sao có thể yêu thương nô tỳ như vậy?" Nàng càng nói càng kích động, vành mắt đỏ hoe. Thái t.ử bước tới đỡ nàng ngồi xuống, tự tay rót một chén trà đưa cho nàng, nhẹ nhàng an ủi: "Ta không nói sự thật nhất định là như vậy, nhưng nàng đã hỏi ta như thế, chắc hẳn trong lòng cũng có một chút nghi hoặc. Những nghi điểm mà Mạnh Vân Tụ đưa ra, có lẽ chúng ta có thể thử đi điều tra, xem thực hư thế nào." Chân Chân im lặng không nói. Thái t.ử lại bảo: "Ta biết chuyện liên quan đến người mình quan tâm là khó bình tĩnh đối mặt nhất. Ta năm xưa cũng đâu khác gì, vừa nghe lời Vương Mộ Trạch đã theo bản năng muốn trốn tránh, từ chối suy nghĩ sâu xa và truy cứu, nhưng lại vô thức chọn tin vào kết luận tồi tệ nhất, cái gọi là 'quan tâm quá hóa loạn'. Cho nên, về phỏng đoán của Mạnh Vân Tụ đối với thân thế của nàng, bây giờ nàng cũng không cần chọn tin hay không tin, ta sẽ giúp nàng đi kiểm chứng, chúng ta chỉ tin vào kết luận có bằng chứng, được không?" Chân Chân suy nghĩ một lát, cuối cùng gật đầu. "Sau khi Trình Uyên đưa nàng đi thăm mộ nương nàng có đi lại lần nào không?" Thái t.ử hỏi. Chân Chân đáp: "Nô tỳ rất ít có cơ hội xuất cung, thỉnh thoảng ra ngoài cũng có người đi theo, nên không tiện đến đó. Sinh nhật, ngày giỗ của nương và các tiết Thanh minh, Trung nguyên, nô tỳ đều lén lút hướng về phía mộ nương trong cung mà bái tế." Thái t.ử mỉm cười nói: "Vậy thì, ngày mai ta đưa nàng xuất cung, chúng ta cùng đi bái tế nương nàng nhé." Hôm sau Thái t.ử để Chân Chân ngồi cùng xe với mình, mang theo vài nội thị mặc thường phục xuất cung, theo chỉ dẫn của Chân Chân đến dưới chân núi Phượng Hoàng. Xe dừng, Thái t.ử và Chân Chân xuống xe, Thái t.ử chỉ cho hai nội thị mang đồ tế lễ đi theo, những người còn lại đợi ở chân núi. Men theo đường mòn lên núi, xuyên qua rừng cây rậm rạp, rất nhanh đã thấy ngôi mộ của Thu Nương hiện ra trên vách núi thấp thoáng sau rặng tùng bách xanh rì. Hai nội thị bước lên, dọn dẹp đài mộ, dâng hoa quả tươi lên, Chân Chân quỳ xuống trước mộ, rưng rưng nói: "Con gái bất hiếu, đến hôm nay mới tới thăm nương." Phục xuống đất khóc lạy một hồi, cảm thấy Thái t.ử đi đến bên cạnh, Chân Chân mới nhớ ra nên giới thiệu với nương mình, liền khẽ nói với bia mộ: "Nương, đây là Thái t.ử điện hạ..." Thái t.ử cúi người vái dài, quỳ một gối xuống, vai kề vai với Chân Chân, nói với mộ Thu Nương: "Cô cô, con là Triệu Tích." Sau đó tự lấy hương nến thắp lên, cùng Chân Chân đốt tiền giấy bái tế, thái độ cung kính, hệt như người nhà. Một lát sau có một tiều phu chừng hơn năm mươi tuổi gánh củi khô đi tới, tò mò đ.á.n.h giá Thái t.ử và Chân Chân một hồi, hỏi Thái tử: "Hai người đang bái tế nhạc mẫu của lang quân phải không?" Thái t.ử cười nhạt, hỏi tiều phu: "Sao lão trượng nhìn ra được?" Tiều phu cười nói: "Thế này chẳng phải rõ rành rành sao. Tiểu nương t.ử khóc hai mắt đỏ hoe, chắc chắn người nằm trong mộ là người thân thiết nhất của cô ấy. Lang quân bái tế xong lại không quên đỡ nương tử, hai người trai tài gái sắc, không phải phu thê thì là gì?" Thái t.ử mỉm cười: "Lão trượng quả là mắt sáng như đuốc." Tiều phu nghe vậy rất vui, dứt khoát đặt gánh xuống, dang hai chân ngồi trên tảng đá lớn bên cạnh, lấy nón lá quạt gió, tán gẫu với Thái tử: "Ta sống trên núi này mấy chục năm rồi, sao trước đây không thấy lang quân và nương t.ử đến tảo mộ?" Thái t.ử nói: "Chúng ta sống ở nơi khác nhiều năm, gần đây mới chuyển về Lâm An." Tiều phu nói: "Ra là vậy. Vậy những người đến tảo mộ vào tiết Thanh minh, Trung nguyên mấy năm trước, là do lang quân thuê đến?" Thái t.ử bất động thanh sắc nói: "Đúng là từng nhờ người đến tảo mộ, không biết họ làm có thỏa đáng không?" Tiều phu đáp: "Toàn là mấy cậu trai trẻ râu còn chưa mọc, làm việc cũng nhanh nhẹn lắm, lần nào cỏ dại quanh mộ cũng dọn sạch sẽ, cho nên ngôi mộ này mười tám mười chín năm rồi, bây giờ vẫn giữ được khá sạch sẽ." Mười tám mười chín năm? Chân Chân trợn tròn mắt: Trình Uyên nói Thu Nương đến Lâm An không lâu thì qua đời, vậy ngôi mộ này lý ra tồn tại chưa đầy ba năm, đâu ra chuyện mười tám mười chín năm? Thái t.ử rõ ràng cũng có nghi vấn này, chăm chú nhìn bia mộ, thấy trên đó chỉ có sáu chữ "Mộ phần nội nhân Ngô thị", ngoài ra không có ngày sinh tháng đẻ hay ngày mất, nhưng vết khắc trên bia và dấu đục đá xung quanh khá mới, không giống như đã tồn tại nhiều năm. Nghĩ ngợi một chút, lại hỏi tiều phu: "Mấy năm trước ta từng sắp xếp người đến lập bia, cũng không biết họ có hoàn thành đúng hạn không. Lão trượng có biết tấm bia này lập từ khi nào không? Gạch đá phía sau có từng thay đổi không?" Tiều phu nói: "Mộ lập được hơn mười năm rồi, bia thì đúng là mới lập hai ba năm nay, tường gạch quanh nấm mộ cũng mới xây, nhưng tảng đá lớn bên trên thì chưa thay." Thái t.ử và Chân Chân nghe vậy đều đứng dậy xem xét nấm mộ, quả nhiên thấy phiến đá xanh phủ bên trên rêu phong loang lổ, vô cùng cũ kỹ, trong khe hở còn mọc ra nhiều cây cỏ khá to, quả thực trông có vẻ lâu năm, hơn nữa kiểu dáng nấm mộ cũng khác biệt nhiều so với mộ mới xây mấy năm gần đây. Thái t.ử trầm ngâm giây lát, sai nội thị lấy ít tiền đưa cho tiều phu, lại hỏi chỗ ở của ông, nói sau này đến sẽ ghé thăm. Tiều phu mừng rỡ ra mặt, cảm tạ rối rít rồi cáo từ rời đi. Chương 105 - Bến Hoa Say Sau khi người tiều phu khuất dạng, Chân Chân quay sang nói với Thái tử: "Năm xưa Trình Uyên từng đem tính mạng ra thề, khẳng định rằng ngôi mộ này chôn cất nương ruột của thần. Nhưng ngôi mộ này đã hiện hữu từ nhiều năm trước, nên không thể nào là của nương thần được." Thái t.ử đáp: "Nếu theo suy đoán của Mạnh Vân Tụ rằng Lưu Tư thiện là thân mẫu của nàng, thì Trình Uyên cũng không hẳn là nói dối. Ngôi mộ đã tồn tại mười tám, mười chín năm, rất có thể chính là mộ của Lưu Tư thiện." Trong lòng Chân Chân hiểu rõ lời chàng nói có lý, nhưng nếu thừa nhận điều này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận Thu Nương không phải là nương ruột mình. Điều ấy nàng vạn lần không muốn tin, nên đành im lặng không đáp. "Tuy nhiên, nếu sự thật là vậy thì lại có một điểm đáng mừng," Thái t.ử mỉm cười, ánh mắt nhìn Chân Chân đầy vẻ an ủi, "Điều đó chứng tỏ nương nàng vẫn có khả năng còn sống trên đời. Nếu bà thực sự đã qua đời hơn hai năm trước, Trình Uyên chỉ cần an táng bà rồi đưa nàng đến ngôi mộ thật là xong, hà cớ gì phải tốn công tốn sức sửa sang, lập bia cho một ngôi mộ cũ rồi ngụy tạo thành mộ nương nàng?" Ban nãy lòng đầy nghi hoặc, cảm giác như đá tảng đè nặng khiến nàng không thở nổi, nhưng lời này của chàng tựa như tia nắng xuyên qua mây mù, khiến Chân Chân chợt thấy hy vọng bừng lên. Nàng vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, thốt lên: "Đúng, đúng vậy! Xem ra nương của thần phần nhiều là vẫn còn sống!" Rồi nàng vội vàng hỏi Thái tử: "Điện hạ có thể hỏi Trình Uyên về tung tích nương ta được không?" Thái t.ử lắc đầu: "Trình Uyên tâm cơ thâm sâu, đã khổ tâm che giấu chuyện này thì chắc chắn sẽ không vì một câu hỏi của ta mà nói ra sự thật. Nếu ta trực tiếp hỏi, hắn ắt sẽ dùng lời gian dối để đối phó, hơn nữa còn 'đánh rắn động cỏ', khiến hắn giấu nương nàng kỹ hơn. Nhưng nàng yên tâm, ta sẽ tìm cách điều tra. Sau này, những việc nàng không làm được, cứ để ta làm thay nàng." Câu nói cuối cùng ấy khiến cõi lòng Chân Chân ấm áp lạ thường. Nàng xúc động nhìn người đàn ông trước mặt, nhất thời chẳng biết nói gì. Thái t.ử nở nụ cười hòa nhã, tự nhiên nắm lấy tay nàng, dẫn nàng đến bên vách núi, chỉ xuống thung lũng bên dưới: "Dưới kia có một đầm sen, phong cảnh rất đẹp, chúng ta xuống đó ngồi một lát rồi hẵng về." Trong đầm, hoa sen đỏ trắng xen nhau, in bóng xuống mặt nước, dáng vẻ yểu điệu thướt tha, đang độ nở rộ. Thái t.ử và Chân Chân sóng vai ngồi bên mép nước. Giữa đôi mày Chân Chân vẫn còn vương nét sầu lo, nàng lặng lẽ ngắm những tia nắng đang nhảy múa trên mặt hồ lăn tăn sóng biếc. Thái t.ử liếc nhìn nàng, rồi với tay hái một chiếc lá sen gần đó, uốn cong cuống lá lại thành hình vòi voi, thắt một nút lỏng lẻo rồi đưa đến trước mặt Chân Chân. "Chén bích đồng!" Đôi mắt Chân Chân sáng lên. Nàng đón lấy ngắm nghía, ký ức chợt ùa về buổi tiệc Văn Hỷ hai năm trước. Khi ấy, nàng dùng lá sen làm chén bích đồng thay thế cho ly rượu bị mất cắp của Thái tử, đứng giữa đại điện định giải thích điển cố nhưng lại quên bài, chính Thái t.ử đã lên tiếng nhắc giúp nàng đọc hết. "Haizz, điển cố về Trịnh Khác người nước Ngụy ấy trúc trắc quá, thần chỉ mới xem qua hai ba lần, thực sự không tài nào nhớ nổi, lúc đó xấu hổ đến mức suýt ngất xỉu giữa điện. May mà Điện hạ còn nhớ, giải vây giúp ta. Lúc ấy ta thở phào nhẹ nhõm, thầm nghĩ: A Di Đà Phật, Bồ Tát hiển linh rồi!" Chân Chân cười nói với Thái tử. "Nhìn là biết sách đọc chưa đủ nhiều." Thái t.ử cười, lại hỏi: "Ta giúp nàng giải vây, nàng chỉ cảm tạ Bồ Tát, chứ đối với ta không có chút mộng tưởng thiếu nữ nào sao?" Chân Chân trố mắt: "Lúc đó ta thấy ngài cao cao tại thượng, giống như thiên thần vậy, làm sao dám có mộng tưởng? Ai lại đi có ý đồ với tượng thần trong miếu chứ?" Bỗng nhiên nàng suy diễn ngược lại, chợt nảy ra một ý, bèn hỏi: "Chẳng lẽ lúc đó Điện hạ đã có tà niệm với ta?" "Lúc đó thì chưa," nụ cười của Thái t.ử càng thêm sâu, "Chỉ cảm thấy dáng vẻ nàng ấp a ấp úng không thuộc bài giữa bao nhiêu cặp mắt nhìn vào trông thật đáng thương, lại có chút đáng yêu, nên thuận miệng giúp một chút thôi." Chân Chân liền hỏi: "Vậy tại sao bây giờ Điện hạ lại đối đãi đặc biệt với thần?" "Nàng nghĩ sao?" Thái t.ử hỏi ngược lại. Chân Chân thầm nghĩ,làm sao ta biết ngài nghĩ gì. Nàng bỗng nổi hứng trêu chọc, cố ý nói: "Phát hiện ra thần trời sinh xinh đẹp chăng?" "Ồ?" Chàng bình thản hỏi: "Có đẹp bằng ta không?" Chân Chân dở khóc dở cười, theo phản xạ định lên tiếng phản bác sự tự tin của Điện hạ, nhưng ngẫm lại, nếu luận về nhan sắc, vị trí của chàng trong đám nam nhân quả thực cao hơn vị trí của nàng trong đám nữ nhân. Nàng đành tiu nghỉu hỏi: "Vậy ngài thích ta ở điểm gì?" Thái t.ử đáp: "Nàng nếm ra được muối xanh của Lệ Quý phi có vấn đề, lại đóng vai trò lớn trong việc làm sáng tỏ vụ án Quý phi sinh con. Những chuyện cũ liên quan ấy đã ám ảnh ta nhiều năm, trở thành tâm bệnh, khi chân tướng rõ ràng, tự nhiên ta chú ý đến nàng, thấy nàng lanh lợi lại có chính kiến. Sau này, khi ta đến điện Gia Minh hầu Quan gia dùng bữa, thường hay quan sát nàng, nàng có cảm nhận được không?" Chân Chân vô cùng ngạc nhiên: "Hoàn toàn không. Ta luôn thấy Điện hạ trước mặt Quan gia cử chỉ ôn nhu nhã nhặn, mắt nhìn thẳng, chưa từng phát hiện Điện hạ đặc biệt chú ý đến ta." "Đó là vì trong mắt nàng chỉ có ngự thiện và Quan gia đang dùng bữa mà thôi." Thái t.ử nói, "Người khác ăn là để ăn, còn nàng ăn là đang làm việc. Trong điện Gia Minh, mắt nàng dán chặt vào từng món ăn, xem xét kỹ lưỡng, tập trung nếm vị, sau khi dâng lên cho Quan gia lại chăm chú quan sát từng biểu cảm nhỏ nhất của người, muốn biết cảm nhận của người về món ăn. Những lúc như thế, nàng sẽ không để ý đến bất kỳ ai hay việc gì xung quanh đâu." "Đúng vậy," Chân Chân cười đáp, "Quan sát phản ứng của Quan gia đối với món ăn là trách nhiệm của ta. Hơn nữa Bùi Thượng thực yêu cầu ta phải thông qua sắc, hương, vị để phục dựng lại món ăn đó, nên ta phải toàn tâm toàn ý mới làm tốt được." Ánh mắt Thái t.ử trở nên dịu dàng: "Ta thích những cô nương làm việc nghiêm túc. Thần thái của các nàng khi chuyên chú làm việc mình giỏi, quả thực đẹp không sao tả xiết." Chân Chân lại nhạy bén bắt được một từ trong lời chàng: "Chữ 'các nàng' này chắc bao gồm cả Phùng Tịnh tỷ tỷ nhỉ?" Thái t.ử bất ngờ bật cười: "Sao mùi hương sen ngát trời này lại chuyển thành mùi giấm chua thế?" Chân Chân nhất thời cứng họng, đành lườm chàng một cái. "Chân Chân, hiện giờ nàng có cảm giác gì với ta?" Chàng cười rất vui vẻ, "Quân t.ử lòng dạ thản nhiên, đừng che giấu." Chân Chân quyết tâm nói thẳng: "Được rồi, Điện hạ, hình như ta có một chút thích ngài rồi." "Ừm," Thái t.ử trầm ngâm, "Xem ra đã đến lúc hẹn thêm một bữa thịt nướng..." "A, không!" Chân Chân cười nhảy dựng lên, lùi lại vài bước. Thái t.ử cũng đứng dậy đối diện nàng, mỉm cười nói: "Nghe nói nàng từng bảo chuyện giữa chúng ta do ta quyết định, vậy ta thấy lúc này thời cơ rất tốt." Chân Chân suy nghĩ một chút rồi nói: "Điện hạ, xin cho ta thêm ít thời gian." "Dùng để học cách cởi đai lưng à?" Chàng hỏi ngay, phản ứng cực nhanh. Hơn nữa khi nói những lời này, thần sắc chàng vẫn luôn thản nhiên như đang trần thuật một sự thật hiển nhiên, khiến người ta cảm thấy nếu cho rằng đó là lời trêu ghẹo thì chính mình mới là kẻ suy nghĩ lệch lạc. Thấy Chân Chân xấu hổ đỏ bừng mặt, chàng mới nghiêng đầu cười với gió mát, buông tha cho nàng, rồi đáp lại yêu cầu của nàng: "Ta không đồng ý." "Không," Chân Chân tuyên bố, "Ngài đã đồng ý rồi." Thái t.ử cười: "Sao lại nói thế?" Chân Chân đáp: "Ta chính là ỷ vào việc ngài sẽ không lợi dụng lúc người ta gặp khó khăn." "Nàng sẽ không gặp 'khó khăn' nữa đâu. Từ nay về sau, mọi nguy cơ trước khi chạm đến nàng đều sẽ bị ta hóa giải." Chàng dịu dàng nói, "Nhưng nếu nàng chưa nghĩ kỹ, ta có thể đợi nàng." Chân Chân ngẩn ngơ nhìn người đàn ông đang nói lời ôn nhu, cảm giác chếnh choáng như uống vài chén rượu nhạt lại ập đến. Nàng bất giác đưa tay ôm ngực, muốn làm dịu đi nhịp tim đang đập rộn ràng bất chợt. Chàng đưa tay về phía nàng: "Lại đây, Chân Chân, cảnh sắc nơi này như tranh vẽ, chúng ta nán lại thêm chút nữa." Nàng như trúng bùa mê bước lại gần, đặt tay mình vào lòng bàn tay chàng. Chàng dẫn nàng ngồi lại bên bờ đầm sen. Hai người lặng lẽ ngắm ngàn cánh sen đung đưa trong gió, nhất thời không nói gì, nhưng trong lòng đều ngập tràn an yên. Một lát sau, chàng chỉ tay về phía trước: "Đằng kia có một con cò trắng." "Đâu cơ?" Chân Chân hào hứng vươn cổ nhìn theo. Chàng nhặt một viên đá dẹt bên cạnh, chỉnh lại góc độ, rồi dùng lực ném đi. Viên đá xoay tròn, nảy trên mặt nước hết cái này đến cái khác, cuối cùng rơi nhẹ lên mình một con cò trắng đang ẩn nấp dưới lá sen. Con cò giật mình, vỗ cánh bay về phía chân trời mây nước. "Cái này thú vị thật!" Chân Chân thấy vậy cũng bắt chước nhặt đá ném thia lia tìm cò dưới hoa, chỉ là kỹ thuật không bằng Thái tử, ném mấy lần liền đều chẳng trúng được con nào. Thái t.ử ngắm nhìn tư thế của nàng, thỉnh thoảng lại giúp nàng điều chỉnh. Hai người cười nói vui vẻ chơi đùa một lúc, sau đó Thái t.ử phát hiện cách đó không xa có một đôi uyên ương, bèn nhặt đá định ném tiếp. Chân Chân vội nắm lấy hai tay chàng giữ lại, nói: "Chúng đang hẹn hò, đừng làm phiền chúng." Thái t.ử ngước mắt nhìn, thấy đôi uyên ương đang giao cổ đùa giỡn dưới nước, cảnh tượng vô cùng tình tứ. Quay đầu nhìn Chân Chân, lại thấy hai tay nàng đang nắm chặt cánh tay trái mình, đôi má vì trò chơi ban nãy mà ửng hồng, ánh mắt long lanh ngước nhìn chàng. Chàng bất giác xao xuyến, vứt viên đá đi, bất ngờ ôm lấy đôi vai nàng, đẩy nàng ngã nghiêng về phía bên phải, để nàng nằm gối lên đùi mình. Viên đá rơi tõm xuống nước, làm kinh động đôi chim âu trắng gần đó, chúng bay vút lên, lượn lờ đan xen giữa bóng hoa và mặt nước. Chân Chân khẽ thốt lên một tiếng, tay trái bám lấy vai phải chàng, tay phải vươn lên định vùng dậy ngồi dậy, nhưng cổ tay đã bị Thái t.ử nắm lấy, từ từ ấn xuống. Chàng cúi xuống, hôn lên đôi môi đang khẽ run rẩy của nàng. Trước đây những nụ hôn Chân Chân trải qua đều nhẹ nhàng lướt qua, hơn nữa đa phần là do nàng chủ động, chạm nhẹ rồi rời đi ngay. Nàng hoàn toàn không ngờ còn có thể như lúc này, nụ hôn do chàng dẫn dắt tựa như những con sóng ập đến xâm chiếm, dễ dàng tiến vào giữa môi lưỡi nàng. Nàng nhất thời choáng váng, nhưng mang theo chút tò mò, dường như không hề phản cảm sự tiếp xúc của chàng. Chàng giỏi dẫn dắt, nụ hôn tuy không cho phép chối từ nhưng cũng không mất đi sự dịu dàng, như thủy triều khẽ v**t v* rồi rút lui, cứ thế vài lần. Đến khi nàng tưởng có thể thở phào nhẹ nhõm thì một đợt sóng mới lại bất ngờ ập tới, khiến nàng kinh ngạc phải nghiêm trận đón tiếp, tay bất giác vòng qua cổ chàng, muốn vãn hồi tình thế đang liên tục thất thủ, nhưng dường như hành động đó càng khơi dậy sĩ khí của chàng, khiến chàng vui vẻ triển khai một đợt tấn công mới. Lúc ấy trời đã ngả về chiều, giữa mây nước lướt qua một tầng ráng chiều, mặt trời lặn vẫn còn vương ánh kim thấp thoáng sau những đám mây, nhuộm đỏ cả một vùng nước biếc sau lưng họ thành màu vàng cam rực rỡ. Thi thoảng có cánh chim âu chao liệng, bóng chim nương theo gió mát rơi trên y phục hai người. Họ chẳng còn tâm trí đâu mà để ý, lạc lối giữa bến hoa bãi cỏ này, nhất thời chẳng biết đêm nay là đêm nào. Không biết qua bao lâu chàng mới buông tha cho nàng, chăm chú nhìn vào đôi mắt e thẹn vừa mở ra của nàng, nghiêm túc nói: "Một tháng, không thể nhiều hơn." Nàng ngơ ngác giây lát, không biết chàng đang ám chỉ điều gì. Chàng mỉm cười: "Thời gian cho nàng đấy." Chương 106 - Lướt Qua Nhau Cuối tháng sáu, Lưu Tiệp dư hạ sinh một tiểu Hoàng tử, nhưng Hoàng t.ử nhỏ thân thể yếu ớt, sinh ra được vài ngày mà bệnh vàng da mãi không tan. Lưu Tiệp dư lo lắng khôn nguôi, ngày ngày lấy nước mắt rửa mặt. Hoàng đế vì muốn giải tỏa tâm trạng cho nàng, bèn ra lệnh mở rộng khu vườn Phù Dung Các, vẫn giao cho Lâm Hoằng thiết kế. Tháng bảy, công trình dẫn nước suối vào Đông Cung hoàn thành. Cửa xả nước được xây thành hồ rất đẹp, nước suối trong veo ngọt mát. Thái t.ử rất hài lòng, căn dặn sau này đun trà nấu canh cho mình đều dùng nước suối này. Lâm Hoằng vốn định sau khi xong việc sẽ từ quan về quê, nhưng vì chuyện của Lưu Tiệp dư nên đành phải tiếp tục lưu lại Lâm An. Thái t.ử không quên việc điều tra thân thế của Chân Chân. Cuối tháng bảy, Đô giám Đông Cung là Dương T.ử Thành thu thập những tin tức sơ bộ từ người được phái đi, liệt kê từng mục trước mặt Thái tử, bẩm báo: "Quốc triều quy định, người rời quê hương đến nơi khác, cư trú làm việc một năm là có thể nhập hộ tịch. Thần phụng mệnh Điện hạ phái người đến Phố Giang tra cứu văn thư nhập tịch của Ngô Thu Nương, phát hiện năm đó bà ấy một mình dẫn theo con gái Ngô Chân Chân từ phủ Ninh Quốc chuyển đến, lúc đó con gái lên ba, không có trượng phu đi cùng, khi nhập tịch khai rằng trượng phu đã qua đời. Thần lại phái người đến phủ Ninh Quốc tra thông tin về Ngô thị, dựa theo nội dung nhập tịch ở Phố Giang mà tra, nhưng hoàn toàn không có hồ sơ lưu trữ nào để kiểm chứng, tên của Ngô Thu Nương và người chồng bà ấy khai ở Phố Giang đều không tồn tại. Tra kỹ lại văn thư lưu tại Phố Giang năm xưa, phát hiện những giấy tờ xuất xứ từ phủ Ninh Quốc đều là giả mạo, rất có thể Ngô Thu Nương đã hối lộ quan viên phụ trách nhập tịch thời đó, mượn văn thư hộ tịch giả của phủ Ninh Quốc để định cư ở Phố Giang. Tuy nhiên, người đến Phố Giang điều tra có hỏi thăm hàng xóm của Ngô Thu Nương, họ đều nói lúc mới đến bà ấy nói giọng vùng phủ Ninh Quốc. Xem ra, Ngô Thu Nương cũng có khả năng là người phủ Ninh Quốc, hoặc từng sống ở đó." Thái t.ử lật xem những văn thư này, trầm ngâm giây lát rồi hỏi Dương T.ử Thành: "Phía Trình Uyên điều tra thế nào rồi?" Dương T.ử Thành đáp: "Vẫn luôn cho người theo dõi. Trình Uyên mua vài khu vườn ở bên ngoài, nơi hắn lui tới nhiều nhất tên là Thích An Viên, quản lý cũng nghiêm ngặt nhất, không cho người ngoài đến gần, phu phụ hầu hạ bên trong đều là người câm điếc. Thần cũng từng phái người câm điếc đến xin việc nhưng đều bị đuổi đi, không thể vào trong. Người quanh đó đồn đại rằng Trình Uyên mua vài ca kỹ tuyệt sắc nuôi ở bên trong. Thần sẽ tìm cách thám thính tin tức bên trong." Thái t.ử nói: "Tốt, tiếp tục theo dõi Trình Uyên. Không chỉ Thích An Viên, hắn bình thường qua lại với ai, mua sắm thứ gì, gửi đi đâu, đều cần phải làm rõ." Dương T.ử Thành cúi người nói: "Thần đã hiểu." Rồi xin chỉ thị Thái tử: "Những tin tức này có cần báo cho Ngô Điển thiện không?" Thái t.ử nói: "Tạm thời không cần, đợi điều tra rõ ràng hết rồi hãy nói với nàng... Những văn thư hộ tịch này, ngươi có thể đưa cho Mạnh Tư tịch xem, bảo nàng ấy sao chép một bản để lưu giữ." Dương T.ử Thành lĩnh mệnh, thu dọn văn thư mang đi. Ông ta vừa ra khỏi cửa thì Chân Chân bưng một ấm trà vừa đun xong bước vào, hỏi Thái tử: "Dương Đô giám đã tra được tin tức gì về nương ta chưa?" Thái t.ử đáp: "Trình Uyên là kẻ già đời, làm việc kín kẽ không lọt giọt nước, hiện tại vẫn chưa tìm ra tung tích nương nàng. Nhưng ta sẽ tăng thêm người, tiếp tục truy tìm." Chân Chân có chút thất vọng "ồ" một tiếng, đặt ấm trà xuống, rót cho Thái t.ử một chén, mới mỉm cười nói: "Điện hạ không uống được trà khuấy, lại chê trà đun vị nhạt, nhưng trà hôm nay Tần Tư thiện và ta đều đã nếm thử, hương vị rất thơm, hậu ngọt kéo dài, Điện hạ chắc chắn sẽ thích." Thái t.ử nhấp hai ngụm, cười khen không tệ. Cùng Chân Chân nói chuyện về trà một lát, chàng bỗng hỏi: "Nàng đã nghĩ kỹ chưa?" Chân Chân khó hiểu hỏi lại: "Nghĩ kỹ chuyện gì cơ?" Thái t.ử cười: "Ba ngày nữa là đến hạn ước định một tháng của chúng ta rồi." Mặt Chân Chân vụt đỏ bừng, lập tức lùi lại hai bước. "Cô nương hành sự xưa nay quang minh lỗi lạc, đừng có mà quỵt nợ..." Lời Thái t.ử còn chưa dứt, sắc mặt chàng bỗng thay đổi, một tay ôm ngực, gập người xuống, "Chân Chân, ta đau dạ dày." Chân Chân càng lùi ra xa, cười nói: "Điện hạ, chiêu này của ngài ta biết tỏng rồi, không linh nghiệm nữa đâu." Thái t.ử đau đến mức phải há miệng th* d*c, gượng cười nói: "Nàng lại đây xoa giúp ta." "Còn diễn nữa!" Chân Chân vẫn cười nói, "Ta biết ý đồ của Điện hạ rồi, đổi chiêu khác đi." Thái t.ử đã không còn sức để phân bua, gục đầu xuống bàn, th* d*c đau đớn, những giọt mồ hôi lớn từ hai bên thái dương lăn dài xuống. Lúc này Chân Chân mới phát hiện không ổn, lao tới đỡ lấy chàng xem xét, rồi vội vàng lớn tiếng gọi tiểu hoàng môn bên ngoài đi mời ngự y. Trận ốm này không giống bình thường, bệnh tình ập đến hung hãn. Đầu tiên là Thái t.ử đau dạ dày, sau đó nôn mửa liên tục, mỗi lần tan ra cả mật xanh mật vàng thì phải nhịn ăn nhịn uống vài canh giờ mới được ăn chút ít, nếu không lại nôn thốc nôn tháo. Vài lần như vậy, toàn thân chàng bắt đầu phát sốt, người mê man, việc ăn uống càng thêm khó khăn. Ngự y chẩn đoán triệu chứng giống như ngộ độc thực phẩm, nhưng Tần Tư thiện, Chân Chân và ngự y cùng nhau rà soát lại thực đơn tất cả các món Thái t.ử dùng những ngày trước đó, phát hiện nguyên liệu đều lấy từ nguồn an toàn nhất, không có hiện tượng ôi thiu biến chất, cũng không phạm vào những điều cấm kỵ trong ăn uống, hơn nữa tất cả món ăn trước khi Thái t.ử dùng đều do Tần Tư thiện hoặc Chân Chân nếm thử, họ đều không có triệu chứng gì. Quốc y Quách Tư Tề quyết định trước tiên phải hạ sốt, sau đó xử lý theo hướng ngộ độc thực phẩm, kê đơn thuốc, dặn dò Chân Chân và mọi người ngoài t.h.u.ố.c ra, hiện tại chỉ có thể cho Thái t.ử dùng nước cháo loãng thanh đạm. Nhưng bệnh tình của Thái t.ử cứ lúc tốt lúc xấu, có khi uống được một bát cháo, nhưng có khi cùng loại cháo đó uống xong không lâu lại nôn ra. Cứ thế hơn nửa tháng không thấy đỡ, người ngày càng suy kiệt. Đế Hậu đều đến thăm, thấy vậy thì vô cùng lo lắng nhưng bó tay hết cách. Cuối cùng Thái hậu cũng dẫn theo vài cung nhân phụ trách ăn uống ở Bắc Đại Nội tới, xem bệnh tình Thái t.ử xong bèn lệnh cho Phượng Tiên ở lại, nói với Thái t.ử phi: "Lăng Phượng Tiên rất giỏi làm d.ư.ợ.c thiện. Mấy hôm trước lão thân tỳ vị không khỏe, dùng món nó làm xong thì nhanh chóng điều dưỡng lại được. Cứ để nó tạm ở lại Đông Cung vài ngày, làm chút d.ư.ợ.c thiện cho Thái tử, để thái y xem trước, không có vấn đề gì thì hãy mời Thái t.ử dùng." Phượng Tiên thấy Thái t.ử đau vùng tim bụng, cho rằng tạng khí hư tà, đề nghị dùng đào nhân, sinh địa hoàng, quế tâm, gừng tươi và gạo tẻ nấu cháo cho Thái tử. Quách Tư Tề thấy phương án này khả thi, Phượng Tiên liền đi chuẩn bị nguyên liệu. Lúc đi lấy nước, cung nhân Vân Oanh Ca trước đây được phân về Đông Cung bảo nàng: "Thái t.ử bảo chúng ta đun trà nấu canh cho ngài đều dùng nước suối dẫn từ núi Phượng Hoàng về." Phượng Tiên bèn mang theo một hũ sứ trắng nhờ Oanh Ca dẫn đi đến chỗ lấy nước. Lúc lấy nước có nội thị đi tới hỏi Oanh Ca tình hình Thái tử, Oanh Ca bèn đứng nói chuyện với hắn một lúc. Trong lúc Phượng Tiên một mình hứng nước, bỗng phát hiện dòng nước suối chảy vào hũ sứ trắng dường như có lẫn chút tạp chất. Phượng Tiên nhón lên xem, thấy là một mảnh nấm cực nhỏ, màu trắng xám, hình như đã bị nấu qua. Phượng Tiên nhìn lại hồ nước, không phát hiện thêm vật chất tương tự. Nàng suy nghĩ nhanh, vội giấu mảnh nấm vào lòng bàn tay, đổ hết nước trong hũ đi, nói với Oanh Ca: "Ta nhớ ra rồi, trong sách y nói nấu món cháo này tốt nhất là dùng nước giếng. Chúng ta đi lấy nước giếng thôi." Thái t.ử uống cháo đào nhân do Phượng Tiên nấu không bị tan, hôn mê đến nửa đêm thì mở mắt. Từ khi chàng ngã bệnh, đêm nào Chân Chân cũng túc trực, hầu hạ chàng uống t.h.u.ố.c hay ăn đêm. Lúc này vừa nghe thấy động tĩnh, Chân Chân liền giật mình tỉnh giấc, vội vàng chạy tới hỏi han. Thái t.ử mỉm cười yếu ớt: "Ta đỡ hơn rồi, còn nàng, bao nhiêu ngày không được ngủ trọn giấc rồi phải không? Mắt thâm quầng, người cũng tiều tụy." Chân Chân nghe lời này vừa mừng vừa tủi, suýt nữa bật khóc: "Lâu lắm rồi Điện hạ mới nói được một câu dài như thế..." "Cô ngốc..." Thái t.ử cười đưa tay về phía nàng, "Lại đây, nằm xuống bên cạnh ta." Chân Chân chần chừ, không lập tức tuân lệnh. Tần Tư thiện từng chuyển lời của Quách Tư Tề cho nàng: "Điện hạ hiện giờ vô cùng suy nhược, nhất định phải giữ gìn, tiếp xúc với nữ nhân tuyệt đối không được hành phòng, nếu không hậu quả khôn lường." Sau đó Tần Tư thiện còn đặc biệt dặn dò Chân Chân: "Ngươi hầu hạ Điện hạ càng phải chú ý, chớ có quá thân mật khiến ngài đ*ng t*nh." Vì thế thời gian này Chân Chân hầu hạ Thái t.ử rất chú ý giữ khoảng cách, lúc Thái t.ử tỉnh táo từng muốn hôn, nàng đều tránh đi, nay nghe Thái t.ử dặn vậy, tự nhiên không dám dễ dàng nghe theo. Thái t.ử dường như nhìn ra nỗi lo lắng của nàng, mỉm cười nói đứt quãng: "Yên tâm, ta sẽ không chạm vào nàng, chỉ muốn nói chuyện với nàng thôi... Tuy đã qua ước hẹn một tháng, nhưng với tình cảnh ta thế này, ta sẽ không nạp nàng đâu... Nếu ta đi rồi, nàng giữ được tấm thân trong trắng thì còn có thể gả cho người khác, bằng không, sẽ khổ cả đời, ta sao đành lòng." Nước mắt Chân Chân lập tức rơi xuống, nàng nói: "Phui phui phui! Cái gì mà đi với không đi, không cho phép Điện hạ nói gở, Điện hạ đã hứa sẽ che chở ta cả đời mà." Nói xong nàng dứt khoát bước tới, leo lên giường, nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh chàng. Thái t.ử nắm lấy một bàn tay nàng, từ từ nói: "Bệnh này của ta không biết có khỏi được không, cứ dặn dò nàng vài câu trước: Nếu ta không qua khỏi, nàng có thể lấy chồng, Lâm Hoằng cũng được, Nhị đại vương cũng được, nàng thích chọn ai thì chọn. Sau này sinh con, nếu giống nàng thì khi đến tế bái ta, nhớ dẫn theo cho ta xem; nếu giống họ thì thôi, ta chẳng muốn gặp..." Mấy câu đầu Chân Chân nghe mà thương cảm, ai ngờ đến câu cuối chàng lại nói thế, khiến nàng vừa bực vừa buồn cười, không kìm được khẽ đ.á.n.h chàng một cái, thì thầm: "Ta chẳng cần ai cả, chỉ cần Điện hạ khỏe lại thôi." Rồi nàng nghiêng người ôm lấy một cánh tay Thái tử, vùi mặt vào tay áo chàng, nhắm mắt lại. Hôm sau, Chân Chân quyết định mọi việc ăn uống của mình đều chuẩn bị y hệt lượng Thái t.ử dùng, không những giống hệt mà chàng ăn bao nhiêu nàng ăn bấy nhiêu. Bởi nàng nghĩ đến việc trước đây mình nếm thử món ăn chỉ là một lượng rất nhỏ, lượng chàng ăn nhiều hơn, nếu thức ăn có độc thì có thể xảy ra trường hợp mình ăn ít nên không trúng độc, từ đó không thử ra độc. Thế là Phượng Tiên làm canh cho Thái t.ử cũng múc một bát cho Chân Chân. Chân Chân từ từ nếm, rồi hỏi: "Canh này dùng nước giếng nấu phải không?" Phượng Tiên xác nhận, khen nàng vị giác nhạy bén. Chân Chân lập tức nhớ tới hôm qua Thái t.ử chỉ uống cháo đào nhân Phượng Tiên nấu, một ngày một đêm không tan mửa, tinh thần cũng tốt hơn, bỗng như người trong mộng bừng tỉnh: "Là nước, có thể là do nước!" Phượng Tiên bất động thanh sắc hỏi: "Nước gì?" Chân Chân không trả lời ngay, trực tiếp đứng dậy chạy đi tìm Lâm Hoằng. Hơn một tháng nay trà và canh của Thái t.ử đều dùng nước suối núi. Vì lượng nước dẫn về không lớn, lại sợ nhiều người lấy dùng sẽ làm ô nhiễm nguồn nước, Thái t.ử phi quyết định để Thái t.ử dùng riêng, bản thân Thái t.ử phi cũng rất ít khi dùng. Nếu nước có độc, Chân Chân và Tần Tư thiện tuy nếm trước cho Thái t.ử nhưng vì lượng uống không nhiều nên không có triệu chứng, còn Thái t.ử ngày ngày uống trà dùng canh thì sẽ trúng độc... Chân Chân rất hối hận, trước giờ chỉ nghĩ đến việc kiểm tra nguyên liệu mà quên mất kiểm tra chất lượng nước. Nghe ngóng biết hôm nay Lâm Hoằng sẽ từ vườn Phù Dung Các đi ra, Chân Chân bèn đợi ở lối ra hành lang Cẩm Yên. Hôm nay Chân Chân mặc trang phục nữ quan áo cổ tròn đội mũ bộc đầu, thắt đai lưng da, thấy Lâm Hoằng từ xa liền vái chào theo lễ nam giới, miệng gọi: "Tuyên Nghĩa lang." Lâm Hoằng thấy là nàng thì khá ngạc nhiên, lập tức dừng bước, đứng cách hai trượng, cũng vái chào lại: "Ngô Điển thiện có gì chỉ giáo?" Chân Chân nói ra chuyện Thái t.ử bị bệnh, hơn một tháng nay điểm duy nhất khác biệt trong ăn uống so với trước kia chỉ có nước suối núi. Lâm Hoằng lập tức hiểu ra: "Nàng nghi ngờ trong nước có độc." Rồi nói tiếp: "Nguồn nước là do ta đích thân chọn, trước khi chọn ta đã uống thử vài ngày, không thấy khó chịu gì, còn mời nhiều ngự y đến xem, đều nói chất lượng nước thượng hạng mới dùng." "Ta không phải nghi ngờ Tuyên Nghĩa lang, hay nghi ngờ bản thân nước có độc." Chân Chân nói, "Nhưng vì ống dẫn nước làm bằng tre, liệu bên trong có bị thối rữa nấm mốc, khiến nước suối biến chất không?" Lâm Hoằng đáp: "Không thể nào. Ống tre đều mới làm, bên trong ống dẫn nước không có nhiều không khí, nước chảy không tù, khó mà có nấm mốc." "Vậy liệu chỗ nối các ống tre có bị rò rỉ, lọt tạp chất vào không?" Chân Chân lại hỏi. Lâm Hoằng suy nghĩ một chút rồi nói: "Chỗ nối đã kiểm tra đi kiểm tra lại, rất khó rò rỉ. Nếu nói lọt tạp chất... hay là kiểm tra lại đường ống xem, xem gần đây có ai đào lên, rút kim tre dùng để kiểm tra đường ống ra không." Chân Chân bừng tỉnh, cảm tạ Lâm Hoằng. Lâm Hoằng nói: "Ngô Điển thiện không cần khách sáo như vậy. Trở về xin hãy nhọc lòng chăm sóc Hoàng thái tử, giúp ngài sớm ngày bình phục." "Ta sẽ làm vậy." Chân Chân nói, "Hiện giờ việc ăn uống của ta y hệt ngài ấy, nếu ngài ấy có mệnh hệ gì, ta cũng không thể sống một mình." Lâm Hoằng lặng người, một lúc sau hỏi: "Nàng thích ngài ấy sao?" Chân Chân nhìn thẳng vào mắt chàng, bình tĩnh đáp: " Nguyện cùng sinh cùng tử." Trái tim như bị câu nói ấy đập mạnh một cái, Lâm Hoằng đau đớn đến mức trong khoảnh khắc dường như ngừng thở, nhưng vẻ mặt chàng vẫn thản nhiên, ngay sau đó quyết định mỉm cười đón nhận ánh mắt kiên định của nàng, ôn tồn nói: "Chúc Ngô Điển thiện và Thái t.ử điện hạ phu thê tương kính như tân, đầu bạc răng long." "Đa tạ." Chân Chân cũng mỉm cười gửi lời chúc phúc: "Chúc Tuyên Nghĩa lang sứ quân diên niên, cầm hạc thần tiên." Lâm Hoằng gật đầu, giữ nụ cười bước đi về phía trước. Bất giác nhớ lại nàng của những ngày ở Vấn Tiều dịch, trong những ngày trời quang mây tạnh thế này, thường hái hoa trong vườn đem tặng chàng, ngẩng đầu nhìn chàng, trong mắt lấp lánh vụn nắng vàng, cười tươi rạng rỡ, lúc nào cũng vui vẻ gọi: "Thầy Lâm!" Giờ phút này lướt qua nàng cũng đang mỉm cười ấy, cả hai đều nhìn thẳng, mỗi người đi một ngả, nhưng trong khoảnh khắc giao thoa ngắn ngủi đó, gần như cùng lúc, từ khóe mắt đang cười của mỗi người đều rơi xuống hai giọt lệ. Chương 107 - Bạn Sinh Tử Chân Chân trở về Đông Cung, lập tức mời Tần Tư thiện, Phượng Tiên và Vân Oanh Ca đến phòng mình đóng cửa bàn bạc. Đông Cung cũng như Ngự trù có rất nhiều thiện công, nhưng việc ăn uống của Thái t.ử vốn tinh tế, ngày thường chủ yếu do Tần Tư thiện dẫn dắt các cung nhân Thượng thực cục làm, sau khi bị bệnh Tần Tư thiện càng quy định đồ ăn thức uống, t.h.u.ố.c thang phải do chính bà hoặc Chân Chân, Phượng Tiên, Oanh Ca làm mới được dâng lên Thái t.ử để đảm bảo an toàn. Chân Chân kịp thời nói cho ba người biết chuyện nước suối có thể bị bỏ độc, Tần Tư thiện lập tức quyết định từ nay bỏ dùng nước suối núi, ăn uống toàn dùng nước giếng. Chân Chân nói: "Lẽ ra phải làm thế, nhưng kẻ dám mưu hại Trữ quân ắt không phải hạng tầm thường, e rằng trong Đông Cung cũng có tai mắt của hắn. Vì thế chúng ta không thể công khai tuyên bố bỏ dùng nước suối, trái lại phải làm như bình thường, hàng ngày lấy nước đúng giờ vào bếp, để tránh đ.á.n.h rắn động cỏ, khiến đối phương phát giác chúng ta đã biết nước có vấn đề. Như vậy mới có thời gian truy tra việc bỏ độc." Tần Tư thiện thấy rất có lý, dặn dò Phượng Tiên, Oanh Ca làm theo lời Chân Chân, vẫn đi lấy nước suối như thường, vào bếp thì đổ đi, chỉ dùng nước giếng. Chân Chân lại nhờ Dương T.ử Thành kiểm tra đường ống từ nguồn nước đến cửa xả, xem chỗ nào có dấu vết từng bị đào lên, và đề nghị: "Việc này phải tiến hành bí mật, phần trong cung để nội thị phụ trách quét tước hoặc người làm vườn thực hiện, đừng gây chú ý. Phần ngoài cung phải nhờ Hoàng thành ty tiếp quản, cho lính tuần cải trang kiểm tra đường ống." Việc kiểm tra nhanh chóng có kết quả, quả nhiên trên núi Phượng Hoàng có dấu vết đường ống bị đào lên. Chân Chân lại nói với Dương T.ử Thành: "Tiếp tục nhờ lính tuần Hoàng thành ty cải trang thành tiều phu, tang dân rải rác gần đường ống trên núi Phượng Hoàng, ngày đêm tuần tra. Nay xem ra, kẻ bỏ độc thực hiện nhiều lần, bỏ lượng nhỏ, vì thế trước đây chúng ta nếm không ra độc tố, mà Thái t.ử điện hạ tỳ vị yếu, tích tiểu thành đại nên mới đổ bệnh. Kẻ bỏ độc sẽ không chịu dừng tay, chắc chắn còn đến đào đường ống rút kim tre, nên Hoàng thành ty nhất định phải kiểm soát chặt chẽ từng đoạn, cải trang mai phục kỹ, hễ có kẻ động thủ bỏ độc là bắt ngay." Hoàng thành ty tuần tra như lời Chân Chân gợi ý, hai ngày sau liền truyền tin về, ban đêm phát hiện hai bóng đen lên núi Phượng Hoàng đào đường ống, lính tuần truy bắt, một kẻ chạy thoát, kẻ kia rơi xuống sông mất tích, tìm kiếm một ngày sau vớt được t.h.i t.h.ể ở hạ lưu, mặt mũi bị ngâm trương phình, lại bị đá ngầm va đập, không nhìn ra diện mạo ban đầu, nhưng nhìn thân thể thì là một nội thị. Lính tuần còn tìm thấy một ống tre và một hũ nước canh chúng đ.á.n.h rơi, ống tre đó giống loại ống thụt dùng chữa cháy, nhưng đầu ra có gắn cành tre rỗng ruột nhỏ hơn, vừa khít để c*m v** lỗ nhỏ dùng kiểm tra ống nước, chắc hẳn chúng rút kim tre ra rồi dùng ống thụt này bơm nước canh có độc vào đường ống. Nước canh đó gần như không màu, ngửi có mùi nấm, dùng trâm bạc thử thì trâm không đổi màu, nhưng thêm gừng, tỏi vào nấu thì gừng tỏi nhanh chóng đổi màu. Chân Chân dùng thìa lấy một ít nếm thử, xác định là canh nấm nấu rất đặc, tuy nhổ ra ngay nhưng vẫn thấy chóng mặt buồn nôn, không lâu sau bắt đầu nôn mửa dữ dội. May mà Quách Tư Tề gần đây thường trực ở Đông Cung, dẫn theo Hàn Tố Vấn đến nhanh chóng cứu chữa, giải độc cho nàng. Các ngự y kiểm tra nước canh, cũng cho rằng được nấu từ loại nấm kịch độc. Bơm canh nấm này vào đường ống nước suối, chảy đến cửa xả sẽ bị pha loãng đi nhiều, nên khó bị người ta phát hiện, nhưng ngày nào cũng bỏ như vậy, Thái t.ử tỳ vị yếu liền trúng chiêu. Chân Chân thấy đỡ chút liền lập tức vào điện Phúc Ninh bẩm báo tình hình cho Hoàng đế, đề nghị Quan gia trước tiên rà soát toàn bộ nội thị ở Nam Bắc Đại Nội, xem có ai mất tích không, đồng thời kiểm tra Thượng thực cục, Ngự trù và bếp của các các phần trong cung, lục soát từng ngóc ngách xem có dấu vết nấm độc không. Quan gia nhanh chóng hạ lệnh rà soát Nam Đại Nội, kết quả nội thị đầy đủ, không ai mất tích, tạm thời cũng chưa tìm thấy nấm độc. Nhưng khi Trương Tri Bắc đến Bắc Đại Nội chuyển lời Hoàng đế, Thái hậu lại nổi trận lôi đình, từ chối rà soát, mắng: "Quan gia đây là nghi ngờ lão thân muốn mưu hại Thái t.ử sao? Lão thân nói thẳng ở đây: Cung Từ Phúc không có kẻ mưu nghịch! Nếu Quan gia không tin, cứ việc lập Chiếu ngục, bắt từng nội thị của lão thân đi nghiêm hình tra khảo, tìm cho ra cái gọi là hung thủ!" Như vậy Hoàng đế cũng không tiện cưỡng chế lục soát cung Từ Phúc, đành lệnh cho Hoàng thành ty bí mật thâm nhập Bắc Đại Nội tiếp tục điều tra. Mấy ngày nay Chân Chân lao lực quá độ, mệt mỏi rã rời, Tần Tư thiện thấy vậy bảo nàng về ngủ một giấc thật ngon, bà sẽ trực đêm cho Thái tử. Chân Chân thấy tuy chưa tìm ra chủ mưu bỏ độc nhưng Thái t.ử dần dần khá lên, cũng yên tâm phần nào, về phòng ngủ li bì mê mệt, hôm sau mãi đến khi trời sáng bảnh mới tỉnh, vừa mở mắt đã thấy Thái t.ử ngồi bên giường mình, giật mình ngồi bật dậy, hỏi: "Sao Điện hạ lại ở đây?" "Nghe nói nàng thử độc cho ta, lại dám nếm thứ canh nấm độc đó hả?" Thái t.ử chất vấn. "Chỉ một chút xíu thôi, không sao đâu." Chân Chân cười nói, "Năm xưa Lưu Tư thiện thử độc cho Tiên đế gần trăm lần, ta thế này đã thấm vào đâu!" "Trương Vân Kiều chắc chắn yêu Lưu Tư thiện chưa đủ, mới cho phép bà ấy thử độc gần trăm lần." Thái t.ử khẳng định, rồi khẽ thở dài, "Nàng chỉ một lần này, trong lòng ta đã khó chịu thế này rồi." Chân Chân xua tay, nụ cười vẫn sáng trong: "Không cần khó chịu. Phải nghĩ là, như vậy chúng ta đã là bạn sinh t.ử chi giao rồi, là chuyện tốt." Mắt Thái t.ử hơi ươn ướt, nhẹ nhàng ôm Chân Chân vào lòng. Chân Chân tựa vào n.g.ự.c chàng, khẽ nói: "Ngài tốt với ta như vậy, ta tình nguyện mà, nếm ngàn vạn lần cũng tình nguyện... Phát hiện ngài bị người ta bỏ độc, ta hận kẻ đó thấu xương, một lòng muốn tìm hắn ra, băm vằm tro cốt... Đáng tiếc Thái hậu hành xử cảm tính, không cho lục soát cung Từ Phúc." "Bà ấy làm thế không hẳn là cảm tính đâu." Thái t.ử bình tĩnh phân tích, "Mưu hại Trữ quân, tội đồng mưu nghịch. Nếu tra ra kẻ bỏ độc là người cung Từ Phúc, thì dù bà ấy có tham gia hay không cũng không thoát khỏi liên can, cho dù Quan gia không truy cứu, các quan Ngự sử đài, Hình bộ cũng sẽ không dễ dàng bỏ qua. Nhẹ thì lập Chiếu ngục, nặng thì nguy hại đến ngôi vị Thái hậu của bà ấy, nên bà ấy buộc phải ngăn cản người rà soát cung Từ Phúc ngay từ bây giờ, phòng ngừa rắc rối về sau." Chân Chân ngẩng đầu nhìn chàng: "Ta có một phỏng đoán... Chủ mưu liệu có phải là Trình Uyên? Gần đây Điện hạ phái người giám sát hắn, có thể hắn đã phát giác, lại cậy có Thái hậu che chở nên mới to gan làm bậy như vậy." "Ta cũng nghĩ thế." Thái t.ử suy tư nói, "Nhưng chứng cứ không đủ. Ta giám sát hắn là muốn tra tung tích nương nàng, nếu hắn chỉ giam cầm một dân phụ thì không thể nào liều lĩnh muốn mưu hại ta đến thế, trừ khi thân phận nương nàng không tầm thường, nếu bị tra ra sẽ nguy hiểm đến tính mạng hắn... Ta vẫn sẽ điều tra tiếp, sớm muộn gì cũng tìm ra nương nàng." Chân Chân chần chừ nói: "Ta hơi sợ, nhỡ đâu chuyện lần này lại tái diễn..." "Sẽ không đâu." Thái t.ử cúi đầu hôn lên trán nàng, mỉm cười với nàng, "Bây giờ Tần Tư thiện đã dặn, nước lấy ở bất cứ đâu cũng phải nghiệm độc trước rồi mới dùng, thực phẩm cũng vậy. Muốn mượn chuyện ăn uống mưu hại ta không dễ thế nữa đâu." Hai người âu yếm một lúc, Chân Chân lại nói: "Ta còn một điều thỉnh cầu, tuy nói ra có thể Điện hạ sẽ không vui, nhưng mà..." "Lâm Hoằng." Thái t.ử bình thản nói thẳng ra lý do khiến Chân Chân khó xử, "Nàng sợ Lâm Hoằng vì chuyện của ta mà bị Quan gia trách phạt... Không cần lo, sáng nay Quan gia đến thăm ta, ta đã nói với người rồi, Lâm Hoằng thanh tịnh vô vi, không nhiễm bụi trần, sẽ không muốn hại ta, nếu vì chủ trì công trình dẫn nước mà phạt y thì càng vô lý. Một người nhặt được con d.a.o trên đường, mang đi g.i.ế.c người, chẳng lẽ lại phạt người thợ rèn d.a.o sao?" Chân Chân trăm mối cảm xúc ngổn ngang, không biết cảm tạ chàng thế nào cho hết, cuối cùng chỉ lặng lẽ ôm chặt eo chàng hơn, cảm thấy cả đời này chẳng muốn buông tay nữa. Thái t.ử trở về tẩm các, nhanh chóng triệu Dương T.ử Thành đến, hỏi tình hình Trình Uyên gần đây. Dương T.ử Thành nói: "Mấy hôm nay Trình Uyên từng phái người đến Tiên Thiều viện xin bản nhạc và tập tranh điệu múa Lương Châu, hôm sau trong Thích An Viên của hắn liền truyền ra tiếng nhạc khúc Lương Châu, dường như có nhạc kỹ đang tập luyện." "Múa Lương Châu?" Thái t.ử nói, "Những năm gần đây dường như chỉ thấy Lưu Tiệp dư biểu diễn trong các buổi yến tiệc." Dương T.ử Thành nói: "Điệu múa này thuộc nhạc vũ Đôn Hoàng, độ khó rất cao, hiện nay Tiên Thiều viện không ai múa trọn vẹn được, chỉ có Lưu Tiệp dư biểu diễn một lần. Thời Tiên đế, cũng chỉ có Cúc phu nhân là biết." Cúc phu nhân... Cái tên này gợi cho Thái t.ử nhớ về một hình bóng mờ nhạt lưu lại trong ký ức tuổi thơ, một tà váy đỏ, tay cầm sáo ngọc, đứng bên lan can ngọc giữa hồ, gió mát thổi qua, tà áo mỹ nhân bay bay như muốn cưỡi gió về trời. "Cúc phu nhân năm xưa vì sao xuất cung? Đi đâu rồi?" Thái t.ử lại hỏi. Dương T.ử Thành hơn năm mươi tuổi, cũng là nguyên lão hai triều trong cung, rất rành chuyện cũ Đại Nội, đáp: "Hình như là do Thái hậu không dung được. Cúc phu nhân tự xin xuất cung ra ở riêng, không bao lâu sau thì mất tích, đến nay vẫn bặt vô âm tín. Thái hậu lúc Tiên đế còn sống luôn phải nhẫn nhịn chịu đựng, các mỹ nhân được Tiên đế sủng ái đều không mấy tôn trọng bà, nhất là Cúc phu nhân, nhiều lần công khai chống đối. Cho nên sau khi Tiên đế băng hà, Thái hậu lập tức xin Quan gia đưa hết các mỹ nhân của Tiên đế xuất cung, xuống tóc làm ni cô. Lúc đó Cúc phu nhân đã mất tích, trong cung đồn rằng, Thái hậu từng ra lệnh truy bắt, muốn g.i.ế.c bà ấy để tuẫn táng theo Tiên đế." Thái t.ử lại hỏi kỹ thời gian Cúc phu nhân xuất cung và mất tích, trầm ngâm giây lát rồi hỏi: "Tên đầy đủ của Cúc phu nhân là gì?" Dương T.ử Thành đáp: "Bà ấy là trẻ mồ côi, trong cung đổi qua mấy người nương nuôi, đều đối xử với bà ấy không tốt lắm. Bà ấy tính tình ương ngạnh, không chịu theo họ nương nuôi, sau này Tiên đế hỏi, bà ấy liền nói, không họ, tên Cúc An." "Không họ... Cúc An..." Thái t.ử suy tính một hồi, rồi lệnh cho Dương T.ử Thành: "Ngươi phái người tìm một họa sĩ giỏi vẽ chân dung qua lời kể, đưa đến Phố Giang, để hàng xóm láng giềng của Ngô Thu Nương miêu tả dung mạo vóc dáng bà ấy cho họa sĩ, bảo họa sĩ vẽ xong mang về đây." Tuy tính tình Hàn Tố Vấn trong mắt các ngự y không mấy dễ ưa, nhưng hắn dù sao cũng là người có y thuật cao minh nhất trong đám y quan y công trẻ tuổi, nên các ngự y già khi chẩn trị cho quý nhân quan trọng thường hay dẫn hắn theo làm trợ thủ, trong lúc Thái t.ử bị bệnh Quách Tư Tề cũng thường đưa Hàn Tố Vấn đến Đông Cung. Nay Thái t.ử dần khỏi bệnh, thấy được sự vất vả bao ngày của Hàn Tố Vấn, bèn xin Quan gia đặc cách gia ân, thăng Hàn Tố Vấn lên làm Hàn lâm y quan. Từ đó về sau, Hàn Tố Vấn có tư cách một mình đi khám bệnh. Một hôm Thái t.ử cảm thấy thần thanh khí sảng, bèn nói với Hàn Tố Vấn người đang dạy mình thuật dẫn đạo để giãn gân cốt: "Ta tự làm được rồi, sau này Hàn y quan không cần ngày nào cũng đến, nếu cần ta sẽ cho người đến viện Y quan mời ngươi." Thái t.ử còn ban thưởng hậu hĩnh cho Hàn Tố Vấn, Hàn Tố Vấn tuy tạ ơn nhưng vẻ mặt thẫn thờ, dường như chẳng vui vẻ gì. Chân Chân tiễn hắn ra cửa, dọc đường hắn liên tục hỏi Chân Chân: "Ta thấy sắc mặt cô vàng vọt, vô cùng tiều tụy, có phải tỳ vị không tốt không? Ngày mai ta đến chẩn trị cho cô nhé." Chân Chân nói: "Ta chỉ là mấy hôm nay ăn ít, ngủ không ngon thôi, nghỉ ngơi vài ngày là khỏi, ngươi không cần đến nữa." "Mệt mỏi cũng sinh ra lắm bệnh chứng. Ngày mai ta vẫn phải đến, xem kỹ cho cô, xem chỗ nào có khả năng có bệnh." Hàn Tố Vấn nghĩ ngợi rồi nói thêm, "Chỉ một ngày e không đủ, bộ dạng này của cô e là bệnh đã vào tràng vị, sắp ngấm vào xương tủy, cứ cách một hai ngày phải tái khám một lần." Chân Chân mất kiên nhẫn xua tay: "Ta không có bệnh..." "Không, cô có!" Hàn Tố Vấn cố chấp khẳng định. Chân Chân cảm thấy có chút kỳ quặc: Hắn cứ khăng khăng mình có bệnh, phải chăng lấy cớ để thường xuyên đến Đông Cung? Bèn dừng lại nhìn hắn từ đầu đến chân, cau mày nói: "Hàn Tố Vấn, ngươi không phải là thích ta đấy chứ?" Hàn Tố Vấn lập tức lộ vẻ mặt như bị sỉ nhục, ghét bỏ nói: "Mắt nhìn của cô nương cao như thế, ta làm sao mà thích cô được!" Rồi chắp tay với Chân Chân, "Nói thật lòng, ta thâm tâm vẫn luôn kính trọng cô là một trang hảo hán, cô đừng có mà đ.á.n.h chủ ý lên ta." Lời còn chưa dứt, liền nghe bên ngoài cửa lớn tiếng oanh yến ríu rít, hóa ra là các ca kỹ sống ở Đông Cung từ Tiên Thiều viện trở về, tốp năm tốp ba cười nói đi vào. Hàn Tố Vấn lập tức vứt Chân Chân sang một bên, mặt mày hớn hở, như tắm gió xuân đi về phía Hương Lê nhi trong đám đó, vừa đi vừa nhỏ nhẹ gọi "Giang cô nương", khác hẳn cái giọng bỗ bã nói chuyện với Chân Chân ngày thường. Chân Chân bừng tỉnh đại ngộ: Hắn thích là thích Hương Lê nhi, sợ không được thường xuyên đến Đông Cung sẽ mất cơ hội tình cờ gặp gỡ nàng ấy. Chân Chân cố ý ngắm nghía Hương Lê nhi một hồi, đành phải thừa nhận, Hương Lê nhi yêu kiều khả ái, đàn giỏi múa hay, lại hiểu lòng người, mình so với nàng ấy, quả thực thô kệch như một hán tử. Thế là lẳng lặng đợi Hàn Tố Vấn bắt chuyện với Hương Lê nhi xong, Hương Lê nhi đi rồi, Chân Chân bước đến trước mặt Hàn Tố Vấn đang vươn cổ nhìn theo bóng người trong mộng, nói: "Được rồi, 'huynh' đồng ý với đệ, cứ dăm bữa nửa tháng lại báo lên viện Hàn lâm y quan là ngọc thể của 'huynh' có bệnh, mời đệ đến chẩn trị." Hàn Tố Vấn mừng rỡ ra mặt, cười chắp tay: "Đa tạ huynh đài!" Lại đặc biệt dặn dò, "Khai triệu chứng đừng nghiêm trọng quá, kẻo các y quan khác lại kéo đến theo. Cứ nói chóng mặt, chán ăn, hoặc buồn nôn là được." Chương 108 - Cúng Trăng Trong lúc Thái t.ử bệnh, ngày nào Triệu Ngai cũng đến Đông Cung thăm hỏi, lúc đó Thái t.ử cả ngày mê man, Chân Chân bận rộn trong ngoài, chạy ngược chạy xuôi, thời gian gặp gỡ nói chuyện với y không nhiều. Nay Thái t.ử dần khỏi bệnh, trong lòng Triệu Ngai vui mừng, cũng muốn gặp Chân Chân nhiều hơn, chủ động đề nghị cùng huynh trưởng đọc sách luyện chữ, tản bộ ngắm hoa, nên đến càng chăm hơn. Tuy Thái t.ử đã từ chối thẳng thừng việc chuyển giao Chân Chân cho y, nhưng y thấy Thái t.ử mãi chưa tuyên bố nạp Chân Chân làm thiếp, khó tránh khỏi nuôi hy vọng, lại thấy Thái t.ử và Chân Chân cư xử vô cùng đúng mực, hai người chắc không có tư tình nam nữ, nào biết Thái t.ử xưa nay giỏi kiềm chế, dù riêng tư có thân mật với Chân Chân thế nào, trước mặt người khác cũng không lộ nửa điểm thất lễ, hai người thi thoảng giao lưu cũng tương kính như tân, Thái t.ử thậm chí không gọi tên khuê danh Chân Chân mà gọi "Ngô Điển thiện", đôi khi ánh mắt chạm nhau, sẽ lặng lẽ nhìn nhau cười, nhưng cũng chỉ là những lúc không bị ai chú ý. Ngoài các sư phụ thường trực ở Đông Cung, Hoàng đế thỉnh thoảng còn phái trọng thần triều đình đến giảng bài cho Thái tử, sau khi Thái t.ử bình phục, vị đại thần đầu tiên đến giảng bài được định là Tham tri chính sự Thẩm Hãn. Triệu Ngai nghe tin nói Thẩm Tham chính là thầy của Quan gia năm xưa, cơ hội nghe ông giảng bài rất hiếm có, xin được cùng Thái t.ử nghe giảng. Tam hoàng t.ử Triệu Hạo liền hùa theo nói Nhị ca nói chí phải, mình cũng muốn đến Đông Cung nghe giảng. Thấy hai con một lòng hiếu học, Hoàng đế rất an ủi, nhanh chóng đồng ý, còn khen ngợi hai người. Tình cảm của Triệu Hạo dành cho Phượng Tiên bắt nguồn từ chuyện canh lê ở vườn Tụ Cảnh, khi đó chỉ thấy người trong thiên hạ đều thờ ơ với mình, chỉ có Phượng Tiên để ý đến, còn không tiếc lời bày tỏ quan tâm, bèn bắt đầu coi nàng là tri âm. Sau khi Phượng Tiên từ chối gả cho Triệu Hoài Ngọc, Triệu Hạo tai nghe mắt thấy hành động dẹp yên sóng gió của nàng, không khỏi càng thêm ái mộ, chỉ thấy cô gái này không những xinh đẹp động lòng người mà còn thông minh trí tuệ, vô cùng cá tính. Bản thân y có phần nhu nhược, còn tính cách Phượng Tiên mạnh mẽ, trong mắt y càng thấy nàng anh tư sảng khoái, vả lại Phượng Tiên dửng dưng với sự lấy lòng của y, không có ý làm thiếp, càng khiến y trằn trọc băn khoăn, ngày đêm mong nhớ. Trước đây y cũng thường mượn cớ thăm Thái t.ử để đến Đông Cung, rất mong gặp Phượng Tiên, chỉ là Phượng Tiên không như Chân Chân luôn túc trực bên Thái tử, y không phải lần nào cũng gặp được. Hôm nay biết tin sắp có cơ hội nghe Thẩm Hãn giảng bài, bèn kiếm cớ đến Đông Cung hỏi huynh trưởng cần chuẩn bị những gì, nói chuyện với Thái t.ử xong, lảng vảng gần bếp của cung nhân Thượng thực hồi lâu mới thấy Phượng Tiên đi ra, nhìn dáng vẻ là định về Thượng thực cục, bèn lén đi theo, đợi Phượng Tiên đi ra ngoài hàng dương liễu, đến chỗ hành lang cổng nội cung vắng vẻ mới mở miệng gọi nàng. Phượng Tiên thấy là y, chẳng có vẻ gì vui mừng, chỉ hành lễ theo phép. Triệu Hạo đi đến trước mặt nàng, cũng không khách sáo dông dài, nói thẳng vào vấn đề: "Sau lần từ biệt hôm đó, ta suy đi nghĩ lại lời nàng, thấy rất có lý. Người con gái như nàng, đoan trang thông tuệ, xứng đáng là hiền thê, sao có thể chịu phận làm thiếp. Mà ta vị trí chính thất còn trống, sao không cầu cưới giai nhân làm vợ? Huống hồ nàng tuy là cung nhân, nhưng sinh ra trong gia đình tướng môn, xuất thân cũng không tính là thấp. Nếu nàng đồng ý, ta sẽ trù tính kỹ càng, tìm cách xin Quan gia cho phép ta cưới nàng làm phu nhân của ta." Phượng Tiên có chút ngạc nhiên. Hôm đó mình nói "thề không làm thiếp", một mặt là căm ghét thân phận thiếp thất, mặt khác là không có lòng ái mộ Triệu Hạo, không muốn chịu phận lẽ mọn, nên đưa ra yêu cầu cao, nghĩ rằng nếu y có hảo cảm giới hạn với mình thì sẽ biết khó mà lui, ngờ đâu Triệu Hạo nay lại thực sự có ý cầu hôn. Ngoài sự kinh ngạc, những tia vui sướng cũng len lỏi dâng lên, nhưng nàng nhanh chóng kìm lại độ cong nơi khóe môi, nghiêm mặt nói: "Đại vương, yêu cầu của ta không chỉ có thế... Cả đời này ta không mong cầu gì khác, chỉ muốn gả cho một phu quân một lòng một dạ đối tốt với mình, cả đời chàng chỉ được yêu một mình ta, Đại vương làm được không?" Triệu Hạo sảng khoái đáp: "Làm được." Phượng Tiên lại hỏi: "Phu quân của ta phải đặt cảm nhận của ta lên trước trong mọi việc, ta thích mới làm, không thích thì không làm, Đại vương làm được không?" Triệu Hạo vẫn đáp: "Làm được." "Nếu ta và người nhà Đại vương có tranh chấp, Đại vương có thể bênh vực ta trước không?" Phượng Tiên truy vấn. Triệu Hạo do dự một chút, vẫn đáp: "Được." Phượng Tiên mỉm cười, lại nói: "Đại vương không được thay lòng đổi dạ, không được thân cận với cô gái khác. Nếu ta phát hiện Đại vương sờ tay ai, ta sẽ c.h.ặ.t t.a.y người đó; sờ chân ai, ta sẽ c.h.ặ.t c.h.â.n người đó. Con của Đại vương chỉ có thể do ta sinh, nếu ngài để người phụ nữ khác sinh con, ta sẽ g.i.ế.c ả ta, được không?" Mấy câu cuối giọng nàng nũng nịu, ánh mắt tình tứ nhìn Triệu Hạo, khiến lòng Triệu Hạo hân hoan nhảy nhót: Nàng ấy vậy mà bắt đầu ghen vì ta, làm nũng với ta, còn muốn sinh con cho ta! Mấy lời đe dọa đầy sát khí kia toàn bộ bị y hiểu thành lời nói đùa nũng nịu của tình nhân, nhanh chóng nhận lời: "Được, được, đều nghe nàng hết!" Phượng Tiên hài lòng cười, lấy ra một chiếc khăn lụa thêu hoa phượng tiên, nhét vào tay Triệu Hạo, rồi xoay người, rảo bước chạy về phía Thượng thực cục. Triệu Hạo mừng như điên, nắm chặt khăn lụa, nhìn theo bóng nàng đi xa, hồi lâu mới hoàn hồn, nửa chạy nửa nhảy bước lên đường về nhà. Họa sĩ Dương T.ử Thành phái đến Phố Giang đã trở về, mang theo bức chân dung Ngô Thu Nương. Dương T.ử Thành dâng lên Thái tử, Thái t.ử mở ra xem, vẫn cuộn lại, để nội thị bưng, lát nữa khi đến điện Phúc Ninh gặp phụ thân sẽ mang theo. Thái t.ử bảo Chân Chân cùng mình đến điện Phúc Ninh, không ngờ Phùng Tịnh cũng ở đó, đang điểm trà cho Quan gia trong điện. Thái t.ử thần sắc vẫn bình thường, nói với Phùng Tịnh và Chân Chân: "Ta có chút việc muốn bẩm báo Quan gia, hai người ra hành lang đợi một lát, lát nữa hẵng vào." Hai cô gái vâng lời, Phùng Tịnh liền dẫn Chân Chân đi về phía hành lang tây. Từ khi nảy sinh tình cảm với Thái tử, Chân Chân gặp lại Phùng Tịnh có phần ngại ngùng, nhưng lại nghĩ ngày sau còn phải chung đụng lâu dài, chi bằng cứ thẳng thắn nói rõ chuyện này với cô ấy. Lặng lẽ nhìn nhau giây lát, Chân Chân khẽ hỏi: "Phùng tỷ tỷ, nếu muội thích Thái t.ử điện hạ, tỷ có để bụng không?" Phùng Tịnh cười nhạt: "Chuyện của hai người, Quan gia đã nói với ta rồi. Nếu bảo hoàn toàn không có cảm giác gì thì e muội cũng không tin. Khó chịu là có, nhưng chỉ là chút cảm khái và hụt hẫng thôi, không nghiêm trọng lắm. Ta và huynh ấy dù sao cũng chia tay hơn ba năm rồi, những chuyện này khi ta quyết định không gả cho huynh ấy đã nghĩ thông suốt, sau này huynh ấy chắc chắn sẽ yêu người khác, cũng sẽ có người khác yêu huynh ấy, đó đều là chuyện riêng của họ, không liên quan đến ta. Nếu chỉ vì ta từng yêu huynh ấy, bản thân không gả, lại cấm người khác yêu huynh ấy, thì ta thành ra loại người gì chứ." "Vậy khi tỷ và huynh ấy đã hóa giải hiểu lầm, tại sao không nguyện gả vào Đông Cung?" Chân Chân lại hỏi, "Là không muốn làm thiếp, cảm thấy danh phận quan trọng hơn sao?" "Ta chỉ sợ cảnh thê thiếp chung sống, sợ bản thân bị tổn thương, cũng sợ không kiểm soát được lòng ghen tuông mà đi làm hại người khác. Lại cảm thấy một năm xa cách trước đó ta đã dần quen với cuộc sống không có huynh ấy, có thể sống những ngày yên tĩnh, nếu lại để huynh ấy bước vào, sau này lại mất đi lần nữa, thì đau khổ biết bao, e là không bao giờ thoát ra được nữa..." Phùng Tịnh thở dài, nhưng ngay sau đó cười khích lệ Chân Chân, "Nhưng muội và ta không giống nhau, muội kiên cường hơn ta nhiều, lại rất có năng lực, có thể ứng phó với đủ loại tình huống phức tạp, đây cũng là nguyên nhân Quan gia xem trọng muội. Chăm sóc Thái t.ử cho tốt, đừng phụ kỳ vọng của Quan gia." Trong điện Phúc Ninh, Thái t.ử mở bức tranh mời phụ thân xem, hỏi phụ thân có nhận ra người trong tranh không. Hoàng đế ngắm nghía một hồi, nói: "Nhìn dung mạo vóc dáng, rất giống Cúc phu nhân được Tiên đế sủng ái... Bức tranh này con lấy từ đâu?" Thái t.ử che giấu nói: "Đây là do một họa sĩ Hàn lâm đồ họa viện năm xưa từng gặp Cúc phu nhân vẽ. Mấy hôm trước hắn xuất kinh thăm người thân, gặp một người phụ nữ, nghi là Cúc phu nhân, bèn vẽ bức chân dung này. Con từng nghe truyền thuyết về Cúc phu nhân, rất tò mò, bèn xin hắn bức tranh, đến để kiểm chứng với ngài, xem có giống Cúc phu nhân không." "Rất giống." Hoàng đế khẳng định, "Nếu người họa sĩ gặp trông như thế này, thì bảy tám phần là Cúc phu nhân... Nhưng chân dung chúng ta xem là được rồi, đừng truyền đến chỗ Thái hậu, kẻo bà ấy cho người đi truy bắt Cúc phu nhân." Thái t.ử bèn hỏi: "Vậy lời đồn trong cung rằng Thái hậu muốn truy bắt Cúc phu nhân để tuẫn táng cho Tiên đế là thật sao?" Hoàng đế nói: "Khi Tiên đế băng hà, Thái hậu yêu cầu ta đuổi các mỹ nhân của Tiên đế ra khỏi cung, chứ không bắt ta truy bắt Cúc phu nhân. Nhưng lời đồn này lưu truyền trong cung đã lâu, e cũng không phải không có lửa mà lại có khói, có lẽ bà ấy sẽ sai Trình Uyên phái người truy bắt." Thái t.ử lại hỏi: "Thời gian Cúc phu nhân mất tích gần với thời gian của Lưu Tư thiện, liệu họ có hẹn nhau cùng bỏ trốn không?" "Họ đúng là bạn bè." Hoàng đế bắt đầu hồi tưởng chuyện cũ, "Cúc phu nhân tự xin xuất cung trước, sống trong khu vườn Tiên đế ban cho. Còn Lưu Tư thiện là bỏ trốn cùng Trương Vân Kiều, sau khi xuất cung từng sống một thời gian trong ngôi nhà nhỏ trên núi mà ta bí mật tìm cho họ. Sau này Trương Vân Kiều chữa bệnh cho Tề Tuẫn không khỏi, người nhà họ Tề truy sát hắn, hắn trốn đông trốn tây trong kinh thành, sau đó dứt khoát đưa Lưu Tư thiện trốn đi nơi khác. Thời gian Cúc phu nhân mất tích quả thực gần với họ, hẹn nhau đi cùng là có khả năng, nhưng cũng không có bằng chứng nào khẳng định chắc chắn là vậy." "Ngôi nhà nhỏ trên núi?" Thái t.ử chợt nhớ Bồ Lộc Tân hôm nọ ở chỗ Lâm Hoằng có nhắc đến việc từng cùng Quan gia, một văn sĩ và vợ chồng thái y tụ họp ở một viện lạc trên núi, bèn kể chuyện này cho phụ thân, và hỏi người: "Vợ chồng thái y tụ họp với cha hôm đó có phải là Trương Vân Kiều và Lưu Tư thiện không?" Hoàng đế xác nhận, Thái t.ử liền hỏi tiếp: "Vị văn sĩ kia là ai?" Hoàng đế nói: "Là cha của Lâm Hoằng, Lâm Dục, lúc đó giữ chức Tư gián." "Nói như vậy, phụ hoàng giao hảo với hai người họ, chắc họ cũng là bạn bè của nhau?" Thái t.ử có chút ngạc nhiên, "Nhưng tại sao trong triều vẫn luôn có cách nói: Trương Vân Kiều từng muốn tìm sự che chở của Tề Tuẫn, mà khi đó Lâm Dục thường can gián Tiên đế, đàn hặc Tề Tuẫn kết bè kết đảng, thông đồng với địch b*n n**c, nên Tề Tuẫn vu cáo Lâm Dục nhận hối lộ, cố ý công kích Tể chấp, khiến ông ấy vào ngục, rồi sai Trương Vân Kiều lấy danh nghĩa chữa bệnh g.i.ế.c hại ông ấy trong ngục?" "Lâm Dục đàn hặc Tề Tuẫn là thật, bị hãm hại vào ngục là thật, bị Trương Vân Kiều g.i.ế.c cũng là thật." Hoàng đế thở dài, "Nhưng chuyện Trương Vân Kiều g.i.ế.c ông ấy là có uẩn khúc..." Sau đó người dành khá nhiều thời gian kể chi tiết cho Thái t.ử nghe quá trình ba người quen biết, và những uẩn khúc trong vụ án Lâm Dục, Thái t.ử nghe xong vô cùng cảm khái, cũng thở dài theo phụ thân. Một lát sau lại hỏi: "Những chuyện này Lâm Hoằng biết không?" "Chắc chỉ biết Trương Vân Kiều g.i.ế.c cha mình, chứ không biết uẩn khúc trong đó đâu." Hoàng đế nói, "Chuyện này dù sao cũng không thể nói công khai, nên chỉ có ba người chúng ta biết, Lâm Dục ngay cả vợ mình cũng không cho hay... Thời gian qua đi đã lâu, Trương Vân Kiều lại mất tích biệt tăm, ta cũng không nhắc với Lâm Hoằng, nhưng dù sao trong lòng cũng thấy có lỗi với nhà nó, nên tuy Lâm Hoằng tính khí thư sinh, hành xử tùy hứng, ta cho công danh, cho chức quan, nó muốn từ là từ, ta cũng không tính toán, còn việc sủng ái Lưu Tiệp dư, cũng coi như yêu ai yêu cả đường đi lối về. Ta biết nó sau lưng ta làm một số chuyện không hay, nhưng nể mặt cậu nó, cũng nhắm mắt làm ngơ." Hoàng đế giữ Thái t.ử và Chân Chân lại điện Gia Minh dùng bữa, lại thưởng trà trò chuyện một hồi, khen Chân Chân lập công lớn trong việc điều tra vụ án Thái t.ử trúng độc, nói đã lệnh cho học sĩ soạn thảo chế, mấy hôm nữa vào sinh nhật Thái t.ử sẽ tuyên bố phong Chân Chân làm Quận phu nhân. Thái t.ử nghe vậy mỉm cười nhìn Chân Chân, lần này Chân Chân chỉ cúi đầu tránh ánh mắt mọi người, không tỏ ý phản đối. Từ điện Gia Minh đi ra, Thái t.ử thấy đêm nay trăng sáng vằng vặc, bèn cho nội thị tùy tùng về trước, tự mình xách một chiếc đèn lồng cung đình, mời Chân Chân cùng lên Nguyệt Nham ngắm trăng. Thái t.ử nắm tay Chân Chân chậm rãi lên núi, dọc đường kể với nàng: "Lần đầu tiên đến Nguyệt Nham là do mẫu thân ta An Thục Hoàng hậu đưa ta đi, nghe nói lúc đó ta mới hai tuổi, Nhị ca còn chưa ra đời. Mẫu thân sau đó năm nào vào sinh nhật ta cũng đưa ta đến đây ngắm trăng, sau này Nhị ca lớn hơn chút, thì là ta đưa đệ ấy đến..." "Tại sao không phải An Thục Hoàng hậu đưa đệ ấy đến?" Chân Chân buột miệng hỏi, nhưng rất nhanh tự nhận ra nguyên do trong đó, phát hiện mình vừa hỏi một câu chạm vào nỗi đau người khác. Thái t.ử quả nhiên im lặng, hồi lâu mới nói: "Năm ta năm tuổi thì mẫu thân qua đời, lúc đó Nhị ca ba tuổi, trước đó mẫu thân bệnh tật triền miên đã lâu, nên không đưa đệ ấy đi được." Chân Chân vội vàng xin lỗi, nói mình lỡ lời. Thái t.ử ôn tồn bảo: "Không sao." Rồi tiếp tục kể chuyện về mẫu thân, "Phụ hoàng và An Thục Hoàng hậu là phu thê từ thuở thiếu thời, vô cùng ân ái, nhưng Tề Tuẫn vì muốn ép phụ thân cưới con gái bè đảng của hắn, đã nuôi dưỡng một số cô gái tinh thông về ăn uống, bí mật đưa vào phủ của phụ hoàng, bọn họ từ từ bỏ độc vào thức ăn của mẫu thân, khiến mẫu thân ngày càng gầy mòn tiều tụy, khí huyết khô kiệt mà c.h.ế.t... Chuyện này sau đó Lưu Tư thiện nói cho ngài ấy biết, phụ hoàng vốn vì việc nước đã chán ghét Tề Tuẫn, biết sự thật lại càng hận hắn thấu xương. Mưu tính nhiều năm, cuối cùng cũng báo được đại thù..." Nói đến đây, chàng dường như ý thức được điều gì, không nói tiếp nữa, đổi chủ đề: "Khi An Thục Hoàng hậu qua đời tuy ta cũng không lớn lắm, nhưng vẫn còn nhớ chút ít dung mạo nụ cười của người, nhớ bài hát người hát cho ta nghe, nhớ người thích ăn gỏi cá vược Tùng Giang... Còn nàng? Chân Chân, ta mồ côi nương từ nhỏ, nàng mồ côi cha từ nhỏ, nàng còn nhớ dáng vẻ cha mình không?" Chân Chân buồn bã lắc đầu: "Không nhớ nữa... Ông ấy để lại ấn tượng trong ta chỉ là những đường nét rất mơ hồ, chỉ nhớ vài hình ảnh, là bóng nghiêng khi ông ấy đọc sách viết chữ, và mùi t.h.u.ố.c trên người ông ấy..." "Trẻ con thường nhớ rõ những cảnh tượng đau buồn, ta còn nhớ dáng vẻ lúc mẫu thân lâm chung..." Thái t.ử buồn rầu hỏi, "Cảnh tượng lúc cha nàng qua đời nàng còn ấn tượng không?" Chân Chân trả lời: "Không, hoàn toàn không nhớ." "Tang lễ, cờ phướn trắng các loại, cũng không sao?" Thái t.ử hỏi. "Không." Chân Chân khẳng định, "Không có chút ấn tượng nào về những thứ đó." Thái t.ử ngẫm nghĩ rồi nói: "Có thể là nương nàng bảo vệ nàng quá kỹ, không nỡ để nàng chứng kiến những cảnh tượng đó." Hai người tiếp tục đi lên, khi sắp đến Nguyệt Nham, bỗng phát hiện phía trên đèn nến lung linh, dường như đã có người ở đó, còn văng vẳng tiếng phụ nữ khóc. Thái t.ử và Chân Chân nhìn nhau, không hẹn mà cùng nhẹ bước, từ từ tiến lại gần Nguyệt Nham. Tiếng người phụ nữ ngày càng rõ, vừa khóc vừa kể lể: "Con gái bất hiếu, hàng năm sinh nhật cha đều không thể công khai tế bái cha, chỉ có thể đến đây cầu khấn với trăng... Xin cha phù hộ cho con gái và cháu ngoại, để con gái sớm ngày hoàn thành tâm nguyện của cha, an ủi vong linh cha trên trời." Bên cạnh lại vang lên giọng một người đàn bà đứng tuổi: "Phu quân, nương t.ử rất giỏi giang, đã sinh hạ Hoàng tử, di nguyện của phu quân sớm muộn cũng có ngày thành hiện thực." Giọng hai người này Thái t.ử và Chân Chân đều thấy quen tai, đúng lúc này một cơn gió thổi qua, cuốn một tờ giấy tiền vàng mã người phụ nữ đang đốt trước Nguyệt Nham bay về phía Chân Chân, Thái t.ử vội phất tay áo gạt tờ giấy tiền ra, hành động gây ra chút tiếng động, hai người trước Nguyệt Nham nghe tiếng vội nhìn xuống, cũng khiến Thái t.ử và Chân Chân nhìn rõ mặt họ, phát hiện quả nhiên là Lưu Tiệp dư và Ngọc bà. Lưu Tiệp dư nhìn thấy họ, mặt lập tức cắt không còn giọt máu, nhất thời ngây ra không nói được gì, còn Ngọc bà bà nhanh chóng bước lên một bước, hành lễ với Thái tử, nói: "Điện hạ tha tội. Nương t.ử lo lắng tế bái người thân trong các sẽ khiến Quan gia không vui, mới dời bước đến đây. Muôn vàn mong Điện hạ lượng thứ, đừng truyền chuyện này ra ngoài." Thái t.ử bình tĩnh gật đầu, nói: "Ta hiểu. Lưu nương t.ử hiếu tâm đáng khen, cứ tiếp tục đi, ta sẽ không nói cho người khác." Lưu Tiệp dư cũng hoàn hồn, thi lễ cảm tạ Thái tử, Thái t.ử vái trả một cái, rồi dắt Chân Chân quay về. Đợi khi đã đi xa, Chân Chân nói với Thái tử: " Ngọc bà dường như gọi cha của Lưu Tiệp dư là phu quân, chẳng lẽ bà ta là thiếp của cha Lưu nương tử?" Lại hỏi: "Lưu Tiệp dư được sủng ái như vậy, sinh nhật cha cũng không thể tế bái trong các của mình sao?" Thái t.ử trầm ngâm suy nghĩ, không lập tức bàn luận chuyện này với nàng, chỉ nắm tay nàng rảo bước nhanh hơn. Trở về Đông Cung, Thái t.ử bảo Chân Chân về chỗ nàng nghỉ ngơi trước, rồi triệu Dương T.ử Thành đến, lệnh cho ông ta tra xem hôm nay có phải sinh nhật cha Lưu Tiệp dư không. Hôm sau Dương T.ử Thành liền đến bẩm báo: "Cha của Lưu Tiệp dư là Lưu Côn sinh ngày mười ba tháng năm, không phải hôm qua." Thái t.ử không thấy bất ngờ, lập tức dặn dò: "Lại đi tra sinh nhật của các quan viên ngũ phẩm trở lên đã qua đời trong vòng hai mươi sáu năm nay, xem có ai ngày sinh nhật là hôm qua không." Chương 109 - Hoa Điền Ngọc Đêm đó trở về Phù Dung Các, Ngọc bà đóng cửa phòng, lại mắng Lưu Lạc Vi một trận tơi bời: "Hồi đó con ghen tuông vớ vẩn, không cho Lâm Hoằng cưới Ngô Chân Chân, bây giờ thế nào? Không ngoài dự liệu của ta, Ngô Chân Chân sắp trở thành trắc thất của Thái t.ử rồi! Nó và Đông Cung, vốn dĩ đều khó đối phó, nay ở cùng một chỗ, lại chứng kiến chuyện hôm nay, tuy ta đã cố gắng che đậy, nhưng bọn chúng sớm muộn gì cũng sẽ nhận ra, chẳng mấy chốc con đến nhìn sắc mặt Ngô Chân Chân cũng không được, chúng ta sẽ phải đối mặt với tai ương ngập đầu!" Nói rồi càng nghĩ càng bi thương, gạt nước mắt hận nói, "Lão nương mưu tính bao nhiêu năm, nhẫn nhục chịu đựng, khó khăn lắm mới đi đến bước hôm nay, sắp được toại nguyện, lại không ngờ sẽ bị hủy hoại bởi sự tùy hứng nhất thời của oan gia nhà con!" "Con đã nói con sẽ không để chuyện đó xảy ra." Lưu Lạc Vi cũng đỏ hoe mắt nói, "Cha qua đời nhiều năm, bao năm nay sinh nhật ngày giỗ của cha, trong kinh chưa từng có nghi thức tế bái, bọn họ sẽ không biết hôm nay là sinh nhật cha. Cho dù thấy nghi ngờ muốn tra cứu, quan lại đã mất nhiều như vậy, nhất thời nửa khắc cũng không tra ra được, chúng ta vẫn còn thời gian." "Lần này con muốn tự mình ra tay?" Bà Ngọc cười lạnh, "Sau vụ nấm độc, Đông Cung ăn uống càng cẩn trọng, từ nguyên liệu đến nước, trước khi lấy dùng và cho vào miệng đều phải nghiệm độc nhiều lần, muốn mượn chuyện ăn uống hành sự gần như không thể nữa rồi." "Ngoài ăn uống, con còn cách khác." Lưu Lạc Vi chậm rãi đi đến bên giường, ngồi xuống, vẻ mặt khá kiêu ngạo liếc nhìn Ngọc bà, ra lệnh: "Đi tìm Trình Uyên đến đây, con muốn xin hắn một vị thuốc." Hôm sau Lưu Lạc Vi liền cho người mời Phượng Tiên đến, trước tiên để nàng gặp gỡ trò chuyện với Hứa cô cô một hồi, thấy hai người cười nói vui vẻ, rất lấy làm mừng, bèn cười nói với Phượng Tiên: "Trước đây lại không biết, Hứa cô cô là người cực kỳ thỏa đáng, mấy ngày nay hỗ trợ Ngọc bà, quản lý Phù Dung Các đâu ra đấy, chuyện gì ta không nghĩ tới, bà ấy cũng nghĩ trước giúp ta, thật khiến ta không còn nỗi lo về sau, chỉ việc an hưởng thanh nhàn. Nói ra thì, bà ấy nhờ có ngươi mới đến được bên cạnh ta, ngươi cũng coi như có công tiến cử. Gần đây Quan gia ban cho ta hai hộc trân châu phương nam, ta làm vài bộ hoa điền ngọc (đồ trang sức dán lên ma)ựt, bèn tặng một bộ cho ngươi, coi như chút lòng cảm tạ." Nói xong bảo Ngọc bà bà đưa bộ hoa điền ngọc đến trước mặt Phượng Tiên. Bộ hoa điền ngọc này gồm năm miếng, để phụ nữ dán lên ấn đường, khóe môi và hai bên thái dương, trân châu trắng muốt không tì vết, bề mặt mịn màng đanh chắc, ánh ngọc long lanh, sáng bóng lạ thường, tựa như có linh tính, tay Ngọc bà khẽ run, ánh sáng kia liền như giọt sương mang theo hào quang nhật nguyệt chảy tràn trên viên ngọc. Phượng Tiên nhìn qua là biết bộ hoa điền ngọc này giá trị liên thành, vội từ chối: "Ý tốt của nương t.ử ta xin nhận. Chỉ là hoa điền ngọc quá quý giá, ta chỉ là một cung nhân bình thường, dùng loại này là vượt quá phận, vạn lần không dám nhận." Lưu Lạc Vi ôn tồn nói: "Dung mạo khí chất của ngươi chỗ nào không xứng với bộ hoa điền ngọc này? Trước mắt tuy chưa có phẩm cấp, nhưng với tài năng như ngươi, thăng tiến chỉ là chuyện sớm muộn. Cứ nhận lấy đi, chẳng bao lâu nữa sẽ dùng tới." Phượng Tiên vẫn kiên quyết từ chối. Đôi mày Lưu Lạc Vi hơi chau lại, thoáng vẻ không vui, một lát sau lại nói: "Ngươi ngày thường không quên lắng nghe lời dạy bảo của Thái hậu, kịp thời chuyển lời cho ta, những cái tốt này, ta tự khắc ghi trong lòng, luôn nghĩ muốn tặng ngươi một món quà hậu hĩnh. Nay hoa điền ngọc đã đưa đến trước mặt ngươi, tự nhiên sẽ không thu về, ngươi nếu không cần, có thể chuyển tặng người khác, dù sao trong cung người đông, xã giao cũng nhiều, ngươi đem tặng cho người quan trọng, biết đâu thu hoạch thêm được một phần nhân tình, cũng không phải chuyện xấu." Thấy nàng ta nói đến nước này, Phượng Tiên cũng đành nhận lấy. Thần sắc Lưu Lạc Vi mới tươi tỉnh lại, lại giữ nàng uống trà một lát, mới cho người tiễn nàng về. Đợi nàng đi rồi, Ngọc bà hỏi Lưu Lạc Vi: "Con chắc chắn Lăng Phượng Tiên sẽ tặng bộ hoa điền ngọc này cho Ngô Chân Chân?" Lưu Lạc Vi đáp: "Cung nhân không phẩm cấp không được dùng loại hoa điền ngọc này, nàng ta không thể tự dùng. Mà Ngô Chân Chân sắp có chuyện vui, nàng ta xưa nay giao hảo với Ngô Chân Chân, tất nhiên sẽ nghĩ đến việc tặng bộ hoa điền ngọc này cho Ngô Chân Chân, làm một cái nhân tình thuận nước đẩy thuyền." Phượng Tiên trở về phòng ở Đông Cung, lấy bộ hoa điền ngọc ra ngắm nghía kỹ lưỡng. Viên dùng cho ấn đường đặc biệt chói mắt, viên ngọc chủ to bằng đầu ngón tay, xung quanh đính những viên trân châu nhỏ hơn, ánh ngọc sáng đến mức có thể soi rõ bóng người, còn mặt sau hoa điền có một lớp keo a giao trong suốt, bình thường khô ráo trơn nhẵn, khi dùng hà hơi vào lớp keo, keo lập tức trở nên dính, có thể dán chặt hoa điền lên mặt, khi tẩy trang dùng khăn mặt thấm nước nóng chườm một cái, hoa điền liền có thể gỡ xuống. Keo a giao thông thường đa phần nấu từ bong bóng cá, bộ này dường như có thêm hương liệu, ngửi thấy rõ mùi cam thơm nức, còn mang theo vị mật ong, giống như kẹo ngọt, khiến người ta rất muốn l.i.ế.m thử một cái. Phượng Tiên mân mê từng cái, đăm chiêu suy nghĩ. Một lát sau, Vân Oanh Ca ở cùng phòng từ bên ngoài về, liếc mắt thấy bộ hoa điền ngọc, liền bước tới cười nói: "Cái này cô mới mua à? Đẹp quá đi mất, ta chưa từng thấy viên trân châu nào sáng thế này." Phượng Tiên ngẫm nghĩ, nói: "Cô thích à? Vậy tặng cho cô đấy." Nói xong đẩy chiếc hộp đựng hoa điền ngọc đến trước mặt Oanh Ca. Oanh Ca giật mình, vội xua tay: "Ta chỉ thấy đẹp thôi, không có ý gì khác." Phượng Tiên mỉm cười: "Ta thực lòng muốn tặng cô. Ta đột nhiên bị Thái hậu phái đến Đông Cung, lạ nước lạ cái, rất hoang mang lo sợ, may mà có cô nơi nơi chỉ điểm, giúp ta rất nhiều việc. Sau tiệc sinh nhật Thái tử, ta phải về cung Từ Phúc rồi, bèn chuẩn bị món quà này, một lòng muốn tặng cô, để cảm tạ sự quan tâm của cô dành cho ta thời gian qua." Bộ hoa điền ngọc ấy Oanh Ca rất thích, nghe Phượng Tiên nói vậy cũng bắt đầu do dự, suy tính một lát, nói với Phượng Tiên: "Ta hiện giờ chỉ là một nữ sử, không tiện dùng bộ hoa điền này. Chi bằng Chân Chân, đã là Điển thiện, lại sắp trở thành Quận phu nhân rồi, bộ hoa điền này đưa cô ấy dùng là thích hợp nhất, hay là tặng cho cô ấy?" Phượng Tiên nói: "Ta lại chuẩn bị quà mừng khác cho Chân Chân rồi. Hay thế này đi: Hoa điền ngọc ta dù sao cũng tặng cô rồi, sau này là của cô, cô muốn tặng lại cho ai do cô tự quyết định. Đây hoàn toàn là tâm ý của cô, khi tặng cũng không cần nhắc đến ta nữa." Oanh Ca cười nói: "Vậy thì đa tạ. Ta đang rầu rĩ không có quà thích hợp tặng Chân Chân, cái này đúng là giải quyết được việc cấp bách của ta." Gần đây Tôn Tư thiện của cung Từ Phúc lâm bệnh, xin nghỉ dưỡng bệnh, Hoàng hậu thấy Thái t.ử đã khỏi hẳn, Chân Chân cũng có thể chủ trì việc ăn uống ở Đông Cung, bèn lệnh cho Tần Tư thiện tạm sang cung Từ Phúc thay Tôn Tư thiện quản lý việc ăn uống của Thái hậu vài ngày, Tần Tư thiện chọn Oanh Ca làm trợ thủ, cùng đi sang cung Từ Phúc. Oanh Ca trước khi đi liền mang bộ hoa điền ngọc đến tặng Chân Chân. Nàng ngày thường để ý tình hình giữa Chân Chân và Thái tử, đôi khi hỏi Chân Chân, Chân Chân cũng không giấu nàng, nên nàng biết ngày sinh nhật Thái t.ử cũng là ngày vui của Chân Chân, lo hôm đó mình ở cung Từ Phúc không về được, nên tặng trước bộ hoa điền, coi như quà mừng. Chân Chân thấy bộ hoa điền cũng rất thích, nhưng sợ Oanh Ca tốn kém quá. Oanh Ca cười bảo: "Nhà ta đâu có thiếu tiền, đừng lo mấy cái đó. Ta chỉ sợ cầm tiền không mua được đồ tốt, không đủ để bày tỏ tấm lòng với cô. May mà cơ duyên xảo hợp, gặp được bộ hoa điền này, hợp với cô nhất, cô mà dùng nó trang điểm, Thái t.ử điện hạ nhất định sẽ thấy cô càng đẹp hơn." Hôm sau Thẩm Hãn đến Đông Cung giảng bài cho ba vị hoàng tử, bữa trưa Bùi Thượng thực gửi đến mấy món ngự thiện, nhưng Thái t.ử không muốn ăn, Chân Chân hỏi Thái t.ử muốn ăn gì, Thái t.ử bày tỏ gần đây thường hay nhớ món gỏi cá vược Tùng Giang, Chân Chân lập tức nhớ lại đêm đó dưới Nguyệt Nham, Thái t.ử kể với mình về mẫu thân, hiểu rằng món gỏi cá vược Tùng Giang lúc này đối với chàng mà nói, không chỉ là một món ngon, mà là chiếc chìa khóa mở ra những ký ức tươi đẹp về nương, khi đó chàng vẫn là một đứa trẻ vô lo vô nghĩ, có thể rúc vào bên cạnh mẫu thân, xem bà cười nói vui vẻ chia sẻ món hải sản tươi ngon mùa vụ mà bà yêu thích. Vì thế mặc dù Thẩm Hãn lên tiếng phản đối, Chân Chân vẫn quyết định đến sở Ngự thiện xin một con cá vược Tùng Giang, làm gỏi cho Thái tử. Thái t.ử hiện giờ ăn uống đã cơ bản như thường, trước đó Chân Chân đã hỏi qua Tần Tư thiện, Thái t.ử mọi năm cũng ăn gỏi cá, chỉ cần đảm bảo tươi sạch, kiểm soát tốt lượng ăn, chắc là không sao. Quá trưa, Triệu Ngai, Triệu Hạo và Thẩm Hãn lần lượt cáo từ ra về, Chân Chân cũng đi đến sở Ngự thiện, Thái t.ử nghỉ ngơi một chút trong tẩm các, sau đó Dương T.ử Thành vào, bẩm báo với chàng việc Thái t.ử yêu cầu tra cứu mấy hôm trước: "Điện hạ, thần theo ngày tháng Điện hạ chỉ định cho người tra kỹ, hôm nay cuối cùng đã có kết quả, ngày đó, là sinh nhật của người này..." Dương T.ử Thành dâng lên một tờ giấy hoa tiên, trên đó viết tên một người. Thái t.ử nhìn kỹ, lập tức nín thở, sắc mặt trầm xuống. Lại ngưng mắt nhìn chằm chằm cái tên đó một lúc, ra lệnh: "Chuẩn bị kiệu, ta muốn đến điện Phúc Ninh." Dương T.ử Thành vâng dạ, đang định truyền lệnh ra ngoài, tiểu hoàng môn giữ cửa bỗng vào bẩm báo: "Điện hạ, Tuyên Nghĩa lang Lâm Hoằng đã đến trước cửa Đông Cung, cầu kiến Điện hạ." Thái t.ử có chút ngạc nhiên, nhưng vẫn hạ lệnh: "Mời y vào." Lâm Hoằng bước vào, thi lễ theo phép, sau đó bày tỏ sự áy náy vì công trình dẫn nước khiến Thái t.ử mắc bệnh, xin Thái t.ử giáng tội, nguyện chịu mọi trách nhiệm. Thái t.ử ôn tồn nói: "Trước đây bổn cung đã giải thích chuyện này với Quan gia, công trình này là bổn cung yêu cầu tiên sinh chủ trì, tuy có kẻ lợi dụng ống nước mưu đồ bất chính, nhưng đã biết là do kẻ có thể sai khiến nội thị làm, không liên quan đến tiên sinh, tiên sinh không cần tự trách." Lâm Hoằng vẫn tỏ vẻ hổ thẹn, Thái t.ử dùng lời lẽ tốt đẹp an ủi, lại mời y uống trà. Trò chuyện một hồi, Lâm Hoằng đứng dậy cáo từ, Thái t.ử cho lui hết tùy tùng xung quanh, nói với Lâm Hoằng: "Tiên sinh có lẽ đã nghe phong thanh, ta sắp nạp Chân Chân làm trắc thất. Có một câu hỏi, ta vẫn luôn không nghĩ ra, tiên sinh có thể cho biết sự thật không?" Lâm Hoằng mời chàng cứ nói thẳng, Thái t.ử bèn hỏi: "Tại sao năm xưa ngươi từ bỏ Chân Chân?" Lâm Hoằng im lặng một lát, rồi ngẩng đầu, nhìn Thái t.ử nói: "Giữa ta và nàng ấy, có một trở ngại rất lớn, vĩnh viễn không thể vượt qua." Thái t.ử cau mày: "Trở ngại?" "Đúng vậy," Lâm Hoằng nói, "Là một bức tường vĩnh viễn không thể phá bỏ." Thái t.ử lặng thinh, đoán rằng Lâm Hoằng có thể đã biết thân thế Chân Chân, là con trai Lâm Dục, nho sinh đọc sách thánh hiền, đây tự nhiên là trở ngại vĩnh viễn không thể vượt qua, y tuyệt đối sẽ không cưới con gái kẻ g.i.ế.c cha. Tuy nhiên lại nghĩ liệu còn khả năng nào khác, chàng bèn đổi hướng truy vấn: "Không phải là ngươi có người yêu khác sao?" Lâm Hoằng bình tĩnh trả lời: "Không phải." Thấy Thái t.ử không nói gì, Lâm Hoằng vái chào chàng một cái thật sâu, lùi lại vài bước, quay người định rời đi, Thái t.ử lại gọi giật lại: "Tuyên Nghĩa lang, thực ra..." Lâm Hoằng quay lại đối diện chàng, lẳng lặng đợi chàng nói tiếp, Thái t.ử lại chần chừ, cuối cùng nở nụ cười: "Thực ra ta rất cảm kích ngươi đã thành toàn cho ta và Chân Chân." "Thế này sao gọi là thành toàn được chứ?" Lâm Hoằng buồn bã nói, "Ta làm tổn thương nàng ấy quá sâu, nếu không phải Điện hạ xuất hiện, nàng ấy sẽ đau khổ hơn nhiều." Chàng nhìn lại Thái tử, quyết định nhắc đến một chuyện: "Trong lúc Điện hạ bị bệnh, Ngô Điển thiện từng đến hỏi ta chuyện đường ống, còn nói với ta về tình cảm nàng ấy dành cho Điện hạ, nói rằng..." Ngừng một chút, chàng thuật lại câu nói hôm ấy đã đ.â.m sâu vào tim chàng, "Thờ chồng nguyện cùng sinh cùng tử." Nói xong, chàng không nhìn Thái t.ử đang ngẩn ngơ, nhanh chóng rời đi, sợ nán lại quá lâu chính mình cũng sẽ thất thố. Nếu phải nói là thành toàn, có lẽ nói cho ngài ấy biết chuyện này mới được tính là vậy chăng. Chàng buồn bã nghĩ. Bất ngờ nghe Lâm Hoằng thuật lại lời tâm huyết của Chân Chân, Thái t.ử đương nhiên vừa kinh ngạc vui sướng vừa cảm động, cảm thấy nàng nói câu này, đời này không còn gì hối tiếc, ngay sau đó lại nhớ tới Lâm Hoằng từ bỏ nàng là do không biết uẩn khúc đời trước, y và Chân Chân vì thế mà hết duyên, mình biết chuyện mà không nói, e là thắng không anh hùng. Nhưng tình cảm giữa mình và Chân Chân ngày càng sâu đậm, lúc này mà nói rõ chân tướng cho họ, Lâm Hoằng đa phần sẽ hối hận vì đã đối xử với Chân Chân như vậy, mà Chân Chân rất có thể lại muốn quay về bên Lâm Hoằng, cho dù ở lại, e rằng cũng sẽ nhớ nhung Lâm Hoằng, day dứt cả đời. Muốn nói rõ đâu có dễ, không nói thì lương tâm bất an, nhất thời Thái t.ử lòng rối như tơ vò, đi đi lại lại trong các, tạm thời cũng không muốn đến điện Phúc Ninh báo cho phụ thân chuyện Lưu Tiệp dư nữa. Chân Chân xin được một con cá vược Tùng Giang, làm xong món gỏi, theo lệ thường phải mời Tần Tư thiện nếm trước, nhưng Tần Tư thiện đã sang cung Từ Phúc, Chân Chân biết Bùi Thượng thực đang ở trong bếp, bèn dâng cho bà nếm trước. Thực ra hai người làm việc trước mặt Quan gia đã lâu, sớm có sự ăn ý, Bùi Thượng thực hoàn toàn tin tưởng Chân Chân, huống hồ vì vấn đề vị giác, cũng sẽ không thực sự nếm, bèn ngầm đồng ý cho nàng đưa gỏi cá vược đến Đông Cung. Bữa tối Chân Chân tự mình nếm vài miếng gỏi cá vược, rồi mời Thái t.ử dùng. Thái t.ử nếm một chút, cười bảo hương vị giống hệt trong ký ức ấu thơ, định ăn thêm, Chân Chân lại không cho nữa, nói dù sao cũng là đồ sống, nếm cho biết vị là được, tuyệt đối không được ăn quá nhiều. Thái t.ử có thói quen sau bữa tối đọc sách ở đường Chiêm Lục, Chân Chân bưng mấy quả cam mới ra năm nay vào, thấy chàng cầm một cuốn sách ngồi trên ghế, dưới ánh nến chập chờn lẳng lặng xuất thần, cũng không biết đang nghĩ gì. Chân Chân nhẹ nhàng đi đến sau lưng chàng, thấy chàng đang cầm một cuốn "Sử Ký", sách lật đến trang "Kinh Kha" trong phần "Thích Khách Liệt Truyện". Chân Chân đặt cam xuống, đưa tay định giật lấy sách của Thái tử, cười nói: "Sách này hay thế sao? Điện hạ đọc chăm chú như vậy, đến cả ta vào cũng không biết." Thái t.ử chặn tay nàng lại nhanh chóng đặt sách về giá, nói: "Không có gì hay cả, chỉ sợ ngày mai sư phụ giảng bài nhắc đến, nên đọc kỹ lại một lượt trước." Chàng bước tới đóng cửa lại, sau đó từ trên giá sách lấy một trục tranh khác, mở ra trên án thư, hỏi Chân Chân: "Nàng xem xem, có nhận ra người này là ai không?" Chân Chân nhìn kỹ, kinh ngạc nói: "Rất giống nương ta... Đây là ai vẽ vậy?" Thái t.ử nói: "Một họa sĩ ở phủ Khai Phong, ông ấy giỏi nhất là dựa theo mô tả của nhân chứng để vẽ ra chân dung người mất tích. Trước đây ông ấy phụng mệnh ta đến Phố Giang, thăm hỏi nhiều hàng xóm láng giềng nhà nàng, nghe miêu tả vẽ ra bức chân dung này, lại mời họ từng người xem qua, đều thấy giống nương nàng mới mang về." Chân Chân hỏi: "Điện hạ định công bố bức chân dung này ra ngoài, tìm kiếm nương ta sao?" Thái t.ử lắc đầu: "Ta đưa cho Quan gia xem rồi, người nói... đây là Cúc phu nhân." Chân Chân sững sờ, chốc chốc nhìn chân dung chốc chốc lại quay sang nhìn Thái tử, nhất thời không biết nói sao. "Nếu nương nàng là Cúc phu nhân, thì nhiều chuyện giải thích được rồi." Thái t.ử nói, lại đem kết quả tra hộ tịch Ngô Thu Nương trước đó nói cho Chân Chân, phân tích, "Năm xưa Trương Vân Kiều và Lưu Tư thiện để trốn tránh sự truy sát của nhà họ Tề, trốn khỏi Lâm An, Cúc phu nhân rất có thể đi cùng họ. Sau đó Lưu Tư thiện bị người nhà họ Tề bắt về Lâm An xử quyết, Trương Vân Kiều và Cúc phu nhân đưa nàng tiếp tục chạy trốn, người cha mang mùi t.h.u.ố.c trên người trong ký ức của nàng chính là Trương Vân Kiều. Chỉ không biết ông ấy sau đó vì sao mất tích, Cúc phu nhân sau đó một mình nuôi nàng, có thể trước tiên sống ở phủ Ninh Quốc một thời gian, rồi đi Phố Giang. Hơn nữa, việc Trình Uyên khổ tâm tích lự giấu giếm tung tích nương nàng, cũng đã có lý do. Chính vì nương nàng là Cúc phu nhân, hắn hoặc chịu mệnh lệnh của Thái hậu, hoặc vì ái mộ Cúc phu nhân mà muốn giam cầm bên mình, đều là điều dễ hiểu." Thấy Chân Chân hồn xiêu phách lạc, mất cả chủ kiến, Thái t.ử biết nàng vẫn không muốn đối mặt với kết luận người nương yêu dấu không phải nương ruột, bèn an ủi: "Nhưng đây cũng vẫn là suy đoán của ta. Nếu năm xưa Cúc phu nhân không đi cùng vợ chồng Trương Vân Kiều, mà là tự mình xuất kinh, gặp người mình thích, sinh ra nàng, vì thích cái tên Chân Chân con gái Lưu Tư thiện, cũng đặt tên nàng là Chân Chân, cũng có khả năng... Ta vẫn sẽ tiếp tục điều tra, tìm ra chân tướng. Phía Trình Uyên ta cũng cho người đang theo dõi, sẽ tranh thủ sớm ngày giải cứu nương nàng ra, đoàn tụ với nàng." Chân Chân vừa thấy chua xót vừa thấy an ủi, nay ở bên chàng, cảm giác phiêu bạt vô định thỉnh thoảng dâng lên trong lòng trước kia dần tan biến, cảm thấy chàng thực sự là người mình có thể hoàn toàn tin tưởng và yên tâm dựa vào. Có chàng ở đây, cuối cùng nàng không còn cô độc một mình nữa, có chàng sóng vai đồng hành, nàng càng có thêm niềm tin để đối mặt với những cơn mưa gió chưa biết mạnh yếu thế nào. Ngàn vạn lời nói không biết tỏ cùng chàng thế nào, cuối cùng nàng chỉ lặng lẽ cầm d.a.o bổ một quả cam tươi, tỉ mẩn cắt thành nhiều miếng nhỏ, dùng rây trà nhỏ rắc lên một lớp muối Ngô mỏng để khử vị chua chát, rồi mỉm cười đưa cho chàng. Đợi Thái t.ử ăn xong cam, Chân Chân lấy nước cho chàng súc miệng, thu dọn bàn kỷ xong xuôi, sau đó hành lễ cáo lui, chàng lại ngay lúc nàng xoay người chộp lấy cổ tay nàng, kéo mạnh nàng vào lòng, đặt ngồi lên đùi mình. "Hôm nay Lâm Hoằng đến tìm ta, còn từng nhắc đến nàng với ta." Thái t.ử nói với Chân Chân. Chân Chân ngẩn ra, rồi nói ngay: "Huynh ấy nói gì ta không muốn biết, Điện hạ không cần nói cho ta." Thái t.ử ôm nàng, nói bên tai nàng: "Nếu có một ngày, Lâm Hoằng xin lỗi nàng, nói hắn sai rồi, mong nàng tha thứ... nàng có đi theo hắn không?" Chân Chân nghĩ ngợi, trả lời dứt khoát: "Có." Ánh mắt Thái t.ử thoáng chốc tối sầm lại, cánh tay đang ôm nàng cũng cứng đờ. Chân Chân thấy vậy cười phì, vui vẻ nói: "Sau đó cưỡi ngựa c.ắ.n hạt dưa, xem chàng đuổi theo bắt ta về thế nào." Thái t.ử lập tức thầm thở phào, làm bộ buông tay ra hoàn toàn, cười nói: "Không đuổi không đuổi, không cần nữa!" Chân Chân lập tức chụm hai chân, nhảy xuống khỏi đùi chàng: "Cáo từ." Thái t.ử cười ôm ngang hông kéo nàng về lại trong lòng: "Chẳng phải thề muốn cùng phu quân đồng sinh cộng t.ử sao, thế mà đã đi rồi?" Chân Chân vô cùng ngạc nhiên: "Câu này huynh ấy cũng nói với chàng sao?" "Ừ," Thái t.ử bất động thanh sắc nói, "Ta và hắn sắp thành tri kỷ rồi." Chân Chân dở khóc dở cười. "Nàng chạy không thoát đâu..." Thái t.ử hôn lên đóa hoa điền ngọc giữa trán nàng, dịu dàng nói, "Ta đến cơ hội chạy cũng không cho nàng. Tuy ta biết giả bộ, nhưng trong chuyện này chắc chắn không phải quân tử, không làm được chuyện dâng người trong lòng cho kẻ khác đâu." Chàng cúi đầu dần xuống thấp, tìm kiếm đôi môi nàng. Mà Chân Chân đột ngột đưa hai tay nâng lấy mặt chàng, rướn người lên hôn chàng trước, sau đó khi chàng còn chưa kịp phản ứng, nàng đã dùng lưỡi tách hàm răng chàng ra, học theo dáng vẻ chàng trước kia khơi lên từng lớp sóng tình cuốn lấy chàng. Một khi đã xác định tâm ý của mình, nàng liền không còn do dự, lo được lo mất nữa, chỉ thấy cái ta phóng khoáng đã lạc mất từ lâu lại quay về rồi. Vì sự tự tin và cảm giác an toàn chàng mang lại, đối diện với chàng, nàng có thể không chút rụt rè, yêu chàng, liền không tiếc lời bày tỏ. Những nụ hôn trước kia của họ đều là chàng chủ động, để nàng bị động đáp lại, nàng chưa từng nhiệt tình như lần này. Con sóng lớn nàng dấy lên đập mạnh vào tim chàng, chàng kinh ngạc đến toàn thân run rẩy, ngay sau đó cảm nhận được niềm vui sướng đủ khiến người ta choáng váng, chàng nhanh chóng ôm chặt lấy nàng, mặc nàng quấn quýt một hồi rồi hôn trả lại tấn công nàng. Hồi lâu sau thấy hai má nàng đỏ ửng, bị hôn đến ánh mắt mơ màng, đôi tay vẫn luôn ôm cổ mình hơi lơi lỏng, có vẻ không trụ nổi nữa, chàng rốt cuộc không kìm được nữa, dứt khoát bế bổng nàng lên, đi nhanh vài bước, đặt nàng lên chiếc giường nhỏ dùng để uống trà nghỉ ngơi trước tấm bình phong lớn. Chàng cởi bỏ tất giày của nàng, bản thân cũng nghiêng người xuống, chống khuỷu tay, phủ lên phía trên nàng, lại bắt đầu hôn nàng, từng chút từng chút, từ trán hôn thẳng xuống dưới cổ. Nàng có thể đoán được chàng muốn làm gì, cũng không kháng cự, cảm thấy chàng có chút th* d*c, ngược lại khá quan tâm đến sức khỏe của chàng, hỏi: "Điện hạ, chàng có mệt không?" Chàng dừng lại, nhất thời không hiểu, ngước mắt nhìn nàng. "Ý ta là..." Chân Chân thản nhiên nói với chàng, "Mở đai lưng quả thực ta có học qua rồi." Chàng nghiêm túc suy nghĩ, hỏi nàng: "Những cái khác cũng học rồi?" Chân Chân nhớ lại đêm đầu tiên đến Đông Cung, nội dung nữ quan dạy cho nàng, nói thẳng: "Thật sự là có." Điện hạ nghe vậy liền thong thả nằm xuống, ung dung nhìn nàng: "Vậy nàng dạy ta đi." Chương 110 - Mây Tan Cao Đường Chân Chân rướn người tới, nhẹ nhàng tháo đai lưng da của Thái tử, rồi với khí thế hừng hực, nàng cởi bỏ lớp áo bào bên ngoài của chàng, ném xuống đất. Thế nhưng, khi nhìn chằm chằm vào lớp áo lót màu trắng, có lẽ nghĩ đến việc cởi bỏ lớp này đi là đôi bên sẽ thực sự "thẳng thắn tương kiến", động tác của nàng chợt khựng lại. Ánh mắt nàng lướt qua đôi mày chàng, không còn vẻ sát phạt quyết đoán như ban đầu, mà thoáng chút do dự. Trong chuyện này, rõ ràng nàng chỉ là một đứa trẻ đang cố tỏ ra dũng mãnh. Thái t.ử nén cười, giữ lấy bàn tay đang vươn về phía dây áo của mình, ôn tồn hướng dẫn: "Tiếp theo, bất kể nàng muốn làm gì, cũng đừng dùng tay." Nàng rụt tay về, ngẫm nghĩ một lát. Bất chợt, nàng cúi đầu về phía dây áo, vầng trán lơ đãng cọ nhẹ qua vai chàng, dùng hàm răng ngọc ngậm lấy đầu dây, rồi ngẩng lên, từ từ kéo lỏng nút thắt. Hàng mi cong vút như cánh bướm cũng theo đó mà rướn lên, để lộ đôi mắt trong veo nhìn chàng đầy thắc mắc, dường như muốn hỏi: "Là thế này sao?" Tơ lòng của chàng tựa như nút áo lỏng lẻo kia, bị nàng lặng lẽ khảy động. Nàng vẫn mở to đôi mắt ngây thơ, chẳng hề hay biết nét bút biểu tình ấy là một tội nghiệt nhường nào. Chàng thầm hít sâu một hơi, giả bộ trấn tĩnh, mỉm cười khẳng định. Nàng vui vẻ tiếp tục cởi áo cho chàng, khắc ghi lời dạy, tuyệt nhiên không dùng tay. Nàng dường như xem đây là một trò chơi có quy tắc rõ ràng, hứng thú thực hiện đến mức quên cả thẹn thùng. Cảm nhận hơi thở của nàng tựa lông vũ lướt qua da thịt hết lần này đến lần khác, chàng không khỏi hối hận vì sự chỉ dạy của mình quá súc tích, tinh tế, mà nàng lại học quá nhanh, khiến định lực của chàng phải đối mặt với thử thách cam go. Nàng thông minh, quá giỏi suy một ra ba, lại tuân thủ nguyên tắc ấy mà bắt đầu những bước thử nghiệm tiếp theo. Chàng không thể nhịn được nữa, bèn lật người, xoay nàng xuống dưới, để mọi thứ trở lại trong tầm kiểm soát của mình. Hương nang thầm giải, đai lụa khẽ phân. Ngoài cửa sổ, mưa bắt đầu rơi rả rích, chàng nâng niu nàng trong tay, nụ hôn cũng tựa như mưa, trút xuống dạt dào. Trong lò Bác Sơn đặt trên chiếc bàn chân hạc, khói lành lãng đãng bay. Đôi mắt sao của nàng khép hờ, tâm trí nương theo làn khói mà phiêu tán vô định, chỉ thấy thân mình tựa như lớp tuyết xốp, được ánh nắng và gió ấm là chàng chiếu rọi, dần dần tan chảy thành một vũng xn th, mềm mại vô lực lan tràn ra bốn phương. Đến phút cuối cùng, chàng vẫn không quên lịch sự ghé tai nàng thầm hỏi: "Có được không?" Nàng nhắm mắt: "Ưm..." khẽ đáp một tiếng, rồi ngay sau đó, trước hành động nhanh chóng của chàng khi đã nhận được lệnh, nàng thốt lên một tiếng khe khẽ, trong lúc hoảng hốt vội bám chặt lấy đôi tay chàng. Chàng dừng lại một chút, đợi nàng bình tĩnh, mới bắt đầu đẩy sóng trợ thuyền. Bởi trước đó chàng đủ dịu dàng và kiên nhẫn, nỗi đau không nghiêm trọng như nàng tưởng tượng. Nàng ngửa đầu ra sau, khẽ c.ắ.n môi dưới, cảm nhận từng lớp sóng gợn mà chàng khơi lên. Dưới gáy nàng gối lên chiếc gối sứ trắng khắc hoa lò Định Châu, cây trâm ngọc trên búi tóc sắp tuột rũ xuống một nửa, mỗi khi một vòng sóng gợn qua, trâm ngọc lại khẽ chạm vào gối sứ, phát ra tiếng kêu lanh lảnh, hư ảo. Ngoài trời mưa gió không ngừng, mưa rơi trên thềm ngọc cũng tựa như tiếng ngọc chạm gối trong phòng, dệt nên một khúc nhạc thanh thoát từ êm dịu đến dồn dập. Bóng trúc ướt đẫm lay động, in chập chờn trên khung cửa sổ, hơi ẩm xuyên qua song cửa ùa vào, ánh sáng trong phòng cũng hòa cùng đất trời mờ ảo. Nàng dần cảm thấy mình như mây như sương, chẳng còn hình hài, lơ lửng giữa bóng nến lung linh. Trong cơn hoảng hốt, một trang giấy cũ từ sâu thẳm ký ức bay về, là bài "Cao Đường Phú" mà đám bạn học lén lút truyền tay nhau thuở nhỏ. Nhẩm lại những câu từ trong đó, giờ đây nàng mới thấu hiểu thâm ý:Sớm là mây nổi, tối là mưa sa, sớm sớm tối tối, dưới chốn Dương đài. Khi mây tạnh mưa tan ngoài cửa sổ, họ cũng yên lặng trở lại. Chàng để nàng nằm trong vòng tay mình, đợi khi hơi thở đã đều, chàng nghiêng đầu nhìn nàng, thấy khuôn mặt như hoa sen còn vương nét ửng hồng, toàn thân ấm nóng, rịn một lớp mồ hôi mỏng. Đóa hoa điền giữa mày nàng có dấu hiệu bong ra, trên hàng mi còn đọng một tầng bọt nước, chẳng biết là lệ hay mồ hôi. Chàng chợt thấy tình cảnh này thật đáng yêu đáng thương, không kìm được cúi đầu hôn lên hàng mi ấy, bất giác ngửi thấy một mùi hương cam chanh dễ chịu, thăm dò một chút mới biết là hương tỏa ra từ lớp keo dán hoa điền. Mùi hương thanh tân như cam, lại ngọt ngào như mật ong, qua nhiệt độ cơ thể nàng hong nóng, càng thêm nồng nàn, giống như kẹo ngọt, dụ dỗ chàng không ngừng ghé sát. Chàng ngửi mãi nơi ấn đường nàng, cuối cùng không nhịn được hôn lên đóa hoa điền ấy. Hoa điền rơi ra, dính trên môi chàng, chàng mím môi, viên ngọc liền trôi tọt vào trong miệng. Lớp keo dán quả nhiên có vị ngọt. Chàng nhớ đến quả cam mà Chân Chân đã cắt cho chàng lúc trước, một mặt để viên hoa điền lăn tròn trên đầu lưỡi, một mặt ngắm nhìn Chân Chân đang nép trong lòng mình, trong lòng lại dâng lên ngàn mối nhu tình. Khi nàng ngước mắt nhìn chàng, chàng dịu dàng đề nghị: "Theo ta về tẩm các nhé?" "Không được." Nàng vậy mà từ chối ngay tức khắc, "Thực đơn tiệc sinh nhật của chàng thiếp còn phải rà soát lại một lượt. Đêm nay bị chàng làm lỡ dở không ít thời gian, còn phải tranh thủ về làm cho xong." Chàng đành lùi một bước: "Vậy ta theo nàng về, nàng làm việc của nàng, ta bồi tiếp nàng?" "Chàng về tẩm các của chàng trước đi, ở bên cạnh thiếp chắc chắn chàng sẽ chẳng chịu ngồi yên." Nàng không hề lay chuyển, nói thẳng hậu quả. Sợ chàng không vui, nàng lại dỗ dành: "Tối mai nếu thiếp soạn xong thực đơn tháng sau cho chàng, sẽ cho phép chàng qua đây." Chàng cười hỏi: "Ta và công việc, cái nào quan trọng hơn?" "Thiếp bây giờ là Điển thiện," nàng đáp không chút do dự, "Hoàn thành chức trách đương nhiên quan trọng hơn, nhất là khi Tần Tư thiện không có ở đây." Chàng hết cách, đành từ bỏ ý định tiếp tục cùng nàng hưởng đêm xuân. Nhả viên hoa điền ra, mặc nó rơi xuống dưới sập, chàng mặc lại áo lót, kéo chiếc áo choàng lớn trên giá xuống, trùm kín người Chân Chân, rồi cao giọng ra lệnh cho hai tên nội thị vẫn luôn đứng hầu ngoài cửa đi lấy nước ấm. Hai tên nội thị sớm đã nghe thấy động tĩnh, biết tình hình trong phòng, lập tức đáp lời vang dội, rất nhanh mỗi người bưng một chậu nước, chuẩn bị khăn mặt, mở cửa bước vào, dâng trước sập, cười tủm tỉm hành lễ với Thái tử: "Cung hỷ Điện hạ." Thái t.ử mỉm cười gật đầu, bọn họ lại hơi xoay người về phía Chân Chân, vái chào: "Cung hỷ Ngô phu nhân." Hai người ăn ý đổi cách xưng hô với Chân Chân. Chân Chân cũng không xấu hổ tránh né, bình thản đáp: "Đa tạ. Ngày mai sẽ có thưởng." Hai người vui ra mặt, liên tục nói tạ ơn, rồi lui ra cửa, ra ngoài không quên khép cửa lại. Thái t.ử cười khen Chân Chân hào sảng: "Vốn ta tưởng nàng sẽ e thẹn trùm áo trốn sau lưng ta chứ." Chân Chân ung dung khoác áo ngồi dậy, nói: "Nếu cứ ỏn ẻn thẹn thùng, lại rơi vào miệng lưỡi bọn họ, ngày mai không biết họ sẽ mày râu nhẵn nhụi mô tả lại dáng vẻ quẫn bách của thiếp thế nào đâu. Chi bằng cứ thản nhiên mà đối mặt, sau này với họ đáng thưởng thì thưởng, nếu họ nói năng lung tung, cũng đáng phạt thì phạt." Họ liền lau người mặc áo. Chân Chân tự mình mặc chỉnh tề trước, rồi thắt đai lưng, đội khăn Đường cho Thái tử. Trong lúc xoay người, Thái t.ử phát hiện trên sập có vài điểm m.á.u đỏ nhạt, không kìm được mỉm cười với Chân Chân. Chân Chân nhận ra nụ cười của chàng đầy ẩn ý, quay đầu nhìn lại, lập tức thấy mặt nóng bừng, vội lấy khăn lau sạch những dấu vết ấy, rồi ném khăn vào chậu nước. Thái t.ử cười kéo nàng vào lòng, vòng tay ôm eo, hôn nhẹ lên môi nàng một cái. Chân Chân bỗng phát hiện môi chàng hơi tím tái, nắm lấy tay chàng lại thấy lạnh toát, liền vội hỏi: "Điện hạ, chàng có phải bị nhiễm lạnh không?" Thái t.ử lắc đầu: "Không sao, có lẽ đêm đã khuya, hơi lạnh một chút thôi." Chàng bước về phía trước vài bước, Chân Chân thấy bước chân chàng loạng choạng, vội chạy tới đỡ, mời chàng ngồi xuống nghỉ ngơi. Chàng được Chân Chân dìu đi về phía sập, nhưng chưa kịp tới gần đã cảm thấy trời đất quay cuồng, ngã ngồi xuống chiếc ghế đệm nhỏ trước sập. Chàng nhắm nghiền mắt, mày chau lại, sắc mặt xanh xám, bắt đầu th* d*c đau đớn. Chân Chân kinh hãi, vừa vuốt lưng giúp chàng thuận khí, vừa gọi nội thị bên ngoài, bảo họ mau chóng đi mời ngự y. Hai tên nội thị nghe tiếng chạy vào, vừa thấy tình cảnh Thái t.ử cũng sợ hãi không nhẹ, một người ba chân bốn cẳng chạy đi tìm ngự y, người kia nhanh chóng tới cùng Chân Chân dìu Thái t.ử lên sập. Thái t.ử nằm đó trằn trọc, toàn thân run rẩy, đau đớn khôn cùng. Một lát sau chàng gắng gượng nửa nằm nửa ngồi, nhoài người ra mép sập, bắt đầu nôn mửa, nôn đến khi không còn gì để nôn, nằm lại chưa bao lâu thì toàn thân co giật, rồi dần dần rơi vào hôn mê. Chân Chân nước mắt đầm đìa, nắm c.h.ặ.t t.a.y chàng, từng tiếng gọi "Điện hạ". Lát sau, chàng cố sức mở mắt, gắng gượng điều khiển chiếc lưỡi đã tê cứng, dùng giọng nói yếu ớt và mơ hồ bảo Chân Chân: "Đi... tìm... Dương... T.ử Thành..." Chân Chân hoảng loạn gật đầu, nhưng tâm trí đâu mà làm theo lời chàng dặn, bởi nàng phát hiện đồng t.ử của chàng đang giãn ra. Trong đầu nàng nổ vang một tiếng, như thể tòa thành kiên cố bỗng chốc sụp đổ. Mơ hồ cảm nhận được sự tuyệt vọng không thể vãn hồi, nàng ngừng khóc, chỉ ngẩn ngơ nắm chặt lấy tay chàng, dường như muốn dùng đôi tay khóa chặt chút sinh khí mỏng manh của chàng, không để nó thoát đi, nhưng nàng vẫn cảm nhận được nhiệt độ cơ thể chàng từng chút, từng chút lạnh dần. Đầu nàng cũng bắt đầu đau như búa bổ, cảnh tượng trước mắt chao đảo, trong tầm nhìn xuất hiện những đốm đen lớn nhỏ, như những bọt nước đen ngòm từ vực sâu nổi lên mặt nước, lần lượt hiện ra rồi vỡ tan. Bắt đầu có người xông vào, nội thị, cung nữ, rất nhiều ngự y... Người ngày càng đông, nhưng sự xuất hiện của họ trong mắt Chân Chân chỉ là những hình ảnh câm lặng và nhòe nhoẹt, sớm đã chẳng phân biệt được ai với ai. Toàn thân nàng run rẩy, ý thức tan rã, cuối cùng chỉ cảm thấy có người lôi nàng ra khỏi bên cạnh Thái tử, rồi nàng chìm vào bóng tối vô tận. Chân Chân cảm thấy mình đang chạy trong đêm tối, Thái t.ử một thân bạch y, tà áo phấp phới đi phía trước nàng. Rõ ràng bước chân chàng ung dung, đi không nhanh không chậm, nhưng nàng dốc sức chạy thế nào cũng không đuổi kịp. Nàng muốn gọi chàng, xin chàng chờ một chút, nhưng cổ họng như bị ai khóa chặt, há miệng mà không phát ra tiếng. Nàng toàn thân rã rời, đến khóc cũng không còn sức, chỉ có thể trơ mắt nhìn chàng đi xa, cuối cùng kiệt sức ngã quỵ xuống đất... Dường như có người đỡ nàng dậy, đổ từng thìa t.h.u.ố.c vào cổ họng khô khốc của nàng. Nàng thụ động nuốt xuống từng ngụm, dần dần tỉnh lại. Nàng ngơ ngác mở mắt, phát hiện mình đang ở một nơi cực kỳ xa lạ, một gian phòng nhỏ, âm u và ẩm ướt, đồ đạc bài trí đơn sơ, nhưng bản thân ngôi nhà trông như mới xây không lâu. "Tỷ tỷ tỉnh rồi!" Nàng nghe thấy một tiếng reo vui, quay đầu nhìn sang, thấy người đỡ mình ngồi dậy là Hương Lê nhi, lúc này đang mặc trang phục y công, đang đặt bát t.h.u.ố.c trong tay xuống bàn. Hàn Tố Vấn trong phòng nghe tiếng bước tới, nhìn kỹ sắc mặt Chân Chân, nói với Hương Lê nhi: "Ta đã nói sớm là cô ấy không sao mà, sẽ không hôn mê lâu đâu." Chân Chân mờ mịt hỏi: "Đây là đâu?" "Trên một hòn đảo nhỏ giữa hồ trong vườn Tụ Cảnh." Hương Lê nhi nói, "Mấy lão già ở Viện Hàn lâm Y quan xấu tính lắm, tự mình không tra ra nguyên nhân bệnh của Thái tử, bèn đổ trách nhiệm lên đầu tỷ tỷ, Quan gia định tống tỷ vào ngục rồi, may mà Hàn Tố Vấn trước đó từng nhờ tỷ khai báo những triệu chứng kia, Quách Tư Tề xem qua, hỏi Hàn Tố Vấn có phải tỷ đang m.a.n.g t.h.a.i không, Hàn Tố Vấn liền bảo phải, triệu chứng cực giống, Quách Tư Tề bèn bẩm báo Quan gia, Quan gia mới cho người đưa tỷ đến đây cấm túc, tạm thời chưa hạ ngục." "Điện hạ... Điện hạ giờ ra sao rồi?" Chân Chân dần nhớ lại chuyện trước khi hôn mê, vội hỏi Hương Lê nhi. Hương Lê nhi lộ vẻ khó xử, quay sang nhìn Hàn Tố Vấn. Hàn Tố Vấn bèn bước lên, nói với Chân Chân: "Hôm nay là ngày tiểu liệm của Thái t.ử điện hạ." Tiểu liệm là nghi thức tiến hành vào ngày thứ hai sau khi người mất qua đời, tắm rửa và thay y phục cho thi thể. Chân Chân nghe xong ngược lại không rơi lệ, chỉ ngẩn người ra, cảm giác toàn thân lạnh toát, chao đảo chực ngã lại ập đến. Hương Lê nhi vội ôm lấy nàng, ôn tồn an ủi, bảo nàng nén bi thương. "Ngô Chân Chân, cô nghe ta nói." Hàn Tố Vấn hiếm khi nghiêm túc, trịnh trọng bảo nàng, "Hiện giờ tình hình rất không ổn. Thái t.ử điện hạ đột ngột hoăng thệ (qua đời), các y quan tra kỹ ghi chép ăn uống, không thấy nguyên nhân bệnh rõ ràng. Sau đó có người cho rằng vì hôm ấy cô cho Thái t.ử ăn gỏi cá vược, làm tổn hại tỳ vị, hoặc do cá vược sơ chế không sạch, dẫn đến ngộ độc thực phẩm. Lại có người cho rằng, Thái t.ử vừa ốm dậy, cô lại hành phòng với ngài ấy, cho nên... Bất luận thế nào, xem ra đều là lỗi của cô. Đương nhiên, ta không nghĩ vậy, tình trạng sức khỏe của Thái t.ử ta rất rõ, mấy chuyện vặt vãnh này không thể gây c.h.ế.t người. Ta đã thu thập tất cả chất nôn của Thái tử, sẽ nghiên cứu kỹ lại, tìm ra nguyên nhân cái c.h.ế.t thực sự. Vì đã báo lên Quan gia là cô có thể mang thai, Quan gia tạm thời chưa xử phạt cô, nhưng Viện Hàn lâm Y quan sẽ sớm phái y quan khác đến bắt mạch cho cô, e là không giấu được bao lâu. Nhưng ta sẽ cố gắng lý luận, nói rằng hôm qua cô đã hầu hạ Thái tử, biết đâu lúc đó thụ t.h.a.i cũng chưa biết chừng, ít nhất phải đợi một tháng nữa hãy chẩn đoán. Cố gắng tranh thủ được một tháng, trong thời gian đó sẽ tính tiếp..." Nói xong Hàn Tố Vấn thở dài, lại nói: "Vốn dĩ có thể nhờ Nhị đại vương giúp đỡ, nhưng ngài ấy vì đã khuyên Thái t.ử ăn gỏi cá vược trong tiệc trưa, cũng bị Quan gia cấm túc trong các. Có người đồn rằng, ngài ấy xưa nay giao hảo với cô, biết đâu chuyện này là do ngài ấy mưu tính cùng cô, dù sao theo thứ tự, sau Thái t.ử thì đến lượt ngài ấy..." Hương Lê nhi vội lườm hắn một cái, ngăn hắn nói tiếp, rồi quay sang Chân Chân: "Nhưng chúng ta còn có thể tìm Ân Đề, Tuyên Nghĩa lang... thêm vài người cùng nghĩ cách, kiểu gì cũng có lối thoát." Hai người an ủi Chân Chân một lát, sau đó Hương Lê nhi cáo từ: "Muội đã đưa ít tiền cho cung nữ và nội thị canh giữ tỷ, để họ cho phép bọn muội nói chuyện với tỷ một lúc, nhưng họ yêu cầu không được ở quá lâu, bọn muội phải về rồi. Tỷ tỷ bảo trọng, nhất định phải nghĩ thoáng ra, phấn chấn lên. Một là không thể để Thái t.ử điện hạ ra đi không minh bạch như vậy, tỷ sau này phải tra ra chân tướng, hai là... lỡ đâu tỷ thực sự mang giọt m.á.u của Thái t.ử điện hạ thì sao? Cho nên việc cấp bách là dưỡng cho khỏe, sống cho tốt." Chương 111 - Trùng Phùng Ngày thứ ba sau khi Hoàng thái t.ử hoăng thệ là lễ đại liệm, sau đại liệm là ngày thành phục. Theo nghi chế, người trong cung của Hoàng thái t.ử mặc áo tang c.h.é.m gấu, quan lại trong cung mặc áo tang tề gấu, Hoàng đế đội khăn thô, mặc áo lan sam, Hoàng hậu đội khăn thô, áo dài, váy khoác, y phục lót lụa mỏng và giày lụa trắng, các tần phi trong cung cũng theo Hoàng hậu đội khăn thô, mặc váy áo và giày lụa trắng. Hôm đó nữ quan Thượng phục cục mang tang phục đến cho Lưu Tiệp dư, Ngọc bà nhận lấy, đích thân đưa vào tẩm các của Lưu Lạc Vi, bảo nàng thay. Lưu Lạc Vi thay xong, đi đến bên bàn trang điểm soi trái soi phải trước gương, cầm một đóa hoa điền làm bộ định dán lên giữa trán, dáng điệu uyển chuyển như đang múa, khóe môi ngậm cười, miệng khẽ ngâm nga một câu từ trong tập Hoa Gian: "Say rồi c.ắ.n nát hoa điền mới, níu áo chàng tiên mãi làm nũng..." Ngọc bà bà vội vàng đè tay nàng xuống, nghiêm mặt nói: "Nương t.ử im tiếng, không thể để người ta nhìn thấy nghe thấy được!" Lưu Lạc Vi cười nhạt, ném đóa hoa điền trở lại bàn trang điểm, ngồi xuống. Bà Ngọc đi đến sau lưng nàng, nhìn Lưu Lạc Vi trong gương, giúp nàng chỉnh lại khăn trùm đầu, cũng cười thấp giọng nói: "Chuyện này nương t.ử làm không tệ, hiện giờ không ai nghi ngờ. Ai mà nghĩ đến việc kiểm tra hạt châu điền chứ? Đều cho là tội lỗi của Ngô Chân Chân. Thái t.ử c.h.ế.t rồi, Quan gia khóc ròng rã ba ngày liền, Ngô Chân Chân chắc chắn là không sống nổi đâu." Lưu Lạc Vi cười khẩy: "Ta biết ngay ả ta không thật lòng yêu Hoằng Ninh, nhanh như vậy đã dan díu với Thái tử... Quan gia vẫn còn quá nhân từ, trông mong ả sinh con di phúc cho Thái tử, giờ này mà vẫn để ả sống." "Cũng chẳng sống được bao lâu đâu." Ngọc bà bà hờ hững nói, "Cho dù ả thực sự m.a.n.g t.h.a.i con của Thái tử, mấy tháng này sống trên hòn đảo ít người lui tới kia, xảy ra chút chuyện ngoài ý muốn cũng chẳng có gì lạ." Lưu Lạc Vi gật đầu: "Chút việc cỏn con này, không làm khó được ngài." Ngọc bà bà cười, lại nói: "Bây giờ, nhân tiện là cơ hội tốt để trừ khử mụ già Bùi Thượng thực kia. Đừng thấy mụ ta bình thường lầm lì ít nói, tâm cơ cũng chẳng ít đâu. Ngô Chân Chân chính là do một tay mụ đào tạo, không biết đã gây bao nhiêu phiền toái cho nương tử. Nay mụ lại nâng đỡ Phùng Tịnh, Quan gia cũng rất coi trọng, vẫn không để nương t.ử nhúng tay vào chuyện ngự thiện. Muốn nắm lại quyền ngự thiện, thì không thể để Bùi Thượng thực tiếp tục cản đường." Lưu Lạc Vi ngẫm nghĩ, nói: "Mấy vị Gián quan, Đài quan mà chúng ta thường liên lạc, cũng đến lúc dùng tới rồi." "Ta hiểu." Bà Ngọc nói, "Ta đã dặn dò xuống dưới những việc nương t.ử muốn họ làm rồi." Liên tiếp mấy ngày, Chân Chân chỉ nằm đó mụ mị, không khóc, nhưng cũng không muốn làm bất cứ việc gì, cả ngày thẫn thờ hoặc ngủ li bì, t.h.u.ố.c thang và cháo loãng đều do thái y ra hiệu cho cung nữ trông coi nàng đổ vào miệng. Nàng bắt đầu phát sốt, sau đó đến cả t.h.u.ố.c và thức ăn đều cự tuyệt, không còn chút ý chí muốn sống nào, sở dĩ chưa tự vẫn ngay là vì trầm uất đến mức ngay cả chút sức lực để cử động cũng chẳng còn. Vườn Tụ Cảnh thông với Tây Hồ, hòn đảo nhỏ nơi nàng ở nằm ngay giữa hồ, mấy ngày nay mưa thu rả rích, nước hồ dâng lên không ít. Một đêm nọ lại mưa to gió lớn, cung nữ canh giữ Chân Chân bỗng phát hiện nước mưa tràn vào trong phòng, bèn mở cửa xem. Cửa vừa mở, nước như thủy triều ầm ầm ùa vào, mấy tên nội thị bên ngoài lội nước chạy đôn chạy đáo báo tin: "Đê hồ mở cống rồi, đảo sắp bị ngập rồi!" Cách đảo nhỏ không xa có một con đê hồ, chủ yếu dùng để trữ nước tưới tiêu, lúc này tuyệt đối không phải thời điểm xả lũ bình thường, mở cống lúc mưa bão thì hòn đảo nhỏ nằm ở hạ lưu này sẽ bị nhấn chìm. Đám cung nhân nghe vậy cũng hoảng loạn, ai nấy lo chạy thoát thân, chẳng còn ai đoái hoài đến Chân Chân trên giường. Chân Chân nghe thấy tiếng động, nghiêng đầu nhìn, thấy nước hồ cuồn cuộn tràn vào, cũng chẳng sợ hãi, chỉ nhắm mắt lại, tĩnh lặng chờ đợi bị nước nhấn chìm. Nước hồ rất nhanh tràn qua giường, Chân Chân chìm vào trong nước. Hồi nhỏ nàng vốn từng theo đám con trai học bơi lội, theo bản năng quạt tay mấy cái, nhưng giờ bệnh tình nguy kịch, sức cùng lực kiệt, lại thêm không muốn sống, nên cứ mặc kệ bản thân chìm xuống. Nín thở lơ lửng trong nước chốc lát, bỗng có người rẽ nước lặn vào, mò mẫm thấy nàng, liền kéo nàng lên, bơi ra ngoài. Chân Chân cảm thấy một bàn tay có những ngón tay thon dài nắm lấy cổ tay nàng trước, kéo nàng ngoi lên mặt nước, tiếp đó hai tay xoay người nàng lại, để nàng nằm ngửa, người nọ kẹp hai nách nàng, bơi ngửa kéo nàng ra khỏi gian nhà bị ngập. Lúc này mưa đã ngớt, nhưng bốn bề tối tăm, không rõ bờ ở phương nào. Người nọ đưa Chân Chân bơi đến bên một tán cây nhô lên mặt nước, để nàng tựa vào cành cây nghỉ tạm, bản thân nhìn quanh quất, cuối cùng phát hiện phía trước có một chiếc thuyền thắp đèn đang chèo về phía hòn đảo bị ngập. Đợi thuyền đến gần, người ấy lại kéo Chân Chân bơi về phía thuyền. Chiếc thuyền không nhỏ, trên thuyền có hơn mười người đứng, thấy vậy ném xuống một chiếc phao làm bằng gỗ sam. Người nọ lồng Chân Chân vào phao, nâng nàng lên, để người trên thuyền kéo nàng lên. Sau khi Chân Chân lên thuyền, rất nhanh có người đến kiểm tra tình trạng nàng, rồi dìu nàng vào khoang thuyền. Mà người trên thuyền dường như chẳng quan tâm đến người cứu Chân Chân, không ném phao cho người ấy lên, mà nhanh chóng chèo thuyền rời khỏi nơi đó. Người nọ cũng không so đo, lặng lẽ nhìn thuyền đi xa, rồi quay người bơi về phía tán cây ban nãy. Ý thức Chân Chân mơ hồ, nhưng có thể cảm nhận được người nọ đã cứu mình thế nào, mấy lần mở mắt muốn nhìn người ấy, nhưng ánh sáng quá tối, nương theo ánh đèn trên thuyền cũng chỉ thấy một bóng dáng cực kỳ không rõ ràng, bản thân trải qua chuyện này cũng sức tàn lực kiệt, sau khi vào khoang thuyền không lâu liền ngất đi. Khi tỉnh lại chỉ thấy toàn thân ấm áp, y phục đã được thay, đang nằm trên một chiếc giường chăn êm nệm ấm, xuyên qua màn trướng có thể thấy trong phòng thắp một ngọn đèn như hạt đậu, dưới đèn loáng thoáng bóng một người phụ nữ đang ngồi. Chân Chân vẫn đau đầu như búa bổ, toàn thân nóng hầm hập, th* d*c, khi xoay người phát ra chút tiếng động, người phụ nữ kia nghe thấy, rảo bước đi tới, vén màn lên, dịu dàng gọi nàng: "Chân Chân." Nghe thấy giọng bà, Chân Chân kinh ngạc tột độ, rồi cố hết sức chống người dậy, hai mắt đẫm lệ vươn tay về phía bà, run run gọi: "Nương..." Thu Nương ngồi xuống đầu giường, ôm nàng vào lòng. Tuy sốt đến mê man, nhưng Chân Chân dùng tay s* s**ng, nhận ra đường nét khuôn mặt nương, cảm nhận được hơi thở của Thu Nương, vòng tay ấm áp mà mười mấy năm nay nàng quen thuộc đến không thể quen thuộc hơn. Giống như tia sáng chợt lóe lên trong bóng tối vô tận, Chân Chân nhất thời trăm mối cảm xúc ngổn ngang, òa khóc nức nở như một đứa trẻ, ôm chặt lấy Thu Nương nấc nghẹn: "Nương, nương ơi, nương đi đâu vậy? Con tìm nương lâu lắm rồi... Thái t.ử điện hạ mất rồi, con không bao giờ được gặp chàng nữa, nương ơi..." Thu Nương cũng ôm chặt lấy nàng, áp má lên trán Chân Chân, rưng rưng an ủi: "Nương biết, nương biết... Không sao đâu, nương ở đây rồi, nương ở bên con..." Chân Chân đau thương tột độ, lại đang trong cơn bệnh, suy nghĩ rối bời, vừa khóc vừa đứt quãng kể lể: "Con nhớ nương lắm, nương ơi, những năm qua nương có chịu khổ không?... Thái t.ử điện hạ sắp giúp con tìm được nương rồi, chàng là người rất tốt, con vẫn luôn muốn đưa chàng đến gặp nương, nương chắc chắn sẽ thích chàng... Nhưng chàng đi rồi, nương ơi, con không gặp được chàng nữa... Con không hại chàng, món gỏi cá vược đó con cũng ăn mà, không có độc đâu, con cũng không để chàng ăn nhiều... Con không phải không biết tiết chế, đêm đó con cũng không cho chàng theo con về... Con không biết sai ở đâu, nương ơi, con không hiểu tại sao chàng cứ thế mà đi... Nương ơi, có phải con hại chàng không? Rốt cuộc là con làm không tốt chỗ nào?" "Con không sai, Chân Chân, con không làm sai chuyện gì cả." Thu Nương nghe con gái khóc kể cũng rơi lệ, nhưng rất nhanh lau đi, cố gắng kiểm soát giọng nói, bình tĩnh khuyên giải Chân Chân, "Thái t.ử điện hạ là người tốt như vậy, chắc chắn là thần tiên trên trời xuống trần gian lịch kiếp, kiếp số đã hết thì về thiên giới thôi, nhưng chắc chắn vẫn sẽ ở trên trời dõi theo con, bảo hộ con. Con phải sống cho tốt, sống vui vẻ như khi chàng còn tại thế, nếu cứ mãi đau buồn, khóc lóc suốt ngày, chàng nhìn thấy cũng sẽ khó chịu." "Nhưng con muốn gặp chàng quá, nương ơi, làm sao mới gặp lại được chàng?" Chân Chân vẫn lệ rơi như mưa, bi ai hỏi, "Nếu con c.h.ế.t đi liệu có gặp được chàng không?" "Chân Chân, không được nghĩ như vậy!" Thu Nương hai tay giữ vai Chân Chân, để nàng đối diện với mình, nghiêm nghị nói, "Tự mình từ bỏ mạng sống sẽ đọa vào súc sinh đạo, ngạ quỷ đạo, vậy thì con vĩnh viễn cũng không gặp được chàng đâu." Rồi lại kéo nàng vào lòng, rưng rưng nói, "Hơn nữa con không màng đến nương sao? Nương vẫn ở đây đợi con mà..." Chân Chân lại ôm Thu Nương khóc một hồi, lộn xộn kể lại vài chuyện cũ với Thái tử, bày tỏ nỗi nhớ thương chàng. Thu Nương ôm ấp nàng như hồi bé nàng bị bệnh, nhẹ nhàng vỗ về, thỉnh thoảng nhỏ to dỗ dành, đợi Chân Chân dần bình tĩnh lại, bà mới buông nàng ra, đi lấy một bát cháo, bón từng thìa cho Chân Chân, khuyên con gái ăn hết. Đợi Chân Chân ăn xong cháo, Thu Nương lại lấy một bát t.h.u.ố.c cho nàng uống, rồi dùng nước ấm lau mặt lau người cho nàng. Chân Chân dần cảm thấy không còn khó chịu như trước, sau khi trút hết nỗi lòng, tảng đá đè nặng trong tim dường như cũng vơi đi ít nhiều, cơn buồn ngủ kéo đến, mí mắt không tự chủ được khép lại. "Nương ơi, đây là đâu?" Chân Chân nhắm mắt lầm bầm hỏi. Thu Nương không trả lời câu hỏi này, nhưng khẽ nói với nàng: "Chân Chân, lời nương nói con hãy nhớ kỹ: Qua hôm nay, có thể con tạm thời lại không gặp được nương, nhưng đừng buồn, nương sẽ luôn ở đây đợi con. Việc cấp bách của con là giữ lấy mạng sống. Thái t.ử là đứa con Quan gia yêu thương nhất, Quan gia hiện giờ chắc chắn vô cùng đau khổ, tuy con không sai, nhưng lúc này người sẽ không suy xét bình tĩnh, hiểu lầm của người với con tạm thời chưa thể xóa bỏ, cho nên tốt nhất con hãy rời khỏi Lâm An, đừng để Quan gia tìm thấy con. Con phải biết lấy lùi làm tiến, sống sót trước đã, mới có cơ hội làm sáng tỏ nguyên nhân Thái t.ử ra đi, có một ngày kia, mới có thể trùng phùng với nương." Chân Chân mơ mơ màng màng nghe, hơi thở lại dồn dập: "Nương, nương lại sắp đi sao?" "Nương không đi, nương ở đây đợi con." Thu Nương nhấn mạnh lặp lại, lại trịnh trọng dặn dò Chân Chân, "Nhớ kỹ, rời khỏi Lâm An trước đã. Nhất định phải sống sót, chúng ta mới có ngày gặp lại." Chân Chân cố sức nắm lấy tay nương, Thu Nương cũng đưa tay nắm lấy tay nàng, dịu dàng an ủi. Chân Chân muốn mở mắt, nhưng không biết do thể lực hay do thuốc, làm thế nào cũng không mở nổi, rồi chìm vào giấc ngủ mê man. Không lâu sau có người vào, cõng nàng xuống lầu, đặt vào một chiếc xe trâu, đ.á.n.h xe đưa nàng rời khỏi nơi đó. Khi được đỡ lên xe, Chân Chân tạm thời giật mình tỉnh giấc, hơi có chút tri giác, loáng thoáng nghe thấy trong vườn vọng lại tiếng đàn tỳ bà, khác với khúc tỳ bà thường nghe, khúc nhạc này mang phong vị dị vực, trong giai điệu uyển chuyển hoa lệ thỉnh thoảng lóe lên những âm thanh keng keng - mạnh mẽ, vang dội, tăng thêm vài phần khí thế hào hùng, khiến người nghe cảm thấy tâm cảnh rộng mở, nhất thời quên đi ưu sầu. Theo tiếng xe trâu lăn bánh, tiếng tỳ bà dần nhỏ đi, Chân Chân đầu óc quay cuồng, lại mất đi ý thức trong đêm tối vô tận. Trong tiểu lâu Thích An Viên, Thu Nương buông cây đàn tỳ bà xuống, vẫn đăm đăm nhìn về hướng chiếc xe trâu biến mất, hồi lâu không chớp mắt. Trình Uyên xuất hiện sau lưng bà, ôn tồn nói: "Phu nhân vất vả cả đêm rồi, nghỉ ngơi sớm đi." Thu Nương không quay người nhìn hắn, chỉ lạnh lùng nói: "Ông đã hứa, sẽ đưa Chân Chân đến nơi an toàn. Đừng lừa ta." Trình Uyên ung dung đáp: "Phu nhân cũng biết, hai năm nay, ta đối với phu nhân luôn thẳng thắn, nếu phu nhân hỏi về tình hình Ngô Chân Chân, phàm là điều ta biết, ta đều kể hết không sót chi tiết nào, có khi nào lừa dối nửa lời? Nay đối với việc đã hứa, cũng sẽ không nuốt lời." "Được." Thu Nương đón gió đêm u lạnh tạt vào mặt, nhắm hai mắt lại, thản nhiên nói, "Lần này, chỉ cần ông cứu Chân Chân, ta cũng tự khắc thực hiện lời hứa, gả cho ông." Chương 112 - Nếu Trời Có Tình Nội thị đ.á.n.h xe trâu đưa Chân Chân đến trước một ngọn núi, men theo đường núi đi lên, cuối cùng dìu nàng ra khỏi xe, để nàng dựa vào trước cửa một tiểu viện gần đỉnh núi, rồi một mình bỏ đi. Chân Chân vẫn mê man ngủ, đến lúc rạng đông, có người mở cửa phát hiện ra Chân Chân, vào bẩm báo, sau đó có một nam t.ử đi ra xem xét, rồi sai thị nữ dìu Chân Chân vào phòng, để nàng nằm xuống nghỉ ngơi. Gần đến giờ Ngọ, Chân Chân dần tỉnh lại, trong phòng không có ai khác, cửa nẻo đều đóng kín, màu gỗ như gỗ mun, nền lát gạch đá xanh, bài trí trong phòng trang nhã, đồ đạc giữ màu gỗ mộc, kiểu dáng đơn giản nhưng chế tác tinh xảo, trong lư hương trên án thư đang đốt đàn hương, bên ngoài văng vẳng tiếng tụng kinh. Trên chiếc bàn chân hạc cạnh giường có cháo và nước, Chân Chân lấy nước uống, nghỉ một lát, lại ăn hết cháo, cảm thấy đỡ hơn đêm qua một chút, đưa tay sờ mặt và trán, cơn sốt dường như cũng lui đi nhiều. Lúc này bên ngoài có tiếng bước chân, nhìn bóng nắng trên cửa sổ, hình như có hai người đi tới. "Sao hôm nay sư muội mới đến?" Một giọng nam ôn hòa nhã nhặn hỏi, Chân Chân nghe thấy khá quen tai. Một giọng nữ khẽ thở dài: "Đạo huynh, tháng trước muội đến Khán Kinh Viện quá thường xuyên, người nhà sinh nghi, tháng này không cho muội đến nữa. Sau đó vì cha muốn làm lễ pháp sự cho cố nhân, mời tăng nhân Khán Kinh Viện tụng kinh siêu độ, muội xin đi tế bái, cha mới đồng ý." Giọng nói của người phụ nữ này Chân Chân cũng thấy quen quen, nhưng nhất thời không nhớ ra là ai, lại nghe hai người gọi nhau là "đạo huynh", "sư muội", giống như người tu hành, càng thêm thắc mắc. Người đàn ông lại nói: "Cứ mãi thế này cũng không phải cách, hay là ta bẩm rõ với cha nương, nhờ bà mối đến thăm hỏi lệnh tôn, chính thức cầu thân với nàng?" Người phụ nữ im lặng một chút, chắc trong lòng vui mừng, nhưng lại lo lắng trùng trùng, khẽ nói: "Muội chỉ sợ cha muội cố chấp, không muốn kết thông gia với ngoại thích..." Người đàn ông dường như cũng chần chừ, một lúc sau mới nói: "Lệnh tôn chức cao quyền trọng, sẽ kiêng dè những điều này. Huống hồ danh tiếng của ta lại không tốt..." "Huynh là người thế nào muội biết rõ nhất, muội sẽ không để tâm đâu." Người phụ nữ dịu dàng an ủi, nhưng không kìm được tiếng thở dài, "Nhưng miệng đời đáng sợ, muội cũng chịu khổ nhiều rồi, không biết lần này cha sẽ nghĩ thế nào..." Chân Chân nghe mà sốt ruột thay cho họ, bèn đứng dậy đi ra cửa, nói vọng qua cánh cửa: "Hai người đã có tình với nhau thì nên tranh thủ để được ở bên nhau. Muốn cầu thân thì cứ đi cầu thân, chưa cầu sao biết nhạc phụ có đồng ý hay không? Cứ đề nghị trước đã, ông ấy không đồng ý thì nghĩ cách sau, còn hơn ở đây than ngắn thở dài, tự mình rút lui trước." Hai người kia lập tức im bặt, không dám đáp lời. Chân Chân mở cửa từ bên trong, một nam một nữ đang đứng trong sân cùng nhìn về phía nàng, Chân Chân lập tức mở to mắt, nhận ra đó là Ân Kỳ và con gái Thẩm Hãn là Thẩm Nhu Nhiễm. Một lát sau, ba người ngồi quây quần trò chuyện, Chân Chân mới biết, năm xưa sau khi Ân Kỳ đại náo tiệc Đông Cung bị cấm túc rất lâu, năm sau Trần Quốc phu nhân cho người xây dựng tiểu viện này gần Khán Kinh Viện Thiên Trúc, để Ân Kỳ chuyển đến ở, thường xuyên sang Khán Kinh Viện hoặc chùa Linh Ẩn cách đó không xa nghe cao tăng thuyết pháp, hàng ngày luyện chữ chép kinh để tĩnh tâm. Ân Kỳ dần quen với cuộc sống yên bình này, cũng tìm thấy niềm vui trong đó. Còn Thẩm Nhu Nhiễm năm xưa giúp Vân Oanh Ca vạch trần tội ác của Phó Tuấn Dịch trong hôn lễ, tuy là hành động nghĩa hiệp, nhưng cũng rước lấy không ít lời ra tiếng vào, sau khi hủy hôn người đến cầu thân cũng ít đi, cao không tới thấp không thông, dùng dằng đến nay vẫn chưa xuất giá. Sau này Thẩm Nhu Nhiễm đến Khán Kinh Viện Thiên Trúc mượn đọc kinh thư, có cơn gió thổi tới một trang kinh văn chép tay, nàng thấy chữ viết theo lối tiểu khải, nét chữ đầy đặn vừa độ, cương nhu hòa hợp, lại toát lên vẻ tĩnh tại, ý cảnh thanh thoát cao xa, thán phục xong không khỏi tò mò là người thanh nhã thoát tục nhường nào mới có thể khí định thần nhàn viết ra những nét chữ như vậy. Hỏi thăm biết được là do Ân Kỳ viết, bèn tìm đến bên tiểu viện, Ân Kỳ tình cờ đang luyện chữ trong sân, thấy nàng ngó xem, bèn hào phóng mời nàng vào trong quan sát. Thẩm Nhu Nhiễm ngay sau đó phát hiện, Ân Kỳ còn giỏi cả lối chữ chính, hành thảo, hai bức thảo thư viết loáng cái là xong, phóng khoáng tự nhiên, tuấn tú xinh đẹp. Thẩm Nhu Nhiễm cũng yêu thích bút mực, buông lời bình phẩm, nói trúng trọng điểm, Ân Kỳ không khỏi nhìn nàng bằng con mắt khác, đem lòng kính trọng. Ban đầu hai người chỉ thấy quen mặt, trò chuyện rồi mới nhớ ra, hóa ra tiệc Đoan Ngọ năm xưa, họ từng có duyên gặp gỡ một lần trên thuyền ở Hậu uyển Đại nội, cùng nghe Ngô Chân Chân kể chuyện "ngân tự nhi". Ân Kỳ cười nói lần đồng chu cộng tế đó có lẽ là duyên phận tu từ kiếp trước, Thẩm Nhu Nhiễm bèn gọi đùa chàng là "đạo huynh", Ân Kỳ đáp lời, cũng đùa lại gọi nàng là "sư muội". Thế là từ đó Thẩm Nhu Nhiễm thường xuyên mượn cớ đến Khán Kinh Viện Thiên Trúc, cùng Ân Kỳ đàm đạo về thư pháp. Hai người thường sóng vai luyện chữ, bình phẩm lẫn nhau, coi đối phương là tri âm, tự nhiên nảy sinh tình cảm, mong muốn đời này được bên nhau dài lâu, chỉ là theo lệ thường của triều đình, sĩ đại phu làm quan trong triều thường chỉ kết thông gia với đồng liêu, huống hồ bệnh tật của Ân Kỳ người đời đều biết, Thẩm Nhu Nhiễm rất lo cha không chấp nhận, nên đến nay vẫn chỉ lén lút qua lại với Ân Kỳ. Nói đến đây, tiếng tụng kinh từ Khán Kinh Viện Thiên Trúc tạm ngừng, Thẩm Nhu Nhiễm giật mình kinh hãi, đứng dậy nói: "Muội lén ra ngoài, phải về rồi, cha nương vẫn còn ở Khán Kinh Viện, sợ họ tìm muội." Ân Kỳ và Chân Chân đứng dậy tiễn nàng. Ân Kỳ thuận miệng hỏi: "Hôm nay tụng kinh siêu độ cho ai vậy? Cả lệnh tôn lệnh đường đều đến." Thẩm Nhu Nhiễm nhìn Chân Chân, chần chừ một chút, vẫn đáp: "Bùi Thượng thực." Chân Chân như bị sét đánh, cau mày không dám tin nhìn Thẩm Nhu Nhiễm. Sau lễ đại liệm của Hoàng thái tử, rất nhanh có quan viên Gián đài yêu cầu điều tra triệt để vấn đề ăn uống của Thái tử, và chĩa mũi dùi vào Bùi Thượng thực, nói bà trước đây đề bạt Ngô Chân Chân, hôm đó lại thất trách, không ngăn cản Ngô Chân Chân dâng gỏi cá vược Tùng Giang cho Thái tử, nên giao cho Ngự sử đài, trừng trị nghiêm khắc theo pháp luật. Hoàng hậu thương Bùi Thượng thực lao khổ nhiều năm, khuyên Hoàng đế để Cung chính tra xét việc này trước, tạm thời đừng giao cho Ngự sử đài. Vì sự việc hệ trọng, hôm Ngụy Cung chính thẩm vấn Bùi Thượng thực, ngoài Đế Hậu, tần phi, nữ quan cao cấp của Lục Thượng dự thính, ngay cả Thái hậu cũng từ cung Từ Phúc đến xem. Ngụy Cung chính hỏi kỹ từng chi tiết hôm đó với Bùi Thượng thực, khi nghe đến đoạn Chân Chân làm xong gỏi cá vược, dâng cho Bùi Thượng thực nếm trước, Ngụy Cung chính truy vấn Bùi Thượng thực có nếm hay không, Bùi Thượng thực nhất thời cứng họng, cuối cùng vẫn thành thật trả lời: "Không có." Ngụy Cung chính tiếp tục hỏi nguyên nhân không nếm, Bùi Thượng thực hồi lâu không đáp, Ngụy Cung chính bèn nói: "Thực phẩm dâng lên Hoàng thái t.ử lấy từ Ngự trù, lẽ ra phải do Thượng thực kiểm nghiệm và nếm thử trước, mới được đưa đến Đông Cung. Bùi Thượng thực lại bỏ qua bước này, chẳng lẽ ở ngôi cao lâu ngày, đã ngạo mạn đến mức không thèm thực hiện trách nhiệm cơ bản nhất này sao?" Bùi Thượng thực cúi đầu nói "không dám", nhưng vẫn không nói rõ nguyên nhân. Ngụy Cung chính đưa ra một tờ giấy, nói: "Hôm qua có người nặc danh báo tin cho ta, nói Bùi Thượng thực rất có thể vị giác đã suy giảm, nhưng vẫn muốn chiếm giữ vị trí Thượng thực, cho nên trước đây ra sức bồi dưỡng Ngô Chân Chân, để cô ta thay mình nếm ngự thiện. Bùi Thượng thực không nếm gỏi cá vược Tùng Giang, cũng là vì vấn đề vị giác, nếm không ra ngon dở, nên không nếm. Có phải như vậy không?" Bùi Thượng thực lệ rơi đầy mặt, phục lạy, vẫn không nói một lời. Ngụy Cung chính sai người dâng lên ba chén nước đã chuẩn bị sẵn, nói với Bùi Thượng thực: "Ba chén nước này, một chén mặn, một chén ngọt, một chén không vị. Mời Thượng thực nếm từng chén trước mặt mọi người, rồi nói cho ta biết, chén nào có vị gì." "Không cần đâu." Lúc này Bùi Thượng thực ngẩng khuôn mặt già nua đầm đìa nước mắt lên, đôi môi run rẩy nói, "Đúng vậy, vị giác của ta đã mất từ lâu, dù là mặn hay ngọt, vào miệng ta, mùi vị đều như nhau cả." Ngụy Cung chính nhìn chằm chằm hỏi tiếp: "Mất từ khi nào?" Bùi Thượng thực nói: "Năm sáu năm trước bắt đầu suy giảm, ngày càng yếu, khoảng ba năm trước, thì gần như không phân biệt được mùi vị nữa." "Thật là quá quắt!" Thái hậu ngồi xem không nhịn được lên tiếng mắng, "Một kẻ chưởng quản việc nếm ngự thiện mà mất vị giác, vậy mà vẫn cứ chiếm giữ vị trí Thượng thực không chịu nhường người hiền, ngồi không ăn bám bấy nhiêu năm, đây là tội khi quân!" Bùi Thượng thực dập đầu nói: "Thần nguyện chịu mọi tội trách, lấy cái c.h.ế.t tạ tội." Lúc này Hoàng đế mở miệng hỏi bà: "Tại sao ngươi cứ giấu giếm chuyện này mãi? Chỉ là một chức Thượng thực, đáng để ngươi tham luyến đến thế sao? Trẫm đã hứa với ngươi nhiều lần, nếu ngươi muốn xuất cung dưỡng già, Trẫm tự khắc sẽ ban cho bổng lộc hậu hĩnh, nhà cao cửa rộng, để ngươi an hưởng tuổi già." "Cái ta cần không phải là bổng lộc hay nhà cửa," Bùi Thượng thực không kìm được tiếng bi thương, bỗng khóc òa lên, "Không muốn từ chức, là vì ta không có nhà để về. Nhà của ta, chỉ có Thượng thực cục mà thôi!" Bà khóc nấc lên, lưng gập sâu xuống, đầu chạm đất, toàn thân run rẩy, tiếng khóc thê lương, lộ rõ vẻ tuyệt vọng. "Giao cho Ngự sử đài đi." Thái hậu lạnh lùng nói với Hoàng đế. "Thôi được rồi." Hoàng đế thở dài, "Bà ấy dù sao cũng là người hầu hạ việc ăn uống của ta từ khi ta còn nhỏ... Huống hồ, thực ra ta không phải hoàn toàn không hay biết, mấy năm trước đã cảm thấy bà ấy nếm vị không chuẩn, cho nên..." "Cho nên Quan gia thà ăn món Lưu Tiệp dư làm." Thái hậu cười nhạt, lại nói, "Quan gia nhân từ, không muốn trừng phạt nặng Bùi Thượng thực, nhưng bà ta giấu giếm chuyện vị giác là sai trước, thất trách gây hại cho Đông Cung là sai sau, bất luận thế nào cũng không thể tha nhẹ. Đuổi khỏi cung, đưa đi làm nữ đạo sĩ đi." Hoàng đế im lặng, cúi đầu suy tính. Hoàng hậu thấy vậy khẽ khàng gợi ý: "Đuổi khỏi cung là đúng, chỉ là Bùi Thượng thực tuổi đã cao, lại đi làm nữ đạo sĩ e cũng không cần thiết. Chi bằng cho bà ấy một căn nhà nhỏ, để bà ấy ăn chay niệm Phật hối lỗi qua ngày vậy." Hoàng đế thấy khả thi, chuyện bèn quyết định như vậy. Hôm sau Bùi Thượng thực cô độc một thân mặc áo vải, xách một tay nải nhỏ, từng bước từng bước, chậm chạp đi qua bóng râm xám xịt của cổng cung, bước ra khỏi cửa Lệ Chính, hòa vào dòng người đông đúc trên phố Ngự, không còn quay đầu nhìn lại tòa hoàng thành đã chôn vùi mấy chục năm thanh xuân của bà nữa. Hoàng hậu bảo Sử Hoài Ân mua cho Bùi Thượng thực một chỗ ở, để tránh đài quan bàn tán, chỗ ở khá nhỏ, ẩn mình trong con phố nhỏ. Thẩm Hãn nghe chuyện Bùi Thượng thực, than thở không thôi, suy đi tính lại, đem chuyện cũ giữa mình và Bùi Thượng thực kể với phu nhân. Thẩm phu nhân thấu tình đạt lý, nói với Thẩm Hãn: "Năm xưa hai người lầm lỡ, lỡ dở nhân duyên, nay bà ấy già cả không nơi nương tựa, cảnh già thê lương, chắc hẳn ông cũng thấy áy náy. Chi bằng chúng ta đón bà ấy về nhà, ta và bà ấy xưng hô chị em, sau này để con cái lo việc hậu sự cho bà ấy." Thẩm Hãn vô cùng cảm kích, bái tạ phu nhân mấy lần, bèn nói với Thẩm Nhu Nhiễm chuyện này, bảo con gái đến chỗ ở của Bùi Thượng thực mời bà về Thẩm trạch. Thẩm Nhu Nhiễm đến thăm Bùi Thượng thực, chuyển lời tâm ý của cha nương, Bùi Thượng thực lại cười buồn, nói với Thẩm Nhu Nhiễm: "Lúc này vào nhà Thẩm quân, là thiếp sao? Hay là ta tỳ?" Thẩm Nhu Nhiễm nói: "Nương ta nói mong được xưng hô chị em với Thượng thực. Thượng thực và cha, có thể cư xử như bạn bè. Cả nhà chúng ta, đều sẽ kính trọng Thượng thực như thượng khách." Bùi Thượng thực khéo léo từ chối, nhưng Thẩm Nhu Nhiễm không bỏ cuộc, năm lần bảy lượt mời mọc, Bùi Thượng thực cuối cùng cũng xiêu lòng, nói cần thu dọn một chút, mời nàng ngày mai đến đón. Thẩm Nhu Nhiễm mừng rỡ nói: "Vậy quyết định thế nhé, ngày mai con mời cha cùng đến đón Thượng thực." Đợi nàng đi rồi, Bùi Thượng thực tắm gội thay đồ, tối đến tự rót cho mình một chén rượu, lấy ra một lọ t.h.u.ố.c nhỏ, đổ bột trắng bên trong vào, từ từ lắc chén rượu, lẩm bẩm: "Minh Sơ, năm xưa tỷ ngăn cản ta nếm thứ này, nhưng trong lòng ta vẫn không kìm được tò mò, muốn biết nó rốt cuộc có vị gì... Nay, cuối cùng cũng có dũng khí nếm rồi..." Thấy bột t.h.u.ố.c đã tan gần hết, Bùi Thượng thực đứng dậy, mở tay nải mang từ trong cung ra, lấy ra một chiếc mũ phượng kết bằng châu ngọc thúy vũ. Đó là mũ trâm của tân nương, tết dây điểm thúy, cực kỳ tinh xảo, chỉ là để lâu năm, ánh sáng đã phai nhạt, không còn rực rỡ như xưa. Bùi Thượng thực trịnh trọng đội mũ trâm lên, từ từ uống cạn chén rượu, rồi ngồi ngay ngắn bên mép giường buông màn trướng, tựa như tân nương đang tĩnh lặng đợi tân lang vào động phòng. Môi trường con phố nhỏ nơi bà ở hỗn loạn, gần đó có quán rượu lầu trà, lúc này không biết ca kỹ nhà ai đang họa theo tiếng sáo hát một khúc, lời ca nghe thật quen thuộc: "Ngậm ngùi ngóng kiếp phù du,Tiếng đàn lạnh lẽo, tàn thu nỗi niềm.Khách buồn hận biệt ly thêm,Non xanh nước biếc, mắt tìm xa xăm.Cỏ tàn liền với trời câm,Đêm thâu tiếng đập áo thầm vọng đưa.Lá vàng rơi chẳng cần mưa,Mây thu che khuất, âm u tháng ngày.Trời mà có nghĩa có say,Thì trời cũng phải hao gầy già nua.Hận sầu biết mấy cho vừa,Vui xưa như mộng, giờ chưa thấy về." Khúc nhạc dứt, Bùi Thượng thực vẫn ngồi ngay ngắn, mắt nhìn thẳng, nở một nụ cười nhạt nhòa. Cùng lúc đó, một dòng m.á.u đỏ tươi tràn ra từ khóe miệng, rơi xuống từ khóe môi đang nhếch lên của bà. Chương 113 - Nhập Mộng Ân Kỳ trước đó đã biết chuyện Chân Chân từ chỗ Ân Đề, tuy không biết ai đưa nàng đến đây, nhưng cũng không hỏi nhiều, chỉ dặn nàng yên tâm dưỡng bệnh ở tiểu viện của mình, nói nơi này thanh tịnh, vì thân phận của mình, nghĩ rằng tạm thời sẽ không có ai đến đây lục soát. Biết được cảnh ngộ bi t.h.ả.m của Bùi Thượng thực, Chân Chân chỉ thấy tội lỗi của mình lại thêm một tầng, càng thêm đau khổ, lén lút khóc lớn mấy lần, bệnh tình cũng tái phát mấy bận, ban ngày dường như đỡ hơn, cứ đến chập tối lại bắt đầu sốt. Nàng phát hiện đêm gặp lại nương, nương ngoài thay y phục cho nàng, còn buộc vào eo nàng một chiếc túi thơm nhỏ, đan bằng sợi bạc, bên trong không có hương liệu, chỉ có một hạt giống màu đỏ, trông như hạt đậu, nhưng không phải bất kỳ loại đậu nào nàng biết. Mỗi khi đau thương hay bệnh tật ập đến, Chân Chân lại nắm chặt chiếc túi thơm bạc trong tay, nhắc nhở mình phải nhớ lời nương, phải nuôi hy vọng, nương vẫn đang đợi nàng. Ân Kỳ cho thị nữ chăm sóc Chân Chân chu đáo, tự mình quan sát bệnh tình của nàng, đi tìm danh y, mang t.h.u.ố.c về định sắc cho Chân Chân uống, Chân Chân lại từ chối, nói bệnh phong hàn nghỉ ngơi vài ngày sẽ khỏi, thực ra là bản thân cũng ngầm mong đợi việc m.a.n.g t.h.a.i di phúc của Thái tử, lo lắng t.h.u.ố.c thang sẽ làm hại đứa con có thể đang tồn tại đó. Chân Chân nhờ Ân Kỳ tìm cho mình một bộ tang phục trảm thôi, muốn để tang Thái tử. Ân Kỳ nói: "Nàng mất tích từ vườn Tụ Cảnh, tuy Quan gia có thể nghĩ đến khả năng nàng đã bỏ mình dưới đáy hồ, nhưng chắc chắn nhất thời sẽ không từ bỏ việc tìm kiếm nàng. Mặc trảm thôi để tang quá nặng nề, ai thấy cũng sẽ hỏi, một khi lộ tẩy, thì không chỉ là chuyện của riêng nàng, ta và thị nữ của ta, thậm chí người nhà ta cũng sẽ bị liên lụy, cho nên vẫn đừng quá gây chú ý." Nói xong chàng ngắt một đóa hoa màu trắng tặng Chân Chân, lại nói: "Nàng chi bằng mỗi ngày cài một đóa hoa trắng để gửi gắm nỗi bi ai, thay cho việc để tang. Nàng ở trong hoàn cảnh thế này, Thái t.ử điện hạ nếu linh thiêng, thấy vậy nhất định sẽ vô cùng thương xót, không trách nàng đâu." Đóa hoa ấy có hình cái phễu, phần trên gần đài hoa vương một chút sắc tím nhạt, phần dưới màu trắng, giống như chiếc váy múa xòe ra. Chân Chân đón lấy, hỏi Ân Kỳ: "Đây là hoa gì?" Ân Kỳ đáp: "Mạn đà la." Qua vài ngày, Ân Kỳ thấy sắc mặt Chân Chân tốt hơn một chút, bèn gợi ý nàng giống mình chép kinh để tĩnh tâm dưỡng thần, Chân Chân cũng hy vọng có thể nhờ đó làm chút công đức cho Thái t.ử và Bùi Thượng thực, bèn bắt đầu hàng ngày chép kinh tụng kinh. Trong số kinh thư Ân Kỳ mượn từ Khán Kinh Viện Thiên Trúc có một bộ "Kinh Diệu Pháp Liên Hoa", trang sách ố vàng, vẻ ngoài cổ kính, hẳn là sách cổ được cất giữ nhiều năm. Chân Chân lật mở quyển đầu tiên, tình cờ phát hiện bên trong kẹp một tờ giấy, trên đó có mấy dòng chữ nhỏ viết theo lối thảo thư, nét chữ trông quen quen. Chân Chân nhìn kỹ, lại đối chiếu với kinh thư xem, nhận ra trên đó chép một đoạn kinh văn của quyển "Kinh Diệu Pháp Liên Hoa" này: "Lúc bấy giờ Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán. Vì các Bồ Tát nói kinh Đại Thừa, tên Vô Lượng Nghĩa, giáo pháp Bồ Tát, Phật sở hộ niệm. Phật nói kinh này rồi, ngồi kiết già, nhập vào Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội, thân tâm bất động. Khi ấy trời mưa hoa Mạn đà la, Ma ha Mạn đà la, Mạn thù sa hoa, Ma ha Mạn thù sa hoa, mà rải lên Phật cùng các đại chúng. Khắp cõi Phật, sáu điệu chấn động." Trong đó bên cạnh bốn chữ "Mạn thù sa hoa" có gạch một đường, khiến từ này trở nên đặc biệt nổi bật. Chân Chân lại chăm chú nhìn kỹ một hồi, chợt nhớ ra, nét chữ này rất giống chữ thảo của Trương Vân Kiều mà nàng từng thấy, tiếp đó lại nghĩ tới Mạnh Vân Tụ từng nói lần cuối cùng bà gặp vợ chồng Trương Vân Kiều là ở Khán Kinh Viện Thiên Trúc, họ từ biệt Mạnh Vân Tụ xong thì rời khỏi Lâm An, nói như vậy, trang kinh văn này quả thực có khả năng là do Trương Vân Kiều chép tay. Chân Chân lập tức tìm Ân Kỳ, nhờ chàng hỏi vị lão tăng quản lý tàng thư củaKhán Kinh Viện, xem trang kinh văn này có phải bút tích của Trương Vân Kiều không. Ân Kỳ hỏi thăm xong về bảo Chân Chân: "Pháp sư ban đầu không muốn nói, sau đó ta nói sự việc đã qua nhiều năm, vật đổi sao dời, Trương Vân Kiều không còn bị người ta truy bắt nữa, nay Quan gia cũng rất mong tìm được Trương Quốc y, ông ấy mới thừa nhận trang kinh văn này xuất từ bút tích Trương Vân Kiều, năm xưa Trương Quốc y và Lưu Tư thiện trốn ở Khán Kinh Viện vài ngày, sau đó rời Lâm An, lúc chia tay nói với pháp sư, họ muốn đi phủ Ninh Quốc." "Vậy tại sao ông ấy chép đoạn kinh văn này? Mạn thù sa hoa nghĩa là gì? Tại sao ông ấy lại gạch dưới từ này?" Chân Chân truy hỏi. "Cái này thì không biết." Ân Kỳ nói, "Ta chỉ biết hoa Mạn đà la, Ma ha Mạn đà la, Mạn thù sa hoa, Ma ha Mạn thù sa hoa là bốn loại hoa của thiên giới. Đoạn kinh văn này nói, sau khi Phật nói xong kinh Đại Thừa, trên không trung có bốn loại hoa trời này rơi xuống như mưa, rải lên người Phật và đại chúng. Trương Quốc y gạch dưới Mạn thù sa hoa, có lẽ vì ông ấy rất hứng thú với loài hoa này?" Chân Chân lại hỏi: "Vậy chàng biết Mạn thù sa hoa là loài hoa như thế nào không?" Ân Kỳ lắc đầu: "Chưa từng thấy. Có người nói là một loại hoa màu đỏ, lại có người nói bốn loại hoa này chỉ tồn tại ở thiên giới, không phải giống hoa chốn phàm trần." Không biết tại sao, mấy chữ "Mạn thù sa hoa" cứ thế in sâu vào tâm trí Chân Chân, xua đi không được. Đêm ấy Chân Chân thầm niệm tên loài hoa thiên giới kia, mơ màng ngủ thiếp đi. Trong cơn mộng mị, bỗng nghe thấy một tiếng đàn tỳ bà, giống như tiếng nhạc nghe thấy lúc rời đi sau khi gặp nương. Nàng lập tức lần theo tiếng tỳ bà tìm đến, vạch một màn sương dày, chỉ thấy phía trước cầu nhỏ nước chảy, gió mát trăng thanh, cảnh trí di người. Dưới gốc liễu đầu cầu, có vị công t.ử áo nhẹ đai rộng, phong thái nhẹ nhàng đang một mình uống rượu dưới trăng, đưa chén lên môi. Chân Chân chậm rãi bước lại gần, phát hiện vị công t.ử đó lại là Thái t.ử Triệu Tích đã xa cách bao ngày. Nàng vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ gọi một tiếng "Điện hạ", nhưng theo bản năng chú ý đến thứ trong chén chàng, bèn cau mày hỏi: "Điện hạ, chàng đang uống gì vậy?" Thái t.ử nghiêng đầu mỉm cười với nàng, nâng chén nói: "Đây không phải rượu, là một chén nước đoạn tình có thể quên hết chuyện kiếp này, uống rồi là có thể bước vào đường vãng sinh." Nàng lúc này mới nhớ ra chàng đã rời bỏ nàng rồi, nhưng chàng trước mắt chân thực đến thế, như thể chưa từng biến mất. Nàng lao tới giật lấy chén của chàng, ném xuống sông dưới cầu, ngấn lệ nói với chàng: "Không được, thiếp không muốn Điện hạ quên thiếp!" "Ồ, đúng rồi, đồ ăn thức uống của ta nàng đều phải nếm trước mà." Chàng cười nói, "Lần này, nàng cũng nếm thử xem, nước đoạn tình này có vị gì." Sau đó chàng ôm lấy eo nàng, kéo nàng vào lòng, cúi đầu hòa một nụ hôn hàm tiếu vào giữa môi lưỡi nàng. Mà nàng kinh sợ vì hiệu lực của nước đoạn tình, đẩy chàng ra, nhổ xuống đất nói: "Phui phui, thiếp không nếm, thiếp không muốn quên chàng." Chàng không nhịn được cười, nói: "Ta chưa uống gì cả. Nàng không nhìn ra sao, ta chỉ muốn hôn nàng thôi mà?" Chưa uống, vậy thì mọi chuyện đều dễ nói. Nàng yên tâm, nghiêm túc suy nghĩ một chút, hỏi lại: "Chỉ muốn hôn thôi?" Chàng cười lớn, lại ôm nàng vào lòng, chốc lát sau, dịu dàng hỏi nàng: "Chuyện đêm đó, nàng có hối hận không?" "Không hối hận." Chân Chân không chút do dự, "Đối với tất cả những việc đã làm cùng Điện hạ, thiếp đều không hối hận." "Ta lại hối hận rồi. Biệt ly đến quá đỗi bất ngờ, nỗi bi thương để lại cho nàng còn dài hơn niềm vui..." Chàng có chút ảm đạm đau thương, nhưng khi nói câu tiếp theo lại nở một nụ cười nhẹ, "Hối hận vì trước đó giả làm quân tử, không lợi dụng lúc người ta gặp khó khăn." Nàng chất vấn: "Nếu chàng lợi dụng lúc người ta gặp khó khăn, thiếp còn yêu chàng sao?" "Nàng chắc chắn người nàng yêu là ta lúc làm quân t.ử chứ?" Chàng nghiêm túc hỏi nàng, chỉ là trong mắt vẫn thoáng qua ý cười ranh mãnh không giấu được, "Trước hẹn ước thịt nướng, nàng chỉ coi ta như tượng thần trong miếu thôi mà." Nàng nhất thời cứng họng, lại thấy yêu người trước mặt vô cùng, hai tay ôm chặt lấy chàng, chỉ sợ chàng đột nhiên biến mất, một lát sau, tựa vào n.g.ự.c chàng khẽ nói: "Điện hạ, thiếp muốn sinh cho chàng một đứa con. Hy vọng nó sẽ có đôi mắt của chàng, nụ cười của chàng." Chàng lại khẽ thở dài: "Thôi đừng... như vậy nàng sẽ vất vả lắm." Rồi chàng buông nàng ra, dịu dàng nhìn sâu vào mắt nàng: "Ta mong nàng ngày nào cũng có nụ cười của riêng mình, bất kể ta có ở bên nàng hay không." Chàng lùi lại vài bước về phía cầu. Chân Chân lại hoảng hốt, run giọng gọi chàng: "Điện hạ..." Chàng mỉm cười nhìn về phía sau lưng nàng: "Kìa, Nhị ca, đệ ấy lại mang con mang đến cho nàng rồi." Chân Chân quay đầu nhìn lại, thấy sau lưng trống không, lập tức quay lại nhìn phía trước, phát hiện Thái t.ử đã qua cầu, tà áo bay bay, vẫn đang nghiêng đầu mỉm cười với nàng. Nàng đuổi theo, muốn đi cùng chàng, lại thấy cây cầu ầm ầm vỡ vụn, rơi xuống sông, trong nháy mắt không còn dấu vết. Nàng cúi đầu nhìn, chỉ thấy con sông kia cũng chẳng phải sông, mà là một biển hoa đỏ rực, trong đó mỗi một cây đều không có lá, đầu cành chỉ nở hoa màu đỏ chính. Hàng ngàn hàng vạn cây, gió mát thổi qua, những đóa hoa nhấp nhô lay động, khiến biển hoa dậy sóng, trong cơn hoảng hốt nhìn sang, lại giống như một dòng sông máu. Khi nàng tỉnh lại từ giấc mộng ảo ảnh này, ngoài cửa sổ trăng sáng treo cao, xuyên qua song cửa, lặng lẽ rải một lớp ánh sáng bàng bạc trước giường nàng. Nàng thẫn thờ nằm đó nhìn lên trên, không ngủ lại được nữa. Hôm sau phát hiện kỳ kinh nguyệt trễ mấy ngày rốt cuộc vẫn đến, điều này đồng nghĩa với việc, nàng sẽ không còn khả năng duy trì giọt m.á.u cho người yêu đã khuất. Chân Chân bày tỏ ý muốn rời Lâm An với Ân Kỳ, Ân Kỳ đồng ý đi tìm em trai Ân Đề giúp đỡ. Nàng chân thành cảm ơn sự thành toàn trước đây và sự chăm sóc hiện tại của Ân Kỳ, gửi lời chúc phúc chân thành đến chàng và Thẩm Nhu Nhiễm, đồng thời gợi ý Ân Kỳ: "Chàng tốt nhất nên đích thân đến Thẩm gia cầu thân, và mang theo chữ chàng và Thẩm cô nương cùng luyện cho Thẩm Tham chính xem. Nói với ông ấy rằng, có duyên cùng thuyền, là phúc tu từ kiếp trước, danh lợi mất đi còn có thể tìm lại được, mà người hữu tình một khi ly tán, chính là cả một đời." Ân Kỳ gật đầu đồng ý, khen: "Câu cuối cùng của nàng, nói hay lắm." Chân Chân buồn bã nói: "Câu này không phải ta nói." "Vậy là ai nói?" Ân Kỳ hỏi. Chân Chân không trả lời, mà vành mắt đã đỏ hoe trước. Ân Kỳ thấy vậy hiểu ra, than: "Năm xưa tiệc Đông Cung, là Hoàng thái t.ử cứu nàng. Sau này ta nghe nói chuyện của hai người, còn thầm nghĩ đây có lẽ là điềm báo nàng và Đông Cung có duyên tiền định ba kiếp, lại không ngờ sau này lại thành ra thế này... Sớm biết nàng đau khổ như bây giờ, lúc đầu ta đã không để nàng đi." Chân Chân hỏi chàng: "Nếu lúc đầu giữ ta lại, chàng sẽ không gặp được Thẩm cô nương, vậy chàng đối với ta, là giữ hay thả?" Ân Kỳ nghĩ ngợi, cười trừ: "Vậy nàng vẫn cứ đi đi." Chân Chân cũng không kìm được mỉm cười. Đây là lần đầu tiên nàng nở nụ cười thực sự kể từ khi Thái t.ử hoăng thệ. Ân Đề không lâu sau đến tiểu viện của Ân Kỳ, bảo Chân Chân rằng sau khi nàng mất tích cung nhân vườn Tụ Cảnh báo lên rằng nàng bị nước lũ cuốn trôi, quan viên giám sát đê hồ nói hôm đó cửa cống gặp sự cố, dẫn đến việc mở cống trái giờ, Quan gia đã xử phạt mấy quan lại liên quan, lại sai người truy tìm tung tích Chân Chân, sống phải thấy người, c.h.ế.t phải thấy xác. Nhưng Ân Đề lại bảo Chân Chân đừng lo, nói hắn đã sắp xếp xong, sẽ đưa cho nàng danh bài của lính tuần Hoàng thành ty, để nàng cải trang rồi ra khỏi thành. Ân Đề hỏi Chân Chân muốn đi đâu. Chân Chân nói muốn đi phủ Ninh Quốc, Ân Đề nói: "Chỗ đó không xa, ta sẽ lo lót các chốt kiểm soát dọc đường cho nàng." Chân Chân cảm tạ sự giúp đỡ hết mình của Ân Đề hết lần này đến lần khác, Ân Đề nói: "Không cần khách sáo. Ta giúp nàng như vậy, một là lời thỉnh cầu của huynh trưởng không thể không màng, hai là... cũng là nhận lời ủy thác của người khác, có người dặn đi dặn lại ta nhất định phải giúp nàng thoát thân." Chân Chân nghĩ ngay đến: "Là Nhị đại vương?" Ân Đề xác nhận, nói: "Thực ra tình cảnh ngài ấy cũng vô cùng bất ổn, người trong cung đều đồn chuyện của Thái t.ử có liên quan đến ngài ấy... Dù sao bình thường ngài ấy đối tốt với nàng quá, quả thực là không hề che giấu. Quan gia nghe nhiều, khó tránh khỏi bị lời đồn ảnh hưởng, vẫn luôn cấm túc ngài ấy ở các Thanh Hoa, may mà còn cho phép ta đến thăm ngài ấy... Ngài ấy nghe nói chuyện của Thái t.ử và nàng, khóc sưng cả mắt, nhưng vẫn muốn ta tìm cách cứu nàng, trốn khỏi Lâm An." Chân Chân ngẩn ngơ suy nghĩ hồi lâu, lại hỏi Ân Đề: "Quan gia chỉ cấm túc Nhị đại vương, không định phạt ngài ấy chứ?" "Đại thần trong triều đồn rằng, Quan gia có ý định đưa ngài ấy ra khỏi kinh thành, nhậm chức ở ngoại quận." Ân Đề nói. "Sao có thể thế được!" Chân Chân kinh ngạc nói, "Hoàng t.ử nước ta, xưa nay sống ở kinh thành, chưa từng có chuyện đi đày ra ngoài." "Cho nên nếu lời đồn là thật, thì đó quả là một quyết định bất thường. Ai lại để Hoàng tử, nhất là Hoàng t.ử theo thứ tự lẽ ra kế nhiệm Trữ quân rời kinh chứ?" Ân Đề buồn rầu nói, "Điều này đồng nghĩa với việc tuyên bố với người đời, Nhị đại vương không còn là người được chọn làm Trữ quân nữa." Chương 114 - Rượu Thanh Mai Lúc lâm chung Thái t.ử từng bảo Chân Chân đi tìm Dương T.ử Thành, nhưng sau đó gió mây vần vũ, Chân Chân hoàn toàn không có khả năng gặp Dương T.ử Thành. Nay Chân Chân gặp Ân Đề, bèn nhớ tới việc này, hỏi Ân Đề có thể tìm cách cho nàng gặp Dương T.ử Thành một lần không, Ân Đề lại lắc đầu, nói: "Hôm sau ngày Thái t.ử hoăng thệ, Dương T.ử Thành liền mất tích, Quan gia cũng đang tìm ông ta, nhưng đến nay ông ta bặt vô âm tín, cũng không biết người đang ở đâu, sống hay c.h.ế.t." Thụy hiệu của Hoàng thái t.ử được định là "Trang Văn", ngày thứ hai mươi bốn sau khi mất là ngày đưa tang Trang Văn Thái tử. Vì triều đình dời về phía Nam, tạm thời dùng hình thức "yểm toàn" thay cho an táng, tức là chôn cất tang chờ di dời, hy vọng sau khi khôi phục Trung nguyên sẽ chuyển về lăng tổ, nay nơi yểm toàn chỉ gọi là "Toàn sở". Toàn sở đặt dưới chân núi Nam Bình ngoại thành, bờ nam Tây Hồ, một vùng đất phong thủy bảo địa non xanh nước biếc, bốn mùa phong quang đều đẹp như tranh. Ân Đề sắp xếp cho Chân Chân ra thành đúng vào ngày này. Trang Văn Thái t.ử tiếng thơm hiền đức vang xa trong ngoài, người đưa tang hôm đó rất đông, ngoài quan lại các cấp, các loại người phục dịch, còn có lượng lớn bách tính tự phát đến, lính canh cửa thành kiểm tra thân phận người ra thành không nghiêm ngặt, thuận tiện cho Chân Chân rời Lâm An. Sáng hôm ấy, trời còn chưa sáng hẳn, Tông thất Sứ tướng, quan lại Đông Cung cùng các ban dẫn đường, người phục dịch đều thắt đai đen, rước linh cữu Hoàng thái t.ử ra khỏi thành, xe ngựa tùy tùng hàng ngàn hàng vạn, một đường đi về hướng núi Nam Bình. Bách tính dọc đường quỳ lạy khóc tiễn, tiếng bi thương dậy đất, Chân Chân trùm khăn thô, cũng ở trong đó, lặng lẽ phục lạy bên đường nơi linh cữu Thái t.ử sắp đi qua. Khi linh cữu lướt qua trước mặt nàng, tim Chân Chân như bị lưỡi băng từ từ cứa nát, đất trời trong khoảnh khắc phai nhạt, chỉ còn lại một ý niệm: "Đây có lẽ là lần gần chàng nhất trong phần đời còn lại rồi." Nàng run rẩy vùi đầu vào mười dặm bụi trần, trong tiếng khóc than của dân chúng, hòa lẫn nước mắt của chính mình. Sau khi linh cữu đi qua, bách tính quỳ lạy dần tản đi, Chân Chân hồi lâu mới ngẩng đầu, chậm chạp đứng dậy, lau sạch vệt nước mắt, thẫn thờ đi về hướng phủ Ninh Quốc. Bên con đường dần trở nên vắng vẻ vẫn thỉnh thoảng vang lên tiếng khóc lẻ tẻ, trong đó có một văn sĩ, có lẽ có chút duyên nợ với Trang Văn Thái tử, vẫn đứng bên đường, xa xa nhìn theo linh cữu đi xa, thê lương ngâm một khúc từ: "Trăng thu lạnh, hạc thu im tiếng. Sáng sớm cấm cung, động lòng vua. Sáo ngọc bỗng đứt giờ đâu tá, chẳng biết ai báo lầu ngọc xong. Bảy sao trao cương ngựa loan, người không thấy, hận khó nguôi. Sao quay lại cờ nghê. Một trời gió sương khổ thê lương." Chọn phủ Ninh Quốc, là vì Chân Chân giờ đây có quê cũng không thể về, không muốn về Phố Giang làm liên lụy Bồ bá, Tương Diệp và những người khác, lại nghe nói Thu Nương, vợ chồng họ Trương có khả năng từng sống ở phủ Ninh Quốc, Chân Chân liền cảm thấy nơi này có đôi phần gắn bó với mình, cũng muốn đi xem nơi đó rốt cuộc ra sao, cũng mang theo chút hy vọng, muốn tìm được thông tin chi tiết hơn về thân thế. Danh bài lính tuần Hoàng thành ty dùng khá tốt, Ân Đề chắc cũng đã lo lót qua, Chân Chân đi đường suôn sẻ, đôi khi đi qua thị trấn lính canh còn hỏi nàng có cần giúp thuê xe không, chỉ đường rất nhiệt tình. Vài ngày sau tiến vào địa giới phủ Ninh Quốc, nơi này nhiều đường núi, Chân Chân lên một ngọn núi, dần cảm thấy lạc đường, đi thế nào cũng không tìm thấy đường lớn. Bỗng nghe phía trước có tiếng phụ nữ kêu cứu, Chân Chân chợt nghe tiếng người, vội rảo bước chạy tới. Người kêu cứu là một bà lão tóc bạc phơ, gầy gò ốm yếu, ăn mặc giản dị như tang phụ, chân trái bị một chiếc bẫy thú kẹp chặt, mắt cá chân bị răng sắt kẹp rách da, m.á.u đang tuôn ra xối xả. Bà ngã ngồi trên đất, bên cạnh có một cái giỏ tre, bên trong đựng ít rau dại mới đào, cũng có không ít rơi vãi trên đất. Chân Chân bước tới xem xét, tìm được chốt mở bẫy thú, giải thoát chân trái cho bà lão, lấy khăn lụa của mình định băng bó cho bà, bà lão kia lại c.h.ử.i bới om sòm chỉ trích Chân Chân, nói bẫy thú là do nàng đặt, ý đồ g.i.ế.c người cướp của. Chân Chân thấy vậy bèn dừng tay, đứng dậy nói: "Vậy bà tự lo liệu đi." Chân Chân đeo tay nải chọn một hướng đi vài bước, nghe thấy sau lưng bà lão kia kêu "Ái chà" một tiếng, quay đầu nhìn lại, phát hiện bà lão lại ngã mạnh xuống đất, có lẽ là cố sức muốn đứng dậy đi về, nhưng vết thương ở chân quá nặng, không thể nhích bước. Lúc này có một con nhím chạy đến chân Chân Chân, Chân Chân nghĩ ngợi, ném một quả táo tàu đến bên cạnh bà lão, dẫn dụ con nhím chạy về phía bà. Bà lão thấy con nhím chạy lại gần, mắt lộ vẻ kinh hoàng, nhưng miệng vẫn c.h.ử.i mắng không ngớt. Chân Chân ung dung đi trở lại, ném một quả táo ra xa dụ con nhím đi chỗ khác, rồi cúi người đối diện bà lão, nói: "Bẫy thú không liên quan đến ta. Nơi này ít người qua lại, nếu không cần ta giúp bà cứ đợi đi, thú dữ hung mãnh hơn con nhím rất có thể sẽ tìm thấy bà trước người khác đấy." Sau đó nàng lại kéo chân trái bà lão qua, bắt đầu băng bó cho bà. Lần này bà lão cũng không giãy giụa nữa, tuy vẫn nói mấy câu lẫy như "Bà già này sống c.h.ế.t mặc bay cô không quản được đâu", nhưng giọng điệu không còn gay gắt như trước, rõ ràng đã chịu nhận sự giúp đỡ của Chân Chân. Băng bó xong Chân Chân hỏi bà lão nhà ở đâu, bà lão c.h.ử.i đổng rồi ấp úng hồi lâu, nhưng thấy bốn bề quả thực không còn ai đến, cũng đành phải nói cho Chân Chân. Chân Chân bèn dìu bà lão đi cà nhắc, từ từ về đến nhà bà dưới chân núi. Về đến nhà bà lão cũng không cảm ơn, vội vàng đuổi Chân Chân đi. Chân Chân nhìn quanh, thấy đó là một tiểu viện có ba gian phòng, đơn sơ cũ nát, chỗ nào cũng bụi bám, không biết bao lâu chưa quét dọn. Bếp lò cũng lạnh tanh, bên trên chỉ có hai bát cơm thừa canh cặn và nửa cái màn thầu cứng ngắc. "Bà sống một mình?" Chân Chân hỏi bà. Bà lão không đáp, thấy Chân Chân không đi ngay, lại buông lời ác độc: "Cô đừng có lo chuyện bao đồng! Lề mề không đi, là muốn hại c.h.ế.t ta chiếm đoạt gia sản của ta hả?" Chân Chân cười khẩy: "Cái nhà tuềnh toàng, rách nát này của bà, cho không ta, ta còn lười tốn tiền tốn sức dọn dẹp cho sạch đấy." Thấy vết thương ở chân bà lão nặng, nằm trên giường không cử động được, Chân Chân bèn mặc kệ bà xua đuổi, tự mình ra sân phơi nắng một lúc, muốn xem có đợi được người nhà bà về không. Nhưng đợi một canh giờ cũng không thấy ai đến, Chân Chân bèn vào nhà, nói với bà: "Vết thương này của bà cần thầy lang xử lý. Nơi này ta không quen, bà hãy bảo ta tìm thầy lang ở đâu, ta đi mời giúp bà." Bà lão im lặng hồi lâu, chắc vết thương đau quá, cuối cùng cũng nói cho nàng: "Ra cửa đi về hướng đông một dặm, tìm Trịnh Nhị thúc sống cạnh cây hòe lớn, ông ấy biết chút y thuật." Trịnh Nhị thúc hơn năm mươi tuổi, người trông khá hiền lành, vừa nghe Chân Chân kể liền đi theo nàng đến chẩn trị cho bà lão, rửa sạch vết thương kỹ lưỡng, băng bó lại, không những không lấy tiền khám, còn để lại ít t.h.u.ố.c dùng được. Chân Chân tiễn ông ra cửa, ông lại dặn dò Chân Chân: "Y thuật ta có hạn, Tống bà bà có bị thương đến xương hay không còn khó nói, mong cô nương lưu lại vài ngày, quan sát xem sao. Bà ấy giờ đi lại khó khăn, lại cô đơn một mình, chỉ có thể nhờ cậy cô nương chăm sóc rồi." "Bà ấy họ Tống, không con không cái, sống một mình sao?" Chân Chân hỏi. "Đúng vậy." Trịnh Nhị thúc nói, "Bà ấy hơn hai mươi năm trước chuyển từ Lâm An đến, lúc đó dẫn theo con gái và cháu gái ngoại, nhưng sau này... haizz, con gái và cháu ngoại đều mất rồi, bà ấy sống cô khổ, tính tình cũng ngày càng kỳ quặc... Bây giờ đi lại bất tiện, e là nhất thời không khỏi được, trời lại dần lạnh rồi, nếu không ai lo cho bà ấy, hậu quả khôn lường." Chân Chân trở về phòng, tự mình lục xem đồ đạc trong tủ của Tống bà bà, tìm thấy ít bột mì, gia vị, lại thấy trong bếp treo một miếng thịt ba chỉ nhỏ, bèn tự động tay, cũng không hỏi ý kiến Tống bà bà liền bắt đầu nhào bột băm nhân chuẩn bị làm món bột. Tống bà bà lớn tiếng mắng nàng lục lọi đồ ăn của người khác, Chân Chân liền ném một mẩu bạc vụn cho bà, nói: "Ta đói rồi mệt rồi, tạm thời ăn bữa cơm ở chỗ bà, dùng chút nguyên liệu của bà, liền trả tiền cho bà, bà đừng nói nhiều." Chân Chân hấp một lồng màn thầu thịt, lại dùng rau dại Tống bà bà hái nấu bát canh, mời bà cùng ăn. Tống bà bà ban đầu còn dỗi nói không ăn, Chân Chân bèn bẻ một cái màn thầu đưa đến dưới mũi bà: "Cái này gọi là màn thầu Thái học, bao nhiêu sĩ t.ử muốn ăn còn không được, nay hời cho bà, bà có lộc ăn rồi." Chiếc màn thầu bề mặt láng mịn, vỏ mỏng nhân mềm, tiết ra không ít nước thịt, nóng hôi hổi, vừa mới tách ra, mùi thịt thơm nức mang theo chút vị hoa tiêu đã nóng lòng theo hơi nước lan tỏa. Tống bà bà không nhịn được cầm lấy nếm một miếng, rồi cười nhạt: "Không có măng và rau quyết, mà cũng dám gọi là màn thầu Thái học!" "Ồ..." Chân Chân ngạc nhiên, "Xem ra là người sành ăn đây, còn biết bên trong phải thêm măng và rau quyết." Tống bà bà tỏ vẻ tự đắc: "Bà đây năm xưa nếm khắp mỹ thực Biện Kinh, đừng nói là cô, ngay cả nương cô chắc cũng chưa biết đang ở đâu đâu!" Hai người ăn xong màn thầu, Chân Chân thấy phòng bên kia có một chiếc chõng tre chất đầy đồ lặt vặt, bèn tự mình dọn đồ xuống, lấy nước rửa chõng, quét dọn gian phòng đó. Tống bà bà thấy vậy cảnh giác hỏi: "Cô làm cái gì đấy? Chẳng lẽ muốn ở lại đây?" Chân Chân nói: "Trời đã tối, đi tiếp không tiện, đành phải ở đây tá túc tạm." Tống bà bà từ chối, bắt nàng đi ngay. Chân Chân bèn nói với bà: "Số bạc ta đưa bà mua được nhiều hơn chỗ nguyên liệu đó nhiều, bà có tiền thối không? Không có thì để ta ở lại." Tống bà bà giận dữ ném bạc trả lại nàng. Chân Chân đón lấy, lại đập lên bàn: "Màn thầu ta ăn rồi, tiền nhất định phải trả bà. Ta đây tính toán xưa nay sòng phẳng, không chịu thiệt, cũng không muốn chiếm hời của ai, đợi ở hết số tiền bạc này ta sẽ đi." Tống bà bà chỉ muốn đứng dậy đuổi nàng, ngặt nỗi chân cẳng bất tiện, đành trơ mắt nhìn Chân Chân dọn dẹp phòng xong ung dung ở lại. Ngày hôm sau Chân Chân đi trấn gần đó mua gà, cá, rau củ, làm hai bữa cơm thịnh soạn cho Tống bà bà ăn, tối đến lại nói: "Ta tiện thể hỏi giá khách đm trên trấn, hóa ra chút bạc đó của ta có thể ở mười ngày nửa tháng lận. Cái nhà nát này của bà sao bằng khách đm, nhưng được cái thanh tịnh, ta tạm thời cũng lười chuyển hành lý, bèn tạm bợ ở thêm vài ngày vậy." Tống bà bà tuy có ý kiến, lại nói nhiều lời cay nghiệt, nhưng cũng không phản đối kịch liệt, Chân Chân cứ thế ở liền hơn tháng, thấy Tống bà bà dần chống gậy đi được rồi, mới quyết định cáo từ. Hôm đó Chân Chân lại làm một mâm tiệc thịnh soạn, nói với Tống bà bà: "Bà bây giờ đi lại được rồi, ta cũng nên ra ngoài tìm chút việc làm, kẻo miệng ăn núi lở. Ngày mai tạm thời biệt ly, sau này nếu có cơ duyên, ta sẽ quay lại thăm bà." Tống bà bà im lặng một chút, rồi nói với Chân Chân: "Vào bếp, lấy ít rượu trong vò ra đây, chúng ta cùng uống." Chân Chân đi lấy một bình, rót vào hai chén sứ trắng, chỉ thấy rượu màu vàng nhạt, trong trẻo sáng sạch, nâng chén nhấp nhẹ một ngụm, một làn hương thoang thoảng lập tức vấn vít trong khoang miệng, vị rượu trái cây ngọt ngào cũng theo đó lan tỏa đến đầu lưỡi. Chân Chân thoáng sững sờ, tim đập thình thịch, nỗi chua xót khó kìm nén dần dâng lên sống mũi. "Đây là rượu thanh mai ta tự ủ." Tống bà bà chậm rãi nói với Chân Chân, "Không gắt, rất ngọt, trong mùi quả còn vương chút hương hoa, các cô nương thích nhất, cứ hay coi nó như nước trái cây mà uống. Nhưng nó lại nhiều tâm tư hơn nước trái cây một chút, cứ dùng cái vị ngọt ngào thơm tho này dụ dỗ cô, khiến cô bất tri bất giác uống nhiều, mới cảm thấy cơn say mặt đỏ tim đập... Nó sẽ làm người ta say, nhưng không đau đầu, chỉ khiến cô cảm thấy toàn thân ấm áp, thần trí lâng lâng, nhưng đầu sẽ không đau, cũng không đến nỗi hại thân, cho nên, là loại rượu ngon thích hợp cho các cô nương..." Bà ngừng mô tả, vì phát hiện cô nương trước mặt cả ngày ăn nói thẳng thắn, ngang ngạnh đối đáp với bà giờ phút này đã yếu ớt chống khuỷu tay lên bàn, đưa tay che lấy khuôn mặt đầm đìa nước mắt. Chương 115 - Hoa Kim Đăng Tống bà bà bèn hỏi Chân Chân: "Sao lại thế này? Đang yên đang lành, sao lại khóc?" Chân Chân không đáp, nỗi bi thương trong lòng càng dâng trào khó nén, nàng gục đầu xuống bàn khóc nấc lên. Tống bà bà lại gần, nhẹ nhàng vỗ về lưng nàng: "Rượu này khiến cô nhớ tới ai sao?" Đợi một lúc không thấy Chân Chân trả lời, bà nhìn đóa hoa trắng cài bên mái tóc nàng, than rằng: "Cô không đeo trang sức, mỗi ngày chỉ cài một đóa hoa trắng, là vì ai?" Hồi lâu sau, Chân Chân mới đáp: "Là vì phu quân của ta." "Cô đã từng gả chồng?" Tống bà bà vội hỏi, "Vậy sao lại cô độc một mình lưu lạc bên ngoài? Nhà mẹ đẻ và nhà chồng không ai quản cô sao?" Chân Chân nói: "Nhà mẹđẻ ta gia đình tan nát, người thân ly tán. Còn nhà chồng cho rằng ta hại c.h.ế.t phu quân, nên đã đuổi ta ra khỏi cửa." "Có phải họ nói cô tuổi trẻ xuân sắc, quấn lấy phu quân không biết điểm dừng, hại hắn lao lực mà c.h.ế.t?" Tống bà bà bỗng trừng mắt, mặt đầy vẻ giận dữ. Chân Chân im lặng, chỉ gạt nước mắt mà không đáp. Tống bà bà coi như nàng đã ngầm thừa nhận, càng thêm giận dữ: "Cha mẹ chồng trong thiên hạ này đều một giuộc hồ đồ tệ bạc cả! Chỉ biết xót con trai mình, con dâu hễ có chút gì không thuận mắt là giày xéo đến c.h.ế.t. Con trai mình dù có quậy phá, hồ đồ thế nào, miễn không g.i.ế.c người phóng hỏa thì đều là đúng, hễ xảy ra chuyện gì thì đều là lỗi của con dâu! Không sinh được con là do con dâu không biết cố gắng, hầu hạ không chu đáo; con trai bệnh thì đổ tại con dâu phóng túng, vắt kiệt tinh lực con trai... Nếu con trai bệnh c.h.ế.t, thì con dâu đáng bị băm vằm muôn mảnh, bằng không khó giải mối hận trong lòng họ! Cưới con dâu về chỉ để làm trâu làm ngựa, dù sao cũng chẳng phải con gái ruột, đời nào có được nửa phần thương xót..." Nói một hồi, chính bà cũng rơi lệ, không ngừng lấy tay áo alau nước mắt. Thấy vậy, Chân Chân lại thấy áy náy, quay sang an ủi bà: "Đều qua cả rồi, ta giờ cũng không sao, ngày tháng trôi qua còn tự tại hơn trước, bà đừng buồn thay cho ta." Tống bà bà lau khô vệt nước mắt, lại hỏi Chân Chân: "Nếu rời khỏi đây, cô có dự tính gì không?" Chân Chân đáp: "Chắc là tìm một gia đình t.ử tế, làm đầu bếp. Hoặc là mở một sạp bán đồ ăn bột ở trên trấn, cứ an cư trước đã rồi tính." Tống bà bà liên tục lắc đầu: "Không ổn. Cô vào nhà quyền quý, họ thấy cô tuổi còn trẻ, dung mạo lại xinh đẹp, chắc chắn sẽ bắt nạt cô. Bày sạp bán hàng thì quá lộ liễu, cũng sẽ có nhiều kẻ gây khó dễ... Cô đã có tay nghề nấu nướng giỏi, chi bằng mở một tửu lâu đàng hoàng, lo liệu kinh doanh cho tốt, như vậy an ổn hơn nhiều." Chân Chân nói: "Mở tửu lâu phải thuê nhà, lại phải sửa sang trang trí, mua sắm bàn ghế vật dụng, vốn liếng cần không ít. Số tiền ta mang theo không nhiều, e là không đủ." Trước khi rời Lâm An, Ân Kỳ muốn đưa cho nàng khá nhiều tiền, nhưng Chân Chân sợ nợ ân tình chàng quá nhiều nên chỉ nhận một hai phần, lại nói rõ là vay, sau này nếu quay lại nhất định sẽ hoàn trả. Tống bà bà cúi đầu suy tính, im lặng không nói. Chân Chân nhìn khuôn mặt già nua tiều tụy của bà dưới ánh đèn, khóe mắt vẫn còn vương lệ, lòng trắc ẩn dâng lên. Nàng nắm lấy tay bà vỗ nhẹ, ôn tồn nói: "Bà ơi, ta có để lại ít tiền trong tủ của bà, bà cứ lấy mà dùng. Sau này đừng một mình lên núi đào rau dại nữa, cần mua gì thì nhờ Trịnh Nhị thúc giúp, ta đã nhờ ông ấy mỗi ngày qua thăm bà một lần. Món nào bà thích ăn mấy hôm nay, ta đều viết cách làm để ở đầu giường, lúc rảnh rỗi bà xem qua rồi tự làm. Nếu chữ không rõ, đợi Trịnh Nhị thúc qua thì nhờ ông ấy đọc cho nghe. Sau này ta cũng sẽ cố gắng thu xếp thời gian về thăm bà, mang đồ ngon cho bà..." "Đừng nói nữa." Tống bà bà bỗng ngẩng đầu lên, bảo Chân Chân: "Tối nay cô nghỉ ngơi trước đi, mai ta dẫn cô đi xem một chỗ, có lẽ có thể dùng làm cửa tiệm." Hôm sau, Tống bà bà dẫn Chân Chân đến trước một viện lạc cách nhà chừng mười mấy trượng, lấy chìa khóa mở cửa, cho Chân Chân vào xem. Viện này rộng gấp mấy lần chỗ Tống bà bà đang ở, trong sân trồng nhiều hoa cỏ, nhà có hai tầng, lại thêm một gác xép, mỗi tầng cũng có bốn năm gian phòng, vô cùng rộng rãi. Cả tòa lầu tường trắng ngói đen, vẻ ngoài rất đẹp, nhìn kiến trúc chắc xây từ hơn hai mươi năm trước nhưng được bảo quản khá tốt, chỉ cần tu sửa chút ít là dùng được. "Ngày trước ta cũng từng mở quán, chính là ở đây. Đừng thấy chỗ này hơi xa thành, rượu ngon không sợ ngõ sâu, chỉ cần món ăn làm ngon, biết bao quan lại quyền quý trong thành đều sẽ lặn lội tới đây thưởng thức." Tống bà bà dẫn Chân Chân lên tầng hai, đẩy cửa sổ cho nàng nhìn phong cảnh bên ngoài, "Nơi này trước mặt có sông, xa xa có núi, cảnh quan rất đẹp. Hồi ta mở quán, ngày nào khách cũng chật kín, phải đặt trước mới có chỗ." Bước vào trong nhà, Chân Chân lại cảm thấy nơi này có một cảm giác thân thiết lạ kỳ, dường như đã từng gặp ở đâu đó. Nàng tản bộ về phía gian phòng phía nam tầng hai, thấy cửa sổ nơi đó hình tròn, ánh nắng xuyên qua song cửa, in xuống sàn một vệt sáng tròn trịa. Dưới cửa sổ có một chiếc án thư, nàng bỗng thấy hoảng hốt, một hình ảnh chợt lướt qua tâm trí: Người cha dáng người gầy gò, gương mặt mơ hồ ngồi bên án thư, mải miết viết lách, khung cửa sổ tròn phía trên tựa như vầng trăng sáng, lặng lẽ soi chiếu bóng ông. Trong phòng còn có giường và tủ quần áo, mở tủ ra, thấy bên trong vẫn còn xếp rất nhiều y phục nam giới. Chân Chân bèn hỏi Tống bà bà: "Chỗ này trước đây từng có người ở sao? Là ai vậy?" Tống bà bà buồn rầu nói: "Sau khi con gái và cháu ngoại ta đi rồi, ta cũng chẳng còn lòng dạ nào mở quán. Viện này với ta quá rộng, trống trải, nhìn thấy lại đau lòng nên ta chuyển sang cái viện nhỏ bây giờ, chỗ này cứ bỏ không mãi. Sau này, có một tiểu nương t.ử xinh đẹp như tiên giáng trần tìm đến ta, nói nghe danh ta nấu ăn ngon, chuyên tâm đến bái phỏng, muốn bái ta làm thầy học nấu nướng. Ta từ chối thẳng thừng, nhưng cô ấy không bỏ cuộc, ngày nào cũng bế đứa con gái nhỏ mấy tháng tuổi tới tìm ta trò chuyện. Ta thấy cô ấy không có sữa, lại thực sự không biết nấu nướng, chẳng biết cho con ăn gì mới tốt, đứa bé gầy nhom, ta nhìn mà không nỡ nên bắt đầu dạy cô ấy nấu ăn. Sau này cô ấy thấy viện này của ta bỏ không, bèn ngỏ ý muốn mua lại để cùng phu quân và con ở, ta đồng ý. Cô ấy đưa ta một khoản tiền lớn, rồi cả nhà ba người dọn vào đây." Chân Chân ngẩn người nghe đến đó, bỗng hỏi: "Tiểu nương t.ử đó có phải họ Ngô không? Phu quân cô ấy có biết y thuật không?" "Phải, cô ấy họ Ngô, phu quân nghe đâu họ Kiều. Ban đầu cả ngày ở nhà đọc sách, ta còn tưởng là tú tài chuẩn bị thi Cống cử, sau này cha của Trịnh Nhị thúc bị bệnh, hắn qua chẩn trị mới biết y thuật rất giỏi... Y thuật của Trịnh Nhị thúc cũng là do hắn dạy, sau này người trong làng đều gọi hắn là Kiều y sư." Nói đến đây, Tống bà bà thấy lạ, hỏi Chân Chân: "Sao cô biết mấy chuyện này?" Chân Chân lấp l**m: "Ta cũng nghe Trịnh Nhị thúc nói, nhưng ông ấy chỉ nhắc qua loa, không kể chi tiết." Rồi lại hỏi Tống bà bà: "Bà chắc chắn Ngô nương t.ử và Kiều y sư là vợ chồng chứ?" "Một nam một nữ, dắt theo đứa con cùng chung sống, không phải vợ chồng thì là gì?" Tống bà bà nói, nhưng nghĩ lại, bổ sung thêm, "Có điều, hình như họ chia phòng ngủ riêng, Kiều y sư ở phòng này, Ngô nương t.ử và đứa bé ở phòng kia..." Bà chỉ tay về gian phòng phía đông tầng này, rồi dẫn Chân Chân sang xem. Gian phòng đó rộng hơn một chút, trên bàn còn bày một cái trống bỏi và một con búp bê vải khâu tay. Chân Chân nhìn vào tủ quần áo, cũng phát hiện không ít y phục của phụ nữ và trẻ nhỏ. "Họ ở đây bao lâu? Tại sao sau đó lại rời đi?" Chân Chân truy hỏi. "Ở được hơn hai năm gì đó," Tống bà bà đáp, "Ngô nương t.ử ngày nào cũng theo ta học nấu nướng, rất để tâm, cũng rất hiền huệ. Kiều y sư cả ngày nếu không đọc sách thì ra ngoài chữa bệnh cho người ta, đứa bé toàn do Ngô nương t.ử chăm, ngày ngày lo liệu việc nhà, nấu cơm cho chồng con, bận rộn trong ngoài, rất vất vả. Ta nhìn không đành, thường qua giúp cô ấy, cô ấy đối với ta cũng rất tốt, coi ta như nương... Quãng thời gian đó cũng coi như là những ngày vui vẻ hiếm hoi sau khi người nhà ta đi mất..." Tống bà bà không kìm được lại lau nước mắt, định thần một chút mới nói tiếp, "Nhưng có một hôm, ta bị cảm lạnh, nằm lì ở nhà một ngày một đêm, sốt li bì khó chịu. Đêm đó mưa to gió lớn, ta mơ mơ màng màng hình như nghe thấy tiếng phụ nữ khóc truyền tới từ viện bên này. Ta rất muốn biết bên Ngô nương t.ử xảy ra chuyện gì, nhưng người bủn rủn không dậy nổi. Ngủ mãi đến quá trưa hôm sau, tinh thần khá hơn chút mới qua xem xét, chỉ thấy cổng viện và cửa phòng đều không khóa, chìa khóa còn để trong nhà, nhưng cả nhà ba người bọn họ đều biến mất tăm. Ta ngồi trong viện này đợi mãi đến tối đen cũng không thấy họ về. Ta cứ trông coi căn nhà trống này, đợi từng ngày từng ngày, nhưng đến nay họ vẫn chưa trở lại. Mười mấy năm nay, có rất nhiều người muốn mua viện này, ta đều từ chối, nói nhà đã bán rồi, ta không còn là chủ, không làm chủ được... Nay giao cho cô dùng cũng là kế quyền biến, nếu sau này họ quay về, cô phải trả tiền thuê nhà cho họ theo ngày tháng đã sử dụng." Chân Chân nhận lời. Tống bà bà lại dẫn nàng lên gác xép, mở cửa ra xem, bên trong chất đầy dụng cụ mở tửu lâu, lại vô cùng tinh xảo, bình rượu là đồ gốm quan diêu, bát đĩa bằng bạc, đều sắp xếp theo bộ, số lượng rất nhiều. "Ta nghĩ chỗ này chắc đủ cho cô mở quán, không cần mua thêm nữa." Tống bà bà mỉm cười với Chân Chân. Chân Chân ngạc nhiên: "Bát đĩa bình rượu tốt thế này, e là đại tửu lâu ở Lâm An cũng chỉ đến thế là cùng." Tống bà bà không khỏi lộ vẻ đắc ý, nói: "Quán đầu tiên của ta, chính là mở ở Lâm An. Món ăn ta làm, đến Tiên đế cũng thường sai người ra mua đấy." Chân Chân lại ra hậu viện xem xét, thấy bên trong có mấy luống hoa, các loại cây đào mận mai đã mọc khá to, còn một số luống chắc năm xưa dùng trồng hoa cỏ, nay cỏ dại mọc um tùm. Nhưng ở luống hoa lớn nhất chính giữa lại đang nở rộ một mảng hoa đỏ rực. Hoa này không có lá, một chùm nở năm bông, hoa mọc thẳng từ đỉnh cành, cánh hoa tưa ra từng sợi, lớp trong ôm vào, lớp ngoài cong ngửa ra, hình dáng như chiếc đèn, yêu kiều diễm lệ, từng đóa từng đóa nở rộ nồng nhiệt, nối thành một dải, như ngọn lửa m.á.u đang lan tràn. Chân Chân kinh ngạc nhìn kỹ, trong khoảnh khắc nhớ lại biển hoa dưới chân cầu ngăn cách nàng và Trang Văn Thái t.ử trong giấc mơ. "Đây là hoa gì?" Nàng mặt tái nhợt hỏi Tống bà bà. "Kim Đăng hoa." Tống bà bà đáp, "Chắc vì đóa hoa giống ngọn đèn vàng rực rỡ nên mới có tên này. Nhưng loài hoa cỏ này khá lạ, khi hoa nở thì không có lá, hoa tàn rồi lá mới từ từ mọc ra, cả đời hoa và lá chẳng bao giờ gặp nhau, nên còn có một tên nữa là... Cỏ Vô Nghĩa." Chân Chân lại hỏi: "Hoa này là bà trồng hay Ngô nương t.ử trồng?" "Ta không trồng, nhưng cũng không chắc là cô ấy." Tống bà bà nói, "Hoa này mọc lên từ sau khi cả nhà Ngô nương t.ử rời đi, năm nào cũng nở, càng nở càng nhiều. Có người khuyên ta cuốc bỏ hoa đi để trồng rau, ta lại thấy hoa nở đẹp thế này, tội gì. Huống hồ ta cũng chẳng còn là chủ nhân nơi này, một cành cây ngọn cỏ cũng không thể tự tiện động vào." Chương 116 - Lương Nguyệt Như Mi Chân Chân bỏ chút tiền tu sửa, trang hoàng lại viện lạc và phòng ốc mà Tống bà bà giao cho, lại dọn dẹp sạch sẽ đồ đạc trên gác xép, về cơ bản đã trù bị xong xuôi, đủ để mở quán. Trong thời gian đó, Tống bà bà liên tục giục nàng vào thành làm giấy tờ cấp phép mở quán, nói: "Thành trấn quản lý cửa tiệm, quan trọng nhất là để thu thuế. Trước khi mở quán phải đến Sở Thương thuế trong thành, Sở Trấn vụ trên trấn, cùng các sở Rượu, Trà, Lâu đ**m liên quan để liên hệ, lấy giấy phép. Nếu sơ sót chỗ nào, hậu họa khôn lường." Đạo lý này Chân Chân tự nhiên hiểu, nhưng đi xin giấy phép mở quán, quan lại sẽ kiểm tra hộ tịch văn bạ, nàng ngoài cái danh bài của Hoàng thành ty không thể dùng ở đây ra, chẳng còn bất cứ bằng chứng nào chứng minh thân phận. Nay nàng chẳng khác nào kẻ trốn chạy, cũng không tiện nói rõ cái khó với Tống bà bà, đành thử hỏi Trịnh Nhị thúc, nói mình rời nhà vội vàng, lúc đó cũng không nghĩ sẽ đến ngoại quận mở quán nên không mang theo hộ tịch, quê nhà lại xa, về một chuyến không dễ, không biết có cách nào châm chước không. Trịnh Nhị thúc nghĩ ngợi rồi nói: "Thực ra quan lại ở Sở Thương thuế, Trấn vụ đều hoan nghênh người đến mở quán để tiện thu thuế, nghe nói việc xét duyệt văn bạ không nghiêm ngặt lắm. Nếu thực sự khó khăn, có thể tìm Tôn Bát lang chuyên in báo nhỏ trong thành giúp đỡ, cô đọc nội dung hộ tịch cho hắn, hắn có thể giúp cô làm một bản, đến lúc đó cô đưa chút lộc cho hắn và các quan lại xét duyệt văn thư, chắc là trót lọt thôi." Chân Chân làm theo lời ông, tìm Tôn Bát lang làm giả một bản văn bạ để xét duyệt. Một ngày nọ nàng mang đến Sở Thương thuế phủ Ninh Quốc xin giấy phép, nhưng vừa đến trước cổng lớn đã thấy hai tên lính áp giải một người ủ rũ cúi đầu đi ra, hướng về phía phủ nha. Người xem vội hỏi nguyên do, một viên quan từ bên trong đi ra lớn tiếng nói với mọi người: "Kẻ này làm giả hộ tịch để xin giấy phép cửa tiệm, Sở Thương thuế theo ý tân Thái thú nghiêm trị, giải lên phủ nha trị tội. Ai đến làm giấy phép thì liệu mà xem lại văn bạ của mình, nếu có chút gì không thực, kẻ này chính là vết xe đổ." Người nghe xì xào bàn tán, đều nói vị Thái thú này quả nhiên tân quanvừa nhậm chức, làm việc sấm rèn gió giật, nóng lòng muốn chấn chỉnh thế phong. Có người hỏi tân Thái thú tên họ là gì, viên quan kia nói: "Cái này mà ngươi cũng không nghe nói sao? Vị này thân phận không tầm thường đâu, là Hoàng t.ử của Quan gia đương triều, đứng hàng thứ hai, nay được tiến phong Ngụy Vương, Phán phủ Ninh Quốc." Tin tức này khiến Chân Chân vô cùng kinh ngạc, lập tức nhớ lại lời Ân Đề, cảm thấy xót xa cho Triệu Ngai bị đày ra khỏi kinh thành, nghĩ rằng chàng bị mình liên lụy, trong lòng vô cùng áy náy. Sau đó nàng cũng chẳng lọt tai lời bàn tán của người khác nữa, lặng lẽ đứng chôn chân tại chỗ, mãi đến khi người xếp hàng phía sau giục mới hoàn hồn. Nàng thẫn thờ bị người phía sau đẩy vào cổng Sở Thương thuế, chậm chạp đi về phía viên quan xét duyệt văn bạ, nhớ lại chuyện vừa rồi càng thêm thấp thỏm. Bị viên quan kia yêu cầu năm lần bảy lượt nàng mới lấy tập văn bạ đã chuẩn bị ra, hai tay từ từ dâng lên. Viên quan kia vẻ mặt đầy nghi ngờ nhìn chằm chằm nàng, đưa tay định nhận thì bỗng nghe ngoài cửa có tiếng một bà lão quát: "Khoan đã!" Chân Chân ngạc nhiên quay đầu lại, thấy Tống bà bà chống gậy từng bước đi đến bên cạnh nàng, đưa cho nàng một cuốn văn bạ, trong đó có một trang đã lật sẵn, mặt chữ hướng lên trên. "Cái con bé này thật hậu đậu, cứ sợ Sở Thương thuế đóng cửa nên ba chân bốn cẳng chạy tới, cầm nhầm văn bạ cũng không biết... Đây mới là hộ tịch văn bạ của chúng ta!" Tống bà bà trách yêu. Chân Chân ngẩn ngơ đón lấy, thấy trang mở sẵn ghi tên là "Tống Đào Sênh", chú thích là cháu ngoại chủ hộ, lại lật xem trang chủ hộ, thấy chủ hộ tên là "Tống Ngũ Nương". Tống bà bà ra hiệu cho Chân Chân đưa hộ tịch cho viên quan Sở Thương thuế, chỉ vào Chân Chân cười nói với viên quan: "Đây là cháu ngoại ta tên Đào Sênh, trước đây sống ở ngoại quận nhiều năm, năm nay mới về." Viên quan kia xem xét kỹ hộ tịch, tính toán tuổi tác theo ngày sinh, lại nhìn chằm chằm Chân Chân đ.á.n.h giá, nghi ngờ hỏi: "Cô mà hai mươi bảy tuổi sao?" Tống bà bà tranh lời đáp: "Con bé này ở bên ngoài sống tiêu dao, chẳng phải lo nghĩ gì, vô lo vô nghĩ, tính tình trẻ con nên nhìn trẻ hơn tuổi." Viên quan kia lại chăm chú lật xem hộ tịch, không phát hiện điểm nghi vấn nào khác nên không hỏi thêm, dùng tên Tống Đào Sênh làm giấy phép cho Chân Chân. Tống bà bà đưa Chân Chân làm xong mọi giấy tờ, về đến nhà mới kể tỉ mỉ chuyện xưa cho Chân Chân nghe: "Ta vốn sống ở Biện Kinh, sau đó di cư xuống phương Nam đến Lâm An, sống bằng nghề bán canh cá bên bờ Tây Hồ. Sau này có một ngày, Tiên đế đi thuyền du ngoạn Tây Hồ, sai nội thị mua đồ ăn ven hồ về nếm thử, uống canh cá của ta thấy mùi vị không tệ, lại nghe nói ta là người Biện Kinh bèn triệu ta đến yết kiến. Chúng ta trò chuyện về chuyện cũ ở Biện Kinh, đều rất cảm khái, cùng nhau gạt lệ. Từ đó về sau Tiên đế thường sai người đến mua đồ ăn ta làm, người Lâm An nghe tiếng, ngày nào cũng tranh nhau đến mua canh cá. Ta nhanh chóng dành dụm được một khoản tiền lớn, bèn mở một tửu lâu lớn bên Tây Hồ, buôn bán rất đắt khách, ngày nào cũng kín chỗ, cuộc sống của ta và người nhà cũng ngày càng sung túc." Chân Chân bèn hỏi bà: "Vậy sau đó xảy ra chuyện gì mà bà quyết định chuyển đến đây?" Tống bà bà thở dài một tiếng: "Phu quân ta mất sớm, để lại một đứa con gái, hai nương con nương tựa vào nhau mà sống. Sau này gia cảnh khấm khá, cũng có gia đình giàu có đến cầu thân con gái ta. Ta chọn một thiếu gia nhà giàu tuổi tác dung mạo tương xứng gả con gái đi. Cưới nhau ba năm con gái ta không sinh được con, nhà chồng nó liền lời ra tiếng vào, chỉ trích con gái ta không biết đẻ. Sau này khó khăn lắm con gái mới mang thai, thì chồng nó lại mắc bệnh lao, kéo dài đến lúc cháu ngoại ta chào đời thì tắt thở. Lần này cha nương hắn hận con gái ta thấu xương, khăng khăng nói là nó vì sinh con mà vắt kiệt thân thể chồng, hại c.h.ế.t chồng, thế là giữa mùa đông tuyết rơi đầy trời, đuổi con gái ta đang ở cữ ra khỏi nhà. Con gái ta khóc lóc ôm chặt đứa bé không buông, nhà chồng nó thấy nó sinh con gái, cũng chẳng kế thừa được gia nghiệp, nên đứa cháu gái này cũng không cần nữa, đuổi cùng với con gái ta... Ta đón con gái và cháu ngoại về chăm sóc t.ử tế, thấy con gái không chịu nổi sự mỉa mai của hàng xóm láng giềng, bèn bán tửu lâu ở Lâm An, đưa chúng đến nơi này... Lúc đó nơi này còn gọi là Tuyên Châu." Chân Chân lập tức hiểu ra tại sao lúc đầu khi kể về cảnh ngộ của mình, Tống bà bà lại đồng cảm và cùng chung mối thù như vậy. Rất muốn hỏi Tống bà bà tại sao con gái và cháu ngoại bà sau này lại không còn nữa, nhưng lại sợ bà đau lòng nên im lặng. Ngược lại Tống bà bà không đợi nàng hỏi, tự mình kể tiếp: "Ta mở tửu lâu ở Tuyên Châu, làm ăn vẫn phát đạt như thường. Một năm sau, có một cô gái trẻ tự xưng tên Xuân Dung đến tửu lâu của ta xin làm người giúp việc, nói cô ấy là trẻ mồ côi được nhạc hộ Dương Châu nhận nuôi, sau này bị bán cho một quan nhân làm thiếp, nhưng đại nương t.ử nhà đó không dung tha, đuổi cô ấy ra khỏi nhà, lưu lạc đến đây. Ta thấy Xuân Dung đáng thương bèn thu nhận, thấy cô ấy làm việc nhanh nhẹn, dần dần bắt đầu dạy cô ấy nấu nướng, cho làm phụ bếp. Cô ấy học rất nghiêm túc, không bao lâu sau đã có thể một mình đảm đương, làm bếp chính của tửu lâu... Nhưng mà, một ngày trước sinh nhật ba tuổi của cháu ngoại Đào Sênh, ta và con gái đi trấn trên mua quà cho nó, để Xuân Dung trông Đào Sênh chơi, khi về lại phát hiện cả hai đều biến mất. Ta và con gái suýt phát điên, chạy vạy khắp nơi tìm Đào Sênh, tìm khắp các thị trấn xung quanh, treo thưởng tìm người, nhưng gia sản sắp cạn kiệt mà vẫn bặt vô âm tín. Con gái ta trong tháng ở cữ đã mắc bệnh, trải qua chuyện này, cả thể xác và tinh thần đều chịu giày vò, bệnh ngày càng nặng, cuối cùng bỏ ta mà đi..." Nói đến đây, Tống bà bà không kìm được lại nước mắt tuôn rơi, khóc lóc t.h.ả.m thiết. Chân Chân vội ôm lấy bà, lựa lời an ủi. Tống bà bà khóc một hồi, lau khô nước mắt, nắm tay Chân Chân nói: "Ta biết cô có nỗi khổ riêng, không đưa ra được hộ tịch văn bạ, cho nên hôm nay để cô dùng tên Đào Sênh xin giấy phép... Hộ tịch cứ ba năm tra một lần, mấy năm nay ta luôn mong Đào Sênh trở về nên chưa bao giờ xóa hộ tịch của nó, cứ nói với người ta là nó đi nơi khác, sẽ có ngày trở về... Nếu cô không chê, sau này ta sẽ gọi cô là Đào Sênh nhé." "Vâng." Chân Chân nhận lời ngay, chân thành nói, "Cháu không có bà nội, đã là ý trời cho cháu gặp bà, cháu xin nhận bà làm bà nội, sau này sẽ chăm sóc bà như cháu gái ruột." Tống bà bà cười trong nước mắt đồng ý, lại nói: "Sau này cô cứ dùng tên Tống Đào Sênh để kinh doanh tửu lâu. Nếu có một ngày Đào Sênh thực sự trở về, tiền tửu lâu kiếm được vẫn là của cô, cô muốn đổi tên thì ta cũng bảo Đào Sênh phối hợp, chúng ta sẽ không tranh giành những thứ này với cô." Chân Chân ôm lấy bà nói: "Cháu chỉ cầu có một chốn dung thân, cảm ơn bà đã cho cháu dùng tên chị Đào Sênh. Đợi chị ấy về, tự nhiên sẽ hoàn trả tất cả, nhưng cháu vẫn sẽ cùng chị ấy tiếp tục hiếu kính bà." Chân Chân đặt tên tửu lâu là "Trạm Nhạc Lâu", lấy ý từ câu "Cổ sắt cổ cầm, hòa nhạc thả trạm" (Gảy đàn cầm đàn sắt, vui vẻ và êm đềm). Thuê một đầu bếp phụ, một tì nữ và một người pha trà chuẩn bị đâu vào đấy rồi khai trương đón khách. Nghĩ đến việc ban đầu khách sẽ không quá đông nên không mua nhiều nguyên liệu để khách gọi món, mà dựa vào nguyên liệu tươi ngon mua trong ngày để lên thực đơn, cho khách chọn một trong ba loại phần ăn thượng, trung, hạ, món cụ thể do chủ quán tự phối hợp. Như vậy có thể kiểm soát chi phí, nguyên liệu không bị lãng phí, khách cũng không phải đau đầu chọn món. Nhờ tay nghề nấu nướng tuyệt vời của Chân Chân, món nào cũng sắc hương vị vẹn toàn, lại là những món ít thấy ở địa phương khiến người ta cảm thấy mới mẻ, thực khách nếm xong đa phần đều rất hài lòng. Để đảm bảo chất lượng, Chân Chân cũng kiểm soát số lượng khách mỗi ngày, dần dần tạo được tiếng vang, khách phải đặt trước mới được vào Trạm Nhạc Lâu dùng bữa. Vừa có món ngon cảnh đẹp, đến chủ quán cũng là một tiểu nương t.ử xinh đẹp, Trạm Nhạc Lâu nổi danh khắp phủ Ninh Quốc, khách đến không phải thân hào thì cũng là phú thương, quý nhân trong thành, Chân Chân không lo thiếu khách, thu nhập cũng ngày càng khả quan. Một hôm Trưởng sử phủ Ninh Quốc là Lý Đường sai người đến đặt một bàn tiệc vào trưa hôm sau, nói sẽ dẫn khách quý tới, tì nữ Tiểu Âu nhận đơn, báo lại với Chân Chân. Chân Chân dặn Tiểu Âu mua nguyên liệu, chuẩn bị chu đáo, nhưng bản thân lao lực nhiều ngày, mệt mỏi rã rời, ban ngày lại trúng gió lạnh, đến tối bắt đầu phát sốt, thầm thấy không ổn, vội bảo Tiểu Âu mời Trịnh Nhị thúc đến xem, uống thang t.h.u.ố.c ông kê, rất nhanh chìm vào giấc ngủ sâu. Chân Chân vẫn ở cùng Tống bà bà tại viện nhỏ cũ, đêm nay ngủ li bì, tỉnh dậy thấy đã quá trưa, nhớ tới tiệc rượu Trưởng sử đặt, giật mình toát mồ hôi lạnh, lập tức mặc quần áo dậy, rửa mặt qua loa rồi vội vã đến Trạm Nhạc Lâu. Vào đến tiểu viện Trạm Nhạc Lâu, thấy Tống bà bà thong thả từ trong lầu đi ra, Chân Chân vội hỏi: "Trưởng sử và khách đến chưa ạ?" "Đến rồi." Tống bà bà nói, "Cô đừng vội, tiệc ta đã làm xong giúp cô rồi, họ có vẻ khá hài lòng, đang ăn đấy." Để tránh cho Tống bà bà vất vả, mọi việc ở tửu lâu Chân Chân đều tự tay làm, chưa bao giờ để Tống bà bà phụ bếp, cũng chưa từng thấy Tống bà bà xuống bếp của tửu lâu, nay nghe bà nói vậy, cảm kích thì có nhưng cũng hơi lo lắng, hỏi bà: "Bà làm những món gì?" "Lươn xào, cua ngâm tương, cá sông chạch chậu, cật dê nướng mềm, canh tứ nhuyễn, ngưu đống giả, đậu phụ Đông Pha, mì gà xé, bánh hoa mai... còn xào măng mùa đông với nấm hương, làm món canh cá sở trường của ta." Tống bà bà kể một lèo, "Yên tâm, không làm mất uy tín của cô đâu. Họ đều khen ngon, nhưng cứ hỏi cô mãi, cô mau lên chào hỏi một tiếng đi, họ ở trong gian các trên tầng hai nhìn ra sông ấy." Chân Chân vâng lời, vội vàng lên tầng hai, nhưng vừa đến cầu thang tầng hai, mới lại gần cửa gian các, liền nghe bên trong truyền ra giọng nam quen thuộc: "Phủ Ninh Quốc nhiều vùng đầm lầy, thích hợp nhất là tu sửa đê điều làm ruộng, nay ta lại thấy nhiều mảng đê điều sạt lở, ruộng vườn hoang vu, thật đáng tiếc. Đắp đê bao quanh ruộng, ngăn nước bên ngoài. Bên trong đào mương máng, đặt cống hãm, hạn thì dẫn nước sông vào tưới, úng thì có thể tháo nước thừa trong đê ra, tưới tiêu tự như như vậy, có thể bảo vệ ruộng đồng không bị hạn hán lũ lụt tàn phá nghiêm trọng. Khôi phục ruộng đồng có thể cải tạo những vùng đầm lầy trũng thấp thành ruộng đồng màu mỡ, sản lượng lúa mạch của phủ Ninh Quốc tất sẽ tăng mạnh." Lại là giọng của Triệu Ngai. Chân Chân sững sờ đứng chôn chân tại chỗ không dám vào, bị động nghe người trong các tiếp tục bàn luận. Một người đàn ông trung niên tiếp lời: "Đại vương nói tự nhiên có lý, chỉ là tu sửa ruộng đồng tốn kém nhân lực tài lực vô cùng, mỗi khi tu sửa một dặm đê, ít nhất cần hơn trăm quan tiền, mười mấy thạch lương thực, hơn sáu ngàn nhân công, hiện tại tiền lương của châu phủ không đủ." Triệu Ngai lại nói với ông ta: "Việc này ta đã nghĩ qua, Lý trưởng sử xem thế này có được không: Thuế má hàng năm phủ Ninh Quốc phải nộp tạm giữ lại một phần, khoan nộp cho Hộ bộ, ta sẽ tâu xin Quan gia, dùng phần tiền thuế này để tu sửa đê điều, như vậy, lấy của dân dùng cho dân, Quan gia nhất định sẽ đồng ý." Vị Lý trưởng sử này chắc chắn là Lý Đường người đặt tiệc rồi. Chân Chân thường tiếp đãi khách quý trong thành, cũng nghe người ta bàn tán chuyện phủ nha. Trưởng sử Lý Đường và Tư mã Đinh Hi Nghiêu mang danh là quan phụ tá cho Ngụy Vương Triệu Ngai Phán phủ Ninh Quốc, nhưng thực tế lại chia nhau quản lý tiền lương và kiện tụng của phủ Ninh Quốc, thường xuyên tự ý quyết định, coi như nắm thực quyền trong tay, khiến chức Thái thú của Triệu Ngai chỉ có tiếng mà không có miếng. Triệu Ngai vừa dứt lời, Lý Đường chưa kịp trả lời, một người khác đã phủ quyết ngay: "Tuyệt đối không được. Triều đình đ.á.n.h giá thành tích các châu phủ, chẳng phải chủ yếu nhìn vào thuế má sao! Các tri phủ đều hận không thể thu nhiều thuế, nộp nhiều phần dư ra cho triều đình, làm gì có lý nào giữ thuế lại sửa đê. Sửa đê tốn kém nhiều, hiệu quả lại chậm, một năm nửa năm sửa không xong. Đại vương muốn Quan gia sớm thấy công tích của Đại vương, chi bằng thu nhiều thuế còn nhanh gọn hơn." Lý Đường vội phụ họa: "Đinh Tư mã nói chí phải." Rồi khuyên Triệu Ngai, "Hoàng t.ử nước ta đều là thiên hoàng quý an hưởng thanh nhàn, Quan gia tuy nói để Đại vương hạ mình Phán phủ Ninh Quốc, nhưng đó chắc chắn là thương Đại vương quanh năm sống trong cung, hiếm khi du ngoạn sơn thủy, mới mượn cớ này để Đại vương ra ngoài chơi. Đại vương chỉ cần coi phủ Ninh Quốc như thực ấp của mình, yên tâm hưởng thụ dân chúng cung phụng là được, còn những việc nhỏ nhặt như cai trị châu phủ, cứ để ta và Đinh Tư mã chia sẻ nỗi lo với Đại vương." Tư mã Đinh Hi Nghiêu cũng cười nói: "Đại vương còn trẻ, hiếm khi có cơ duyên thoát khỏi sự quản thúc trong cung, hà tất phải nghĩ đến những chuyện vặt vãnh đó, chi bằng cưỡi ngựa tìm hoa, thơ rượu tranh thủ lúc tuổi xuân... Đúng rồi, Lý trưởng sử đặt tiệc mời Đại vương ở đây, chính là nghe nói nữ chủ quán của tửu lâu này không tầm thường, không những nấu ăn ngon, người cũng sinh ra cực kỳ xinh đẹp, Đại vương nhất định phải gặp mặt, nếu thấy ưng, chúng ta sẽ giúp Đại vương làm mai mối, đưa cô ta về chuyên hầu hạ Đại vương." Nói đoạn, Đinh Hi Nghiêu và Lý Đường cùng phát ra tràng cười dung tục, còn Triệu Ngai thì im lặng, không nói thêm gì nữa. Tiểu Âu lúc này bưng rượu lên, thấy Chân Chân đứng lặng, bèn gọi một tiếng "Nương tử", Lý Đường bên trong nghe thấy, lập tức cao giọng nói: "Tống nương t.ử ở bên ngoài sao? Có thể vào gặp mặt được chăng?" Chân Chân lấy khăn lụa che mặt từ dưới mắt trở xuống, cúi đầu đi vào, cố ý nói giọng phương ngữ phủ Ninh Quốc mới học được, hành lễ vái chào ba người. Lý Đường ngạc nhiên hỏi nàng sao phải che mặt, Chân Chân nói bị cảm gió, sợ lây bệnh cho khách nên buộc phải làm vậy. Lý Đường xua tay nói không ngại, bắt Chân Chân tháo khăn, Chân Chân ho sù sụ, vẫn khéo léo từ chối. Đinh Hi Nghiêu thấy vậy nóng mắt, bước lên hai bước định giật khăn che mặt của Chân Chân, may mà Triệu Ngai lên tiếng quát: "Tống nương t.ử đã không muốn, thì đừng ép người quá đáng." Đinh, Lý hai người đành thôi. Chân Chân lại vái chào cảm tạ Triệu Ngai, Triệu Ngai chắp tay đáp lễ, sau đó lặng lẽ quan sát nàng, cũng không nói gì thêm. Ba người sau tiệc ngồi lại một lát, ngắm phong cảnh xung quanh rồi cưỡi ngựa về thành. Thấy bên ngoài bắt đầu có tuyết rơi, Chân Chân cũng không muốn về tiểu viện ngay, bèn mở cửa phòng ngủ đã khóa, nghỉ ngơi trong căn phòng hồi nhỏ ở cùng nương. Tối đến đợi tất cả khách khứa, đầu bếp, tì nữ, người pha trà về hết, lại mở sổ sách, ghi lại những thứ cần tì nữ chuẩn bị sáng mai, xử lý xong xuôi mọi việc mới đứng dậy nhìn sắc trời ngoài cửa sổ, chuẩn bị về tiểu viện. Lúc này tuyết đã ngừng, gió lặng, ngoài khung cửa sổ tròn, một vầng trăng lạnh như nét mày, dưới ánh trăng bàng bạc, một nam t.ử trẻ tuổi cưỡi ngựa đen, khoác áo lông trắng nhẹ đang men theo con đường nhỏ ven sông, đạp tuyết đi tới. Chàng dừng ngựa trước cửa Trạm Nhạc Lâu, giơ tay gõ cửa. Chân Chân trên lầu nhận ra dáng người chàng, chần chừ một lát, cuối cùng vẫn xách đèn lồng xuống lầu, nhẹ nhàng mở cổng viện. Người đàn ông ngoài cửa ngẩng đầu, mũ trùm rơi xuống, để lộ khuôn mặt Triệu Ngai. Đã lâu không gặp, phong thái chàng vẫn như xưa, chỉ là có phần gầy đi. Ánh trăng làm đậm thêm những mảng tối trên đường nét khuôn mặt, gió sương dọc đường vương trên đỉnh mày, khiến ánh mắt chàng trông sâu thẳm, ngũ quan trưởng thành và tuấn tú hơn năm xưa. "Chân Chân," chàng mỉm cười với nàng, "Ta vừa nhìn đôi mắt nàng là biết ngay là nàng." "Nhị ca," nàng cũng cố gắng nở nụ cười bình thản, gọi chàng như vậy, "Nhờ phúc của Trang Văn Thái tử, có lẽ muội có thể gọi huynh như thế." Nụ cười của chàng vụt tắt, hiểu ra ý đồ muốn chàng giữ khoảng cách của nàng. Cách xưng hô "Nhị ca" này chàng từng đề nghị nàng dùng, nhưng nàng không chịu. Giờ nàng cuối cùng cũng chịu gọi chàng như vậy, nhưng lại không quên nhắc nhở chàng đây là nhờ ơn Đại ca, nàng dùng thân phận người nhà của Đại ca để gọi chàng như thế. Chàng im lặng trong giây lát, rồi buồn bã nói: "Nàng vẫn chấp nhận sự sắp đặt của cha, hay là để báo ơn Đại ca..." "Không phải." Nàng dứt khoát phủ nhận suy đoán của chàng, nói thẳng, "Lấy thân báo đáp, là vì muội yêu chàng ấy." "Yêu..." Chàng lặp lại từ chói tai ấy, hỏi nàng, "Giống như yêu Lâm Hoằng sao?" "Giống như yêu trượng phu." Nàng trả lời không chút do dự. Chàng chỉ cảm thấy trái tim như tảng băng trên mặt hồ khi gió xuân chợt nổi, những vết nứt sắc lẹm lan tràn từ bên trong. Chàng cố gắng không để cảm giác này lộ ra mặt, cuối cùng chỉ cười nhạt: "Ta biết rồi. Ta quay lại chỉ muốn nói với nàng, tìm được chốn an thân không dễ, ta sẽ không làm phiền nàng, hy vọng nàng sẽ không vì sự xuất hiện của ta mà rời đi." Ngừng một chút, lại nói, "Khi cần thiết, cũng xin nàng đừng từ chối thiện ý ta dành cho người nhà của Đại ca." "Được, Nhị ca, cảm ơn huynh." Chân Chân cũng cười nhẹ với chàng, lát sau nụ cười tắt ngấm, cụp mắt nói, "Muội làm lụy huynh đến nông nỗi này, vô cùng hổ thẹn... Có việc gì muội làm được cho huynh, muội cũng sẵn lòng làm." Chương 117 - Vệ Thanh Tầm Triệu Ngai đúng như lời chàng tuyên bố, sau đó không thường xuyên đến tìm Chân Chân, thi thoảng một hai lần đi ngang qua cũng là dẫn theo quan lại dưới quyền khảo sát tình hình ao hồ ruộng đất, gặp Chân Chân cũng không nói chuyện riêng, Chân Chân cũng như thường dân bình thường cung kính với chàng, không thiếu lễ nghĩa. Tống bà bà bắt đầu dạy Chân Chân những kỹ năng nấu nướng bà tích lũy nhiều năm, tiện thể dạy nàng một số đạo lý kinh doanh. Trước mặt bà, Chân Chân như một đứa trẻ hiếu học, chăm chú nghe, làm theo, còn tự mình thử nghiệm đổi mới. Ví dụ Tống bà bà dạy nàng dùng cá vược, giăm bông, măng sợi, nấm hương, nước luộc gà... làm canh cá, Chân Chân học xong sẽ hỏi: "Đổi cá vược thành cá quế được không? Thành cá ngần sông Hoài được không? Hoặc đổi nấm hương thành loại nấm khác, nước dùng không dùng gà, thì sẽ có vị gì?" Tống bà bà bó tay, nói: "Cô tự thử xem sao." Mà Chân Chân cũng thực sự thử đi thử lại, tìm kiếm hương vị có thể ngon hơn trong thực tế. Tống bà bà cảm thán: "Cô đúng là dốc hết sức muốn vượt qua ta mà!" Chân Chân nói: "Bà dạy cháu những gì bà học cả đời, chẳng phải hy vọng có người kế thừa trù nghệ của mình và phát dương quang đại sao? Cháu chỉ có thử đi thử lại, làm đến tốt nhất, thậm chí vượt qua thầy, để nhiều người nhớ đến những món ăn này hơn, mới là cách báo đáp thầy tốt nhất." Tống bà bà gật đầu: "Đúng vậy, ta muốn dạy hết cho cô những gì ta biết, chính là sợ sau khi ta qua đời những món ăn này cũng theo ta về với đất, không ai biết nữa. Ta mong sau này cô lớn tuổi rồi cũng nhận thêm vài đệ t.ử phẩm hạnh tốt, truyền lại trù nghệ của cô." Chân Chân nghĩ ngợi, nói: "Đệ t.ử phẩm hạnh tốt, tính tình hợp với mình phải xem có duyên gặp không đã. Nhưng đợi khi rảnh rỗi, cháu sẽ viết lại cách làm các món ăn cháu biết, như vậy sẽ có nhiều người xem được, tiện lưu truyền hậu thế hơn." Trạm Nhạc Lâu làm ăn phát đạt, thu nhập khá, nhưng các loại thuế bị thu cũng ngày càng nhiều. Chân Chân thấy danh mục thuế ngoài quy định của triều đình, còn có không ít khoản do châu phủ tự đặt ra, tên gọi đủ kiểu, ví dụ như "tiền tiết liệu", "tiền địa lý", "tiền giấm", "tiền rượu". Vì nhiều lần giao thiệp với quan thuế phụ trách trấn trên là Chu Quân, Chân Chân thường mời hắn ăn cơm uống trà, có chút giao tình bạn bè, khi Chu Quân lại nói Trưởng sử muốn thu thêm một khoản "tiền cảnh sông" đối với các tửu lâu ven sông, Chân Chân thẳng thắn nói: "Khoản thuế này vô lý quá! Sông này vốn dĩ ở đây, đâu phải châu phủ cấp cho chúng ta, sao lại thu thuế cảnh sông?" Chu Quân nói: "Sông tuy không phải châu phủ cấp, nhưng nhỡ Trưởng sử không vui, ra lệnh xây một bức tường cao trước cửa nhà cô, che mất cảnh sông thì sao? Lúc đó cô xem sẽ mất bao nhiêu khách." Chân Chân cười khẩy: "Lần này thu tiền cảnh sông, lần sau có thu tiền cảnh núi không? Cảnh sắc trước cửa nhà ta bốn mùa còn khác nhau nữa kìa, nếu thực sự để ông ta thu khoản thuế này, thì sau này ông ta nói xuân hạ thu đông mỗi mùa thu một khoản tiền cảnh quan, ta chẳng phải cũng đành tuân mệnh?" "Ý hay đấy!" Chu Quân vỗ bàn khen, "Sao Trưởng sử vẫn chưa nghĩ ra nhỉ? Tuyệt đối đừng nhắc nhở ông ấy, kẻo ông ấy nói không chừng sẽ thu tiền thuế bốn mùa thật đấy." Chân Chân bất lực cười trừ. Chu Quân lại nghiêm mặt nói: "Ta thấy cô là lương dân tuân thủ pháp luật, cô và ta lại thân quen thế này, nên không ngại nói thật với cô: Hàng năm các châu phủ ngoài việc nộp thuế má bình thường, còn tranh nhau dâng phần dư thừa cho triều đình, tức là ngoài thuế má triều đình quy định, phần dư ra thêm, quan lại châu phủ dùng cái này để chứng tỏ mình cai trị có phương pháp, địa phương giàu có, mong được Quan gia khen thưởng, thăng quan tiến chức. Cái phần dư này từ đâu ra? Chẳng phải là dùng các khoản thuế mới đặt ra cho dân chúng để bù vào sao! Ta cũng thấy vô lý, nhưng ta chỉ là kẻ thừa hành mệnh lệnh, cấp trên bảo sao thì bắt các cô làm vậy, thực sự xin lỗi." "Chu quan thuế nói quá rồi, những đạo lý này ta đều hiểu." Chân Chân nói, "Ta sẽ nộp thuế theo ý Trưởng sử, nhưng trí nhớ ta không tốt lắm, tiền thuế nộp nhiều, khoản nào nộp rồi khoản nào chưa nộp đôi khi nhớ không rõ, Chu quan thuế có thể ghi rõ tên từng khoản thuế trên biên lai nộp thuế cho ta, thay vì viết chung chung là nhận bao nhiêu tiền thuế được không?" "Tên các khoản thuế châu phủ mới đặt ra thường không được ghi cụ thể trên biên lai..." Chu Quân trầm ngâm, nhưng Chân Chân năm lần bảy lượt thỉnh cầu, hắn đành nhượng bộ, "Vậy ta ghi chú riêng cho cô, chỉ để cô tính toán sổ sách thôi, cô đừng nói với người cùng nghề." Chân Chân tự nhiên nhận lời ngay. Từ đó về sau, trong tay dần tích được một xấp biên lai nộp thuế với đủ loại danh mục. Mùa xuân năm sau, phủ Ninh Quốc tuyên bố sẽ bán hai ngàn mẫu quan điền hoang vu theo hình thức "thực phong đầu trạng" (bỏ thư niêm phong), để các phú hộ có ý định canh tác kinh doanh cạnh tranh mua. Thực phong đầu trạng tương tự như đấu thầu kín, quan châu sai làm một cái hòm gỗ khóa lại, chừa một khe hở, để người mua bỏ văn trạng ghi rõ giá mua và thời gian ra giá vào, hết hạn, hòm gỗ tập hợp văn trạng của mọi người sẽ được đưa đến sảnh đường phủ nha mở công khai, quan lại liên quan đọc to văn trạng, bán vật cạnh tranh cho người trả giá cao nhất, nếu có hai người trở lên trả giá bằng nhau thì bán cho người bỏ thư trước. Chu Quân trong lúc tán gẫu với Chân Chân nhắc tới việc này, Chân Chân tò mò hỏi mua nhiều ruộng đất như vậy cần bao nhiêu tiền, Chu Quân nói: "Mấy ruộng này bạc màu lắm, mỗi mẫu cũng chỉ đáng hai quan tiền, nhưng Trưởng sử muốn bán giá cao, bèn sai người định giá cao vống lên, định giá mười lăm quan mỗi mẫu." "Mười lăm quan!" Chân Chân kinh ngạc, "Cái này gấp mấy lần rồi, có ai mua không?" Chu Quân nói: "Đây là giá ước lượng Trưởng sử cho người đi rêu rao khắp nơi, giá khởi điểm định trước khi bỏ thư là mười quan mỗi mẫu, còn cuối cùng chốt giá bao nhiêu, thì phải xem những người cạnh tranh ra giá đến đâu... Nhưng nói đi cũng phải nói lại, mảnh đất này cũng không phải hoàn toàn không có lợi. Giữa ruộng có một con sông, rất nhiều nông hộ hạ lưu muốn tưới tiêu ruộng đồng phải dựa vào nguồn nước này. Trưởng sử nói, mảnh đất này nếu có người mua, thì có thể tùy ý sử dụng con sông này, hoặc thu tiền nước của nông hộ hạ lưu, hoặc lấp sông làm ruộng, đều có thể tự quyết định, nên ông ta khá tự tin với mức định giá như vậy." "Nếu dùng như vậy, chẳng phải là chiếm đoạt nguồn nước của dân sao?" Chân Chân cau mày nói, "Ta nghe nói Quan gia từng ra lệnh nghiêm cấm việc chiếm đoạt nguồn nước, lại cho phép quan châu hứa hẹn như vậy sao?" "Có hai ngàn mẫu đất cỏn con, chẳng lẽ Quan gia lại đích thân hỏi đến?" Chu Quân cười nói, "Trước đây có nhiều trường hợp rồi, đều làm như vậy cả. Quan châu thậm chí sẽ ghi quyền sử dụng sông vào trong khế ước, dù sao mấy cái khế ước này cũng chẳng được người mua đưa đến trước mắt Quan gia." Chân Chân suy tính mấy ngày, cuối cùng quyết định đến phủ nha bỏ văn trạng ra giá của mình. Viên quan tiếp đãi nàng rất ngạc nhiên, nói: "Ta cứ tưởng chỉ có Vệ Thanh Tầm của Lộc Minh Lâu mới dám vung tay mua mảnh đất lớn, đắt đỏ như vậy, không ngờ Tống nương t.ử cũng có thực lực này. Xem ra cô kinh doanh rất giỏi, kiếm được không ít tiền." Chân Chân cười nói: "Đâu có. Ta cũng phải dốc hết gia sản, vay mượn khắp nơi mới miễn cưỡng gom đủ tiền mua đất này." Viên quan khen: "Có mắt nhìn! Đừng thấy mảnh đất này giờ hoang vu, cô mà mua được, chỉ cần có con sông ở đó, riêng tiền b*n n**c từ từ cũng kiếm được khối." Từ phủ nha đi ra, Chân Chân thuê một chiếc xe trâu về nhà. Xe đi đến trước Lộc Minh Lâu, Chân Chân nhớ tới lời viên quan kia, bèn bảo người đ.á.n.h xe dừng lại một chút, muốn nhìn kỹ tửu lâu lớn nhất trong thành này. Nhưng xe trâu dừng đột ngột khiến một chiếc xe đẩy đang chất đầy lương thực chuyển vào lầu va phải thùng xe, thùng xe rung lên, còn bao gạo trên xe đẩy đổ xuống đất, vương vãi không ít gạo. Gã đàn ông to con đẩy xe đẩy vô cùng tức giận, c.h.ử.i bới om sòm, nói với Chân Chân vừa bước ra khỏi xe: "Đây là gạo Sư Cô Canh thượng hạng chủ quán ta đặc biệt nhờ người mua từ Hồ Châu về, giá đắt gấp mấy lần gạo thường, cô nhìn xem cô làm đổ bao nhiêu, hạt nào cũng phải đền!" Chân Chân cúi xuống nhặt vài hạt gạo lên xem kỹ, rồi thản nhiên bảo hắn: "Đây là Thập Lý Hương, không phải Sư Cô Canh." Gã to con giận dữ nói: "Chủ quán ta mua, còn sai được sao? Cô đừng có giở trò, đừng hòng lấy giá gạo hạ đẳng đền cho Sư Cô Canh!" Chân Chân ở Thượng thực cục bấy lâu, lại chưởng quản việc nếm ngự thiện, sớm đã quen thuộc các loại gạo trong thiên hạ, lúc này ung dung nói với gã to con: "Sư Cô Canh hạt mập và dẻo, khẩu cảm tốt, tự nhiên là gạo thượng hạng. Còn những hạt gạo vương vãi trên đất này hình dáng thon dài hơn Sư Cô Canh, nhìn màu sắc, chắc là Thập Lý Hương. Thập Lý Hương giá tuy không cao bằng Sư Cô Canh, nhưng tự có một mùi thơm đặc biệt, nấu cơm nếu dùng một đấu Sư Cô Canh, trộn thêm một thăng Thập Lý Hương, có thể kết hợp sở trường của cả hai, ăn vừa ngon, cơm lại dễ tỏa hương thơm ngát." Gã to con còn định phản bác, lại nghe trên Lộc Minh Lâu vọng xuống một giọng nói không giận mà uy: "Đừng tranh cãi nữa. Vị tiểu nương t.ử này nói đúng, gạo rơi là Thập Lý Hương." Chân Chân nghe tiếng ngẩng đầu lên nhìn, thấy trên ban công tầng ba có một người trẻ tuổi mặc áo gấm cổ tròn tay hẹp, đầu đội khăn mềm, trạc ngoài đôi mươi, dáng người cao ráo, sống mũi thẳng, mày thanh mắt sáng, dung mạo tuấn tú, trông như một vị giai công t.ử ngọc thụ lâm phong, nhưng giọng nói nghe lại là giọng nữ, nụ cười vui vẻ trên môi mỏng lúc này cũng khiến cô ta toát lên một vẻ quyến rũ tự nhiên. Gã to con chắp tay hành lễ với cô ta, Chân Chân liền nhận ra, người này chính là chủ quán Lộc Minh Lâu Vệ Thanh Tầm. Vệ Thanh Tầm không để ý đến gã to con, lại vái chào Chân Chân, mỉm cười nói: "Tại hạ Vệ Thanh Tầm. Hôm nay hân hạnh được nghe cao kiến của tiểu nương tử, mở mang tầm mắt. Nếu tiểu nương t.ử rảnh rỗi, chi bằng lên lầu đàm đạo. Mong tiểu nương t.ử nể mặt, cho phép tại hạ mời cô dùng bữa tối tại tệ quán, tại hạ cũng có vài vấn đề về thực phẩm muốn thỉnh giáo tiểu nương tử." Chân Chân đáp lễ, nói: "Vệ lâu chủ thịnh tình mời mọc, Tống Đào Sênh xin ghi nhận. Chỉ là tổ mẫu ta còn đang đợi ở nhà, ta đã hứa sẽ về đúng giờ, không tiện nán lại lâu, mong Vệ lâu chủ lượng thứ, ngày sau có duyên gặp lại, Đào Sênh sẽ lại thỉnh Vệ lâu chủ chỉ giáo." "Hóa ra cô chính là Tống Đào Sênh." Vệ Thanh Tầm cười nói, "Ngưỡng mộ đã lâu." Vệ Thanh Tầm tiếp tục giữ lại, nhưng Chân Chân kiên quyết từ chối, Vệ Thanh Tầm bèn không ép nữa, vẫn đứng chắp tay sau lưng trên lầu, dõi mắt nhìn theo Chân Chân đi xa. "Tiểu nương t.ử không lên lầu cô ta là đúng đấy." Người đ.á.n.h xe cho Chân Chân trên đường không nhịn được nói với nàng, "Cái cô Vệ Thanh Tầm đó nam không ra nam nữ không ra nữ, ngày nào cũng mặc đồ nam, hơn hai mươi rồi còn chưa lấy chồng, cậy nhà có tiền, suốt ngày cặp kè với mấy tì nữ xinh đẹp, tiếng xấu trong thành đồn xa lắm. Hôm nay chắc là chấm tiểu nương t.ử rồi mới bắt chuyện nhiệt tình thế, tiểu nương t.ử mà ở lại, e là lành ít dữ nhiều." Chân Chân nói: "Nhưng ta nghe nói cô ấy làm ăn lớn, ngoài tửu lâu còn kinh doanh tơ lụa, hương liệu, là người giàu nhất phủ Ninh Quốc." "Cô ta buôn bán thì giỏi thật." Người đ.á.n.h xe nói, "Cô ta là người Lâm An, chắc nhà vốn đã nhiều tiền, tửu lâu ở phủ Ninh Quốc trước kia là do anh trai cô ta mở, mấy năm trước về kinh rồi, bèn giao tửu lâu cho cô ta. Cô ta đến xong tuyển rất nhiều đầu bếp, tì nữ và nhạc kỹ xinh đẹp, kinh doanh tửu lâu rất khởi sắc, cả ngày đèn đỏ rượu xanh, ca múa thái bình, kiếm được rất nhiều tiền, tiện thể mở rộng các việc kinh doanh khác... Nhưng có ích gì? Ta thấy cha nương cô ta sớm muộn gì cũng bắt cô ta về lấy chồng, việc làm ăn ở đây đa phần sẽ lại về tay anh trai cô ta thôi." Triệu Ngai biết tin Chân Chân bỏ thư tham gia mua quan điền liền phóng ngựa đến tìm nàng, nói thẳng những tệ hại của mảnh đất đó, bảo nàng từ bỏ việc mua, nói: "Nếu nàng từ bỏ, ta sẽ cho người lén mở hòm, lấy văn trạng của nàng ra." "Vậy việc định giá cho những quan điền này, cũng là Đại vương sai người làm sao?" Chân Chân hỏi. "Đương nhiên không phải." Triệu Ngai phủ nhận ngay, "Chuyện tiền nong của phủ Ninh Quốc đều nằm trong tay Trưởng sử Lý Đường, hắn lấy cớ tông thất nước ta chỉ giữ hư danh, luôn không cho ta hỏi đến, việc lớn việc nhỏ đều qua mặt ta báo thẳng lên triều đình, thậm chí không cho ta biết. Chuyện định giá bán quan điền ta cũng phải hỏi thăm tiểu lại dưới quyền hắn mới biết." Chân Chân bèn hỏi chàng: "Đại vương cam tâm chịu sự kìm kẹp của hắn mãi, dung túng hắn lộng quyền, ức h.i.ế.p bá tánh sao?" Triệu Ngai lắc đầu, nói: "Ta đang thu thập tội trạng của hắn và Tư mã rồi, muốn khuyên Quan gia trao quyền cho ta, để làm chút việc tốt thiết thực cho phủ Ninh Quốc." Chân Chân vào nhà lấy ra xấp biên lai nộp thuế tích cóp mấy tháng nay, giao cho Triệu Ngai: "Lý Đường mượn đủ loại danh mục mới để thu thuế, mưu toan dùng tiền thuế làm tiễn dư dâng lên triều đình, mưu cầu con đường thăng quan tiến chức, những biên lai này chính là bằng chứng ta giữ lại. Ta tham gia bỏ thư mua quan điền, cũng là muốn qua đó lấy bằng chứng hắn định giá đất cao, lén bán nguồn nước, bóc lột dân chúng. Nếu mua thành công, ta sẽ có được một bản khế ước chi tiết, trong đó ngoài giá đất còn quy định chi tiết việc sử dụng sông ngòi, những thứ này đều là bằng chứng Đại vương sau này có thể dùng để đàn hặc hắn." "Nhưng mà, nàng có nhiều tiền thế sao?" Triệu Ngai rất nghi ngờ. "Không có." Chân Chân trả lời thành thật, rồi giải thích, "Hôm sau ngày mua thành công, ta chỉ cần nộp một phần mười tiền, số còn lại thanh toán trong vòng một tháng, nên tạm thời ta chỉ cần gom đủ một phần mười này... Tuy ngay cả một phần mười này ta cũng không có, nhưng chắc Đại vương sẽ cho ta mượn. Mà thời gian một tháng, chắc đủ để Đại vương dâng bằng chứng lên Quan gia, như vậy, giao dịch lần này chắc chắn sẽ bị hủy bỏ, đến lúc đó chín phần còn lại không cần trả nữa, tiền đã trả cũng sẽ được hoàn lại cho ta." "Làm vậy tuy khả thi, nhưng mà..." Triệu Ngai chần chừ, "Nàng không sợ bị Quan gia phát hiện sự tồn tại của nàng sao?" "Ta bây giờ là Tống Đào Sênh mà, Nhị ca," Chân Chân mỉm cười nhẹ, "Tống Đào Sênh đã tồn tại trên hộ tịch phủ Ninh Quốc hơn hai mươi năm, không phải Ngô Chân Chân." Chương 118 - Hội Trâm Hoa Chẳng mấy chốc đã đến ngày mở niêm phong, quá ngọ, quan chức phủ Ninh Quốc triệu tập những người bỏ thư mua quan điền đến sảnh đường phủ nha, sau đó mang hòm gỗ đã khóa ra, mở ngay tại sảnh, Trưởng sử và Tư mã ngồi dự thính. Khi sắp bắt đầu xướng tên, Triệu Ngai cũng tới. Vì lần này giá khởi điểm định quá cao, người bỏ thư không nhiều, tính cả Chân Chân tổng cộng tám người. Quan xướng danh lần lượt lấy văn trạng ra, đọc tên người bỏ thư, ngày bỏ thư và giá đưa ra. Sáu người đầu giá đưa ra đều sát giá khởi điểm, người cao nhất cũng chỉ mười ba quan mỗi mẫu. Người thứ bảy là Chân Chân, quan xướng danh mở văn trạng của nàng, sau khi công bố tên, ngày tháng liền đọc lên một mức giá khiến người ta kinh ngạc: "Mỗi mẫu hai mươi quan, hai ngàn mẫu tổng giá bốn vạn quan." Đối với mảnh đất cằn cỗi này, giá khởi điểm mười quan mỗi mẫu đã là cao vô lý, mà giá Chân Chân đưa ra lại gấp đôi giá khởi điểm, tương đương gấp mười lần giá trị thực tế. Giá này vừa báo ra, trong sảnh lập tức vang lên tiếng trầm trồ và xì xào bàn tán. Quan xướng danh cũng gật đầu tán thưởng với Chân Chân, dường như cũng cho rằng nàng nắm chắc phần thắng. Quan xướng danh sau đó lấy ra phong văn trạng cuối cùng, mở ra xong đọc tên người bỏ thư trước: "Vệ Thanh Tầm." Hôm nay Vệ Thanh Tầm không có mặt trong sảnh, Chân Chân vốn tưởng cô ta không tham gia bỏ thư, không ngờ người ra giá vẫn có cô ta, trong lòng bỗng dấy lên cảm giác bất an. Quả nhiên quan xướng danh cuối cùng đọc ra mức giá của họ Vệ gây chấn động toàn trường: "Mỗi mẫu ba mươi quan, hai ngàn mẫu tổng giá sáu vạn quan!" Trong sảnh tiếng người ồn ào, mọi người nhìn quanh quất, đều đang tìm kiếm bóng dáng Vệ Thanh Tầm, mà quan xướng danh sau đó cũng tuyên bố Vệ Thanh Tầm là người ra giá cao nhất, mời cô ta bước ra ký tên. Một người đàn ông trung niên vốn ẩn mình trong đám đông lúc này từ từ đứng dậy, vái chào Triệu Ngai, Trưởng sử, Tư mã và quan xướng danh mỗi người một cái, giải thích: "Tại hạ là Tiết Dịch, chủ sự Lộc Minh Lâu. Lâu chủ nhà ta mỗi năm hai mùa xuân thu đều chọn một ngày tổ chức Hội Trâm Hoa, tuyển chọn thuê mướn nhạc kỹ ưu linh. Hôm nay tình cờ là ngày tổ chức Hội Trâm Hoa mùa xuân, vì ngày đã định từ sớm, cô ấy không thể dứt ra được, nên sai tại hạ đến thay mặt thực hiện việc ký tên đặt cọc, ngoài ra thay mặt cô ấy tạ tội với các vị quan nhân, lâu chủ nói, đợi việc mở niêm phong ký tên xong xuôi, nếu các vị quan nhân nể mặt, xin mời đến xem Hội Trâm Hoa, cô ấy sẽ dâng rượu ngon món lạ, chiêu đãi các vị quan nhân." Trưởng sử Lý Đường và Tư mã Đinh Hi Nghiêu nhìn nhau, Lý Đường liền nói với Tiết Dịch: "Ngươi thay mặt đặt cọc thì được, nhưng việc ký tên phải do lâu chủ nhà ngươi tự làm. Ngươi có thể mang văn thư khế ước liên quan về, mời cô ta ký tên, những thứ cần nộp lên thì nộp lại sau." Tiết Dịch liên tục vâng dạ, lập tức lấy ra số hội t.ử (tiền giấy) tương đương một phần mười giá đã trả, đặt cọc ngay tại chỗ. Có quan lại khác dẫn hắn ra hậu sảnh, tiếp tục làm các thủ tục liên quan, giao khế ước văn thư. Người trong sảnh lục tục tản đi. Chân Chân nhìn theo bóng Tiết Dịch đi xa, thầm hối hận, chỉ hận mình lúc đầu lo trả giá quá cao sẽ khiến người ta nghi ngờ, kết quả lại để Vệ Thanh Tầm vượt mặt. Nàng bất lực nhìn sang Triệu Ngai, Triệu Ngai ngược lại không vội không giận, bốn mắt nhìn nhau vẫn thần thái tự nhiên, bất động thanh sắc. Chân Chân cũng như mọi người, hành lễ cáo lui với các quan phủ, Triệu Ngai cũng như đối xử với người khác, chỉ gật đầu nhàn nhạt, không đứng dậy tiễn. Đợi Chân Chân ra khỏi cửa lớn phủ nha, Tư mã Đinh Hi Nghiêu lại đuổi theo, nói với nàng: "Từ lần trước dự tiệc ở tửu lâu của Tống nương tử, hương vị đó cứ vương vấn mãi trong lòng, ta nhớ nhung vô cùng. Hôm nay việc công đã xong, chi bằng ta đưa Tống nương t.ử về, tiện thể dùng bữa tối ở Trạm Nhạc Lâu, thưởng thức kỹ món ngon nương t.ử làm." Hắn lập tức vẫy tay gọi một chiếc xe ngựa hai chỗ ngồi bên cạnh lại. Chân Chân thấy hắn khi nói những lời này ánh mắt lờ đờ, thần thái mờ ám, biết hắn có ý đồ xấu với mình, bèn lịch sự mỉm cười từ chối: "Tiểu nữ sao dám làm phiền Tư mã đưa tiễn. Cũng thật không may, hôm nay ta vốn định mời thêm vài vị quan nhân đến quán nhỏ nếm thử món mới mùa này, nhưng lúc ra cửa tổ mẫu bảo ta, hôm nay nguyên liệu không đủ phong phú, không đủ để tiếp đãi quý nhân, bà ấy bèn tùy ý để vài vị thân hào đặt tiệc tối rồi. Lại dặn ta xem kỹ nguyên liệu trong thành, mua sắm thêm một ít, chuẩn bị chu đáo rồi, sẽ mời các quan nhân hôm khác đến dùng bữa. Cho nên ta tạm thời chưa về, còn phải đi dạo chợ trong thành đã." Nào ngờ Đinh Hi Nghiêu không hề rút lui, lại nói: "Vậy ta đi chợ cùng Tống nương tử, đợi nàng mua xong, sẽ đưa nàng về." Chân Chân năm lần bảy lượt từ chối, Đinh Hi Nghiêu vẫn không bỏ cuộc, khăng khăng muốn đi cùng nàng, Chân Chân hết cách, đành quay người đi về phía chợ gần đó, mặc kệ hắn đi theo sau. Đến chợ, Chân Chân giả bộ chọn mua nguyên liệu, không nói với hắn câu nào, nhưng nhất thời không cắt đuôi được hắn, trong lòng phiền muộn cũng chẳng còn tâm trí xem kỹ nguyên liệu. Lúc này bỗng nghe bên cạnh có người bàn tán về Hội Trâm Hoa của Lộc Minh Lâu, nói việc tuyển chọn nhạc kỹ đã đến hồi gay cấn nhất, rủ bạn đi xem cùng: "Đông nghịt người, không đi nhanh là không chen vào được đâu." Chân Chân nảy ra ý định, nói với Đinh Hi Nghiêu: "Ta trước đây cũng nghe người ta nói về sự náo nhiệt của Hội Trâm Hoa, nhưng chưa có duyên được xem. Hôm nay đã tình cờ gặp, rất muốn đến xem thử." Đinh Hi Nghiêu cười nói: "Cái này dễ thôi, đi theo ta." Lộc Minh Lâu vốn liếng hùng hậu, bất kể đầu bếp, người phục vụ hay nhạc kỹ, ưu linh, một khi được thuê là trả lương tháng hậu hĩnh, tiền thưởng tính riêng, nên hàng năm người ứng tuyển đông như kiến cỏ. Để tránh bị đạp vỡ ngạch cửa, cũng để thu hút sự chú ý của người trong thành, Vệ Thanh Tầm quyết định tuyển dụng nhạc kỹ ưu linh dưới hình thức Hội Trâm Hoa, mỗi năm chỉ hai lần, cho người ứng tuyển hôm đó trổ tài nghệ, phô diễn tài sắc trong khu vườn Vệ Thanh Tầm dùng để cưỡi ngựa b.ắ.n liễu sau Lộc Minh Lâu. Cuối cùng do Vệ Thanh Tầm đ.á.n.h giá, thấy dùng được, bèn chọn một cành hoa cho người đó cài lên. Hôm đó cho phép người trong thành vây xem toàn bộ quá trình, cách thức này chẳng khác nào thi hoa hậu, đương nhiên ai cũng muốn xem, thường thì trời chưa sáng đã có người đến xếp hàng chờ vào sân, người đông rồi cũng có rất nhiều người tụ tập ngoài vườn, không chịu giải tán. Chân Chân chính là nghĩ chỗ này đông người, chen lấn xô đẩy rất dễ tách nàng và Đinh Hi Nghiêu ra, để nàng thừa cơ thoát khỏi hắn, nào ngờ bọn họ vừa đến bên vườn, liền có người phục vụ Lộc Minh Lâu nhận ra Đinh Hi Nghiêu, lập tức dẫn họ đi cửa nhỏ, đưa vào trong vườn, còn tìm một chỗ ngồi trong sân tiện quan sát nhất, mời họ ngồi xuống thưởng thức. Lúc này đang biểu diễn đều là những người xuất sắc vượt qua các vòng trước, ai nấy tài nghệ bất phàm, dung mạo xinh đẹp, nhóm ba năm người, hoặc hát, hoặc múa, thỉnh thoảng đưa mắt đưa tình nhìn về phía Vệ Thanh Tầm, mong lọt vào mắt xanh của cô ta. Còn Vệ Thanh Tầm thong dong ngồi trên ghế chủ tọa ở chính giữa, từ trên cao nhìn xuống mỉm cười liếc nhìn các cô gái, thần thái ấy chẳng khác nào bậc quân vương đang khoan khoái xem các phi tần tranh sủng. Một nhóm hát múa xong, Vệ Thanh Tầm cũng sẽ nhìn quanh bốn phía, xem phản ứng của người xem. Khi Chân Chân và Đinh Hi Nghiêu xuất hiện, cô ta phát hiện ra họ đúng lúc, thong thả đợi Chân Chân quay sang nhìn mình, rồi khi ánh mắt chạm nhau, nở nụ cười ung dung với Chân Chân. Đợi nhóm biểu diễn cuối cùng kết thúc, người phục vụ dâng lên mười cành hoa cho Vệ Thanh Tầm, có mẫu đơn, thược dược, thạch lựu, tường vi... Vệ Thanh Tầm xòe nửa chiếc quạt xếp bằng gỗ bách dát vàng trắng, che đi khuôn mặt dưới đôi mắt đẹp, nói nhỏ sự lựa chọn của mình với người phục vụ, thế là người phục vụ lần lượt đưa từng cành hoa đến trước mặt những mỹ nữ được cô ta chọn, mời họ cài lên. Người trúng tuyển ai nấy hớn hở bước lên hành lễ cảm tạ Vệ Thanh Tầm, Vệ Thanh Tầm mỉm cười gật đầu, tặng thêm cho họ ít trang sức làm quà gặp mặt. Khi đóa hoa mẫu đơn cuối cùng được vũ kỹ cô ta chọn cuối cùng cài lên búi tóc, những người không được chọn đều thở dài thất vọng, ủ rũ chuẩn bị lui ra. Lúc này Vệ Thanh Tầm bỗng bẻ một cành hải đường đỏ nhỏ cắm trong bình hoa trên án trước mặt, tuốt bỏ hoa lá thừa, chỉ để lại một đóa trên đầu cành, sau đó cầm lấy một cây cung tre nhỏ, đứng dậy, quay người đi xuống bậc thang, nhảy lên con ngựa trắng đang đợi dưới gốc liễu, phóng ngựa quanh sân một vòng, đôi mắt vẫn vương ý cười, nhìn khắp các cô gái trong sân. Các cô gái không biết cô ta định làm gì, nhưng ai nấy đều tràn đầy mong đợi, đứng nguyên tại chỗ, ánh mắt nồng nhiệt dõi theo cô ta. Vệ Thanh Tầm cuối cùng ghìm ngựa đứng lại giữa sân, quay mặt về hướng Chân Chân, mỉm cười giương cung tre, b.ắ.n cành hải đường kia đi như một mũi tên. Cành hải đường bay thẳng tắp, cắm phập vào búi tóc Chân Chân, như một cây trâm cài lên tóc nàng. Người xem như bừng tỉnh khỏi giấc mộng, tiếng hò reo vang lên như sấm dậy, khen ngợi hành động độc đáo này của Vệ Thanh Tầm. Vệ Thanh Tầm thúc ngựa đi đến trước mặt Chân Chân, cúi người đưa một bàn tay về phía nàng, giọng điệu vừa như ra lệnh vừa như mời gọi: "Lên đây." Chân Chân một lòng muốn thoát khỏi tên Đinh Hi Nghiêu đáng ghét bên cạnh, không do dự nhiều, nhanh chóng đưa tay cho Vệ Thanh Tầm, để cô ta kéo lên ngựa của mình. Vệ Thanh Tầm cao hơn Chân Chân nửa cái đầu, lúc này nửa ôm nàng trong lòng, thúc ngựa phi nước đại, lao ra khỏi vườn. Đám đông tụ tập trong ngoài cổng lớn thấy ngựa lao tới hung hãn, vội vàng dạt sang hai bên, nhường đường, thế là Vệ Thanh Tầm một mình một ngựa, nhanh chóng đưa Chân Chân rời xa nơi này. Vệ Thanh Tầm dẫn ngựa phi ra ngoại thành, trên đường cười nói với Chân Chân: "Vừa rồi ta nghe người ta nói cô cũng đi bỏ thư mua quan điền, thua ta rồi, có giận ta không?" Chân Chân nói: "Giận thì không đến mức, chỉ thấy lạ là tại sao cô chịu bỏ ra nhiều tiền thế để mua, mảnh đất đó không đáng giá." "Mảnh đất đó không đáng, nhưng quan phụ mẫu thì phải cẩn thận hầu hạ chứ." Vệ Thanh Tầm nói thẳng, "Có người muốn ta trả giá cao mua, thì ta chỉ có thể tuân mệnh, dù sao làm ăn càng lớn, càng phải nhìn sắc mặt quan lại mà hành sự. Nếu người ta hài lòng, chỗ này lỗ, chỗ khác còn cho cô kiếm lại; nếu đắc tội người ta, thì những cái kiếm được trước kia, cũng đều bắt cô nôn ra hết." "Ai bảo cô mua?" Chân Chân hỏi, "Lý Đường hay Đinh Hi Nghiêu?" Vệ Thanh Tầm cười không đáp. Chân Chân nghĩ ngợi lại nói: "Nếu cô sợ đắc tội quan phụ mẫu, hôm nay không nên đưa ta ra ngoài... Cô không thấy Đinh Hi Nghiêu ở bên cạnh ta sao? Hắn..." "Hắn đang quấy rối cô, ta nhìn ra rồi." Vệ Thanh Tầm cười bên tai Chân Chân, "Cho nên quyết định giúp cô thoát thân như vậy. Nói về chuyện sợ hay không sợ đắc tội hắn... trước đây có lẽ sẽ e dè, nhưng bây giờ thì không." Chân Chân ngạc nhiên: "Tại sao?" "Vì Ngụy Vương." Vệ Thanh Tầm nói xong quay đầu nhìn lại phía sau, lập tức giảm tốc độ ngựa, nói với Chân Chân, "Để ngài ấy tự nói với cô đi." Chân Chân lúc này cũng nghe thấy sau lưng có tiếng ngựa khác đang đuổi sát theo họ, quay lại nhìn phát hiện người phóng ngựa đuổi theo lại là Triệu Ngai. Triệu Ngai phi ngựa đến trước mặt các nàng, chắn đường Vệ Thanh Tầm, sau đó lạnh lùng nhìn chằm chằm Chân Chân, ra lệnh: "Xuống ngựa." Vẻ mặt lạnh như băng sương này là điều Chân Chân chưa từng thấy ở chàng, không khỏi có chút hoang mang, do dự một chút, nhưng dưới cái nhìn áp bức của chàng vẫn nhoài người xuống ngựa. Triệu Ngai thúc ngựa lại gần nàng, cúi người đưa tay về phía nàng, động tác gần như y hệt Vệ Thanh Tầm lúc trước. "Ta có thể thuê xe về nhà..." Chân Chân định từ chối, nhưng rất nhanh bị chàng quát lớn ngăn lại, "Đừng nói nhảm, lên đây!" Chân Chân còn đang kinh ngạc vì giọng điệu cứng rắn chưa từng có của chàng, trong lúc ngẩn ngơ đã bị chàng kéo mạnh lên ngựa. Chàng để nàng ngồi phía trước mình, dưới ánh mắt cười như không cười của Vệ Thanh Tầm, thúc ngựa nghênh ngang bỏ đi. Chân Chân bị chàng nửa ôm trong lòng, cảm thấy ngượng ngùng, tư thế khá cứng nhắc. Có thể cảm nhận được cơn giận của chàng, nhất thời lại không hiểu sao chàng lại bực bội đến thế, im lặng đi cùng chàng một đoạn, mới nghe Triệu Ngai lạnh lùng mở miệng: "Lời ta nói, nàng hoàn toàn không để trong lòng." Chân Chân ngạc nhiên, buột miệng hỏi: "Lời gì?" "Ta đã nói với nàng từ sớm rồi," Triệu Ngai nói, "Chúng ta sau này đừng bao giờ đi chung ngựa với người khác nữa!" Câu nói này khiến Chân Chân nhanh chóng nhớ lại chuyện xảy ra hôm đầu tiên gặp chàng, trong khoảnh khắc chỉ thấy như đã cách mấy đời, lại có chút cảm khái, đối mặt với cơn ghen đầy tính trẻ con này của chàng, không biết ứng đối thế nào cho phải, hồi lâu sau mới khẽ lầm bầm: "Cô ấy là phụ nữ..." "Phụ nữ cũng không được." Triệu Ngai hừ lạnh một tiếng, khó chịu nói, "Cô ta thích mặc đồ nam, ăn mặc chẳng ra nam chẳng ra nữ đi trêu ghẹo các cô nương, nhìn thật chướng mắt!" "Chuyện ở Hội Trâm Hoa ban nãy, huynh cũng thấy rồi?" Thấy Triệu Ngai ngầm thừa nhận, Chân Chân không nhịn được bảo chàng: "Nhị ca, thực ra... trước khi vào cung muội cũng thích mặc đồ nam đi trêu ghẹo các cô nương." Chàng im lặng một chút, rồi nói: "Cái đó khác. Nàng mặc đồ nam, đó gọi là anh tư táp sảng (hiên ngang sảng khoái)." Chương 119 - Tây Song (Cửa Sổ Phía Tây) Hai người cưỡi ngựa lẳng lặng đi, Chân Chân nhớ tới lời Vệ Thanh Tầm lúc trước, bỗng hiểu ra: "Là huynh bảo Vệ Thanh Tầm đi bỏ thư mua quan điền." Triệu Ngai không phủ nhận, nói: "Nếu nàng đứng ra mua nhiều quan điền như vậy, chắc chắn sẽ gây chú ý, sẽ có nhiều người quan tâm đến gia thế, lai lịch của nàng hơn. Sau này nếu Quan gia lệnh cho Ngự sử đài điều tra kỹ hành vi xấu xa của hai tên Lý, Đinh, đa phần sẽ triệu tập nàng làm chứng, nàng sẽ đối mặt với rủi ro rất lớn, ta sẽ không để chuyện đó xảy ra. Còn Vệ Thanh Tầm, gia sản lớn, mua bao nhiêu người ta cũng không nghi ngờ, để cô ta thay nàng làm việc này là thích hợp nhất, như vậy, mục đích của nàng đạt được, lại có thể đứng ngoài cuộc." "Vậy huynh thuyết phục Vệ Thanh Tầm phối hợp với huynh thế nào?" Chân Chân hỏi. "Ta chỉ nhắc cô ta, hai tên Lý, Đinh cùng lắm chỉ làm quan địa phương nhiệm kỳ này, còn ta làm thân vương là làm cả đời, đắc tội ta nghiêm trọng hơn đắc tội bọn họ." Triệu Ngai thản nhiên nói, "Cô ta là thương nhân khôn ngoan, tự nhiên biết xem xét thời thế, tìm lợi tránh hại." Chân Chân nghĩ ngợi, lại hỏi: "Vậy những biên lai nộp thuế của muội, huynh có dùng được không?" Triệu Ngai nói: "Nàng cho ta biết danh mục những loại thuế má hà khắc đó, đã là rất tốt rồi. Mấy tháng nay ta thường xuyên đi thị sát các nơi ở phủ Ninh Quốc, cũng quen biết không ít nông hộ, tiểu thương, đã biết danh mục, hỏi riêng họ, bắt họ làm chứng, không phải chuyện khó, chưa chắc đã cần dâng biên lai của nàng lên trước mắt Quan gia." Chân Chân than: "Những việc này huynh đều tự làm hết rồi, khiến muội trở nên vô dụng." "Sao lại nói thế, nàng bày cho ta những mưu kế này, đã giúp ta rất nhiều rồi." Triệu Ngai nói, phía sau lưng nơi Chân Chân không nhìn thấy, nở một nụ cười, "Hình như từ khi chúng ta quen biết, đã có thể cùng nhau làm rất nhiều việc chính sự, hơn nữa bảo vệ lẫn nhau, thành toàn cho nhau... như vậy thật tốt." Chân Chân ngẫm nghĩ kỹ lại, phát hiện bất kể là giải quyết vụ thịt nai giả, hóa giải làn sóng dân tị nạn, hay vạch trần vụ mượn ngự yến vơ vét tài sản, họ quả thực đã vô thức phối hợp cùng nhau làm rất nhiều việc chính sự, chỉ là... "Muội suy tính luôn không đủ chu toàn, thường xuyên gây họa, toàn là huynh dọn dẹp cho muội." Nàng cảm khái nói với Triệu Ngai. "Nhưng những việc đó, nếu nàng không làm, ta chưa chắc đã nghĩ đến việc làm, cho nên nói, chúng ta phối hợp ăn ý." Triệu Ngai bỗng ghìm cương, quay đầu ngựa đổi hướng, "Đi nào, ta cho nàng xem một nơi." Chàng đưa Chân Chân phi về phía bắc, trèo đèo lội suối hồi lâu, khi hoàng hôn buông xuống đến bên một bãi hồ, dừng ngựa trên đồi cao, chỉ cho Chân Chân xem mảnh ruộng đã sụp đổ hoang phế, cỏ dại mọc đầy bên dưới: "Mảnh ruộng này gọi là Huệ Dân Vu, bắt đầu xây dựng từ thời Tam Quốc. Đê bao có thể bảo vệ ruộng đồng, chống úng chống hạn, nhưng lâu năm không tu sửa, mấy năm trước lại gặp lũ lụt, bị nước lũ cuốn trôi, khiến ruộng đồng bị ngập, đất đai hoang vu, tá điền phiêu bạt, dân chúng lầm than." Chân Chân nhìn những đoạn đê bao còn sót lại, nhận ra nơi này vốn là từng ô ruộng vuông lớn nhỏ, nối liền lại tạo thành một hình vuông rộng lớn, to như tòa thành. Chỉ là đê bao tan tác, ruộng đồng ở giữa nếu không phải cỏ hoang ngút trời thì cũng là nước đọng thành vũng, phản chiếu ánh tà dương như máu, càng thêm hoang tàn. "Những mảnh ruộng nàng nhìn thấy bây giờ, đa phần là ruộng nhỏ, ruộng tư do chủ điền nông hộ tự tu sửa, nhưng muốn chống chọi lũ lụt, còn cần quan phủ đứng ra, xây dựng đê lớn bao quanh những ruộng nhỏ ruộng tư này lại, mỗi ruộng công rộng hàng chục dặm, đê rộng vài trượng, cao hơn trượng, bên trên trồng dâu trồng liễu gia cố, mới có thể kiên cố không phá vỡ nổi, không sợ nước lũ ngập trời." Triệu Ngai nói. Chân Chân gật đầu: "Phủ Ninh Quốc nhiều đầm lầy bãi sông, tu sửa ruộng đồng rộng rãi mới có thể giúp dân canh tác, lợi nước lợi dân. Nhưng Lý Đường và Đinh Hi Nghiêu nóng lòng muốn khoe khoang thành tích với triều đình, hám cái lợi trước mắt, không có tâm tu sửa ruộng đồng, một mực vơ vét của dân để dâng thuế dư, cho nên huynh mới muốn đoạt lại quyền Phán phủ từ tay họ." Phán phủ cũng như Tri Phủ, đều là Thái thú châu phủ, chỉ là quan phẩm cấp cao kiêm chức quan phẩm cấp thấp thì gọi là "Phán", quan cùng cấp nhậm chức này gọi là "Tri", Triệu Ngai lấy thân phận thân vương hạ mình nhậm chức Thái thú phủ Ninh Quốc, nên gọi là "Phán phủ Ninh Quốc". "Đúng vậy, nhưng việc này khá khó. Tuy chức Phán phủ không tính là quan to, nhưng hoàng t.ử nước ta xưa nay chỉ giữ hư danh, không nắm thực quyền, cho nên hai tên Lý, Đinh mới có chỗ dựa không sợ gì, ngang nhiên cô lập ta." Nói đến đây, Triệu Ngai cười khổ, "Cha để ta Phán phủ Ninh Quốc, ý là muốn ta rời kinh, xa rời vị trí Trữ quân, cái thực quyền Phán phủ này e là cũng chưa từng nghĩ sẽ giao cho ta, mới đặt ra tả Trưởng sử, hữu Tư mã, danh nghĩa là quan phụ tá, thực chất thay ta toàn quyền hành sự. Bây giờ muốn thuyết phục Quan gia trao thực quyền cho ta, không dễ chút nào." "Không sợ, chúng ta chẳng phải đã thu thập được rất nhiều bằng chứng tội trạng của hai tên đó rồi sao?" Chân Chân quay lại an ủi chàng, "Huynh dâng tấu lên Quan gia, bẩm rõ những việc này, Quan gia anh minh, nếu thương cảm tấm lòng yêu dân của huynh, nhất định sẽ nghe theo lời thỉnh cầu của huynh." Triệu Ngai mỉm cười nhìn nàng: "Ta chuẩn bị viết tấu chương rồi, nàng giúp ta nghĩ câu chữ nhé?" "Văn chương của muội thực sự có hạn, câu chữ thì không được, nhưng nghĩ lý do thì được." Chân Chân nói. Triệu Ngai cười, lại thúc ngựa, đưa Chân Chân đến một khách đm bên cạnh thị trấn gần đó. Chủ quán khách đm rõ ràng quen biết chàng, vừa thấy liền vừa vái chào vừa liên tục gọi "Triệu Phán phủ", mời chàng và Chân Chân vào trong ngồi ghế trên. Khách đ**m có ba tầng, tầng một làm quán ăn, tầng hai ba làm phòng trọ. Chủ quán dâng rượu và thức ăn, mời Triệu Ngai và Chân Chân dùng bữa tối, lại ngồi tiếp chuyện, Chân Chân mới biết ông ta họ Củng, nhà ông ta vốn là tá điền gần đó, vì ruộng đồng bị ngập, không thể tiếp tục canh tác, cha nương c.h.ế.t vì nghèo đói, anh em đi nơi khác kiếm sống, bản thân ông ta ốm yếu, không thể đi xa, vốn định đến phủ nha xin một chân nha dịch, cũng vì lớn tuổi, sức khỏe lại không tốt, không được toại nguyện. May mà gặp Triệu Ngai, Triệu Ngai nói chuyện với ông ta một hồi cảm thấy ông ta có chút đầu óc kinh doanh, lại biết nơi này có căn nhà đang cho thuê, bèn tự mình cho ông ta vay tiền thuê nhà mở quán này. Củng chủ quán mang ơn Triệu Ngai đội đá vá trời, liên tục khen ngợi chàng với Chân Chân, ngoài nhân phẩm đức hạnh, còn tán dương ngoại hình tài năng của chàng không ngớt, cứ như muốn làm mai cho Chân Chân vậy, nhiệt tình nhìn nàng tiến cử, khiến Chân Chân khá ngượng ngùng. Triệu Ngai ngược lại thần thái tự nhiên, cười nhẹ hỏi ông ta việc làm ăn gần đây thế nào, ông ta nói: "Nhờ phúc của Phán phủ, tìm cho ta căn nhà vị trí tốt thế này, người qua lại phủ Ninh Quốc từ phía đông và phía bắc rất nhiều người phải đi qua đây, khách ăn uống trọ lại không ít, ước chừng qua một hai năm nữa, tiền của Phán phủ ta có thể trả được rồi, còn biếu thêm cả tiền lãi nữa." Sau bữa tối Chân Chân thấy trời đã tối đen, vội bảo Triệu Ngai đưa nàng về nhà, Triệu Ngai chưa kịp trả lời Củng chủ quán đã tranh lời nói với Chân Chân: "Muộn thế này rồi, đi đường đêm không an toàn. Quán ta tuy nhỏ, phòng khách sạch sẽ thì cũng có vài gian. Tầng ba có một phòng lớn thượng hạng, tối nay đang trống, rất hợp cho tiểu nương t.ử ở." Chân Chân đâu chịu ở lại, vẫn nói muốn về nhà, nhưng nhìn màn đêm đen kịt bên ngoài, trong lòng cũng có chút lo sợ, Triệu Ngai thấy vậy bèn nói với nàng: "Đường núi hoang dã không như trong thành, ban đêm nếu lỡ bước vào đầm lầy ao hồ, sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Chi bằng ở lại đây vài canh giờ, đợi mặt trời mọc ta sẽ đưa nàng về." Chân Chân do dự, Triệu Ngai lại mỉm cười nói: "Chẳng phải nàng nói muốn giúp ta cân nhắc nội dung tấu chương sao? Chúng ta chi bằng đêm nay hoàn thành luôn. Hơn nữa gian phòng tầng ba kia có thể ngắm mặt trời mọc, khi húc nhật đông thăng muôn vàn tia nắng vàng rải xuống cánh đồng bát ngát mênh mông, có một cảm giác tráng lệ rung động lòng người, chúng ta bàn bạc đến lúc đó, vừa khéo ngắm cảnh." Cân nhắc vấn đề an toàn khi đi đêm, lại có đôi phần mong đợi cảnh tượng Triệu Ngai miêu tả, Chân Chân suy tính hồi lâu, cuối cùng đồng ý ở lại, nhưng yêu cầu chỉ bàn tấu chương, chong đèn suốt đêm, không được nằm ngủ. Triệu Ngai tự nhiên đồng ý ngay, sau đó Củng chủ quán dẫn họ lên lầu, Triệu Ngai đi thẳng đến gian phòng lớn rộng rãi đó, bên trong nhìn quả thực trang nhã sạch sẽ, đồ đạc đầy đủ, ngoài màn trướng, có án thư bàn ghế, văn phòng tứ bảo cũng có đủ cả. Củng chủ quán dâng trà nước và đủ nến đèn, liền cúi người cáo lui, khi đi khép cửa lại, Chân Chân lập tức chạy ra mở ra. Triệu Ngai thấy tầng ba không còn ai khác, cũng không so đo, mỉm cười lấy giấy bút, bắt đầu ấp ủ viết tấu chương. Rõ ràng muốn viết gì chàng đã suy tính kỹ càng, bàn bạc qua với Chân Chân một chút, liền hạ bút viết trôi chảy, như có thần giúp. Trước tiên nói việc hai tên Lý, Đinh vơ vét của dân, làm trái pháp luật kỷ cương, lại chỉ thẳng cái tệ quan thừa: "Thần được mệnh Phán phủ, nay chuyên ủy thác Trưởng sử, Tư mã, là đặt thần vào chỗ vô dụng. Huống hồ một quận đặt ba Phán phủ, thần sợ quan lại dân chúng tranh chấp không thống nhất, chỉ thấy thêm rối loạn." Và đề nghị Hoàng đế xác định rõ để mình quản lý hai quan chức kia, nắm quyền quyết sách cuối cùng của phủ Ninh Quốc: "Trưởng sử, Tư mã nên chủ quản tiền lương, kiện tụng, để soạn trình thần y theo mà phán, mong trên dưới yên ổn, việc càng dễ trị." Viết xong chàng cho Chân Chân xem, Chân Chân cũng tán thành nội dung chàng viết, chàng bèn nói: "Đợi Vệ Thanh Tầm gửi khế ước quan điền tới, tấu chương và bằng chứng ta thu thập có thể cùng dâng lên Quan gia rồi. Hy vọng Quan gia tiếp nhận lời can gián của ta, bãi miễn hai tên Lý, Đinh, cho dù có bổ nhiệm Trưởng sử, Tư mã mới, cũng bắt họ phải nhất nhất nghe theo ta." Cất kỹ tấu chương, Triệu Ngai gợi ý Chân Chân vào gian trong chợp mắt một lát, Chân Chân cứ lắc đầu, dù thế nào cũng không chịu nằm xuống, Triệu Ngai bèn không khuyên nữa, tự mình bồi chuyện nàng câu được câu chăng. Cứ thế qua rất lâu, Chân Chân không chống đỡ nổi nữa, gục xuống bàn ngủ thiếp đi. Mơ màng ngủ một lúc, bỗng nghe Triệu Ngai nói: "Trời sắp sáng rồi." Chân Chân lập tức mở mắt, nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời quả thực dần sáng, nhưng không hiểu sao, phía chân trời ngoài cánh đồng mãi không thấy mặt trời đỏ ló rạng. "Mặt trời đâu?" Chân Chân khó hiểu hỏi. "Có lẽ bị mây che rồi." Triệu Ngai kéo hai cái ghế đặt bên cửa sổ, "Lại đây canh, chắc sắp thấy rồi." Chân Chân đi đến bên cửa sổ ngồi xuống, Triệu Ngai cũng ngồi xuống chiếc ghế kia, cùng nàng sóng vai nhìn ra xa, tĩnh lặng đợi mặt trời mọc. Sắc xanh giữa đất trời dần nhạt đi, ngoài cửa sổ bắt đầu tràn ngập ánh nắng, nhưng mặt trời đỏ mà Chân Chân một lòng mong đợi mãi vẫn chưa xuất hiện, nàng bắt đầu nhận ra có gì đó sai sai, sa sầm mặt quay sang nhìn Triệu Ngai: "Trời sáng bảnh rồi, mặt trời mọc huynh nói đâu?" "Ồ, ta nhớ nhầm." Triệu Ngai ở khoảng cách gần nhìn thẳng vào mắt nàng, tự nhiên đưa tay gạt đi một chút tơ liễu gió đưa tới vương trên lông mày nàng, điềm nhiên như không nói, "Phòng này hướng Tây." Để về nhà sớm nhất có thể, Chân Chân lại bị buộc phải đi chung ngựa với chàng, để chàng đưa mình về, nhưng đến đầu làng, Chân Chân kiên quyết xuống ngựa, tự mình đi bộ về nhà. Triệu Ngai cũng xuống ngựa, dắt ngựa đi theo sau lưng nàng, luôn hộ tống nàng. Rất nhanh có dân làng nhìn thấy họ, vì Triệu Ngai từng nhiều lần đến đây thị sát, còn có người nhận ra chàng, lớn tiếng gọi: "Đó chẳng phải Triệu Phán phủ sao!" Trong làng lập tức náo nhiệt hẳn lên, người đi đường xúm lại hành lễ chào hỏi Triệu Ngai, người vốn ở trong nhà cũng nghe tiếng mở cửa mở sổ, ai nấy nhiệt liệt tranh nhau gọi "Triệu Phán phủ" hoặc "Ngụy Vương". Triệu Ngai mỉm cười tiếp tục đi theo Chân Chân, đối mặt với tiếng gọi của dân chúng, thỉnh thoảng gật đầu đáp lại. Mọi người phát hiện chàng đi cùng Chân Chân, có người bèn thẳng thắn hỏi: "Triệu Phán phủ đây là muốn đến nhà Tống nương tử?" Chân Chân thầm kêu khổ, còn Triệu Ngai giữ nụ cười, bình thản đáp: "Trên đường tình cờ gặp Tống nương tử, tiện đường đưa cô ấy về nhà." Tất cả mọi người đều cảm thấy sự "tình cờ" này không đơn giản, nhưng đều nở nụ cười hiểu ý, tỏ vẻ họ đều hiểu cả, càng nhiệt tình mời mọc: "Vậy Triệu Phán phủ ở nhà Tống nương t.ử chơi lâu chút, đừng vội về nhé!" Những lời này khiến Chân Chân nghe như kim châm sau lưng, khó khăn lắm mới về đến ngoài cổng viện nhà mình, nàng lập tức ra lệnh cho Triệu Ngai dừng bước, Triệu Ngai cười hỏi: "Đưa nàng đi quãng đường xa thế này, nàng không mời ta vào nhà ngồi một chút?" Chân Chân lạnh mặt nói: "Huynh làm thế sẽ hủy hoại danh tiết của muội." "Dù sao trông nàng cũng không định lấy chồng nữa, vậy thì danh tiếng tốt một chút hay xấu một chút dường như cũng chẳng sao. Nếu danh tiếng của nàng rốt cuộc có ngày bị người ta hủy hoại, thì ta hy vọng người đó là ta." Triệu Ngai mỉm cười nói, dường như khôi phục lại sự vui vẻ và tự tin của ngày đầu gặp nàng. Trước khi quay đầu rời đi, nụ cười trên môi chàng nhạt dần, nghiêm túc nói với nàng: "Từ nay về sau, chắc sẽ không có ai dám đ.á.n.h chủ ý lên nàng nữa đâu." Chương 120 - Trong Giấc Mộng Say Từ đó về sau, số lần Triệu Khải lui tới Trạm Nhạc Lâu ngày một nhiều, thường không phải với tư cách thực khách đến dùng bữa, mà giống như người quen cũ, ân cần hỏi han những người gặp ở đây, vui vẻ lắng nghe câu chuyện của họ, giải quyết khó khăn giúp họ. Để tránh hiềm nghi, Chân Chân ít khi đáp lời chàng, chàng bèn thường xuyên trò chuyện với Tống bà bà. Khi biết Tống bà bà năm xưa từng bán canh cá ở Lâm An, chàng lập tức tỏ vẻ ngưỡng mộ đã lâu, như sấm bên tai: "Ta còn nhớ Tiên đế cứ cách hai ba ngày lại sai người đi mua canh cá của bà. Tiên đế xưa nay thương yêu ba anh em chúng ta nhất, trân kỳ dị bảo, sơn hào hải vị gì cũng thường ban thưởng rất nhiều, duy chỉ có canh cá mua về là không nỡ chia cho chúng ta ăn. Có lần trung quan mua về lúc Tiên đế còn đang nghị sự với đại thần, trung quan đặt canh cá ở điện Phúc Ninh, bị ta và Tam ca lén ăn vụng, Tiên đế về mắng chúng ta một trận tơi bời, còn suýt nữa đích thân cầm phất trần đ.á.n.h vào bắp chân chúng ta." Tống bà bà nghe xong che miệng cười, nói: "Tuy Tiên đế quả thực từng sai người mua canh cá của già này mấy lần, nhưng Đại vương mô tả thế này thì quá lời rồi... Lúc già này rời Lâm An, mấy anh em Đại vương chắc còn chưa ra đời đâu!" Thiện ý Triệu Khải dành cho Tống bà bà không chỉ dừng lại ở lời nói khen tặng, hễ thấy bà làm việc chàng đều ra tay giúp đỡ, từ muối cá muối tôm đến phơi rau khô, chàng đều đích thân động tay phụ giúp. Một lần Chân Chân từ ngoài về, thấy Triệu Khải đang xắn tay áo giúp Tống bà bà khiêng một phiến đá xanh dày nặng đè lên thịt muối đã ướp muối để ép nước, vội vàng ngăn lại: "Đại vương thân ngàn vàng, sao có thể làm những việc nặng nhọc thế này." "Đi đi, đừng cản trở ta." Triệu Khải xua tay, lau mồ hôi trên trán, lại tiếp tục khiêng phiến đá, "Ta đây là đi sâu vào xóm làng, thấu hiểu dân tình." Tình ý của Triệu Khải đối với Chân Chân, Tống bà bà cũng nhìn ra, lén hỏi Chân Chân có tình cảm với chàng không, đêm không về kia có phải ở cùng chàng không, Chân Chân kiên quyết phủ nhận, nói đêm đó chỉ vì có việc lỡ dở nên ngủ lại khách đm trong thành, sáng hôm sau mới tình cờ gặp chàng, chàng xưa nay yêu dân như con, không nỡ thấy nàng đi một mình mới đưa nàng về nhà. Tống bà bà trong lòng biết chuyện giữa họ chắc chắn không chỉ dừng lại ở đó, nhưng cũng không truy hỏi thêm, chỉ than rằng: "Ta thấy Ngụy Vương khác với những kẻ háo sắc trêu hoa ghẹo nguyệt, đối với cô rất tận tâm, cũng là người tốt có thể gửi gắm cả đời, có điều... thân phận quá cao quý, cô gả cho ngài ấy, chỉ có thể làm thiếp." Ngoài Triệu Khải, khách quen của Trạm Nhạc Lâu còn có Vệ Thanh Tầm. Cô ta lần lượt dẫn mấy nhóm bạn đến, bảo Chân Chân dùng rượu ngon món lạ tiếp đãi, bản thân âm thầm quan sát nguyên liệu và món ăn Chân Chân chuẩn bị, giữa lúc cười nói với khách cũng không quên tỉ mỉ nếm thử, lẳng lặng phân biệt mùi vị. Vài lần như vậy, cô ta một mình đến tìm Chân Chân, hỏi nàng: "Ta phát hiện cùng một món ăn, cô chưa chắc lần nào cũng làm giống hệt nhau. Ví dụ như món canh cá, có lúc rất chua, có lúc lại hoàn toàn không có vị giấm; có lúc nước canh màu vàng nâu, có lúc lại trắng như sữa; có lúc thịt cá thái sợi, thái lát, có lúc lại nghiền nát như nhung... Chẳng lẽ cô vẫn đang tìm tòi, chưa cố định được cách làm?" Chân Chân đáp: "Cách làm không phải chưa cố định, mà là tùy người mà thay đổi. Nhóm khách đầu tiên cô dẫn đến đều là người làm ăn, lại toàn đàn ông ba bốn mươi tuổi, họ thích vị đậm đà béo ngậy, nên ta dùng nước luộc thịt gia cầm nấu lát cá vược, thêm măng sợi, giăm bông, nấm hương thái sợi, câu kiềm (làm sánh nước), nêm giấm, để vị tươi ngon, lại có thể mượn vị chua giải ngấy. Lần thứ hai cô dẫn đến là đôi vợ chồng mở tiệm hương liệu ở Quảng Châu, dẫn theo một bé gái bảy tám tuổi. Người Quảng Châu uống canh không thích nêm nếm quá nhiều, thích vị nguyên bản của thực phẩm, làm nghề hương liệu, để giữ khứu giác nhạy bén, cũng không tiện ăn đồ có vị k*ch th*ch, hơn nữa bé gái kia đang thay răng, không nên ăn chua, nên ta dùng vài loại cá tươi theo mùa hầm thành nước canh trắng đặc, hoàn toàn không thêm giấm, không câu kiềm, nấu sợi thịt cá quế mịn màng hơn, không dùng măng sợi có xơ to, đổi sang dùng sợi rau diếp và sợi cà rốt thái như râu rồng, để cảm giác khi ăn mềm mại hơn, lại có sợi xanh sợi cam điểm xuyết, màu canh đẹp hơn... Còn một lần, khách đến là Vương Nội hàn đã về hưu cùng nương già gần tám mươi tuổi. Vương lão phu nhân răng đã rụng nhiều, nên ta cải tiến trên nền tảng món canh cá cho khách Quảng Châu, nghiền thịt cá thành nhung, băm nhỏ nguyên liệu phụ, hầm nấu câu kiềm thành canh, rồi mới mời lão phu nhân dùng." "Canh cá Tống tẩu nhiều năm trước đã danh tiếng vang thiên hạ, nay cô lại có tâm tư tùy người mà biến đổi này, trò giỏi hơn thầy chỉ là chuyện sớm muộn." Vệ Thanh Tầm khen ngợi, rồi khẽ phe phẩy chiếc quạt xếp, mỉm cười nói: "Ta muốn mua lại tửu lâu này của cô, sau đó mời cô đến Lộc Minh Lâu làm bếp trưởng. Cô ra giá đi, ta tự nhiên sẽ không để cô thiệt thòi." Chân Chân lắc đầu: "Ta không muốn bán Trạm Nhạc Lâu. Quán tuy nhỏ, nhưng cũng là do ta một tay gây dựng, giống như con của mình vậy, sẽ không tùy tiện bán cho người khác." Vệ Thanh Tầm nói: "Trạm Nhạc Lâu bán cho ta không có nghĩa là biến mất, có lẽ chúng ta có thể hợp tác. Ta đưa cô một khoản tiền, cô chuyển nhượng quyền kinh doanh Trạm Nhạc Lâu cho ta, nhưng từ nay về sau cô toàn quyền phụ trách việc định ra thực đơn và quản lý, chỉ đạo đầu bếp và nhân viên bếp của cả Lộc Minh Lâu và Trạm Nhạc Lâu, ta sẽ định kỳ trích một phần lợi nhuận từ hai tửu lâu này cho cô. Còn bao nhiêu, cô có thể thương lượng với ta. Như vậy, cô không mất đi đứa con của mình, mà lại có thêm một đứa con lớn nữa, sao lại không làm?" Chân Chân vẫn khéo léo từ chối: "Đa tạ Vệ lâu chủ cho ta cơ hội này, nhưng ta tự thấy năng lực có hạn, kinh doanh tốt quán nhỏ của mình đã không dễ, không dám mạo muội can dự vào việc của Lộc Minh Lâu." Vệ Thanh Tầm cũng không ép nàng, cười nhạt nói: "Nếu cô thấy không ổn, ta cũng không ép người quá đáng. Nhưng vẫn mong cô suy nghĩ thêm một chút, sau này nếu có ý định, bất cứ lúc nào cũng có thể tìm ta thương lượng." Tấu chương của Triệu Khải dâng lên Hoàng đế, Hoàng đế lập tức lệnh cho Ngự sử đài điều tra chuyện Lý Đường, Đinh Hi Nghiêu. Ngự sử đài nhanh chóng phái quan lại đến phủ Ninh Quốc tra xét kỹ tình tiết vụ án, Triệu Khải đã sớm chuẩn bị đầy đủ nhân chứng vật chứng, tội danh hai tên Lý, Đinh mượn danh mục thuế má hà khắc để sung vào tiễn dư, bán ruộng công giá trên trời, bán trộm nguồn nước được xác thực, bị cách chức trị tội, Hoàng đế cũng cuối cùng quyết định nghe theo lời thỉnh cầu của Triệu Khải, để Trưởng sử và Tư mã mới nhậm chức phải nghe lệnh chàng, công việc quản lý đều phải báo cáo Triệu Khải, do Triệu Khải quyết định. Từ đó, Triệu Khải cầu được ước thấy, giành được thực quyền Phán phủ mà chàng mong muốn. Hôm đó chiếu lệnh của Hoàng đế truyền đến phủ Ninh Quốc thì trời đã tối, Triệu Khải tiếp chỉ xong không nén được niềm vui trong lòng, nóng lòng muốn chia sẻ tin tốt này với Chân Chân, bèn vung roi thúc ngựa, đạp ánh trăng, phi về phía Trạm Nhạc Lâu. Đến trước cổng viện Trạm Nhạc Lâu, Tiểu Âu nghe tiếng ngựa hí, ra ngoài xem, ngạc nhiên hỏi Triệu Khải: "Muộn thế này rồi, Đại vương còn đến đây?" Triệu Khải buộc ngựa xong, nói với cô bé: "Có chút việc gấp muốn nói với Tống nương tử... Nàng ấy có đó không?" "Có ạ." Tiểu Âu nói, "Nương t.ử có thói quen mỗi bữa đều uống một chén rượu mơ, năm nay sau khi mơ xanh chín nương t.ử liền nhờ Tống bà bà dạy cách dùng quả ủ rượu. Hôm nay rượu nương t.ử tự tay ủ uống được rồi, bữa tối nương t.ử và Tống bà bà đối ẩm một hồi lâu. Sau đó Tống bà bà không chịu nổi, về phòng trước, nương t.ử vẫn uống không ngừng..." Nói rồi cô bé hất hàm về phía tầng hai, "Đấy, bây giờ vẫn đang một mình uống rượu trên lầu kia kìa." Mỗi bữa đều uống rượu? Triệu Khải sải bước đi lên lầu, vừa đi vừa nghĩ: Nàng ấy hình thành thói quen này từ bao giờ? Trước đây hình như không có. Lên đến tầng hai, Triệu Khải thấy Chân Chân đang gục đầu ngủ trên bàn tròn trong sảnh, trước mặt bày một bộ đồ rượu bằng lưu ly trắng, bình rượu và chén rượu đều như được tạc từ băng, gần như trong suốt. Trong bình vẫn còn non nửa bình rượu màu vàng nhạt, Triệu Khải rót một chén, uống một hơi cạn sạch, chỉ thấy ngọt ngào như mật, lại thơm ngát dễ chịu. Bên cạnh bộ đồ rượu còn có một chiếc bình mai gốm thanh sứ Việt Châu vẽ hoa sen dây leo lớn hơn, dùng để trữ rượu, cũng gọi là "Kinh Rượu", Triệu Khải xách lên lắc lắc, cảm thấy bên trong chỉ còn nửa bình rượu, không khỏi cười than cho sự tham chén của Chân Chân, nhìn đôi má nàng đỏ hây hây như ráng chiều, thần thái say sưa ngủ say, lại nảy sinh lòng thương xót, ánh mắt dịu dàng bao phủ nàng giây lát, chàng cúi người, bế bổng nàng lên, đưa vào phòng ngủ bên trong, muốn để nàng nghỉ ngơi t.ử tế. Khi đặt nàng xuống giường, nàng bỗng giật mình tỉnh giấc, đôi mắt sao hé mở, trong bóng tối nắm chặt hai cánh tay chàng, không dám tin hỏi lại: "Huynh... huynh đến rồi?" "Ừ." Chàng khẽ đáp, không kìm được đưa tay vt v* khuôn mặt nóng hổi của nàng, nói: "Rượu này ngon thế sao? Khiến nàng tham chén đến mức này." "Rượu này chẳng ngon chút nào, xấu xa y hệt như huynh vậy." Giọng Chân Chân sau khi uống rượu hơi lè nhè, lúc này lọt vào tai chàng lại đầy vẻ nũng nịu lười biếng, "Ngọt ngào, lừa người ta tưởng là nước đường, uống hết chén này đến chén khác, bất tri bất giác, lại bị huynh làm cho say." Nàng đang miêu tả ta sao? Triệu Khải kinh ngạc xong ngay sau đó cảm thấy một cơn cuồng hỉ ập tới: Ý nàng là, bất tri bất giác bị ta làm cảm động, đợi khi nhận ra, đã tình khó tự kìm? Chân Chân mắt say lờ đờ đ.ấ.m nhẹ vào n.g.ự.c chàng: "Từng bước từng bước dụ dỗ muội sa ngã, khiến muội khó chịu thế này, huynh thật xấu xa..." Chàng mỉm cười nắm lấy tay nàng: "Không đến mức đó, không đến mức đó... Ta không phải rượu mạnh, sẽ không khiến nàng đau đầu hại thân." "Không đau đầu, nhưng gây nghiện." Nàng đưa hai tay vòng qua eo chàng, nép vào n.g.ự.c chàng, "Khi muội nhận ra cái tốt của huynh, thì ngày nào cũng muốn gặp huynh, một khắc cũng không muốn rời xa huynh." Sự thân mật bất ngờ của nàng quả thực khiến chàng luống cuống tay chân, chỉ thấy cảnh này như mộng như ảo, chàng tràn đầy vui sướng ôm chặt lấy nàng, thầm nghĩ nàng ngày thường che giấu kỹ thật, nếu không phải đêm nay rượu vào lời ra, chàng còn chẳng nhận ra nàng đã tình sâu nghĩa nặng với chàng đến mức này. "Haizz, đây liệu có phải lại là mơ không? Là mơ cũng không sao, chỉ cần huynh ở lại trong giấc mơ của muội lâu thêm một chút, muội đã vui lắm rồi..." Nàng nhắm mắt, vùi đầu vào lòng chàng, lẩm bẩm như nói mớ gọi, "Điện hạ..." Tiếng gọi này khiến chàng như bị sét đánh, niềm vui sướng ban nãy tan biến sạch sành sanh, ngay sau đó dâng lên trong lòng là một nỗi tuyệt vọng, giận dữ, xấu hổ cùng sự tủi thân và bi thương bất lực. Những cảm xúc đan xen này khiến chàng không tự chủ được bắt đầu run rẩy, một giọt nước mắt cũng khó kìm nén trào ra khỏi hốc mắt, rơi xuống trán nàng. Nàng cảm nhận được giọt lệ của chàng, khó hiểu ngẩng đầu, chạm vào má chàng: "Sao chàng lại khóc, Điện hạ?" Chàng không đáp, cũng không đủ dũng khí đẩy nàng ra, chỉ im lặng, cố gắng hít sâu, kìm nén cơn uất khí đang chực trào dâng trong lồng ngực. "Chàng buồn vì thiếp sao?" Nàng khẽ thở dài, "Thiếp không sao rồi... Đã quen với những ngày không có chàng, mỗi ngày mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, ăn uống như thường, biết nói biết cười... Ngoại trừ mỗi bữa ăn sẽ uống thêm một chén rượu mơ, mọi thứ chẳng khác gì lúc còn con gái..." Lòng chàng càng thêm đau đớn, lại có những giọt lệ nối tiếp nhau rơi xuống. Nàng chống người ngồi dậy đối diện với chàng, đưa tay dò dẫm tìm khuôn mặt chàng, s* s**ng đỡ lấy hai má chàng, hôn lên đôi mắt đẫm lệ của chàng, hôn bên trái, lại hôn bên phải, mím đi vệt nước mắt, rồi đôi môi thuận đà trượt xuống, in lên đôi môi chàng. Cảm nhận được sự ngẩn ngơ trong khoảnh khắc của chàng, nàng buông tay, dừng lại một chút, rồi lại tiếp tục từng cái từng cái, hôn lên môi chàng. Sự thân mật kín đáo mà nàng chủ động trao tặng, là cảnh tượng chàng từng vô số lần mơ tưởng trong những đêm vắng người, nhưng hoàn toàn không ngờ lại xảy ra trong tình huống thế này. Tình yêu sâu kín trong lòng khiến chàng không kìm được bắt đầu đáp lại nụ hôn của nàng, nhưng không thể thuyết phục bản thân phớt lờ sự thật trước mắt - mỗi nụ hôn của nàng lúc này đều đang bày tỏ tình yêu với Đại ca. Chàng cũng chính trong sự nhiệt tình khác thường này của nàng mà nhận thức sâu sắc, nàng và Đại ca từng yêu nhau nồng nàn đến nhường nào. Chàng vừa rơi lệ vừa tiếp tục nụ hôn đau khổ này, giống như nhấm nháp từng giọt độc d.ư.ợ.c ngọt ngào, cho đến khi cảm thấy d.ụ.c vọng cũng như nỗi đau có xu hướng mất kiểm soát, ngọn lửa dần bùng lên sắp thiêu rụi chàng, chàng mới ấn nàng vào ngực, kìm kẹp nàng, không cho nàng cử động nữa. Nàng im lặng một lúc, dần dần ngủ thiếp đi trong vòng tay chàng. Chàng đặt nàng nằm yên giấc trên giường, đắp chăn gấm cho nàng, mới chậm rãi lui ra ngoài. "Đừng nói với nương t.ử ta đêm nay từng đến." Trước khi rời đi, chàng đưa cho Tiểu Âu đang canh giữ trong sân không ít tiền, dặn dò như vậy. Chương 121 - Chương 121 Sau đêm đó Triệu Khải rất lâu không đến Trạm Nhạc Lâu, Chân Chân nghe thực khách khác nói từ khi chàng nắm thực quyền đã bận rộn hơn nhiều, ngoài việc phê duyệt công văn hàng ngày, còn thường xuyên bôn ba khắp các vùng nông thôn, kiểm tra tình trạng ruộng đồng còn sót lại, trù tính tu sửa và xây mới quan vu. Chân Chân tiếp tục bình lặng kinh doanh tửu lâu của mình, một ngày nọ Vệ Thanh Tầm lại sai người đến đặt tiệc trưa hôm sau, nói muốn dẫn một vị khách quý tới. Chân Chân chuẩn bị nguyên liệu như thường lệ. Giờ Tỵ hôm sau, Vệ Thanh Tầm và một nam t.ử mỗi người cưỡi một con ngựa, trước sau mà đến, Chân Chân ra ngoài đón tiếp, phát hiện nam t.ử đó lại là Triệu Khải đã xa cách bao ngày. Nay đã vào hạ, ánh nắng chói chang, xem ra chàng quả nhiên thường đi tuần tra khắp nơi, làn da đã bị nắng nhuộm thành màu lúa mạch ấm áp, thần sắc cũng khá mệt mỏi, nhưng nhìn thấy Chân Chân và Tống bà bà, vẫn cười sảng khoái, hàm răng lộ ra được làn da làm nền trông trắng hơn trước nhiều. Vệ Thanh Tầm mang theo vài con cá nóc tươi sống, giao cho Chân Chân, nói: "Có người bạn tặng ta ít cá nóc, đúng lúc Ngụy Vương trả lại tiền mua quan điền cho ta, ta muốn mở tiệc mời ngài ấy, tỏ chút lòng cảm tạ, bèn bảo bếp trưởng Lộc Minh Lâu nấu món cá nóc này mời Ngụy Vương thưởng thức, ngờ đâu bếp trưởng lại nói cá nóc mùa này độc tính mạnh, hắn không dám nấu cho Đại vương. Ta nghĩ đi nghĩ lại, đoán chừng cả cái phủ Ninh Quốc rộng lớn này, cũng chỉ có Tống bà bà có kỹ nghệ và sự tự tin làm tốt món cá nóc này thôi." Tống bà bà cũng không từ chối, hào phóng nhận lời, mời Triệu Khải và Vệ Thanh Tầm vào trong ngồi ghế trên. Vệ Thanh Tầm không vào ngay, mà vớt một con cá nóc từ trong thùng ra, hai tay nâng niu cho Chân Chân xem. Con cá nóc đó lưng có vân, bụng trắng tinh, có gai nhỏ li ti, bị k*ch th*ch liền hít vào lượng lớn không khí, dạ dày phình to gấp mấy lần, thân mình bỗng chốc trở nên tròn vo, bụng như quả bóng nhỏ, trông rất đáng yêu. Vệ Thanh Tầm mỉm cười ghé tai Chân Chân thì thầm: "Có giống dáng vẻ ai đó lúc giận dỗi không?" Chân Chân liếc nhìn Triệu Khải, chàng đang quan sát nàng và Vệ Thanh Tầm, thấy vẻ mặt Vệ Thanh Tầm và Chân Chân thì thầm to nhỏ, nụ cười vụt tắt, dáng vẻ mím môi phồng má không vui quả thực có nét thần tựa với con cá nóc. Chân Chân buồn cười, lại thấy không ổn, cúi đầu nhận lấy con cá nóc trong tay Vệ Thanh Tầm, bảo Tiểu Âu dẫn Ngụy Vương và Vệ lâu chủ lên lầu ngồi, mình theo Tống bà bà vào bếp, hai người thắt đai tay áo, bắt đầu làm việc. Tống bà bà lấy một con cá nóc rửa sạch, ấn lên thớt, cầm con d.a.o sắc, xoẹt xoẹt mấy đường gọn gàng cắt bỏ vây và đuôi cá, rồi bắt đầu từ phía trước mắt cá, cắt toàn bộ phần miệng cá xuống, lại lật ngược thân cá, rạch mỗi bên một đường, sau đó mũi d.a.o khẽ khều, luồn xuống dưới da cá gạt một cái, tay thuận thế xé, da cá liền được lột nguyên vẹn khỏi thân cá. Sau đó Tống bà bà cắt bỏ mắt cá, m.ổ b.ụ.n.g bỏ nội tạng, vừa làm vừa nói với Chân Chân: "Độc tố của cá nóc chủ yếu nằm ở máu, mắt và nội tạng trừ tinh sào bạch t.ử (t*nh hn cá). Buồng trứng và gan độc tính mạnh nhất, lúc giao mùa xuân hạ, cá cái sắp đẻ trứng là độc nhất. Thịt cá không độc, nếu xử lý thỏa đáng, bỏ sạch nội tạng gân máu, là có thể ăn được. Bạch t.ử và da cá độc tính rất nhỏ, bạch t.ử mềm mượt non mịn, còn gọi là 'Tây Thi nhũ', da cá kho tàu nhiều chất keo, vị giống diềm ba ba, cũng có thể chiên giòn, làm khéo cũng rất ngon, nhưng không nên ăn nhiều." Bà hướng dẫn Chân Chân xử lý xong mấy con cá nóc, cẩn thận loại bỏ nội tạng, đặt thịt cá dưới vòi nước chảy xối rửa nhiều lần, dặn dò Chân Chân: "Nhất định phải nhớ, khi bỏ nội tạng không được làm vỡ nội tạng, ví dụ như túi mật, dịch mật một khi dính vào thịt cá, dù có xối rửa hầm nấu thế nào độc tố cũng khó hết sạch." Bà đem một phần thịt cá xương cá đã rửa sạch chiên sơ qua, dùng nước dùng hầm nấu, lại đổi một cái thớt sạch, đặt phần thịt cá còn lại lên, lấy một con d.a.o chuyên thái gỏi khác, bắt đầu đưa d.a.o từ trên xuống dưới, thái nghiêng thịt cá thành những lát mỏng như tờ giấy trong suốt. Nhưng công phu d.a.o thớt tỉ mỉ này rất tốn thị lực, bà tuổi đã cao, mắt mờ, thái khá tốn sức, bèn giao d.a.o cho Chân Chân, để nàng thái. Chân Chân hơi do dự, chuyện gỏi cá vược đã trở thành bóng đen sâu nặng trong lòng nàng, đến nay nàng vẫn không thể xác định cái c.h.ế.t của Thái t.ử có liên quan đến gỏi cá hay không, từ đó về sau luôn tránh làm gỏi, trong thực đơn của Trạm Nhạc Lâu cũng chưa từng có món gỏi cá. Bây giờ tuy đã nhận lấy con d.a.o của Tống bà bà, nhưng chần chừ mãi không đưa d.a.o thái miếng thịt cá kia. "Cô sợ thịt cá còn sót độc tố, làm gỏi sẽ hại người sao?" Tống bà bà hỏi, ngay sau đó lại nói, "Yên tâm, ta đã xử lý tốt rồi, không có sơ sót đâu... Bản thân nguyên liệu không hại người, hại người là lòng người chứa độc tố." Chân Chân khẽ giật mình, sau đó phấn chấn tinh thần, định thần bắt đầu thái gỏi. Từng lát gỏi cá như dải lụa băng bay ra từ lưỡi dao, trong cảm giác khoái trá khi đưa d.a.o như này, nàng bắt đầu cảm thấy Tống Đào Sênh ở Trạm Nhạc Lâu giờ phút này và Ngô Chân Chân vui vẻ tự tin ở Thượng thực cục đang dần dần gặp gỡ. Gỏi cá nóc thái xong, bày biện lên đĩa, canh cá cũng đã hầm thành màu trắng sữa. Tống bà bà lại thêm rau cải trắng rau, lâu hao - một loại ngải cứu, mầm lau sậy (địch nha) vào canh nấu cùng, bảo Chân Chân: "Người địa phương ăn cá nóc, đều sẽ thêm ba loại rau này nấu cùng. Ta mấy chục năm nay, chưa từng nghe ai ăn cá nóc nấu kiểu này mà trúng độc cả." Tống bà bà chiên thêm ít da cá, nướng bạch tử, phối với nước chấm, cùng với canh cá, gỏi cá, dâng lên trước mặt Triệu Khải và Vệ Thanh Tầm. Vệ Thanh Tầm nhiệt tình mời mọc, mời Tống bà bà và Chân Chân ngồi xuống cùng ăn, Tống bà bà năm lần bảy lượt từ chối, Chân Chân thầm nghĩ, nếu là tiệc bình thường, tự nhiên không tiện ngồi ăn cùng khách, nhưng hôm nay nguyên liệu khác biệt, lẽ ra nên thử độc trước cho khách. Bèn ngồi xuống, bảo Tiểu Âu chuẩn bị bát đũa cho mình. Tống bà bà thấy nàng nhận lời vào tiệc, cũng ngồi vào theo. Trong các món này, Triệu Khải dường như hứng thú nhất với gỏi cá nóc, là người đầu tiên đưa đũa gắp gỏi cá. Chân Chân vội xin chàng đợi một chút, nghiêng người nói: "Thịt cá tuy đã qua xối rửa nhiều lần, theo lý thuyết là không độc, nhưng để phòng vạn nhất, xin cho phép ta thử độc trước cho Đại vương." Triệu Khải lại lắc đầu, thản nhiên nói một câu: "Ta tin nàng, nàng sẽ không hại ta đâu." Rồi dứt khoát gắp một lát gỏi cá, chấm nước sốt, đưa vào miệng, một lát sau, cười với Tống bà bà: "Thanh mát tươi ngon." "Câu nói vừa rồi của Đại vương, nghe quen tai lắm." Tống bà bà cũng cười nói, "Ta trước đây có hai người hàng xóm, người vợ trong đó cũng theo ta học chế biến cá nóc. Phu quân cô ấy cả ngày đọc sách hoặc đi ra ngoài, đối với vợ cứ lạnh nhạt hờ hững, ta cứ tưởng hắn không mấy thích vợ mình, nhưng khi vợ hắn lần đầu tiên dưới sự hướng dẫn của ta làm xong món cá nóc, tự xin thử độc trước cho chồng, chồng cô ấy cũng ăn thẳng như vậy, nói: 'Nàng sẽ không hại ta đâu.'" Nói đến đây, bà nhìn trái nhìn phải Triệu Khải và Chân Chân, nở nụ cười hiền từ. Chân Chân nghe xong liền hỏi Tống bà bà: "Người bà nói, có phải là Ngô nương t.ử và chồng cô ấy không?" "Chính phải." Tống bà bà khẳng định. Chân Chân lại hỏi: "Chồng cô ấy ăn xong không sao chứ?" "Không sao." Tống bà bà nói, "Ngô nương t.ử học rất nghiêm túc, quá trình chế biến cực kỳ cẩn thận, không xảy ra sai sót đâu. Sau này ta lại thấy cô ấy làm cá nóc cho chồng mấy lần, đều không sao cả." Chân Chân không truy hỏi tiếp chuyện này nữa, nhưng nhớ lại thái độ căm ghét tột độ của Thu Nương đối với cá nóc mà mình thấy hồi nhỏ, trong lòng lại dấy lên một đám mây nghi ngờ, xua đi không được. Trong bữa tiệc Vệ Thanh Tầm hỏi Triệu Khải gần đây bận rộn chuyện gì, Triệu Khải nói đang lo tiền tu sửa đê điều. Chân Chân thấy chàng nhắc đến chuyện này đôi mày nhíu chặt, vẻ mặt lo âu, bèn hỏi chàng: "Tiến triển không thuận lợi sao?" Triệu Khải nói: "Đê bao đủ kiên cố, cần rộng bảy thước, cao một trượng ba thước, còn phải trồng dương liễu và cây du trên đê, như vậy, mỗi khi tu sửa một dặm, riêng tiền đất đá vật liệu đã cần một trăm hai mươi quan. Mà mỗi nhân công tiền công một ngày một trăm văn, tiền công tu sửa một dặm tính ra phải hơn sáu trăm sáu mươi quan, cộng thêm tiền vật liệu và lương thực, một dặm tốn gần tám trăm quan. Đây mới chỉ là chi phí tu sửa đê cũ, nếu xây đê mới, tiền công mỗi dặm còn phải gấp đôi... Tiền lương châu phủ trống rỗng, tiền lương dự phòng trong kho Nghĩa thương, Thường bình thương không thể dùng hết cho việc tu sửa ruộng đồng, nên khá khó khăn." "Vậy cần tu sửa bao nhiêu dặm? Xây mới bao nhiêu dặm?" Chân Chân hỏi. Triệu Khải đáp: "Ta mới tính những chỗ cần phải tu sửa trong hai năm nay, chỉ riêng hai vu Huệ Dân, Hóa Thành, đã cần tu sửa bốn mươi dặm, xây mới chín dặm, dự tính sửa xong hết, tổng số tiền cần đến bốn năm vạn quan... Ta dâng tấu xin Quan gia trích một phần tiền lương từ kho Nội tàng cho phủ Ninh Quốc tu sửa ruộng đồng, Quan gia tuy đã ân chuẩn, nhưng thứ trích ra không phải tiền lương, mà là ba mươi đạo độ điệp. Đây quả thực là ân điển đặc biệt, độ điệp cấp cho châu quận dùng vào công trình thường không nhiều đến thế, nhưng cần phải bán đi mới có tiền, mà chiếu lệnh lần này định giá cho độ điệp là năm trăm quan mỗi đạo. Ba năm trước cũng từng cấp cho phủ Ninh Quốc mười đạo độ điệp để bù vào chi phí khơi thông sông ngòi, lúc đó định giá là bốn trăm quan mỗi đạo, mười đạo này bán hơn một năm mới hết, nay giá năm trăm, e là càng khó bán." Độ điệp vốn bắt đầu từ đời Đường, là giấy chứng nhận triều đình cấp cho tăng ni, để chứng minh thân phận người xuất gia. Người có độ điệp được miễn lao dịch và thuế má, quan phủ châu quận có thể công khai bán độ điệp, dùng tiền thu được bù đắp các khoản chi tiêu. Sau này độ điệp lưu thông trong dân gian, lại có chức năng tiền tệ như hội tử, có thể mua đồ, thậm chí mua nhà đất, nên việc kho Nội tàng cấp độ điệp cũng là sự hỗ trợ tài chính cho quan phủ châu quận, nhưng nếu nhất thời không bán được thì không thể biến thành kinh phí. Vệ Thanh Tầm nghe xong an ủi Triệu Khải: "Việc này không vội. Độ điệp ta có thể mua trước năm sáu đạo, cộng với tiền lương hiện có thể chi dùng của châu phủ, đê điều Đại vương cứ tu sửa trước đi, trong hai năm này số độ điệp còn lại kiểu gì cũng bán được, phủ Ninh Quốc cũng sẽ liên tục có thuế má nhập kho, tu sửa xong bốn năm mươi dặm này, không phải chuyện khó." Triệu Khải cười nhẹ, cụp mắt suy tư vẻ lo lắng vẫn không giảm. Đợi hai người đi rồi, Chân Chân vẫn canh cánh trong lòng chuyện ruộng đồng, suy nghĩ một đêm, sáng sớm hôm sau liền chạy vào thành, đến Lộc Minh Lâu tìm Vệ Thanh Tầm. Vệ Thanh Tầm thấy nàng cũng rất vui, dẫn nàng vào vườn của mình, ngồi xuống trong đình trên dòng suối róc rách, dưới bóng hoa đồ mi, thong thả đun nước pha trà cho nàng, mới hỏi nàng lần này đến đây có việc gì. Chân Chân hỏi cô ta còn muốn lấy quyền kinh doanh Trạm Nhạc Lâu không, Vệ Thanh Tầm liền cười hỏi: "Cô nghĩ thông rồi à?" Chân Chân nói: "Ta có thể như cô gợi ý, giao Trạm Nhạc Lâu cho cô kinh doanh, bản thân ta chủ trì việc định ra thực đơn ăn uống của hai tửu lâu, và chỉ đạo đầu bếp nhân viên, hỗ trợ cô quản lý tửu lâu. Còn về sau cô chia cho ta bao nhiêu lợi nhuận, cái này dễ nói, ta chỉ yêu cầu cô mua mười hai đạo độ điệp từ phủ Ninh Quốc, và đưa sáu đạo trong đó cho ta, làm chi phí mua quyền kinh doanh Trạm Nhạc Lâu." "Mười hai đạo? Không ít đâu nha. Cô đòi sáu đạo cũng là ra giá cao đấy, ba ngàn quan tiền có thể mua một trạch viện không nhỏ trong thành rồi." Vệ Thanh Tầm mỉm cười nói, tuy tỏ ý kiến về mức giá, nhưng cô ta trông không hề ngạc nhiên, tiếp tục ung dung rót trà cho Chân Chân. "Ta sau này có thể kiếm lại cho cô, nhiều hơn ba ngàn quan rất nhiều." Chân Chân tự tin nói, "Điều này cô chắc chắn nhìn ra được. Cô có thể bỏ ra sáu ngàn quan làm tiền cọc mua quan điền, tự nhiên cũng có thể dùng để mua mười hai đạo độ điệp, việc này đối với cô chẳng khó chút nào. Huống hồ độ điệp mua về có thể giữ giá, cho dù không dùng, cất ở đó, sớm muộn gì cũng tăng giá." "Ta thích sự tự tin của cô." Vệ Thanh Tầm cười khẩy, "Ta có thể trực tiếp đưa cô ba ngàn quan, hà tất phải cần độ điệp đó. Độ điệp bây giờ định giá quá cao, trong dân gian không đáng giá nhiều tiền thế đâu, bây giờ mang ra bán, một đạo cùng lắm bán được bốn trăm quan. Ta có thể không chớp mắt ném ra sáu ngàn quan đi đặt cọc, là vì ta biết số tiền này sẽ được trả lại cho ta, còn mang đi mua độ điệp thì khác, ta phải cân nhắc rủi ro, hứa mua năm sáu đạo, là nể mặt Ngụy Vương. Nói cho cùng, cái độ điệp này cũng như hội tử, chẳng qua chỉ là một tờ giấy thôi, không giống như vàng thật bạc trắng bản thân nó đã rất quý giá. Triều đình cần tiền rồi, phát ra vài vạn đạo, giá trong dân gian sẽ nhanh chóng rớt xuống. Năm xưa thời Nguyên Phong, một đạo độ điệp trị giá ba trăm quan, đến thời Đại Quan, trong dân gian đã rớt xuống chín mươi quan, trước khi dời đô xuống phía Nam, còn từng rớt xuống sáu mươi quan. Cho nên, thu nhiều độ điệp cũng như thu hội tử, là có rủi ro." "Bây giờ khác với trước khi dời đô." Chân Chân bình tĩnh giải thích với cô ta, "Sau khi dời đô, Tiên đế lập pháp mới, triều đình cẩn trọng quý trọng độ điệp, không dễ dàng bán ra, mỗi lần tăng phát độ điệp, thường không quá ngàn đạo. Độ điệp nhanh chóng từ sáu mươi quan tăng lên trăm quan một đạo, sau đó giá tăng dần theo từng năm, rất nhiều phú hộ cầm tiền cũng không mua được độ điệp, cho nên bây giờ mới định giá năm trăm. Độ điệp liên quan đến lao dịch thuế má, so với hội t.ử vốn dĩ đã có thêm một tầng giá trị, lại được Tiên đế và Kim thượng coi trọng, thậm chí quy định khi hội t.ử tăng phát quá nhiều, dẫn đến mất giá, có thể dùng độ điệp thu đổi hội tử, cho nên độ điệp khó mà mất giá mạnh nữa. Cô nếu tin ta, cứ thu nhiều độ điệp, qua vài năm nữa xem sao, có khi còn giữ giá tăng giá hơn cả vàng." "Sao cô lại hiểu biết nhiều thế?" Vệ Thanh Tầm ngồi thẳng dậy, chăm chú đ.á.n.h giá Chân Chân, nói, "Những chuyện này không phải một cô gái tửu lâu biết được." Chân Chân nhất thời cứng họng. Chuyện về độ điệp và hội tử, nàng nghe được khi hầu hạ Quan gia từ những lời bàn luận của Quan gia và đại thần, vừa rồi nóng lòng thuyết phục Vệ Thanh Tầm, thuận miệng nói ra những đạo lý này, lại quên mất điều này có thể khiến Vệ Thanh Tầm nghi ngờ thân phận của mình. Suy tính kỹ càng, nàng cụp mắt đáp: "Là Ngụy Vương nói cho ta biết." Vệ Thanh Tầm lại cười rạng rỡ: "Ngụy Vương, xem ra cô và ngài ấy quen biết đã lâu rồi." Chân Chân lấp lm: "Ngài ấy đến phủ Ninh Quốc, thị sát xóm làng mới gặp ta." "Không phải." Vệ Thanh Tầm dứt khoát phủ nhận, bình tĩnh nhìn chằm chằm Chân Chân nói, "Cô bình thường nói giọng phương ngữ phủ Ninh Quốc với người khác, mà nói với Ngụy Vương lại là giọng quan thoại Lâm An tròn vành rõ chữ, quan thoại nói còn tốt hơn phương ngữ, cho nên cô là từ Lâm An đến phải không?" Chân Chân không nói gì. Vệ Thanh Tầm lại phân tích: "Tống bà bà làm đều là món ăn dân gian, còn cô làm, từ nguyên liệu đến phương pháp chế biến, cho đến bày biện, tên món ăn, thường sẽ tinh tế hơn nhiều, giống món ăn của văn nhân và cung đình hơn, nếu ta đoán không lầm, có lẽ cô từng làm việc ở Thượng thực cục." Chân Chân gượng cười: "Ta chẳng qua là học lỏm được vài chiêu ở tửu lâu lớn tại Lâm An thôi..." "Đừng che giấu nữa. Ta từng nghe nói chuyện gỏi cá vược Tùng Giang ở Đông Cung, cũng biết nguyên nhân Ngụy Vương bị đày đến đây, lại chứng kiến tình ý ngài ấy dành cho cô, không khó đoán ra thân phận của cô, cho nên..." Vệ Thanh Tầm mỉm cười xinh đẹp, cúi người vái chào Chân Chân một cái đầy lịch sự, "Hân hạnh, Ngô Điển thiện." Thấy Chân Chân mặt mày tái nhợt không nói được lời nào, cô ta lại ôn tồn an ủi: "Đừng lo, ta rất ngưỡng mộ cô, sẽ không nói chuyện này cho người khác. Xác thực chuyện này rồi, sau này cũng biết nên bảo vệ cô thế nào." "Những chuyện trong cung đó, sao cô biết được?" Chân Chân hỏi cô ta, "Chẳng lẽ đã truyền đến dân gian, ai cũng biết rồi?" "Cái đó thì chưa." Vệ Thanh Tầm thẳng thắn nói với nàng, "Ta biết những chuyện này, là vì ta xuất thân từ ngoại thích... Nương của Tiên đế là Hiển Nhân Hoàng hậu, là bà cô cố của ta." Chân Chân bất ngờ nhìn thẳng vào cô ta, ngạc nhiên hỏi: "Sao trước đây ta chưa từng gặp cô?" Vệ Thanh Tầm nói: "Anh trai ta năm xưa không muốn chịu sự quản thúc của cha nương, đến phủ Ninh Quốc mở Lộc Minh Lâu này. Sau này lại bị cha ép về làm quan, bèn giao tửu lâu này cho ta. Ta đến phủ Ninh Quốc năm năm rồi, thỉnh thoảng về Lâm An, cũng không thích dự tiệc tùng trong cung, nên chúng ta trước đây chưa gặp nhau." Chân Chân đứng dậy vái chào cô ta thật sâu, trịnh trọng nói: "Hân hạnh, Vệ tiểu nương tử." "Đừng bao giờ gọi ta như vậy." Vệ Thanh Tầm cười nói, "Ta vừa nghe người ta gọi là tiểu nương t.ử là nổi da gà... Cô cứ gọi thẳng tên ta là Thanh Tầm là được, ta cũng gọi cô là Chân Chân... trước mặt người khác gọi là Đào Sênh, thế nào?" Chân Chân vui vẻ đồng ý. Cân nhắc một chút, lại hỏi cô ta: "Vậy độ điệp, cô còn mua không?" Vệ Thanh Tầm cười lớn: "Mua! Bây giờ ta quyết định mua mười lăm đạo rồi, sáu đạo cô cần cũng sẽ giao cho cô kịp thời." Chân Chân yên tâm, mỉm cười nói: "Vậy thì tốt quá. Các phú hộ ở phủ Ninh Quốc thấy cô mua nhiều như vậy, nhất định sẽ suy đoán, cô chắc chắn có tin tức gì từ quan phủ, biết độ điệp sẽ sớm tăng giá, mới thu mua số lượng lớn. Họ ắt sẽ hùa theo, như vậy, những đạo độ điệp còn lại cũng sẽ nhanh chóng bán hết." "Không sai." Vệ Thanh Tầm cười đầy ẩn ý, "Nhất là khi họ phát hiện, Tống Đào Sênh bán Trạm Nhạc Lâu lại không lấy tiền mặt, chỉ nhận độ điệp, mà cô ấy lại là hồng nhan tri kỷ của Ngụy Vương..." Chương 122 - Chương 122 Đúng như Chân Chân dự đoán, vì Vệ Thanh Tầm là người giàu nhất phủ Ninh Quốc, các phú hộ địa phương luôn chú ý nhất cử nhất động của cô ấy, muốn học hỏi con đường làm giàu của cô, một khi nghe phong thanh cô ta một lần mua mười lăm đạo độ điệp, trong lòng sao có thể không dậy sóng. Bối cảnh ngoại thích của cô sớm đã được các phú hộ ngầm truyền tai nhau, nay lại thường xuyên gặp gỡ Triệu Khải, họ tự nhiên khẳng định cô ta biết được tin tức nội bộ từ quan phủ mới vung tay lớn như vậy. Họ suy đoán ra hai nguyên nhân: Một là hội t.ử sẽ mất giá mạnh, triều đình sẽ dùng độ điệp thu đổi, độ điệp sẽ vì thế tăng giá mạnh; hai là không lâu nữa lao dịch sẽ nặng nề hơn, thuế má sẽ tăng cao, mà giữ độ điệp có thể miễn dịch miễn thuế, sẽ có nhiều người tranh mua hơn. Bất luận nguyên nhân nào, xem ra độ điệp tăng giá là xu thế tất yếu, thế là các phú hộ nghe tin lập tức hành động, nhanh chóng tranh mua hết sạch mười lăm đạo độ điệp còn lại. Chân Chân mở tửu lâu, mỗi ngày đối mặt với những vị khách khác nhau, và khách phần lớn thích tán gẫu với nàng, vì thế nàng tin tức cực kỳ linh thông, lại thông hiểu thế thái nhân tình phủ Ninh Quốc. Tĩnh tâm đợi độ điệp bán hết, Chân Chân mấy ngày sau đó mỗi buổi sáng xử lý xong việc ở tửu lâu liền chạy đôn chạy đáo giữa ba ngôi chùa lớn ở phủ Ninh Quốc, yết kiến trụ trì, bàn bạc với họ, bàn xong xuôi, nàng mang theo độ điệp Vệ Thanh Tầm giao cho mình đến phủ nha gặp Triệu Khải. Triệu Khải nghe nói nàng chủ động cầu kiến mình, khá ngạc nhiên, lập tức cho người đưa nàng đến thư phòng của mình. Chân Chân nói với chàng: "Cần độ điệp nhất thực ra là chùa chiền, ngoài độ điệp triều đình cấp cho họ, ngày thường họ cũng phải tự mua không ít, để dùng cho việc độ tăng (cấp chứng nhận tăng ni). Mà nay triều đình kiểm soát chặt số lượng độ điệp, đợt độ điệp cấp xuống lần này bán quá nhanh, lại chẳng có đạo nào lọt vào tay chùa chiền, mà những người giữ độ điệp trong dân gian trước đây, thấy tình hình hiện nay cũng đều găm hàng chờ tăng giá, chùa chiền muốn thu mua độ điệp từ dân gian cũng không dễ. Mấy hôm nay ta đã gặp trụ trì ba ngôi chùa lớn, nói với họ về hiện trạng ruộng đồng phủ Ninh Quốc sụp đổ, tá điền phiêu bạt, sơ tâm một lòng vì dân, nỗ lực tu sửa đê điều của huynh, cũng như tình cảnh thiếu thốn tiền lương mà huynh đang đối mặt, nhờ họ giúp đỡ. Mỗi ngôi chùa đều có lượng lớn tín đồ, ta khẩn cầu trụ trì đứng ra, nhân việc này quyên góp tiền công đức, ủng hộ phủ Ninh Quốc tu sửa công vu. Bản thân ta nguyện quyên góp năm đạo độ điệp, bất kể ngôi chùa nào quyên góp được năm ngàn quan tiền công đức, ta sẽ tặng họ một đạo độ điệp, hy vọng cuối cùng tổng cộng có thể quyên góp được hai vạn năm ngàn quan. Các vị trụ trì tỏ ý, nếu tiền công đức cuối cùng không đủ số này, Trường Sinh Khố của chùa có thể cho vay một phần, gom đủ hai vạn năm ngàn quan giao cho châu phủ, hai năm sau Phán phủ có thể trích từ tiền thuê ruộng thuế má thu được trả lại cho họ số tiền tương ứng. Ta thấy như vậy cũng rất tốt, bất kể cuối cùng tiền thu được là tiền công đức hay tiền vay, ta đều tặng họ độ điệp như nhau." Trường Sinh Khố là kho cầm đồ tích trữ và vận hành tiền vật của các ngôi chùa quy mô lớn, vốn chủ yếu đến từ tiền tín chúng cúng dường hoặc cho vay, cư dân có thể mang vật có giá trị đến Trường Sinh Khố cầm cố vay mượn, hẹn ngày trả, đến hạn trả tiền trả lãi. Các ngôi chùa lớn hương hỏa thịnh vượng, vốn của Trường Sinh Khố thường cũng rất dồi dào. "Nàng lấy đâu ra độ điệp?" Triệu Khải hỏi ngay. "Ta bán Trạm Nhạc Lâu cho Vệ Thanh Tầm rồi, đổi lấy sáu đạo độ điệp, quyên năm đạo, còn lại một đạo, để phòng khi cần gấp." Chân Chân cười nhẹ nói, "Thực ra chỉ là giao quyền kinh doanh cho Vệ Thanh Tầm, sau này ta vẫn có thể quản lý Trạm Nhạc Lâu, thậm chí Lộc Minh Lâu cũng có thể tham gia quản lý, làm việc ngược lại còn thuận lợi hơn." Chân Chân thấy Triệu Khải hồi lâu không nói gì, tưởng chàng lo lắng chuyện lãi suất vay mượn, bèn giải thích: "Huynh yên tâm, cho dù tiền công đức không đủ, cần Trường Sinh Khố cho vay, nhưng ngoài độ điệp ta tặng, chùa không lấy lãi. Các vị trụ trì cũng nói rồi, họ cũng để ý thấy Ngụy Vương đặc biệt quan tâm đến dân sinh, là một vị quan tốt yêu dân như con. Tu sửa công vu lợi nước lợi dân, họ sẵn lòng góp sức vì việc này. Trường Sinh Khố xưa nay được triều đình và quan phủ che chở, lợi nhuận chưa bao giờ phải nộp thuế, nay quan phủ có nhu cầu, họ sao lại thu lãi. Họ cũng sẽ cố gắng quyên góp tiền công đức, ruộng đất trong đê tuy có quan điền, nhưng đa phần là ruộng dân có chủ, Ngụy Vương vì dân chủ trì công trình, là hành động hành thiện tích đức, tin rằng người dân sẵn lòng quyên góp vì việc này cũng sẽ rất nhiều." Nói xong nàng lấy ra năm đạo độ điệp, dâng lên trước mặt Triệu Khải: "Đây là độ điệp ta quyên góp, huynh cứ cầm lấy. Nếu thấy khả thi, ta sẽ đi xác nhận việc này với chùa chiền. Sau này ngôi chùa nào gửi đến năm ngàn quan tiền, huynh liền tặng họ một đạo, tặng hết rồi cũng xin báo ngay cho họ biết, không cần quyên góp nữa. Ta nghĩ, có hai vạn năm ngàn quan này, cộng với số tiền châu phủ có thể điều động trước đó và tiền bán độ điệp thu được, chắc đủ dùng để tu sửa đê điều rồi." "Việc này khả thi, nhưng không thể dùng tiền của nàng." Triệu Khải nhìn độ điệp, nói với Chân Chân, "Số độ điệp này của nàng, ta mua, tiền đưa cho nàng, nàng đi chuộc lại Trạm Nhạc Lâu, độ điệp vẫn theo kế hoạch của nàng tặng cho các chùa quyên tiền." Chân Chân không kìm được cười: "Huynh tuy là quan phụ mẫu, nhưng không phải cha nương, việc phủ Ninh Quốc phải lo đâu chỉ có mỗi việc này, việc gì cũng bỏ tiền túi, núi vàng núi bạc cũng không đủ cho huynh bù đâu. Việc này cứ quyết định như vậy. Ta có một nghề trong tay, ngàn vàng tiêu hết rồi sẽ lại kiếm được. Huynh cứ lo tu sửa đê điều cho tốt, để người dân năm nào cũng được mùa, nhà nhà đều giàu lên, sau này tiền như thế này ta muốn bỏ ra cũng không có cơ hội đâu." Triệu Khải lắc đầu nói: "Ta sao có thể vì một việc công của mình, làm liên lụy nàng mất đi Trạm Nhạc Lâu nàng vất vả gây dựng." "Ta mất một tửu lâu, nhưng huynh... cái huynh mất đi có thể là cả thiên hạ." Chuyện cũ ùa về trong lòng, Chân Chân buồn bã cụp mắt xuống, "Muội có lỗi với huynh, Nhị ca, xin hãy để muội bày tỏ chút áy náy với huynh, tuy chút bù đắp này so với những gì huynh mất đi thực sự quá nhỏ bé." "Tại sao nàng lại nghĩ như vậy?" Triệu Khải cười buồn, "Là vì ta từng khuyên Đại ca ăn cá vược Tùng Giang sao? Những lời đó đâu phải nàng ép ta nói. Ta chưa từng oán trời trách người vì chuyện đó, ta sẽ chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, gánh vác mọi hậu quả." Chân Chân nói ngay: "Muội cũng đang chịu trách nhiệm cho sai lầm của muội." "Vậy thì cùng nhau đi." Triệu Khải chăm chú nhìn nàng, ánh mắt bình tĩnh và chắc chắn, khác hẳn thiếu niên suốt ngày cười đùa trong ấn tượng của nàng, chàng lúc này trông như một người đàn ông trưởng thành có mưu lược, "Chuyện Đông Cung rất kỳ lạ, chưa chắc là lỗi của nàng, chịu trách nhiệm thực sự là tìm ra chân tướng trong đó. Ta nguyện cùng nàng tìm kiếm, để nàng không còn sợ hãi đối mặt với sự nghi ngờ của cả thiên hạ nữa." "Tìm ra chân tướng?" Chân Chân ngơ ngác hỏi lại. Về nguyên nhân cái c.h.ế.t của Thái t.ử nàng vẫn luôn nghi ngờ, nhưng ăn uống của Thái t.ử đều qua tay nàng, những ngày đó người ở bên chàng nhiều nhất cũng là mình, ngoài bản thân ra, nàng thực sự không biết nên quy tội cho ai. "Đúng vậy, ta tin chân tướng sẽ không đơn giản như mọi người biết hiện nay." Triệu Khải nói, "Nàng hãy nhớ kỹ lại xem, trong vài ngày trước khi Đại ca hoăng thệ, đã có chuyện gì bất thường xảy ra." Chân Chân đau khổ nhắm mắt lại. Chuyện trước sau khi Trang Văn Thái t.ử hoăng thệ đối với nàng là nỗi đau không dám nhìn lại, mỗi lần hơi nhớ tới, đều như bị bỏng rát lập tức ép mình thoát ra. Mấy ngày đó sớm đã trở thành vết sẹo sâu không thể lành, không nỡ ngoảnh lại. "Đừng trốn tránh, Chân Chân." Triệu Khải ân cần khuyên giải, "Tìm ra chân tướng, mới có thể hóa giải nỗi đau của nàng. Đại ca chắc chắn cũng không muốn ra đi không minh bạch như vậy, gây ra tổn thương lớn nhường ấy cho đất nước, cho gia đình, cho nàng... Hãy kể cho ta nghe những gì nàng thấy, nàng biết, biết đâu ta có thể giúp nàng phân tích, xem rốt cuộc là không đúng ở đâu." Chân Chân im lặng hồi lâu, dưới sự an ủi của ánh mắt dịu dàng của Triệu Khải, tâm trạng căng thẳng bất an dần dịu xuống, cuối cùng bắt đầu chậm rãi kể lại những chuyện xảy ra trong những ngày đó: "Thái t.ử điện hạ khi đó đã cơ bản bình phục, sinh hoạt bình thường, tâm trạng cũng khá tốt... Nếu nói có gì khác thường, có lẽ là mấy ngày trước khi mất, sau khi bảo muội theo ngài ấy đến điện Phúc Ninh. Hôm đó ngài ấy bảo nội thị bưng một bức tranh đến điện Phúc Ninh, dâng cho Quan gia xem. Nhưng đến trong điện, ngài ấy bảo muội và Phùng Tịnh đợi bên ngoài, ngài ấy và Quan gia nói chuyện rất lâu bên trong, sau khi ra tâm trạng dường như không tốt lắm. Sau bữa tối ngài ấy cho nội thị về trước, bảo muội theo ngài ấy lên Nguyệt Nham ngắm trăng..." "Bức tranh ngài ấy cho Quan gia xem, vẽ cái gì?" Triệu Khải bỗng hỏi. Chân Chân đáp: "Lúc đó ngài ấy cũng không cho muội xem, nhưng từ dáng vẻ trục tranh suy đoán, rất có thể là bức chân dung nương muội mà mấy ngày sau ngài ấy cho muội xem." Triệu Khải rất ngạc nhiên: "Đại ca sao lại cho cha xem chân dung nương nàng?" "Sau đó Điện hạ nói với muội, nương muội rất có thể là Cúc phu nhân, ngài ấy cho Quan gia xem bức tranh đó, Quan gia liền nói là Cúc phu nhân." Chân Chân bùi ngùi nói, sau đó kể chi tiết cho Triệu Khải nghe về mối liên hệ giữa Cúc phu nhân, Lưu Tư thiện và Trương Vân Kiều mà nàng biết, cũng như quá trình Trang Văn Thái t.ử và nàng tìm hiểu thông tin thân thế nàng. "Cho nên, ý của Đại ca là, Trương Vân Kiều và Lưu Tư thiện là cha nương ruột của nàng, còn Cúc phu nhân là mẹ nuôi của nàng?" Triệu Khải hỏi. Chân Chân khẽ thở dài: "Kết luận ngài ấy suy đoán ra chắc là cái này. Tuy ngài ấy cũng nói có khả năng Cúc phu nhân chỉ vì thích cái tên Chân Chân nên đặt tên con gái Lưu Tư thiện cho muội, nhưng mà... ngài ấy rõ ràng cảm thấy khả năng này không lớn, nói vậy chỉ để an ủi muội thôi." Triệu Khải không đưa ra ý kiến, tiếp tục hỏi nàng chuyện ở Nguyệt Nham, Chân Chân nói: "Suốt dọc đường Điện hạ trông đều nặng trĩu tâm sự, không vui lắm, còn nhắc với muội về An Thục Hoàng hậu, hôm đó ngài ấy vô cùng nhớ thương mẫu thân, nói đến tình nghĩa giữa Quan gia và An Thục Hoàng hậu, lại nói An Thục Hoàng hậu bị tì nữ do Tề Thái sư phái đến hại c.h.ế.t bằng thức ăn như thế nào, Quan gia đau lòng ra sao, sau đó trù tính rất lâu, cuối cùng đại thù được báo." "Trù tính rất lâu, đại thù được báo..." Triệu Khải trầm ngâm, một lát sau nói, "Nhưng ai cũng biết, Tề Thái sư là c.h.ế.t bệnh mà." Chân Chân lúc này mới ý thức được tại sao năm xưa Thái t.ử nói đến đây lại đột ngột dừng lại, đổi chủ đề: "Cho nên, Tề Thái sư thực ra là do Quan gia... Muội trước đây vẫn nghe nói Trương Vân Kiều từng chữa bệnh cho Tề Thái sư, nhưng không khỏi, còn vì thế mà bị người nhà họ Tề truy sát." "Sau vụ sóng gió thân thế Phùng Tịnh, ta cũng từng hỏi thăm người ta về chuyện Trương Vân Kiều, nghe nói ông ấy vì có tư tình với Lưu Tư thiện, bị Tiên đế nghi kỵ, nên đã nương nhờ Tề Thái sư, tìm kiếm sự che chở, sau này trở thành y sư thân cận nhất của Tề Thái sư trước khi lâm chung..." Triệu Khải nói, "Nhưng ta còn nhớ lần tra thân thế Phùng Tịnh, vẻ mặt của phụ hoàng khi nhìn thấy d.ụ.c nhi thư do Trương Vân Kiều viết, người buột miệng gọi ông ấy là 'Vân Kiều', liếc mắt là nhận ra bút tích ông ấy, cứ như đối mặt với bạn cũ lâu năm... Phụ hoàng hận Tề Tuẫn thấu xương, nếu Trương Vân Kiều thực sự nương nhờ Tề Tuẫn, người sao có thể có thái độ này?" "Phải đấy, Quan gia còn nhiều lần phái người tìm kiếm Trương Quốc y, sai người treo tranh chân dung ông ấy trong Viện Hàn lâm Y quan, xếp ngang hàng với các danh y các đời, nếu Trương Quốc y là người phe cánh họ Tề, dù chỉ là đã từng, Quan gia chắc chắn sẽ không dành cho ông ấy đãi ngộ như vậy." Chân Chân suy tính phỏng đoán, "Cho nên, Trương Quốc y nương nhờ Tề Thái sư trước, sau đó cố ý... không chữa khỏi bệnh cho hắn, là do Quan gia sai khiến?" Triệu Khải khẳng định: "Rất có thể, vì thế Đại ca mới nói 'trù tính rất lâu, đại thù được báo'... Hôm đó chắc là xem chân dung Cúc phu nhân, cha nói với Đại ca chuyện cũ năm xưa, Đại ca mới nhớ thương mẫu thân như vậy." Chân Chân cũng thấy suy luận này có lý. Triệu Khải lại bảo Chân Chân kể chuyện sau đó, nghe nàng nhắc đến Lưu Tiệp dư bái trăng tế cha, hơi có chút ngạc nhiên, nhưng vẫn không ngắt lời Chân Chân, để nàng nói tiếp. "Sau đó... mãi đến đêm trước khi lâm chung, Điện hạ đều có chút ưu tư hoảng hốt..." Chân Chân nhớ lại chuyện đêm đó, tim không kìm được đập loạn, má ửng hồng, nhưng vẫn cố trấn tĩnh, kể tiếp, "Đêm trước khi mất, Điện hạ đọc sách ở đường Chiêm Lục, khi muội vào, ngài ấy cầm một cuốn sách đang xem, nhìn chằm chằm vào sách xuất thần..." "Ngài ấy xem sách gì?" Triệu Khải chen lời hỏi. "Phần Kinh Kha trong 'Sử Ký - Thích Khách Liệt Truyện'." Chân Chân nói, "Muội lại gần định xem kỹ, Điện hạ lại không cho muội xem, đặt sách trở lại giá, nói vì hôm sau sư phụ giảng bài sẽ nhắc đến, nên ngài ấy đọc trước một lượt." "Lúc đó việc giảng bài ở Đông Cung ta cũng nghe, nội dung sư phụ giảng dạy sẽ cho chúng ta biết trước, nhưng 'Sử Ký' không nằm trong số đó." Triệu Khải hồi tưởng, rồi đứng dậy đi đến bên giá sách, lấy ra một cuốn sách, lật mở một trang, đưa đến trước mặt Chân Chân, "Là cái này sao?" Chân Chân đón lấy sách, nhìn kỹ, thấy trang đó chính là phần Kinh Kha mà đêm đó Thái t.ử nhìn chằm chằm xuất thần. Chương 123 - Sự Ấm Áp Đời Thường Chân Chân đón lấy sách xem kỹ. Câu chuyện Kinh Kha ám sát Tần Vương nàng không lạ lẫm gì, hồi nhỏ, Bồ bá và thầy giáo trong trường đều từng kể cho nàng nghe, nhưng nàng thường chỉ chú ý đến sự tích các nhân vật chính Kinh Kha, Tần Vương Doanh Chính và Yên Thái t.ử Đan trong đó, nay ngẫm lại kỹ lưỡng chi tiết đêm hôm ấy, nhớ lại trang sách Trang Văn Thái t.ử xem lúc đó, ngoài Kinh Kha, nàng còn thoáng thấy tên Phàn Ư Kỳ, bèn chú trọng xem tình tiết về Phàn Ư Kỳ. Đọc đến đoạn tướng Tần Phàn Ư Kỳ tác chiến với nước Triệu t.h.ả.m bại, đắc tội với Tần Vương, bỏ trốn sang nước Yên, được Yên Thái t.ử Đan hậu đãi, nhưng cha nương tông tộc Phàn Ư Kỳ lại bị Tần Vương tru di, trước khi Kinh Kha ám sát Tần Vương, để tìm cách lấy được lòng tin của Tần Vương, đã bí mật gặp Phàn Ư Kỳ, bàn bạc với ông ta... Ánh mắt dừng lại ở đoạn này, Chân Chân đọc đi đọc lại: Kinh Kha nói: "Nay có một lời có thể giải mối lo của nước Yên, báo mối thù của tướng quân, ngài thấy thế nào?" Ư Kỳ bèn tiến lên nói: "Làm thế nào?" Kinh Kha nói: "Muốn xin cái đầu của tướng quân để dâng lên Tần Vương, Tần Vương tất mừng rỡ mà tiếp kiến thần." Nàng lặng lẽ suy tư hồi lâu, bỗng ngẩng đầu hỏi Triệu Khải đang đứng sau lưng mình cũng đang đọc sách: "Quan gia năm xưa là Hoàng tử, vốn bất hòa với Tề Tuẫn, nếu Trương Quốc y được người sai khiến nương nhờ Tề Tuẫn, cho dù Tề Tuẫn không biết họ có giao tình riêng, nhưng Trương Quốc y trước đó ra vào cung cấm, từng được Tiên đế trọng dụng, vì lý do nghề nghiệp, lại thường xuyên qua lại với tông thất, Tề Tuẫn gian xảo già đời, sao có thể dễ dàng tin tưởng ông ấy, giao thân thể bệnh tật cho ông ấy chẩn trị. Trương Quốc y có phải đã làm gì đó vì việc này không?" "Ông ấy để lấy được lòng tin của Tề Tuẫn, đã bán đứng bạn mình, Tư gián Lâm Dục lúc bấy giờ." Triệu Khải trả lời. Ngừng một chút, chàng nhìn Chân Chân đang kinh ngạc, bổ sung thêm, "Cũng chính là cha của Lâm Hoằng." Triệu Khải từ khi biết Chân Chân để ý Lâm Hoằng, đã nhanh chóng ngầm điều tra gia thế bối cảnh của Lâm Hoằng, biết chuyện cũ của cha Lâm Hoằng, nhưng vì trước đó không biết Trương Vân Kiều có thể là cha Chân Chân, những chuyện này chưa từng nói với Chân Chân, sự việc đến nước này, bèn quyết định kể những gì mình biết cho Chân Chân: "Cha Lâm Dục, ông nội Lâm Hoằng, vì chủ trương Bắc phạt, bị Tề Tuẫn hãm hại đày đi Nhai Châu, mắc bệnh c.h.ế.t nơi đất khách quê người. Trương Vân Kiều và Lâm Dục vốn có giao tình khá tốt, sau này Lâm Dục thường dâng sớ đàn hặc Tề Tuẫn và bè đảng, khiến Tề Tuẫn rất tức giận. Khi Trương Vân Kiều nương nhờ hắn, nói với hắn mình từng thấy ở nhà Lâm Dục một bức thư pháp người Tấn lẽ ra phải tàng trữ trong Bí phủ, vì Lâm Dục năm xưa từng nhậm chức ở Bí phủ, Tề Tuẫn liền sai bè đảng công kích Lâm Dục giám thủ tự đạo (trông coi mà lấy trộm). Sau đó Thẩm Hãn đứng ra giải thích bức thư pháp đó là Tiên đế ban cho ông ấy, ông ấy chuyển tặng Lâm Dục, bè đảng Tề Tuẫn lại nói vô công bất thụ lộc, Lâm Dục nhận lễ hậu như vậy là nhận hối lộ, kết bè kết đảng với Thẩm Hãn hãm hại đại thần, thế là Lâm Dục bị tống ngục hỏi tội. Thẩm Hãn nhờ phụ hoàng ra sức bảo vệ trước mặt Tiên đế, mới tránh được tai họa lao ngục, nhưng cũng bị truy cứu trách nhiệm đày đi nơi khác mấy năm. Lâm Dục ngã bệnh trong ngục, Trương Vân Kiều đến chẩn trị cho ông ấy, lần này chắc là Tề Tuẫn phái ông ấy đi, cuối cùng, đúng như ý nguyện của Tề Tuẫn không chữa khỏi, Lâm Dục nhanh chóng c.h.ế.t trong ngục. Không lâu sau, Trương Vân Kiều trở thành y sư tùy tùng của Tề Tuẫn." Chân Chân nghe xong trầm ngâm giây lát, lại nói với Triệu Khải một chuyện: "Lần ta xuất cung bị đá lở và ngựa chạy lồng tấn công, Trang Văn Thái t.ử và Bồ Lộc Tân đã cứu ta, đưa ta đến gặp Lâm Hoằng. Hôm đó ở nhà Lâm Hoằng, Bồ Lộc Tân nói nhiều năm trước từng cùng Quan gia, một vị thái y và một văn sĩ tụ họp ở một ngôi nhà nhỏ trên núi, còn nói nương t.ử của thái y nấu ăn rất ngon, Lâm Hoằng trông giống vị văn sĩ kia. Nay nghĩ lại, người ông ấy gặp hôm đó, e chính là Trương Quốc y và Lâm Dục." "Lâm Hoằng nghe ông ấy nói vậy phản ứng thế nào?" Triệu Khải hỏi. Chân Chân nói: "Huynh ấy nói cha mình không quen biết thái y nào cả." Triệu Khải nghe vậy nói: "Ân oán giữa Lâm Dục và Trương Vân Kiều trong triều không được coi là bí mật gì, Lâm Hoằng chắc chắn cũng biết, nói vậy chắc là vì hận thấu xương Trương Vân Kiều, không muốn thừa nhận cha từng có giao tình với ông ta thôi." Chân Chân im lặng, một lát sau đưa cuốn "Sử Ký" cho Triệu Khải, mắt nhìn vào đoạn Phàn Ư Kỳ, hỏi Triệu Khải: "Huynh nói xem, có khả năng nào, Trương Quốc y trước khi nương nhờ Tề Tuẫn bán đứng Lâm Dục, thậm chí dẫn đến cái c.h.ế.t của Lâm Dục, là kết quả của sự bàn bạc mưu tính giữa Quan gia và hai người họ không?" Triệu Khải đón lấy sách đọc nhanh trang đó, cũng không ngạc nhiên, bình tĩnh nói: "Ta cũng nghĩ đến rồi. Trương Vân Kiều hành nghề y cứu người nhiều năm, danh tiếng cực tốt, hẳn là một người chính nhân quân tử. Nếu là kẻ bán bạn cầu vinh, phụ hoàng cũng sẽ không coi trọng ông ấy như vậy. Tề Tuẫn thông đồng với địch b*n n**c, thẳng tay trừ khử những người không cùng phe cánh, phụ hoàng và Lâm Dục, với Tề Tuẫn đều có thù nước hận nhà, bèn liên kết với Trương Vân Kiều, bày ra một kế sách tương tự Kinh Kha ám sát Tần Vương, để Trương Vân Kiều lấy được lòng tin của Tề Tuẫn, diệt trừ gian thần, Lâm Dục tự nguyện khẳng khái chịu c.h.ế.t, dùng tính mạng của mình, đưa Trương Vân Kiều đến bên cạnh Tề Tuẫn." Chân Chân buồn bã cụp mắt, nhớ lại vẻ mặt và câu trả lời của Lâm Hoằng khi nghe Bồ Lộc Tân nhắc đến thái y hôm đó, trong lòng biết chàng chắc chắn đã cho rằng Trương Vân Kiều là kẻ thù g.i.ế.c cha, nhưng chưa chắc biết cha mình năm xưa rất có thể đã mang sơ tâm như Phàn Ư Kỳ mà chịu c.h.ế.t... Bỗng nhiên giật mình kinh hãi, nói với Triệu Khải: "Cho nên, Lâm Hoằng hôm đó công khai từ hôn, thà lấy hoa mai làm vợ cũng không cưới ta, có phải là vì, có người nói cho huynh ấy biết ta là con gái Trương Vân Kiều?" Triệu Khải trầm giọng đáp: "Nay xem ra, rất có thể là như vậy. Chỉ có nguyên nhân này, mới có thể khiến người quân t.ử như hắn không màng đến tôn nghiêm của nàng, từ hôn ngay trước mặt mọi người." "Ai nói cho huynh ấy biết?" Chân Chân buồn bã hỏi, "Quan gia biết không? Liệu có phải Quan gia không?" "Không đâu." Triệu Khải suy đoán, "Nếu chuyện mưu sát Tề Tuẫn là thật, chuyện này tự nhiên không tiện công bố ra ngoài, phụ hoàng chắc chắn sẽ giữ bí mật này. Sự việc đã qua nhiều năm, để tránh rắc rối, cũng không cần thiết phải nói cho Lâm Hoằng biết quan hệ giữa Trương Vân Kiều và nàng, huống hồ người còn chưa chắc đã biết. Cho dù có muốn nói, cũng sẽ kiên nhẫn giải thích nỗi khổ tâm của người và Trương Vân Kiều. Lâm Hoằng không phải người không hiểu chuyện, nếu biết đầu đuôi sự việc, sẽ không giận cá c.h.é.m thớt lên nàng, cho dù không muốn thành thân với nàng, cũng sẽ nói rõ riêng tư, không thể nào từ chối công khai nữa." "Cũng sẽ không phải Trang Văn Thái tử." Chân Chân nói ngay, "Nếu ngài ấy trong buổi tiệc ở vườn Tụ Cảnh đã biết những chuyện này, đêm trước khi mất hà tất phải nhìn chằm chằm thiên Kinh Kha xuất thần, chỉ có vừa mới biết mới suy ngẫm kỹ càng như vậy..." Nhớ lại tình cảnh lúc đó, nàng không khỏi mở to mắt, trong khoảnh khắc nghĩ thông suốt một chuyện, "Đêm hôm đó, ngài ấy tỏ ra đặc biệt lo được lo mất. Ta hầu hạ ngài ấy ăn xong cam, định cáo lui, ngài ấy bỗng kéo ta lại, nói hôm đó Lâm Hoằng đến tìm ngài ấy... còn hỏi ta, nếu có một ngày, Lâm Hoằng xin lỗi ta, nói hắn sai rồi, ta có đi theo hắn không... Ngài ấy chắc chắn là vừa biết chuyện đó không lâu, lo lắng Lâm Hoằng biết sự thật xong sẽ lại có vướng mắc với ta..." "Nàng trả lời thế nào?" Triệu Khải hỏi. "Ta nói, ta sẽ đi theo Lâm Hoằng, sau đó đợi ngài ấy đuổi theo bắt ta về..." Chân Chân lúc này cảm xúc có chút mất kiểm soát, hơi thở dần dồn dập, đầu cúi thấp xuống, bàn tay vô thức vò chặt dải váy run rẩy, "Ta nói đùa thôi, ta không muốn đi... Để ngài ấy yên tâm, cho nên ta, ta..." "Cho nên nàng cái gì cũng đồng ý với Đại ca." Khoảnh khắc này lòng Triệu Khải đau như d.a.o cắt, nhưng vẫn cố nén nỗi bi khổ trong lòng, giữ vẻ mặt bình thản, ôn tồn nói với nàng, "Được rồi, được rồi, không cần nói nữa." Nước mắt lập tức tuôn trào như suối, Chân Chân sụp đổ che mặt, nức nở: "Ta không biết tại sao Điện hạ bỗng nhiên... rốt cuộc có phải do ta không?" Triệu Khải nửa ngồi xổm xuống trước mặt nàng, lấy khăn tay đưa cho nàng lau nước mắt, nhẹ nhàng an ủi: "Ta sau đó có hỏi Hàn Tố Vấn, hắn khẳng định cái c.h.ế.t của Đại ca không liên quan đến chuyện này, nói lúc đó Đại ca đã khỏi hẳn rồi... Nàng nghĩ lại xem, bản thân Đại ca có nhận thấy điều gì không?" Chân Chân ngơ ngác ngẩng đầu, thẫn thờ nghĩ rất lâu, rồi nói với Triệu Khải: "Ngài ấy nói với ta một câu, bảo ta đi tìm Dương T.ử Thành... Nhưng sau đó ta bị giam lỏng trên đảo, tin tức gì cũng không biết. Sau khi trốn ra ở trong tiểu viện của Ân Kỳ một thời gian, hỏi Ân Đê về Dương T.ử Thành, huynh ấy nói Dương T.ử Thành hôm sau đã mất tích, đến nay vẫn bặt vô âm tín." "Dương T.ử Thành nếu không phải liên quan đến nguyên nhân cái c.h.ế.t của Đại ca, thì có khả năng biết ai muốn hại Đại ca. Nay không biết là tự mình trốn đi, hay là bị người ta diệt khẩu..." Triệu Khải trầm ngâm giây lát, lại cố gắng nở nụ cười khích lệ với Chân Chân, "Ta sẽ phái người tìm ông ta. Chúng ta tuy đang truy tra chân tướng, nhưng nàng đừng quá tự trách, hiện tại không có bằng chứng nào cho thấy là nàng khiến Đại ca qua đời. Phấn chấn lên, sống tích cực như nàng trước kia, đừng để bản thân cứ chìm đắm trong bóng tối của chuyện này." Triệu Khải phái vài nội thị tâm phúc, bảo họ về Lâm An dò la tin tức Dương T.ử Thành, lại nhờ Ân Đê ngầm phái lính tuần đáng tin cậy cùng tìm kiếm. Nhưng biển người mênh mông, nhất thời cũng khó có được tin tức chính xác, mãi đến khi vào đông cũng chưa có tin vui truyền đến. Trong thời gian này Triệu Khải tiếp tục xử lý công việc phủ Ninh Quốc, đặc biệt quan tâm đến công trình đê điều, thường xuyên đích thân cưỡi ngựa đến công trường hai vu Huệ Dân, Hóa Thành quan sát tiến độ thi công. Một đêm nọ, chàng từ vu Hóa Thành trở về, tay cầm một bó hoa lạp mai (mai vàng) hái ven đường, phi ngựa đến Lộc Minh Lâu, muốn tặng cho Chân Chân. Ban ngày hôm đó, trên đường chợt thấy hoa nở, nhớ tới Chân Chân thường cắm hoa trong tửu lâu, chàng bước chậm lại, dạo bước trong bóng hoa, bất giác nở nụ cười dịu dàng, trong khoảnh khắc quyết định hái một ít cho nàng cắm bình. Lúc này Chân Chân đã ở hẳn Lộc Minh Lâu, Trạm Nhạc Lâu bình thường do Tống bà bà và trợ thủ Vệ Thanh Tầm phái đến quản lý. Nàng thiết kế thực đơn mới cho Lộc Minh Lâu, món ngon vừa có phong vị kinh điển của Lâm An và phủ Ninh Quốc, cũng không thiếu những món sáng tạo của riêng nàng, thu hút không ít khách mới cũ. Chân Chân hiểu Trạm Nhạc Lâu môi trường thanh tịnh, thích hợp cho dăm ba người bạn hàn huyên bàn chuyện, Lộc Minh Lâu nằm ở khu sầm uất, không khí náo nhiệt hơn nhiều, khách cần kỹ nhạc trợ hứng, mục đích Vệ Thanh Tầm tổ chức Hội Trâm Hoa chính là để người trong thành đều biết, Lộc Minh Lâu có ca vũ kỹ đẹp nhất thành. Chân Chân lại nghe khách tán gẫu, biết Quảng Châu có nhiều Hồ cơ (cô gái người Hồ) sắc nghệ song toàn, tửu lâu có ca múa chuốc rượu thường khách khứa chật ních. Thấy khách nhắc đến mắt đầy mong đợi, nàng bèn phái người đến Quảng Châu mua hai Hồ cơ giỏi ca múa, hiến nghệ tại Lộc Minh Lâu. Nhờ vậy, trước cửa Lộc Minh Lâu quả nhiên ngựa xe như nước cả ngày, khách khứa nườm nượp, náo nhiệt hơn trước mấy phần. Khi Triệu Khải đến Lộc Minh Lâu, đã quá canh hai, khách khứa trong ngày đã tản đi, Vệ Thanh Tầm thấy gần đây làm ăn phát đạt, tâm trạng tốt, đêm nay bèn lệnh cho Hồ cơ ca múa ở sảnh đường, mình và Chân Chân ngồi sóng vai, nâng ly cạn chén uống rượu tự mua vui. Triệu Khải bước vào lầu, thấy cảnh tượng này, không khỏi cau mày. Vệ Thanh Tầm thấy vậy, cố ý ôm eo Chân Chân, cười chạm cốc với nàng, hai bên tựa vào nhau uống cạn ly rượu, rồi vui vẻ hỏi Triệu Khải: "Đại vương có muốn ngồi xuống uống một ly không?" Triệu Khải không đáp, đi thẳng đến trước mặt Chân Chân, đưa bó hoa lạp mai cho nàng, rồi quay người định đi, Chân Chân lập tức đứng dậy, hỏi chàng: "Nhị ca, huynh dùng bữa tối chưa?" Giọng nàng ẩn chứa sự quan tâm, khiến lòng Triệu Khải ấm áp. Chàng im lặng một chút, lắc đầu. Chân Chân bèn nói: "Đồ ăn ở đây nguội rồi, để muội đi nấu cho huynh bát mì nhé." Chân Chân cắm hoa vào bình, rồi rảo bước đi về phía bếp. Triệu Khải đợi một lát, thực sự không muốn ở riêng với Vệ Thanh Tầm, bèn đi theo Chân Chân. Chân Chân đun nước nấu mì trước bếp lò. Triệu Khải lặng lẽ ngồi xuống bên bàn, sau một ngày bôn ba, trong không gian tràn ngập hơi thở cuộc sống này, ngắm nhìn bóng dáng bận rộn vì mình của nàng dưới ánh nến, bỗng sống mũi cay cay, cảm nhận được một sự ấm áp đời thường của bách tính mà chàng chưa từng trải qua. "Tu sửa đê điều vẫn thuận lợi chứ? Gần đây huynh bận rộn chuyện gì?" Chân Chân thuận miệng hỏi, tay vẫn không ngừng, cũng không quay đầu lại nhìn chàng. "Cũng ổn. Công trình không có vấn đề gì, chỉ là ruộng hoang bị bỏ phế trong lòng đê quá nhiều, hiện tại đang chiêu mộ tá điền canh tác." Triệu Khải định thần lại, bắt đầu trả lời câu hỏi của nàng, "Ta quy định mỗi mẫu sau này chỉ cần nộp thuế năm thăng, là điều kiện rất ưu đãi rồi, nhưng việc này tiến triển vẫn không thuận lợi lắm. Những ruộng hoang đó nhiều năm không ai nhận, tá điền cũng không dám dễ dàng đăng ký canh tác, lo lắng khi đất sắp có thu hoạch chủ cũ bỗng xuất hiện, đòi lại điền sản, như vậy tá điền sẽ mất trắng. Ta hứa nếu chủ cũ quay lại, cũng phải đợi tá điền thu hoạch xong hoa màu mới được thu hồi điền sản, nhưng tá điền vẫn rất lo lắng." "Cái này dễ thôi." Chân Chân nói, "Huynh chi bằng báo xin triều đình phê chuẩn, sau này quy định rõ ràng bằng văn bản, phàm canh tác ruộng hoang đủ năm năm, lại nộp thuế đúng hạn, có thể sung ruộng hoang đang canh tác vào điền sản của mình. Trong vòng năm năm nếu có chủ cũ đến tìm, thì đợi hoa màu trồng lúc đó chín, để tá điền thu hoạch xong, rồi trả ruộng cho chủ cũ. Tá điền không có tài sản gì, chắc chắn khao khát sở hữu ruộng đất của riêng mình, phải cho họ thấy hy vọng. Như vậy, tá điền có hy vọng thu ruộng hoang về làm của riêng, nhất định sẽ tích cực đi nhận ruộng hoang về trồng. Cho dù chủ cũ quay lại, căn cứ theo quy định phân chia trước đó, chủ cũ và tá điền cũng không nên có dị nghị." Triệu Khải bèn hỏi: "Chủ cũ là người quay lại sau năm năm thì sao?" Chân Chân đáp: "Tá điền vất vả canh tác ruộng hoang nhiều năm, sau năm năm lẽ ra nên phán ruộng đất cho họ. Nhưng nếu người tìm đến đúng là chủ cũ, cũng không thể để họ chịu thiệt. Phủ Ninh Quốc ruộng hoang bị bỏ phế rất nhiều, đến lúc đó dẫn họ đi nhận một mảnh khác là được." Triệu Khải cân nhắc rồi nói: "Nghe cũng khá có lý. Ta sẽ dâng sớ xin chỉ thị triều đình." Không lâu sau Chân Chân nấu xong một bát mì nấm nước gà, bưng đến bàn Triệu Khải. Nước dùng vàng óng, trông rất hấp dẫn, Triệu Khải lập tức cầm đũa bắt đầu ăn. Chân Chân thấy chàng ăn nhanh, như đói đã lâu, bèn hỏi chàng: "Hôm nay huynh đã ăn trưa chưa?" "Chưa." Triệu Khải nói, "Ban ngày bận quá, lại ở ngoài đồng, xung quanh ít người ở, không có quán ăn nào để ăn... Có mang theo ít lương khô, nhưng cũng chẳng muốn ăn." "Bây giờ trời lạnh rồi, lương khô lạnh ngắt, chắc chắn cũng chẳng ngon lành gì." Chân Chân nghĩ ngợi, lục lọi trong bếp một hồi, lấy ra một chiếc hộp đựng thức ăn bằng bạc cho Triệu Khải xem, "Sau này huynh còn đi ruộng đồng, thì báo trước cho muội một ngày, sáng sớm muội làm cơm nước bỏ vào hộp này, cho người đưa đến phủ nha cho huynh, huynh mang đi ruộng đồng... Còn có thể nhờ thợ rèn làm một cái giá đỡ nhỏ, đến giờ ăn trưa, huynh tìm chỗ khuất gió, đặt hộp thức ăn lên giá, bên dưới đốt một mẩu nến ngắn, là có thể hâm nóng cơm canh rồi." Tay cầm đũa của Triệu Khải khựng lại, cố ý cúi thấp đầu, không muốn để Chân Chân nhìn thấy vành mắt đỏ hoe của mình. Chân Chân không để ý sự thay đổi của chàng lúc này, vẫn đang nghĩ cách hoàn thiện phương án của mình, một lát sau dặn chàng: "Lúc hâm nóng cơm canh huynh nhớ cho thêm một chút nước vào hộp trước, như vậy cơm canh đỡ bị cháy." Triệu Khải vẫn cúi đầu, khẽ ừ một tiếng, sau đó nhanh chóng gắp hết chỗ mì còn lại, hai miếng là ăn xong, lập tức bưng bát lên, uống cạn cả nước dùng. Chương 124 - Chương 124 Từ khi nghe Chân Chân nói gạo Sư Cô Canh trộn với Thập Lý Hương có thể làm cơm thơm hơn, Vệ Thanh Tầm vẫn luôn cho Lộc Minh Lâu nấu cơm theo cách này, gần đây gạo Sư Cô Canh tồn kho không nhiều, cô ta bèn sai người đi Hồ Châu mua, Chân Chân biết chuyện nói với cô ta: "Gạo Sư Cô Canh hai năm nay sản lượng không cao, giá bị đẩy lên quá mức, hiện giờ chưa chắc đã đáng mua. Thực ra vùng Giang Nam Lưỡng Chiết có rất nhiều loại gạo phẩm chất tốt, hương vị ngon, ví dụ như Huy Châu có gạo Hoa Đào, màu trắng thiên hồng, nấu thành cơm đặc biệt thơm mềm, Tô Châu có lúa Hồng Liên, hạt gạo khá mập, ăn cũng rất thơm, mà Côn Sơn có một loại lúa thơm sinh trưởng ven hồ, mùi thơm còn hơn cả lúa Hồng Liên. Ngoài ra, gạo Hôi Hạc, Lô Hoa Bạch, Tảo Hồng Mang, Vãn Hồng Mang của Trấn Giang, cũng như Tảo Chiêm Thành và gạo Lôi Lý Bồn chín muộn của Lâm An, đều là cực phẩm trong các loại gạo tẻ. Chúng ta chi bằng mua mỗi loại một ít về thử xem, biết đâu khách sẽ thích hơn." Vệ Thanh Tầm thấy khả thi, Chân Chân lại nói: "Đã đi địa phương mua gạo, chi bằng tiện thể mua luôn những loại gạo nếp thượng hạng ở đó về, ví dụ như nếp Ngưu Sắt của Huy Châu, nếp Kim Thoa của Lâm An, nếp Ô Ti, Phật Thủ, Khuê Nữ của Côn Sơn, nếp Dương Chi, Hổ Ban, Bách Chi của Trấn Giang... đều là gạo nếp tốt thích hợp làm thực phẩm và ủ rượu." "Không hổ là người từng chưởng quản nếm ngự thiện, nói về gạo thóc thiên hạ, thuộc như lòng bàn tay." Vệ Thanh Tầm cười nói, "Vốn dĩ chỉ nấu tí cơm, ủ tí rượu, không cần dùng nhiều loại gạo khác nhau thế đâu, nhưng nghe cô liệt kê những cái tên hay ho này, ta lại nảy sinh vài phần hứng thú, muốn xem xem những loại gạo này rốt cuộc có gì khác biệt." Chân Chân sau đó liệt kê danh sách, Vệ Thanh Tầm bèn phái mấy nhóm người chia nhau đi đến các vùng sản xuất gạo này mua về, cuối cùng mua về đến mấy chục loại gạo. Chân Chân nhớ tới ngoài cửa Gia Hội ở Lâm An có một mảnh tịch điền của nhà vua dùng để đích thân cày cấy khuyến nông, cầu mong mùa màng bội thu, có hình bát quái, ở giữa có gò tròn, xung quanh tám gò, mỗi gò chia làm bốn mảnh ruộng ngang, mỗi mảnh ruộng trồng những loại hoa màu khác nhau, đậu nành, đậu đỏ, đại mạch, tiểu mạch, lúa, kê, nếp, thử và tắc các loại, khi hoa màu lớn nhìn từ trên cao xuống, màu sắc khác nhau, vô cùng đẹp mắt. Thế là Chân Chân vẽ bản đồ ruộng bát quái, sửa thành bản vẽ đĩa bạc, giao cho thợ bạc, đ.á.n.h ra nhiều đĩa bạc lớn có thể đựng thức ăn, sau đó ở mỗi ô ruộng ngang cho vào gạo tẻ hoặc một phần ngũ cốc có xuất xứ, hình dạng, màu sắc khác nhau, lại dùng gạo nếp trắng và gạo nếp đen lấp đầy phần thái cực, cho vào chõ lớn hấp chín, phàm là khách đặt tiệc từ tám người trở lên ở Lộc Minh Lâu hoặc Trạm Nhạc Lâu, đều tặng một đĩa cơm bát quái như vậy, kèm theo một bản đồ bát quái có thể tra cứu tên loại lương thực ở các ô theo hình vẽ. Tạo hình độc đáo của cơm bát quái này rất thu hút sự chú ý, khách biết được lương thực trong mỗi ô có xuất xứ, hương vị khác nhau, lại càng thêm hứng thú, thường sẽ mỗi thứ lấy một ít, lần lượt nếm thử, và đưa ra bình phẩm. Chân Chân lại cho các tì nữ dùng túi vải nhỏ đựng các loại gạo, ghi rõ tên, bày bán bên cạnh tửu lâu, nhờ vậy, khách đã nếm qua cơm bát quái thường sẽ chọn loại mình thích mua thêm một ít về nhà ăn. Cơm bát quái một lần có thể cho thực khách nếm được ba mươi tư loại lương thực nhanh chóng nổi danh khắp phủ Ninh Quốc, lại thu hút thêm một lượng lớn khách hàng cho tửu lâu. Rất nhiều khách đặt tiệc không đủ tám người cũng tự nguyện bỏ tiền mua, trong đó có người là những kẻ sành ăn thích nghiên cứu ẩm thực, có người là nhà có ruộng đất, muốn tìm giống tốt để canh tác. Vệ Thanh Tầm định giá những túi gạo nhỏ bán ra khá cao, nhưng người mua vẫn nườm nượp không ngớt, khá nhiều loại nhanh chóng bán hết sạch, khiến Vệ Thanh Tầm buộc phải nhanh chóng phái người đi bổ sung hàng. Chân Chân căn cứ vào tình hình gạo hết hàng, kết hợp với ý kiến phản hồi của khách do người phục vụ tửu lâu báo lên, lập ra danh sách những giống được ưa chuộng nhất và địa điểm mua, giao cho Triệu Khải, nói với chàng: "Công trình ruộng đồng tiến triển thuận lợi, ruộng hoang trong đê cũng đã phân phối gần xong, tiếp theo là để chủ điền và tá điền chọn giống canh tác. Những giống này là khách của Lộc Minh Lâu và Trạm Nhạc Lâu sẵn lòng bỏ tiền ra mua, phẩm chất thượng hạng, có thể gợi ý nông hộ trồng rộng rãi. Trồng tốt, sản lượng đủ thì có lẽ còn bán được đi nơi khác." Triệu Khải lộ vẻ vui mừng: "Ta đang xử lý chuyện chọn giống đây. Tá điền nhận ruộng hoang canh tác nhiều người ngay cả tiền mua giống lúa cũng không có, ta đã quyết định quan phủ đứng ra mua giống lúa, cho họ vay để gieo trồng, đợi khi lúa chín họ sẽ hoàn trả. Hiện đang cân nhắc đi đâu mua, xem ra chúng ta tâm linh tương thông, danh sách này của nàng đến đúng lúc lắm." Chân Chân mỉm cười nói: "Huynh dùng được là tốt nhất rồi, muội còn lo huynh đã quyết định xong từ sớm, muội làm điều thừa thãi." "Ý kiến của nàng về ăn uống lúc nào cũng rất có lý, chỉ cần nàng chịu nói cho ta, bất cứ lúc nào ta cũng sẵn lòng nghe." Giọng Triệu Khải nhàn nhạt, nhưng tỏ ra rất chân thành, lát sau lại nhắc đến một chủ đề khác, "Đúng rồi, còn một việc nữa, cũng cần nhờ nàng giúp đỡ: Phủ Ninh Quốc nằm ở phía nam sông Trường Giang, từ xưa đến nay, nhà nhà chủ yếu ăn cơm gạo. Nhưng sau khi dời đô xuống phía Nam, lượng lớn người phương Bắc di cư đến, dân chúng phương Bắc chuyển đến chủ yếu ăn bột mì, mà người phương Nam trồng lúa mạch ít, không chỉ phủ Ninh Quốc, hiện nay cả vùng Giang Nam Lưỡng Chiết, bột mì đều cung không đủ cầu, nên giá lúa mạch tăng vọt. Quan gia vẫn luôn khuyến khích nông hộ tháng năm trồng lúa nước, tháng mười thu hoạch xong, lại cày xới ruộng đất trồng nhị mạch (đại mạch và tiểu mạch), tháng tư năm sau lúa mạch chín thu hoạch, cày xới xong lại có thể tiếp tục trồng lúa nước. Như vậy, trong một năm lúa và mạch đều được mùa, sản lượng nhị mạch tăng mạnh, có thể bình ổn giá mạch, ruộng đất cũng không đến nỗi bỏ hoang mấy tháng. Nhưng người phương Nam trọng gạo khinh nhị mạch, nông hộ phủ Ninh Quốc cũng vậy, đa phần thà trồng lúa hai vụ chứ không chịu trồng nhị mạch, mà bất kể lúa sớm hay lúa muộn, đều không thể qua đông, xét về tận dụng đất đai, cũng không bằng lúa mạch hai vụ. Nàng có thể dẫn dắt đầu bếp tửu lâu, làm thêm nhiều món ngon từ bột mì, để nhiều người nếm thử, từ đó chấp nhận món ăn từ bột mì, để nông hộ nhận ra lợi ích của việc trồng mạch, tự giác trồng mạch không?" Chân Chân trầm ngâm một chút, rồi nói với Triệu Khải: "Muội về nghĩ xem, chắc là có thể thử." Chân Chân quyết định dùng một phương pháp thu hút sự chú ý hơn để làm việc này. Nàng thuyết phục Vệ Thanh Tầm cho mình cứ cách bảy ngày lại ngăn ra một gian bếp tạm thời hình tròn lộ thiên trong cái sân tổ chức Hội Trâm Hoa kia, bản thân làm món điểm tâm từ bột mì ở trong đó, cho phép khách và người qua đường vây xem, đồng thời dựng một tấm biển trước cổng viện, công khai chiêu mộ những người giỏi làm món bột mì đến thách đấu với mình. Người thách đấu và Chân Chân mỗi người làm một món bột mì trong bếp ở trong sân, mặc người vây xem, làm xong đồng thời bày bán trước cửa tửu lâu, số lượng món bột mì hai người làm như nhau, mỗi khách chỉ được mua một phần, ai bán hết trước thì thắng. Nếu người thách đấu thắng, Chân Chân sẽ lập tức cho người dâng lên mười quan tiền làm phần thưởng, và thương lượng thêm một mức giá, làm chi phí người thách đấu chuyển nhượng công thức cách làm, cho phép Lộc Minh Lâu và Trạm Nhạc Lâu sau này chế biến bày bán. Chân Chân ở Thượng thực cục đã sớm học được cách làm các loại món bột mì, nay ngoài màn thầu Thái học, mì trơn …có thể làm món chính, còn thường chọn những món người địa phương ít thấy để làm: Hạt dẻ ngào đường, bánh giòn đường, bánh trôi nhân đậu, bánh xốp tuyết... mỗi lần làm một món khác nhau, thủ pháp khiến người xem hoa cả mắt, tạo hình điểm tâm tinh xảo, khiến người vây xem vừa thấy đã thèm, vừa bày ra đã nhanh chóng bị tranh mua hết sạch. Thường xuyên có người xung phong đến thách đấu, nhưng người thắng được Chân Chân rất ít. Dần dần cuộc thách đấu trong bếp viện này lại trở thành một sự kiện lớn của Lộc Minh Lâu sau Hội Trâm Hoa, cứ đến ngày là có người đến xếp hàng từ sớm, chuẩn bị vây xem, mà phàm là người giỏi làm món bột mì ở phủ Ninh Quốc, bất kể đầu bếp hay bà nội trợ bình thường, đa phần đều nóng lòng muốn thử, muốn đến tranh món tiền thưởng kha khá kia, hoặc đ.á.n.h bại Chân Chân, một trận thành danh. Chân Chân lại tìm vài mặt bằng nhỏ trong thành, mở mấy tiệm bán món bột mì thuộc Lộc Minh Lâu, mỗi lần thách đấu kết thúc, món bột mì chiến thắng hôm sau sẽ được bày bán trong các tiệm này, qua sự truyền miệng tự phát của người qua đường xem thách đấu, lượng tiêu thụ món bột mì cũng rất tốt. Mà người từng xem Chân Chân làm món bột mì, thường sẽ muốn tự mình bắt chước làm theo, nếu làm thành công, hứng thú với món bột mì tăng mạnh, bột mì cũng mua ngày càng nhiều. Hôm nay Chân Chân quyết định công khai làm một món điểm tâm trong kinh thành - Ngọc Quán Phổi (phổi rót ngọc), người đến thách đấu nàng trông như một người phương xa, một văn sĩ gầy gò hơn bốn mươi tuổi, dường như du lịch đến nơi này, vốn chỉ định đến xem náo nhiệt, thấy nhất thời không ai đứng ra thách đấu, lại nhìn nguyên liệu chuẩn bị trong sân, có thứ mình cần, bèn mở miệng tỏ ý mình có thể làm một ít bánh kẹp dầu (du giáp nhi), "xin Tống nương t.ử chỉ giáo". Hai người chuẩn bị xong nguyên liệu, liền bắt đầu mỗi người một việc trong bếp tạm thời. Ngọc Quán Phổi Chân Chân làm là dùng bột mì trộn với sáu vị bánh dầu, vừng, hạt thông, hồ đào, hồi hương, cán mỏng rồi cuộn thành cuộn dài, cho vào chõ hấp chín rồi cắt thành miếng để ăn. Quả khô lẫn trong cuộn bột nóng hổi, cảm giác khi ăn ngọt bùi, cũng có lợi cho sức khỏe, nên món điểm tâm này xưa nay được quý nhân trong kinh yêu thích. Món bánh kẹp dầu vị văn sĩ kia làm là một loại bánh dầu, quá trình nhào bột không có gì đặc biệt, nhưng nhân bánh chọn là rau cải tuyết (tuyết lý hồng) khô đã muối và thịt ba chỉ hơi mỡ. Ông ta ngâm rau cải tuyết khô cho nở một chút, rửa sạch thái nhỏ, thịt ba chỉ thái hạt lựu, trộn đều, nêm nếm gia vị, sau đó gói thành bánh, dùng dầu chiên chín. Hình dáng bình thường không có gì lạ, khi ra lò cũng không có mùi thơm đặc biệt tỏa ra, nhưng khi ông ta và Chân Chân theo thông lệ lấy món mình làm xong cắt thành miếng nhỏ mời người xung quanh nếm thử trước, rất nhiều người đều tỏ ra vô cùng hứng thú với món bánh kẹp dầu này, liên tục hỏi có thể nếm thêm một miếng không. Chân Chân cũng lấy một miếng bánh kẹp dầu bỏ vào miệng nếm thử, vừa nhai một cái mỡ thơm tràn ngập, vị mặn thơm của rau cải tuyết ngấm đầy dầu mỡ và vị thịt bổ sung cho nhau, phối hợp không chê vào đâu được, càng nhai càng thơm. Là một hương vị rất đỗi thường ngày, giống như món đưa cơm bà nội làm, cứ ăn mãi ăn mãi, món bột mì nhỏ bé không phức tạp này cùng với hơi nóng nó truyền đến lòng bàn tay, sẽ khiến người ta nhanh chóng cảm nhận được sự ấm áp nho nhỏ mà những ngày thường nhật trong mùa đông này mang lại. Khi hai loại món bột mì được đưa ra trước cửa tửu lâu bán, bánh kẹp dầu quả nhiên nhỉnh hơn một chút, khi bán hết Ngọc Quán Phổi còn thừa hai phần. Chân Chân tỏ ý thua tâm phục khẩu phục, hỏi văn sĩ kia chi phí cho phép Lộc Minh Lâu làm món bánh kẹp dầu này, văn sĩ cười nói: "Đây là món ăn thường ngày nhà ta, nguyên liệu và cách làm đều không có gì lạ, ta cũng không dựa vào trù nghệ kiếm sống, các cô muốn làm thì làm, không cần trả tiền cho ta. Lần này đến phủ Ninh Quốc, ta cũng nghe nói một số sự tích của Tống nương tử, nếu ta đoán không lầm, chủ ý của hành động này của Tống nương t.ử không nằm ở việc kiếm lợi, chắc là muốn mượn việc công khai làm món bột mì để hướng dẫn cư dân nơi đây coi trọng nhị mạch, thúc đẩy việc trồng nhị mạch. Đã vậy, nguyên liệu và cách làm món bột mì nương t.ử làm mẫu chi bằng đơn giản hơn một chút, để người dân dễ bắt chước, như vậy càng có lợi cho việc lan truyền, thậm chí lưu truyền hậu thế." Triệu Khải biết hành động hôm nay của Chân Chân, xử lý xong việc công liền tản bộ đến Lộc Minh Lâu xem. Lúc đó người vây xem đã tản đi, mà Chân Chân vẫn đang trò chuyện với vị văn sĩ kia trong sân. Triệu Khải thấy Chân Chân nói chuyện với người đó mặt mày rạng rỡ, cười tươi như hoa, lập tức có chút không vui, ho một tiếng, chậm rãi đi về phía họ. Chân Chân quay đầu thấy là chàng, cười mời chàng lại chào hỏi vị văn sĩ kia: "Vị này là Tăng tiên sinh Tăng Chi Cẩn." Tăng Chi Cẩn nghe nói thân phận Triệu Khải, lập tức cúi người vái chào thật sâu, Triệu Khải cũng ung dung đáp lễ, nhưng vẻ mặt vẫn nhàn nhạt. Tăng Chi Cẩn nhanh chóng cáo từ, Chân Chân tiễn ông ra cửa, không quên mời đi mời lại: "Tiệc ngày mai ở Lộc Minh Lâu, Tăng tiên sinh nhất định phải đến nhé." Đợi nàng quay lại, Triệu Khải hỏi nàng cớ sao nhiệt tình với Tăng Chi Cẩn như vậy, Chân Chân kể lại chuyện hôm nay, lại nói: "Tăng tiên sinh dòng dõi học rộng, anh em của ông nội ông ấy là Tăng An Chỉ tiến sĩ thời Hi Ninh, cảm thán sĩ đại phu thời đó chỉ thích viết sách bàn về hoa cỏ, mà coi nhẹ việc nông, bèn tự viết một bộ 'Hòa Phổ' bàn về lúa mạ. Tăng Chi Cẩn tiên sinh cũng dốc lòng nghiên cứu việc nông, rất có kinh nghiệm về chọn giống, gieo trồng, hiện đang viết một bộ 'Nông Khí Phổ' bàn về nông cụ. Thanh Tầm mời các hương thân sở hữu lượng lớn ruộng đất ở phủ Ninh Quốc ngày mai đến Lộc Minh Lâu dự tiệc trưa, muội bèn mời Tăng tiên sinh cùng đến, truyền thụ cho họ chút kiến thức nông nghiệp. Ngày mai huynh cũng đến nhé." Triệu Khải chần chừ nói: "Ngày mai công việc nhiều, không biết có qua được không..." "Nhất định phải đến." Chân Chân bảo chàng, "Thanh Tầm nói với các hương thân huynh sẽ tham dự, họ mới đều nhận lời đến đấy." Tiệc trưa hôm sau, nhân lúc hương thân tề tựu đông đủ, Vệ Thanh Tầm cố ý hỏi Triệu Khải về tình hình tu sửa đê điều, Triệu Khải giới thiệu qua tiến độ công trình, Vệ Thanh Tầm lại nói: "Gần đây ta cũng mua một mảnh ruộng lớn ở vu Huệ Dân, mảnh đất đó vốn có đê tư (tư vu) riêng, nhưng lâu năm không tu sửa, nay chỗ nào cũng hổng. Không biết đê công (công vu) tu sửa có đủ kiên cố không, chúng ta có phải cứ yên tâm đợi đê công sửa xong là được, không cần sửa lại đê tư cho ruộng trong đê nữa?" Triệu Khải nói: "Đê công tuy kiên cố, nhưng để phòng vạn nhất, các vị tốt nhất vẫn nên tu sửa thêm một đạo đê tư cho ruộng tư trong đê, như vậy nếu gặp đại hồng thủy, cho dù nước lũ tràn qua đê công, bên trong vẫn còn đê tư bảo vệ ruộng đồng, hai tầng bảo vệ này, đủ để ruộng đồng hạn hán lụt lội vẫn được mùa." Vệ Thanh Tầm cười nói có lý, lập tức tỏ ý sẽ tu sửa đê tư cho ruộng của mình, Triệu Khải cũng mỉm cười cho biết ngay khi cô tu sửa xong, sẽ công khai khen thưởng. Các hương thân ngồi đó lập tức đứng ngồi không yên, nhao nhao hưởng ứng, tranh nhau bày tỏ, đều nói sẵn lòng tu sửa đê tư cho ruộng nhà mình. Chân Chân liền hỏi Vệ Thanh Tầm: "Ta thấy mảnh đất lâu chủ mua gần đó là ruộng hoang mới được tá điền nhận canh tác, họ chắc chắn không bỏ tiền ra tu sửa đê tư được, không biết lâu chủ có thể giúp họ một tay, sửa luôn cả khu đó không." "Việc này có gì khó." Vệ Thanh Tầm cười nói, lập tức sai người lấy bản đồ vu Huệ Dân đến, cầm bút khoanh một cái, khoanh luôn cả khu ruộng hoang gần ruộng nhà mình vào, "Cứ sửa theo đường này đi." Lần này các hương thân không dám nhất nhất nghe theo cô ta nữa. Đê tư tuy không cao rộng bằng đê công, chi phí ít hơn nhiều, nhưng nếu phải sửa luôn cả khu ruộng hoang gần đó, cũng là một khoản tiền lớn, thế là mọi người hoặc nhìn nhau không nói, hoặc mắt nhìn mũi mũi nhìn tim, đều không mở miệng nữa. Vệ Thanh Tầm cố tình đẩy bản đồ đến trước mặt Vương viên ngoại ngồi gần đó, chỉ trỏ nói: "Ta vốn định gạch đường này qua kia một chút nữa, nhưng nhìn lại, bên đó sắp đến điền sản của Vương viên ngoại rồi. Với thực lực của viên ngoại, chẳng lẽ còn cần bậc hậu bối như ta lo chuyện ruộng đất lân cận sao? Ta mà sửa đê tư đến gần điền sản viên ngoại, lại sợ người ta nói ta trẻ người non dạ, cố ý đến trước mặt viên ngoại khoe khoang." Vương viên ngoại đành gượng cười nói: "Khu ruộng hoang đó gần điền sản lão phu, cũng là có duyên, lẽ ra nên do lão phu tiện thể tu sửa đê tư." Nói xong cũng cầm bút, khoanh vùng mình định sửa. Các hương thân khác thấy vậy, trước mặt Triệu Khải, cũng không tiện tiếp tục im lặng, từng người lần lượt vẽ vòng tròn, nhận lãnh tu sửa hết đê tư của ruộng hoang trong đê công. Thấy kết quả này, Triệu Khải tâm trạng rất tốt, cười nâng ly cảm tạ mọi người, lại giới thiệu Tăng Chi Cẩn với họ, trong lúc chén chú chén anh, dẫn dắt mọi người thỉnh giáo Tăng Chi Cẩn về việc chọn giống và chọn nông cụ mới lạ hữu dụng. Mọi người dần cởi mở tấm lòng, chúc rượu nhau sảng khoái, đến khi rượu say tai nóng, chủ khách đều vui. Sau đó Triệu Khải hỏi Chân Chân, có phải nàng khuyên Vệ Thanh Tầm tu sửa đê tư cho ruộng hoang không, Chân Chân nói: "Cô ấy nhìn ra ta công khai làm món bột mì ý không ở kiếm tiền trước, hỏi mục đích của ta. Ta nói tiền kiếm đến một mức nhất định rồi thì không còn ảnh hưởng đến cuộc sống của mình nữa, chỉ là con số không ngừng tăng lên trên sổ sách mà thôi. Cô ấy đã thành người giàu nhất phủ Ninh Quốc rồi, tiền nhiều một chút ít một chút thực ra không quan trọng lắm, nhưng nếu dùng một phần tiền không dùng đến để làm việc tốt, tạo phúc cho bách tính, thì là hành vi hành thiện tích đức, sẽ có phúc báo. Hơn nữa, khiến nhiều người sống an ổn sung túc hơn, chẳng phải có cảm giác thành tựu hơn là tự mình kiếm thêm chút tiền không dùng đến sao? Cô ấy thấy có lý, ta bèn thuận thế gợi ý cô ấy tu sửa đê tư. Nhưng bày tiệc này để các hương thân cũng bỏ tiền sửa đê, là cách cô ấy tự nghĩ ra." Tháng tư năm sau, công trình vu Huệ Dân đã xong quá nửa, ruộng hoang trong đê đã được khai khẩn không ít. Gần đến Tiểu Mãn, Triệu Khải đến mời Chân Chân cùng đi vu Huệ Dân, xem lúa mì gieo từ mùa đông năm ngoái, nay sắp thu hoạch. Hai người mỗi người cưỡi một con ngựa, men theo đê bao đã tu sửa xong, phi về phía ruộng lúa mì vàng óng. Dọc đường gió xuân ấm áp, dương liễu trên đê thướt tha, trong đê những bông lúa mì trĩu hạt nhấp nhô trong gió, sóng lúa dập dờn phản chiếu ánh mặt trời tỏa ra một tầng hào quang mềm mại. Họ dừng lại bên một cánh đồng lúa mì bát ngát mênh mông, Triệu Khải chỉ vào ruộng lúa, nói với Chân Chân: "Chủ nhân cánh đồng này vốn chỉ định trồng lúa hai vụ, mùa đông định lười biếng ngủ đông, nhưng ăn món bột mì nàng làm, lại thấy cảnh vạn người tranh mua bột mì, cuối cùng đổi ý, tranh thủ phút chót tìm người cày xới gieo hạt, trồng lúa mì qua đông." "Vận may của ông ta không tệ." Chân Chân cười nói, "Năm ngoái đến năm nay mưa thuận gió hòa, lại có tuyết lành, lúa mì phát triển tốt, ông ta chắc chắn sẽ kiếm bộn tiền." Triệu Khải cũng cười nói: "Không biết trong những bông lúa mì này có lúa hai nhánh (lưỡng kỳ mạch) không. Nếu trên một cây lúa mọc ra hai bông, sẽ được coi là điềm lành, là biểu tượng của mưa thuận gió hòa, thiên hạ thái bình." "Chúng ta xuống ruộng tìm thử xem?" Chân Chân gợi ý. Triệu Khải cười gật đầu. Thế là hai người buộc ngựa vào gốc liễu trên đê, theo bậc thang xuống ruộng lúa mì, bắt đầu tìm kiếm lúa hai nhánh. Cúi người tìm kỹ hồi lâu không thấy, Chân Chân đứng thẳng lau mồ hôi, thất vọng nhìn về phía xa, lại nghe Triệu Khải sau lưng cao giọng nói: "Chỗ kia hình như có!" Chân Chân quay đầu nhìn lại, quả nhiên thấy trên một cây lúa cách Triệu Khải không xa dường như mọc hai bông, lập tức mặt mày hớn hở rảo bước chạy tới, nhưng trong lúc di chuyển bỗng cảm thấy giẫm phải vật gì mềm mềm trơn trơn, cúi đầu nhìn xuống, lập tức sợ mất hồn mất vía: Giẫm phải lại là một con rắn, lúc này đã quấn lên, siết chặt lấy bắp chân nàng. Nghe tiếng Chân Chân hét lên kinh hãi, Triệu Khải nhanh chóng lao tới, thấy vậy không chút do dự, đưa tay giật mạnh con rắn khỏi bắp chân Chân Chân, mà chỗ chàng nắm là đoạn giữa thân rắn, con rắn giãy giụa quay đầu quấn lấy tay phải Triệu Khải, lập tức c.ắ.n vào cánh tay chàng một cái. Triệu Khải tay trái giật con rắn xuống, ném xuống ruộng, tay phải rút kiếm, c.h.é.m liên tiếp mấy nhát, c.h.é.m con rắn thành mấy khúc. Thấy Chân Chân mặt cắt không còn giọt máu, mỉm cười an ủi nàng, nói: "Rắn trong ruộng, đa phần là rắn nước, không sao đâu." Chân Chân lại gần nhìn kỹ con rắn, thấy lưng nó màu đen, trên thân có vằn ngang màu trắng, không giống rắn nước không độc, lập tức lo sợ bất an, nâng tay Triệu Khải lên, kiểm tra vết thương. Triệu Khải vẫn mỉm cười nói không đau, nhưng không lâu sau Chân Chân liền phát hiện tay phải chàng dường như không cử động được nữa, vết thương cũng dần rỉ máu. Chân Chân lo lắng nhìn quanh bốn bề vắng lặng, vừa lo vừa thương, hai giọt nước mắt trào ra. "Không sao, chẳng đau chút nào, chỉ là tay hơi tê..." Triệu Khải vẫn cố an ủi nàng. Chân Chân thấy trước mắt chỉ có thể tự cứu, quyết đoán lấy khăn tay buộc chặt cánh tay phía trên vết thương của chàng, làm chậm độc tố lan lên theo mạch máu, sau đó hai tay giữ chặt cánh tay chàng, cúi đầu ngậm lấy vết thương, hút m.á.u độc trong vết thương ra. Triệu Khải lập tức muốn rút tay về, nhưng Chân Chân dùng hết sức giữ chặt, không cho chàng rụt tay, kiên trì từng ngụm từng ngụm hút m.á.u ở vết thương từ màu thẫm đến đỏ tươi mới buông chàng ra, quay đầu nhổ m.á.u còn sót trong miệng xuống đất. Chân Chân đợi hô hấp điều hòa lại, đi dìu Triệu Khải, muốn đưa chàng về cưỡi ngựa đến chỗ có người, nhưng nọc rắn đó dường như rất hung mãnh, Triệu Khải chưa đi được mấy bước chân đã mềm nhũn, ngã xuống ruộng lúa mì. Tim chàng đập nhanh, ôm n.g.ự.c th* d*c một lúc, bỗng bắt đầu nôn mửa. Nôn đến mật xanh mật vàng, chàng gượng cười nói đỡ hơn rồi, gắng gượng đi được hơn trượng, lại chóng mặt hoa mắt, đầu gối khuỵu xuống, ngã xuống đất. Lần này chàng từ bỏ đi tiếp, dứt khoát nằm ngửa trên ruộng lúa. Chân Chân tuy mỗi lần hút một ngụm đều nhổ m.á.u độc ra, nhưng trong miệng khó tránh khỏi còn dư độc, lúc này cũng thấy chóng mặt buồn nôn, tay chân bủn rủn, cũng không trụ nổi nằm vật xuống bên cạnh Triệu Khải. "Nếu không phải cứu muội, huynh cũng sẽ không bị rắn cắn." Chân Chân nằm ngửa nhìn một áng mây trôi nơi chân trời, buồn bã nói với Triệu Khải, "Xem ra muội là người không may mắn, đem vận rủi đến cho đại ca huynh, nay lại liên lụy đến huynh." "Sao có thể trách nàng, là ta muốn đưa nàng đi xem ruộng lúa mì mà." Triệu Khải cười nhẹ nói, "Nàng không trách ta, ngược lại tự trách mình, làm gì có lý đó." Cả hai im lặng một lát, Triệu Khải lại nói: "Có một câu hỏi, ta vẫn luôn muốn hỏi nàng, nhưng lại không dám hỏi. Nay e là không hỏi nữa thì không còn cơ hội..." Chân Chân bèn nói: "Muốn hỏi gì thì hỏi đi." Triệu Khải hỏi: "Nàng thích Đại ca ở điểm gì?" Chân Chân nghĩ ngợi, nói: "Chàng ấy như ánh mặt trời, ở bên chàng ấy, lúc nào cũng thấy ấm áp." "Vậy còn Lâm Hoằng?" Triệu Khải truy hỏi. "Huynh ấy là ánh trăng, một dòng nước thu một vầng trăng, không nhiễm bụi trần. Lúc đó nhìn huynh ấy, liền cảm thấy nội tâm an tĩnh." Chân Chân trả lời nghiêm túc. Triệu Khải cố gắng tỏ ra không quan tâm: "Vậy còn ta? Là ánh sáng gì?" "Huynh... là một loại đốm sáng nhảy nhót." Chân Chân cân nhắc, từ từ trả lời. Triệu Khải chớp chớp mắt: "Ánh sao?" Chân Chân cười: "Huynh là con đom đóm biết phát sáng." "Họ là ánh sáng nhật nguyệt, chiếu rọi khắp mặt đất, còn ta chỉ là một con đom đóm?" Triệu Khải không khỏi ngạc nhiên, ngay sau đó lại tự cười giễu, "Thôi được rồi, thôi được rồi, làm một con đom đóm, bay quanh nàng không rời không bỏ, chút ánh sáng vi mô ít ỏi, chỉ thắp sáng cho một mình nàng, cũng không tệ. Như vậy cho dù nàng ở trong đêm tối vô tận, vẫn có thể thấy một chút ánh đom đóm bay lượn." Chân Chân nhếch khóe môi, muốn nở một nụ cười với chàng, nhưng lúc này tim đau nhói, nhớ lại tất cả những gì chàng lặng lẽ làm cho mình trước đây, chỉ thấy trong lòng tràn đầy áy náy với chàng. "Hơn nữa, nhật nguyệt cách nàng quá xa, ta lại cách nàng rất gần." Triệu Khải lại nói, "Gần đến mức nàng vừa đưa tay, là có thể nắm ta trong lòng bàn tay... Tuy nàng chẳng hề muốn." Chân Chân quay đầu đi, để tránh cho chàng nhìn thấy đôi mắt đẫm lệ của mình. Triệu Khải cười buồn, lại nhắc chuyện cũ: "Lúc Lâm Hoằng từ chối cưới nàng, ta muốn đứng ra bảo vệ nàng, nhưng chưa nghĩ ra nên nói thế nào... Do dự một cái, đã bị Đại ca giành trước... Thực ra tại sao phải nghĩ nhiều thế? Đứng ra trực tiếp kéo nàng lên ngựa, ném cho Lâm Hoằng một ánh mắt lạnh lùng kiêu ngạo, nghênh ngang bỏ đi là được rồi... Ta ban đầu thua Đại ca, cũng chỉ nửa nước cờ này thôi..." Thấy Chân Chân im lặng không nói, chàng thở dài, nhìn mây nhẹ bên trời, ánh vàng bốn phía, cảm nhận khoảng thời gian tốt đẹp có nàng bên cạnh, cuối cùng quyết định liều một phen, cố gắng kiểm soát chiếc lưỡi bắt đầu tê dại, nói với Chân Chân: "Dù sao đại khái là không sống nổi qua ngày mai rồi, vậy ta cũng không ngại nói ra lời trong lòng: Vào lúc cảnh đẹp ngày vui này, ta chỉ muốn làm một nông phu thế tục, một gậy đ.á.n.h rụng mặt trời, hai tay bế nàng vào phòng." Nói xong cảm thấy nhẹ nhõm hẳn, cảm giác chóng mặt ban đầu cũng dần tan biến, bây giờ chàng lại thấy buồn ngủ. Chàng an nhàn nhắm mắt trong ánh nắng ấm áp, tạm thời không nghĩ đến Chân Chân lúc này có biểu cảm gì. Chương 125 - Bạch Nhật Uyển Vãn Câu nói thẳng thắn ấy khiến dòng suy tư của Chân Chân chợt ngưng trệ. Đây là một bài toán còn khó giải hơn cả việc kinh doanh ruộng đất hay tửu lâu. Nàng ngẩn ngơ hồi lâu, dần cảm thấy gương mặt nóng bừng còn hơn cả ánh nắng thiêu đốt, mà vẫn chưa nghĩ ra cách đáp lại sao cho phải phép. Sau đó, nàng phát hiện Triệu Khải nhắm mắt không nói nữa, chẳng biết là đã ngủ thiếp đi hay rơi vào hôn mê. Nàng bỗng thấy bất an, nhẹ nhàng vỗ vỗ má chàng, gọi "Nhị ca", nhưng Triệu Khải hoàn toàn không có tri giác, nằm im bất động. Chân Chân càng thêm hoảng hốt, lại bấm nhân trung chàng, vẫn không lay tỉnh được chàng. Nàng nhớ lại cảnh tượng lúc Trang Văn Thái t.ử lâm chung, nỗi bi thương trĩu nặng lại như một con sóng mực đen ập thẳng vào mặt, nhất thời trời đất quay cuồng, tim đau như muốn nứt ra. Nàng quỳ bên cạnh Triệu Khải, nắm lấy tay chàng, khóc không thành tiếng, trong nỗi đau khổ tột cùng, nàng từ từ cúi thấp người xuống, nhưng khi trán chạm vào lồng n.g.ự.c chàng, nàng nghe thấy tiếng tim đập. Lập tức ghé tai lắng nghe kỹ, cảm nhận được trái tim chàng vẫn đang đập nhịp nhàng không nhanh không chậm, nàng nhanh chóng quệt đi vệt nước mắt, nén xuống mọi cảm giác khó chịu, gượng gạo đứng dậy, chân thấp chân cao dốc toàn lực rảo bước về phía đê bao. Nàng leo lên đê, nhìn quanh hồi lâu, cuối cùng thấy một chiếc xe trâu chở lúa mì xuất hiện ở một đầu đê. Nàng vẫy hai tay về phía xe trâu, đợi xe đến gần, lại lớn tiếng gọi, bảo người đ.á.n.h xe giục trâu đi nhanh đến trước mặt mình. Nàng nói rõ chuyện Triệu Khải trúng độc với người nông phu đ.á.n.h xe, người nông phu lập tức theo nàng xuống ruộng lúa, cõng Triệu Khải lên, đưa lên xe trâu. Chân Chân thấy xe trâu đi chậm, không kịp về thành, bèn nhờ nông phu đ.á.n.h xe đến khách đm của Củng chủ quán, bản thân cưỡi ngựa, dắt theo ngựa của Triệu Khải, đi theo sau xe trâu. Nàng vốn đã đau đầu như búa bổ, khó khăn lắm mới chống đỡ được đến giờ, sớm đã sức cùng lực kiệt, bèn mê man gục trên lưng ngựa, mặc cho ngựa đi chậm rãi. May mà con ngựa này ở cùng nàng đã mấy tháng, cũng khá có linh tính, lúc này tự biết đi theo xe trâu, bình an vô sự đi đến khách đm nhà họ Củng. Củng chủ quán vừa thấy tình trạng của họ thì giật mình kinh hãi, vội gọi người làm dìu Triệu Khải và Chân Chân lên lầu nghỉ ngơi, cũng không quên lấy tiền hậu tạ người nông phu đ.á.n.h xe. Nghe Chân Chân kể lại sự tình, Củng chủ quán nói: "Nay thời tiết ấm áp, chính là lúc rắn ra khỏi hang, ruộng đất quanh đây bỏ hoang đã lâu, quả thực có rắn độc lui tới. May mà gần đây có một người bắt rắn sinh sống, ngày thường bắt rắn nuôi rắn lấy nọc, cũng biết nhiều phương t.h.u.ố.c trị rắn cắn, ta lập tức cho người đi mời ông ấy qua đây." Người bắt rắn tên là La Thế Hoa, tự xưng năm nay sáu mươi tuổi, nhưng thân thể cường tráng, mặt mày hồng hào, cũng hiếm thấy tóc bạc. Ông ta xem vết thương của Triệu Khải, lại hỏi Chân Chân quá trình bị thương và hình dáng con rắn, phán đoán: "Chắc là rắn cạp nia (ngân hoàn xà), một trong những loài rắn độc nhất. May mà cô nương kịp thời hút ra cho Ngụy Vương rất nhiều m.á.u độc, hiện tại ngài ấy tuy hôn mê, nhưng vẫn còn cứu được." Ông ta rửa sạch vết thương cho Triệu Khải, từ trong hòm t.h.u.ố.c mang theo lấy ra mấy loại thảo d.ư.ợ.c như bán chi liên, mã xỉ hiện (rau sam), từ trường khanh... giã nát rồi đắp lên vết thương băng bó lại, lại lấy một ít bột thuốc, nhờ Củng chủ quán lập tức lấy nước cho Triệu Khải uống, lại đưa cho Chân Chân một ít bột thuốc, cũng bảo nàng uống. Chân Chân uống t.h.u.ố.c xong nghỉ ngơi một lát, dần cảm thấy cảm giác chóng mặt buồn nôn không còn nghiêm trọng như trước, nhưng Triệu Khải vẫn chưa tỉnh, nàng không khỏi lộ vẻ lo âu. La Thế Hoa thấy vậy an ủi: "Nương t.ử cứ yên tâm, t.h.u.ố.c trị rắn độc của lão rất hiệu nghiệm, Ngụy Vương lại còn trẻ, chắc không có gì đáng ngại, ngủ thêm vài canh giờ nữa sẽ tỉnh thôi." Ông ta lấy thêm một thang thuốc, bảo Củng chủ quán mang đi sắc trước, đợi Ngụy Vương tỉnh lại thì mời ngài ấy uống, lại cầm bút kê đơn t.h.u.ố.c cho Chân Chân, dặn dò nàng mấy ngày sau cứ theo đơn này cho Ngụy Vương uống thuốc. Chân Chân nhận đơn thuốc, lại hỏi ông ta mình có cần tiếp tục uống t.h.u.ố.c không, La Thế Hoa cười nói: "Nương t.ử uống một liều này đã không sao rồi, không cần uống nữa. Nọc rắn này được xưng tụng là kiến huyết phong hầu (gặp m.á.u phong họng), nhưng cũng phải là rắn c.ắ.n rách da, để nọc độc đi vào m.á.u mới có thể độc c.h.ế.t người. Nương t.ử chỉ là khoang miệng tiếp xúc với nọc rắn, không phải bị rắn c.ắ.n bị thương, sẽ không nguy hiểm đến tính mạng." "Tức là, nọc rắn phải gặp m.á.u mới khiến người ta trúng độc?" Chân Chân ngạc nhiên hỏi, "Vậy tại sao ta cũng có triệu chứng trúng độc như chóng mặt buồn nôn, tứ chi vô lực?" La Thế Hoa hỏi ngược lại: "Có phải trong miệng nương t.ử có chút lở loét ở lợi hoặc lưỡi không?" Chân Chân ngẩn người, lập tức nhận ra, gần đây vì bận rộn việc tửu lâu, thiếu ngủ, ăn uống thất thường, hư hỏa bốc lên, trong miệng quả thực có một vết nhiệt miệng to bằng hạt gạo. Thấy Chân Chân thừa nhận, La Thế Hoa lại nói: "Nếu nương t.ử thân thể khỏe mạnh, khoang miệng, thực quản và dạ dày đều không có vết loét, môi và nướu cũng không chảy máu, thì dù nuốt phải nọc rắn, cũng rất khó trúng độc. Nương t.ử trước đó cảm thấy chóng mặt buồn nôn, là vì một lượng nhỏ nọc rắn qua vết nhiệt miệng ngấm vào máu, mới gây ra những triệu chứng này." Chân Chân trầm ngâm suy nghĩ, rồi hỏi: "Một người thường xuyên đau dạ dày, có phải là trong dạ dày có vết loét không? Nếu ăn phải thức ăn dính nọc rắn, thì sẽ trúng độc đúng không?" "Rất có khả năng." La Thế Hoa nói, "Thường xuyên đau dạ dày đa phần là do niêm mạc dạ dày có tổn thương, như vậy nọc rắn từ thực quản đi vào dạ dày sẽ tiếp xúc với m.á.u mà khiến người ta trúng độc." Chân Chân trầm ngâm hồi lâu, lại hỏi ông ta: "Củng chủ quán nói tiên sinh sống bằng nghề bắt rắn nuôi rắn lấy nọc, vậy nọc rắn có thể lấy từ miệng rắn ra để dùng vào việc khác sao?" La Thế Hoa đáp: "Đúng vậy. Lấy nọc rắn không khó, giữ chặt cổ rắn, nhét một cái đĩa sứ nhỏ vào miệng nó cho nó cắn, trong miệng nó sẽ chảy ra nọc độc. Lát sau lấy đĩa sứ ra, nọc độc khô đi, sẽ ngưng kết thành nọc rắn khô." Nói xong ông ta lại lục lọi trong hòm t.h.u.ố.c một hồi, lấy ra một chiếc lọ sứ nhỏ, mở ra cho Chân Chân xem: "Đây, đây chính là nọc rắn khô." Chân Chân đón lấy, thấy trong lọ có một ít tinh thể giống như đường cát hoặc hạt muối, tụ lại với nhau có màu vàng cực nhạt, nhìn riêng từng tinh thể thì gần như không màu. "Lấy nọc rắn không khó, chỉ là tốn công." La Thế Hoa cười nói, "Đừng nhìn chỉ có chút nọc rắn này, phải lấy nọc cả ngàn lần mới ngưng tụ được bấy nhiêu đấy." "Cho nên..." Tay cầm lọ sứ của Chân Chân hơi run rẩy, "Loại nọc rắn khô này, chỉ cần lấy ra một chút xíu, bỏ vào thức ăn, để một người dạ dày có tổn thương ăn vào, có phải người đó tương đương với việc trúng nọc độc của mấy chục con rắn không?" "Cũng gần như vậy." La Thế Hoa nói, "Nhưng nọc rắn không phải hoàn toàn vô dụng, nếu người khoang miệng thực quản đường ruột dạ dày đều không có chỗ tổn thương, uống một lượng nhỏ nọc rắn còn có thể cầm m.á.u giảm đau, chữa một số bệnh... Đúng rồi, trong cung có vị trung quý nhân (hoạn quan có thế lực) Trình Uyên được Tiên đế và Thái hậu sủng tín, mấy năm trước vì huyết ứ dẫn đến đau đầu, nghe nói chính là dùng nọc rắn chữa khỏi. Tin tức truyền ra dân gian, giá nọc rắn này lại tăng gấp mấy lần..." Nói đến đây, ông ta phát hiện Chân Chân thần trí hoảng hốt, sắc mặt tái nhợt, bèn quan tâm hỏi nàng: "Nương t.ử vẫn cảm thấy khó chịu sao?" Chân Chân lắc đầu, gượng cười nói "không sao", lại tiếp tục hỏi ông ta: "Nọc rắn chắc là tanh lắm nhỉ? Làm t.h.u.ố.c uống liệu có khó nuốt không?" La Thế Hoa đáp: "Có chút mùi tanh, nhưng lượng dùng làm t.h.u.ố.c cực ít, bỏ vào miệng uống nước nhanh xuống thì không cảm thấy mùi tanh bao nhiêu đâu. Hoặc hòa tan trong canh nước mà uống, đồ ăn thức uống có mùi vị nồng đậm có thể át đi mùi tanh của nó." Trước khi ông ta cáo từ, Chân Chân hỏi câu cuối cùng: "Nọc rắn có thể dùng kim bạc thử ra không?" La Thế Hoa phủ nhận ngay: "Kim bạc chỉ thử ra được độc thạch tín (tuyệt mệnh tán), gặp nọc rắn thì không có phản ứng gì." Chân Chân nhớ lại triệu chứng trúng độc của Triệu Khải lần này, chỉ thấy rất giống với triệu chứng trước khi lâm chung của Trang Văn Thái tử, đều là buồn nôn nôn mửa, chóng mặt, tứ chi vô lực, cơ bắp tê dại, chỉ là Triệu Khải bệnh tình chậm hơn, còn Trang Văn Thái t.ử độc phát nhanh chóng. Giả sử Thái t.ử trúng nọc rắn qua thức ăn, thì nhiều vấn đề trước đây nàng nghĩ mãi không ra ngược lại đều có đáp án: Thái t.ử dạ dày có tổn thương, cho nên dù chàng và nàng ăn cùng một loại thức ăn, người trúng độc bỏ mạng chỉ có chàng, còn nàng tuy ngất xỉu nhưng không nguy hiểm đến tính mạng... Nghĩ lại thì lúc đó da dẻ nàng có chút tổn thương nhẹ chỉ có thể là môi hoặc niêm mạc miệng. Nọc rắn ẩn sau đó dù thái y có nghiệm độc trong khoang miệng và chất nôn của Thái t.ử cũng rất khó nghiệm ra nguyên cớ, kim bạc vô hiệu, cho dù để động vật nhỏ nếm thử chất nôn, rất có thể cũng sẽ không trúng độc... Nếu là như vậy, kẻ hạ độc quả thực dụng tâm hiểm ác... Lòng Chân Chân lạnh đi một nửa, kẻ này hiểu rõ tình trạng sức khỏe của Thái tử, nên "bốc t.h.u.ố.c đúng bệnh", khiến thái y không nhìn ra manh mối, chỉ có thể đổ tội lên đầu nàng... Liệu có phải là Trình Uyên không? Hắn hiểu d.ư.ợ.c tính của nọc rắn, ắt biết cách dùng độc. Lúc đó Thái t.ử đang điều tra chuyện Cúc phu nhân, Trình Uyên nếu có phát giác, lo sợ việc làm bại lộ, sẽ có động cơ hại Thái tử, nhưng động cơ này có đủ để khiến hắn liều lĩnh đến mức dám độc sát Trữ quân không? Nếu là hắn, hắn làm sao có thể hạ độc vào thức ăn của Thái t.ử ngay dưới mắt nàng? Cho dù dùng lượng rất ít, nhưng vị giác nàng nhạy bén, chút mùi tanh đó liệu có nếm không ra? Chân Chân nhớ đi nhớ lại từng món ăn thức uống của Thái t.ử ngày hôm đó, thậm chí nghi ngờ con cá vược Tùng Giang kia có phải từng trúng nọc rắn không, nhưng con cá đó là do nàng tự tay chọn trong bể cá sống, vẫn luôn nhảy tanh tách, đâu có chút dấu hiệu trúng độc nào? Nghĩ tới nghĩ lui vẫn không tìm ra điểm khả nghi, đầu lại bắt đầu đau âm ỉ, Chân Chân đành tạm gác vấn đề này lại, đi quan sát tình hình Triệu Khải. Củng chủ quán chuẩn bị cho Triệu Khải và Chân Chân mỗi người một phòng ở tầng hai để nghỉ ngơi, nhưng Chân Chân lo lắng vết thương của Triệu Khải, vẫn luôn ngồi lặng lẽ trong phòng chàng canh giữ, thỉnh thoảng xem sắc mặt chàng, thử nhiệt độ cơ thể chàng. Đến đêm, cảm thấy trán Triệu Khải hơi nóng, Chân Chân bèn lấy nước ấm, lau trán và lòng bàn tay cho chàng, muốn giúp chàng hạ nhiệt, nhưng Triệu Khải nhíu chặt mày, nghiêng trái nghiêng phải tránh né, bắt đầu nói mớ. Chân Chân dừng tay, nhẹ giọng vỗ về, Triệu Khải lại ngày càng kích động, vừa gọi "Chân Chân", vừa căng thẳng ngồi dậy, hai tay khua khoắng loạn xạ, như muốn nắm lấy cái gì đó. Chân Chân nắm lấy tay chàng, bảo chàng: "Muội ở đây." Nhưng Triệu Khải như không nghe thấy, hất tay nàng ra, vẫn gọi tên nàng đưa tay về phía trước, thở hổn hển muốn đứng dậy. Thấy giọng nói và động tác của chàng ngày càng lớn, cảm xúc rối loạn, mà không có dấu hiệu tỉnh táo, Chân Chân vòng tay ôm lấy hai vai chàng, vỗ nhẹ vào lưng chàng, liên tục gọi: "Nhị ca, mau tỉnh lại đi, muội ở đây!" Chàng vẫn đang giãy giụa, mắt thấy sắp thoát khỏi sự kìm kẹp của nàng. Chân Chân hai tay không dám buông, lại thấy đầu chàng lắc lư không ngừng, mặt đầy vẻ nôn nóng, thế là trong lúc tình thế cấp bách bèn ôm chặt lấy chàng, áp môi lên giữa trán chàng, như người nương vỗ về đứa con, hy vọng chàng tìm thấy sự an bình trong sự quan tâm mà nàng bày tỏ. Chàng quả nhiên yên lặng. Khi nàng từ từ buông chàng ra, kéo ra một khoảng cách, chàng mở đôi mắt mờ mịt, trong bóng nến đỏ nhìn nàng chằm chằm hồi lâu, không dám tin thăm dò gọi nàng: "Chân Chân?" "Ừm," nàng mỉm cười đáp, "Là muội." Thấy vẻ mặt vẫn còn do dự của chàng mang theo vài phần trẻ con, Chân Chân không kìm được sờ sờ khuôn mặt nóng bừng của chàng, dịu dàng nhìn chàng, khẳng định lần nữa: "Là muội." Chàng hoàn toàn tỉnh táo rồi, cụp mắt suy tư giây lát, bỗng buồn bã hỏi: "Là ta đang nằm mộng hay nàng đang nằm mộng?" Chân Chân sững sờ, không hiểu lắm ý tứ trong lời nói của chàng. "Nàng dịu dàng với ta như vậy, có phải lại nhận nhầm người rồi không?" Thấy nàng dường như ngẩn ra, chàng không khỏi cười thê lương, ngón tay khẽ nâng cằm nàng, nhắm mắt in một nụ hôn nhẹ nhàng lên môi nàng, rồi lùi lại, mở mắt, trong đôi mắt long lanh ngấn nước tràn ra nỗi bi thương mà chàng vẫn luôn khóa chặt trong lòng. Sự riêng tư trong phòng ngủ đêm khuya này, cùng sự dịu dàng lưu chuyển bên môi này đều thật quen thuộc. Chân Chân bỗng nhớ tới một giấc mơ đã từng... Giấc mơ đêm nàng ủ xong rượu mơ lần đầu tiên, mơ thấy Thái t.ử điện hạ trong lòng mong nhớ lại đến gặp... Trong đầu nàng nổ vang một tiếng, nhìn chằm chằm Triệu Khải khẽ hỏi: "Đêm đó, là huynh?" Triệu Khải lặng lẽ nghiêng đầu, lại hôn nàng một cái, ánh mắt dò xét vào tận đáy mắt nàng, đáp: "Là ta." Chân Chân luống cuống lùi về phía sau, nhớ lại sự thất thố của mình khi đó và nỗi đau khổ có thể tưởng tượng được của chàng, cũng như sự che giấu điềm nhiên như không của chàng suốt thời gian dài sau đó, tức thì cảm thấy xấu hổ, áy náy và bi ai đan xen, nhất thời không còn mặt mũi nào đối diện. Nhưng Triệu Khải nắm chặt cổ tay nàng, ngăn nàng tiếp tục lùi bước. "Nếu hôm nay ta cứ thế c.h.ế.t đi, nàng có khóc vì ta không?" Chàng hỏi. Nàng không trả lời, nhưng đôi mắt nhìn chàng chăm chú, không chớp cái nào. Một lát sau, một giọt lệ trong vắt rơi xuống từ khóe mắt phải, ánh lên tia sáng rồi chìm vào bóng tối thấm đẫm sắc đêm. Chàng khẽ thở dài, kéo nàng vào lòng, lặng lẽ ôm lấy nàng, hồi lâu sau, thì thầm bên tai nàng: "Chân Chân, bạch nhật uyển vãn (bóng chiều tà đã ngả), nhân sinh khổ đoản (đời người ngắn ngủi), hy vọng chúng ta sẽ không trở thành niềm nuối tiếc của nhau." Chương 126 - Lập Trữ Mặc cho Triệu Khải ôm một lúc, Chân Chân nhẹ nhàng rút người ra, đi lấy t.h.u.ố.c đã sắc xong cho Triệu Khải uống, thu bát t.h.u.ố.c về, đặt lại lên bàn, giữ nguyên tư thế quay lưng về phía chàng, Chân Chân bỗng nói với chàng: "Muội không quên được Trang Văn Thái tử." "Ta hiểu." Triệu Khải kiên trì nhìn bóng lưng nàng, nói, "Nếu ta nhớ không lầm, hai người chắc đã bên nhau ba tháng. Đến năm sau là Đại ca tạ thế tròn ba năm, nàng dùng thời gian ba năm để hóa giải niềm vui và nỗi đau mà ba tháng này mang lại cho nàng, có đủ không? Ta nguyện ý đợi nàng." "Ngài ấy từng nói với muội, tình cảm sâu hay cạn, không tính bằng thời gian bên nhau." Chân Chân chậm rãi xoay người, nói với Triệu Khải, "Huynh không biết ba tháng này có ý nghĩa gì với muội đâu. Quãng thời gian này tuy ngắn ngủi, nhưng ngài ấy đã cho muội cảm nhận được dáng vẻ đẹp nhất của tình nam nữ... Giữa muội và ngài ấy, có sự thu hút tự nhiên, cũng có sự thấu hiểu trân trọng lẫn nhau nảy sinh từ việc ngưỡng mộ tài năng. Chúng muội ở bên nhau luôn có rất nhiều chuyện để nói, ngài ấy trò chuyện với muội, có thể dùng một câu nhàn nhạt khiến muội đỏ mặt tim đập, cũng có thể thẳng thắn tâm sự với muội. Ví dụ như thân thế, người từng yêu trong quá khứ, những chủ đề ngày thường khó mở miệng này bọn muội đều có thể tự nhiên kể cho đối phương nghe... Muội cũng không thể xác định là từ ngày nào đã yêu ngài ấy, chỉ thấy ở bên nhau thêm một ngày, là yêu ngài ấy thêm một chút. Khi ngài ấy nguy kịch vì độc nấm lần đó, muội cảm nhận được nỗi sợ hãi như trời sập, mới phát hiện đã tình căn sâu nặng với ngài ấy, quá sợ mất đi ngài ấy." Triệu Khải gượng cười: "Đại ca chắc là dịu dàng với nàng hơn Lâm Hoằng." Chân Chân nói: "Ngài ấy rất tôn trọng muội, đối với tình yêu dành cho muội cũng không tiếc lời bày tỏ, đây là ưu điểm lớn của ngài ấy khác biệt với thầy Lâm." Triệu Khải bèn hỏi: "Lâm Hoằng không tôn trọng nàng?" "Cũng không thể nói thế, nhưng sự tôn trọng của huynh ấy gần với sự khách sáo, khiến người ta rất khó phân biệt sự tôn trọng này là đối đãi với người yêu hay đối đãi với khách." Chân Chân nghĩ ngợi, lại nói, "Thầy Lâm tự trọng và nội tâm, chuyện gì cũng để trong lòng, không muốn chủ động bộc lộ. Ở bên cạnh huynh ấy, muội luôn phải cẩn thận từng li từng tí, sợ nói sai, làm sai, khiến huynh ấy giận, đôi khi thậm chí còn vô thức hạ thấp mình để lấy lòng huynh ấy, ngày nào cũng đoán già đoán non rốt cuộc huynh ấy có thích muội không, vì chuyện này mà lúc buồn lúc vui, thấp thỏm không yên. Còn sự tôn trọng của Trang Văn Thái tử, là sẵn lòng lắng nghe muội kể lể, sẵn lòng đặt mình vào vị trí của muội, mượn đôi mắt của muội để nhìn thế sự. Cho nên ngài ấy hiểu niềm vui và nỗi khổ của muội, cũng hiểu sự tiếc nuối và hy vọng của muội... Ngài ấy luôn bảo vệ muội chu toàn, cái muội nghĩ đến, ngài ấy đã làm giúp muội trước rồi, cái muội chưa nghĩ đến, ngài ấy cũng làm cho muội rồi... Sự tôn trọng của ngài ấy, là thấu hiểu, là che chở, là đối đãi chân thành. Tình cảm của ngài ấy đối với muội, cũng thể hiện rõ ràng rành mạch, không cần muội phải đoán, để muội có thể buông bỏ mọi ngụy trang và đề phòng, yên tâm ở bên ngài ấy. Cho nên, từ sau khi ngài ấy đi, mỗi ngày muội đều nhớ thương ngài ấy." "Thực ra, ta cũng rất tôn trọng nàng, đối với tình yêu dành cho nàng cũng không tiếc lời bày tỏ." Triệu Khải từ từ nói. "Ừm, đúng vậy." Chân Chân khẳng định ngay, sau đó nói, "Nhưng huynh không những không tiếc bày tỏ với muội, mà còn không tiếc công bố cho thiên hạ biết, để mọi người đều biết, điều này đôi khi khiến muội rất khó xử." "Cho nên tất cả những lời đường mật, nói riêng với nàng là được rồi, trước mặt người ngoài, bề ngoài phải giả bộ vân đạm phong khinh, tương kính như tân." Triệu Khải bừng tỉnh đại ngộ, ôm trán nói, "Ta lại thua Đại ca nửa nước cờ rồi." Chân Chân không kìm được cười, nhưng rất nhanh thu lại nụ cười, nói với Triệu Khải: "Trong lòng muội vẫn nhớ thương đại ca của huynh, huống hồ ngài ấy ra đi không minh bạch, chuyện này như tảng đá lớn đè nặng trong tim muội, nếu bỏ qua đám mây ngờ vực này, không đi tìm chân tướng, vì cầu an ổn mà chấp nhận huynh, bất luận đối với huynh hay đối với ngài ấy, đều không công bằng, muội sẽ lương tâm bất an." Triệu Khải gật đầu: "Ta hiểu ý nàng, cũng sẽ không ép nàng chấp nhận ta. Vậy thì cứ để thuận theo tự nhiên đi, chúng ta vẫn có thể làm bạn, về chân tướng của Đại ca, chúng ta tiếp tục tìm kiếm, có một ngày chân tướng phơi bày, tin rằng ông trời sẽ cho nàng sự an bài tốt nhất." Chân Chân lại nói suy đoán về nọc rắn cho Triệu Khải nghe, Triệu Khải suy tính rồi nói: "Giả thiết này là có khả năng, nhưng chứng cứ không đủ, vả lại không thể xác định nọc rắn được hạ trong món ăn thức uống nào, tạm thời không thể báo cho Quan gia biết, nếu không chi tiết chưa rõ, nàng với tư cách là người nếm trước đồ ăn thức uống của Đông Cung, bất luận độc có phải do nàng bỏ hay không, đều không thoát khỏi tội danh. Đợi tìm được thêm chứng cứ, kẻ hạ độc là ai cũng có chút manh mối rồi, chúng ta sẽ cùng về kinh, làm sáng tỏ việc này." Hai người ngồi đối diện nói chuyện, bất giác trời sắp sáng, một tầng ánh sáng màu đỏ len lén qua cửa sổ đi vào, rải xuống mặt đất trước mặt họ. Chân Chân thấy vậy ngẩn người, ngay sau đó rảo bước đi tới đẩy cửa sổ ra, chỉ thấy phía chân trời chính đông, một vầng thái dương đỏ rực đang từ từ nhô lên. "Phòng này hướng đông, có thể ngắm mặt trời mọc." Chân Chân vui mừng quay đầu nói với Triệu Khải. Triệu Khải nghe vậy đứng dậy, mỉm cười chậm rãi đi đến bên cạnh Chân Chân, ngước mắt nhìn về phía vầng thái dương đỏ rực kia. Gần đó sóng lúa mì trên ruộng nhấp nhô theo gió nhẹ, được ánh mặt trời mới mọc mạ lên một lớp hào quang vàng đỏ, phản chiếu cùng ráng chiều, huy hoàng như gấm. Mà phương đông dần trắng, phía xa gần đường chân trời lại hiện ra một vệt xanh mới, như màu cỏ đầu xuân, ngắn ngủi chừng một tấc. Chân Chân chỉ tay về phía vệt xanh ấy, hỏi Triệu Khải: "Đó là gì vậy?" "Đó là luống mạ lúa nước." Triệu Khải vui vẻ cười nói, "Mạ đã gieo xong, đợi thu hoạch xong nhị mạch là có thể cấy lúa rồi." Chân Chân lập tức cười tươi rói, nói với Triệu Khải: "Chúc mừng, chúc mừng! Kế hoạch lúa mạch hai vụ của huynh sắp thành hiện thực rồi." "Cùng vui, cùng vui," Triệu Khải mỉm cười nhìn nàng, "Trong đó cũng có công lao của nàng." Chân Chân và Triệu Khải sóng vai đứng đó, ngửa mặt đón ánh vàng của mặt trời mới mọc, hoàn toàn quên đi nỗi sợ hãi, lo âu và bi thương của ngày hôm qua, mang theo nụ cười đón chào ngày mới tràn đầy hy vọng, chỉ thấy ánh nắng ấm áp, gió thơm mềm mại, mọi thứ vừa vặn tốt đẹp. Hồi lâu sau nghiêng đầu, mới phát hiện Triệu Khải đang mỉm cười chăm chú nhìn mình, cũng không biết đã nhìn bao lâu. Chân Chân tránh ánh mắt chàng, ngượng ngùng quay đầu đi. "Hy vọng có một ngày, con đom đóm là ta đây cũng có thể hóa thành một bó ánh sáng như thế này, thắp lên niềm vui vô hạn cho nàng, xua tan mọi đau khổ." Triệu Khải đứng bên cạnh nói với nàng, rồi bình thản thu hồi ánh mắt, vẫn chắp tay sau lưng đứng đó, cùng nàng nhìn về phía ruộng nước mạ xanh, một vệt xanh non mềm mại kia. Thuốc của La Thế Hoa quả nhiên hiệu nghiệm, Triệu Khải về nghỉ ngơi vài ngày, triệu chứng trúng độc hoàn toàn biến mất, vết thương cũng lành. Chàng rất nhanh lại vùi đầu xử lý công vụ, vào lúc giao mùa cày cấy lúa mạch đi tuần tra khắp nơi, thường vì thế mà quên ăn quên ngủ. Nhưng không lâu sau, lại có trung quan từ Lâm An đến, truyền đạt thánh chỉ của Hoàng đế muốn chàng tạm thời về kinh nghị sự. Dưới sự thúc giục của trung quan, Triệu Khải bất đắc dĩ tức tốc lên đường, trở về hoàng thành đã xa cách bấy lâu. Vừa vào cổng hoàng thành, Triệu Khải liền chạy thẳng đến điện Phúc Ninh, muốn bái kiến phụ thân, nhưng nội thị trong điện lại nói, Quan gia và Tam đại vương hôm nay lại lên núi Phượng Hoàng đến giáo trường luyện cưỡi ngựa b.ắ.n cung rồi, mời Nhị đại vương lát nữa quay lại. Triệu Khải bèn về các của mình nghỉ ngơi một chút, sau đó lại đến điện Phúc Ninh, lại đợi rất lâu, mới thấy phụ thân và Triệu Hạo cùng về, hai người đều mặc giáp vàng, cười nói vui vẻ sải bước vào điện, mà Hoàng đế ban đầu không để ý đến Triệu Khải ra đón, còn vỗ vai Triệu Hạo khen: "Kỹ nghệ b.ắ.n cung của Tam ca lại tiến bộ rồi, không tệ không tệ, dáng vẻ anh vũ này của con bây giờ, rất giống ta!" Triệu Khải lặng lẽ bỏ qua một tia linh cảm chẳng lành dâng lên trong lòng, bước lên hành lễ với phụ thân. Chợt nhìn thấy chàng, Hoàng đế dường như hơi ngạc nhiên, nhưng rất nhanh nở nụ cười, ôn tồn ban ngồi cho hai huynh đệ, hỏi qua loa việc công ở phủ Ninh Quốc của Triệu Khải, tỏ ý khẳng định và khen ngợi việc Triệu Khải tu sửa vu điền, thúc đẩy nông canh. Triệu Khải cúi người xin hỏi phụ thân triệu mình về là muốn bàn việc gì, Hoàng đế nói: "Con cứ đến cung Từ Phúc, để Thái hậu nói với con đi." Thấy phụ thân không muốn giải thích nhiều, Triệu Khải đành cáo lui. Triệu Hạo thấy vậy cũng đứng dậy hành lễ định cáo lui, Hoàng đế lại giữ y lại nói: "Tam ca ngồi thêm chút nữa, ta còn mấy lời muốn nói với con." Triệu Khải bèn một mình rời đi, nhạy bén nhận ra từ thái độ của phụ thân rằng vị trí của mình và Tam ca trong lòng người đã có sự phân biệt thân sơ. Triệu Khải lại xuất phát đi cung Từ Phúc, dọc đường thấy không ít nội thị đi lại vội vã, chạy đôn chạy đáo báo tin, nói tối nay Viện Hàn lâm Học sĩ sẽ "khóa viện". Mỗi khi Hoàng đế có chế chiếu quan trọng muốn Hàn lâm Học sĩ đang trực soạn thảo, sẽ triệu Nội hàn đến dặn dò trực tiếp, đợi Nội hàn về đến Hàn uyển, nội thị liền khóa cổng viện, cấm người trong ngoài ra vào. Đây gọi là "khóa viện". Hàn lâm Học sĩ soạn xong chế chiếu, nội thị dâng lên Hoàng đế, sáng sớm hôm sau giao cho Trung thư Thụ xá nhân tuyên đọc, sau đó mở viện, đây gọi là "tuyên khóa". Triệu Khải thấy sắp khóa viện, liền biết ngày mai có chiếu lệnh quan trọng tuyên bố, nhưng thấy Hoàng đế không nhắc tới bất kỳ đại sự nào với mình, bèn cho rằng chuyện không liên quan đến mình, cũng không nghĩ nhiều, vẫn không ngừng vó ngựa đi về phía Bắc Đại Nội. Triệu Khải đến cung Từ Phúc, Thái hậu lại nhìn chàng từ đầu đến chân, ân cần hỏi han, thỉnh thoảng lau nước mắt nói chàng gầy đi, chắc là ở bên ngoài chịu không ít khổ cực, tỏ ra vô cùng từ ái. Triệu Khải bồi tiếp bà nói chuyện nhà một lúc, lại hỏi bà có chuyện gì muốn nói với mình, Thái hậu bèn nói: "Con đã qua tuổi hai mươi từ lâu, không còn nhỏ nữa, mà mãi không chịu cưới vợ. Trước kia đại ca con hoăng thệ, con phải để tang thì thôi, sau này phụ hoàng con lại cho con đi ngoại quận làm quan, cũng không tiện thành hôn. Nay đại ca con đã mất gần hai năm, ta thấy con làm quan cũng có chút thành tích rồi, nhưng không ai chủ trì việc nhà, khiến cháu ta tiều tụy đến mức này, ta nhìn mà xót xa. Nay ta đã chọn trong số hậu duệ vương hầu, gia đình công thần và dòng dõi ngoại thích vài cô gái dung mạo phẩm hạnh đều tốt, sai họa sĩ vẽ chân dung cho các cô ấy, tối nay con cứ ở lại Bắc Đại Nội xem kỹ những bức chân dung này, nếu ưng ý ai, ta sẽ nói với cha con, nhanh chóng nạp thái cho con." "Việc này không dám làm phiền Nương nương bận tâm." Triệu Khải từ chối ngay, "Tôn nhi hiện giờ suốt ngày bận rộn việc công, không muốn phân tâm vì chuyện hôn nhân. Huống hồ cuộc sống ở ngoại quận gian khổ, ngày tháng không dễ chịu bằng Lâm An, đừng làm khổ các tiểu nương t.ử quyền quý này theo con đi chịu khổ." Thái hậu không vui nói: "Trai khôn dựng vợ gái lớn gả chồng, việc công có bận đến mấy cũng không được làm lỡ dở chuyện hôn nhân đại sự... Con đừng có lo thay cho mấy tiểu nương t.ử đó, người ta chỉ cần chịu gả cho con, tự nhiên nguyện ý theo con trong mưa gió, huống hồ con đường đường là Hoàng t.ử, Thân vương tôn quý của triều đình, người lại tướng mạo phi phàm, cô nương nhà ai mà không tranh nhau muốn gả cho con? Chịu chút khổ ở ngoại quận thì tính là gì!" Nói xong cũng không nghe Triệu Khải từ chối nữa, bắt chàng sau bữa tối ngủ lại Bắc Đại Nội, ban đêm trong tẩm các xem đống chân dung kia để chọn phu nhân tương lai. Nội thị ban đêm mang chân dung đến, mở từng bức mời Triệu Khải xem qua. Triệu Khải gần như không thèm nhìn thẳng, liếc qua loa rồi phất tay bảo nội thị cuộn lại thu về, tự mình lấy một cuốn sách khác ngồi đọc, mặc kệ nội thị khổ sở khuyên can. Sáng sớm hôm sau Triệu Khải liền từ biệt Thái hậu về Nam Đại Nội, vừa vào hoàng thành liền cảm thấy không khí khác hẳn hôm qua, quan lại, nội thị và cấm vệ gặp trên đường đều thì thầm to nhỏ, trên mặt khó nén vẻ hưng phấn, thấy chàng lại lập tức im bặt, sau khi hành lễ với chàng thường sẽ nhìn chàng một cái đầy ẩn ý, như muốn quan sát thần sắc chàng. Triệu Khải đầy bụng nghi hoặc tiếp tục đi vào trong, thấy Ân Đề canh giữ trước điện Thùy Củng, bèn bước tới gọi hắn, hỏi hắn hôm nay xảy ra đại sự gì. Ân Đề khá chần chừ, nhưng cuối cùng cũng nói cho chàng biết: "Vừa rồi Trung thư tuyên đọc sách văn Lập Trữ... Quan gia quyết định lập Tam đại vương làm Hoàng thái tử." Triệu Khải sững sờ không nói nên lời, lặng lẽ đứng trước điện, nhất thời không biết nên đi về đâu. Mà lúc này Triệu Hạo đã nhận mệnh lĩnh chỉ dưới sự hộ tống của Nhập nội đô tri Trương Tri Bắc từ trong điện ngẩng cao đầu sải bước khoan t.h.a.i đi ra, trên mặt tràn đầy vẻ vui mừng hớn hở không giấu được. Thấy Triệu Khải, Triệu Hạo khựng lại, do dự một chút, mới đi đến trước mặt chàng, chắp tay khẽ gọi một tiếng "Nhị ca". Triệu Khải cười nhạt, đáp lễ lại chàng, nói: "Chúc mừng Điện hạ." Triệu Hạo đỏ mặt, nói cảm ơn, vội vã cáo từ rời đi. Trương Tri Bắc hành lễ với Triệu Khải xong đi theo Triệu Hạo, không quên hạ giọng dặn dò Triệu Hạo: "Điện hạ là Trữ quân, sau này gặp Ngụy Vương không được hành lễ với ngài ấy trước, phải đợi ngài ấy hành lễ xong mới được đáp lễ..." Lời dặn dò này theo gió lọt vào tai Triệu Khải, chàng ngược lại không giận không oán, chỉ thấy trong lòng hiu hắt tiêu điều, giống như vu điền bị bỏ hoang năm nào, một mảnh hoang lương. Thực ra đây là kết quả chàng đã nghĩ đến từ khi bị đày đi phủ Ninh Quốc, nhưng không ngờ khi sự việc thành thật vẫn khiến mình buồn bã đến thế. Một lát sau, chàng quay đầu, từ bỏ ý định gặp phụ thân, vẫn đi về phía Bắc Đại Nội. "Nương nương hôm qua giữ con ngủ lại Bắc Đại Nội, chính là biết Tam ca sắp vượt thứ tự làm Thái tử, sợ con nghe tin bất mãn gây sự chứ gì?" Triệu Khải hỏi thẳng Thái hậu. Thái hậu thở dài một tiếng, khuyên giải: "Cháu ngoan, con tưởng làm Quan gia dễ lắm sao? Thật sự làm rồi, con sẽ phát hiện, phiền não nhiều hơn làm Thân vương nhiều lắm. Quan gia, Quan gia, Tam Hoàng quan thiên hạ, Ngũ Đế gia thiên hạ, nghe thì oai phong, là chí tôn thiên hạ, nhưng thiên hạ này dễ quản thế sao? Nói đến bề ta nhé, Quan gia vừa hy vọng trọng dụng người có tài năng, lại sợ bề ta được trọng dụng cậy tài cao, coi thường thiên uy, thậm chí lộng quyền mưu phản. Để bảo vệ đất nước, khôi phục cố thổ, không thể không dựa vào võ tướng, nhưng lại lo lắng họ nắm binh quyền tự trọng, dẫn đến sự biến Trần Kiều Dịch tái diễn. Quản lý bề ta nhẹ không được, nặng không xong, hơi mất cân bằng, đều sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, thậm chí họa sát thân vong quốc... Hơn nữa, con làm quan địa phương chắc cũng biết, mỗi khi thiên tai, trong nước gặp nạn đói, các châu quận đều như những đứa trẻ đói khát, đứa nào cũng gào khóc đòi ăn, lương thực dư thừa trong tay Quan gia chỉ có bấy nhiêu, lại phải lo chia thế nào, cho ai trước, xử lý không tốt, lại thành mầm tai họa... Đúng rồi, trước khi cứu trợ thiên tai còn phải hạ một chiếu Tội kỷ (tự trách mình), nhận hết tội lỗi gây ra tai dị về mình... Mấy chục năm nay, ta tận mắt thấy Tiên đế và Quan gia vì nước mà lao tâm khổ tứ, hiểu rõ trị quốc không dễ. Mà con là đứa cháu ta yêu thương nhất, ta thà để con làm một Thân vương phú quý vô lo vô nghĩ, sống nhẹ nhàng một chút còn hơn." Thấy Triệu Khải im lặng không nói, Thái hậu lại đổi chủ đề, ôn tồn bảo: "Ta nghe trung quan nói, con không ưng ý cô gái nào trong các bức tranh. Thực ra còn một cô gái dòng dõi quý tộc, thân phận tôn quý, cũng khá có duyên với con, Quan gia cũng thấy phù hợp, đang muốn ta nói với con đây..." "Việc này xin Nương nương đừng nhắc nữa." Triệu Khải ngắt lời bà, lần nữa tỏ thái độ, "Khải nay chỉ muốn làm tốt vài việc ở phủ Ninh Quốc, không muốn vì cưới xin mà phân tâm, mong Nương nương và phụ vương thành toàn, cho phép con sớm ngày trở về phủ Ninh Quốc." "Con không muốn lấy vợ, bảo ta và phụ hoàng thành toàn, nhưng Tam ca con thân là Hoàng thái t.ử đã đến lúc phải cưới vợ rồi, con không thể thành toàn cho nó sao?" Thái hậu đổi sang vẻ mặt nghiêm nghị, lạnh lùng nói, "Con là anh, con nếu không thành hôn trước, Tam ca cũng không tiện vượt thứ tự thành hôn." Triệu Khải cười khẩy: "Thái t.ử phi đã có người chọn rồi sao?" "Có rồi." Thái hậu thản nhiên đáp, "Nói ra con cũng biết, chính là cung nhân Thượng thực cục từng hầu hạ con, Lăng Phượng Tiên." Đáp án này Triệu Khải hoàn toàn không ngờ tới, không khỏi có chút kinh ngạc. Chàng có thể nhìn ra Triệu Hạo để ý Phượng Tiên, nhưng chưa từng nghĩ Phượng Tiên thân là cung nhân lại được liệt vào danh sách ứng cử viên Thái t.ử phi. "Tam ca thích Phượng Tiên, thường vì con bé mà mượn cớ ba ngày hai bữa chạy tới cung Từ Phúc." Thái hậu từ từ giải thích, "Vốn dĩ ta cũng thấy nó chỉ là một cung nhân, ban cho Tam ca làm thiếp là được rồi, nhưng Thượng Quan Thầm xem tướng mạo nó, nói với ta rằng, cô gái này mắt rồng cổ phượng, có tướng đại quý, sau này có thể mẫu nghi thiên hạ. Cha nó là Lăng Đảo, mấy năm nay phương Bắc thường có binh tướng xuống phía Nam quấy nhiễu, Lăng Đảo trấn thủ biên cương cũng lập được chút công lao, nên Quan gia cũng thấy Lăng Phượng Tiên là con gái danh tướng, có thể liệt vào danh sách ứng cử viên Thái t.ử phi." Nhớ lại những lời Phượng Tiên từng khuyên bảo mình trước đây, Triệu Khải cười lạnh trong lòng, nhưng không lộ ra mặt, chỉ nhạt nhẽo nói: "Rất tốt. Lăng Phượng Tiên và Tam ca, cũng coi như trời sinh một cặp." "Vậy nên, con có nguyện ý thành toàn cho chúng nó, hoàn thành hôn sự trước không?" Thái hậu hỏi. "Không nguyện ý." Triệu Khải dứt khoát từ chối, nói, "Tam ca muốn cưới thì cưới, không cần nhìn ta hành sự... Nó đã có thể vượt thứ tự làm Thái tử, tại sao không thể vượt thứ tự thành hôn?" Chương 127 - Trăng Nhạt Nước Thu Triệu Khải lặng lẽ chấp nhận sự thật ngôi vị Trữ quân bị đệ đệ đoạt mất, từ đó không hề oán thán, thậm chí theo yêu cầu của phụ vương ở lại Lâm An, tham dự lễ sách phong của Triệu Hạo. Nhưng đối với chuyện hôn sự chàng quyết không nhượng bộ, luôn kiên quyết nói hiện nay bận rộn việc công, không có ý định phân tâm vì chuyện hôn nhân, khẩn cầu Hoàng thái t.ử nạp phi trước. Hoàng đế hết cách, cuối cùng đồng ý cho chàng trở về, hôn sự tạm thời hoãn lại, và hạ lệnh chuẩn bị hôn lễ cho Hoàng thái t.ử trước. Trở về phủ Ninh Quốc, đối mặt với đống chính vụ tồn đọng chờ chàng xử lý trong thời gian qua, Triệu Khải lại bắt đầu cuộc sống bận rộn trăm công nghìn việc, cơ hội gặp mặt Chân Chân cũng rất ít, mãi đến vào Thu, Chân Chân thấy chàng rảnh rỗi đôi chút, mới mời chàng đến Trạm Nhạc Lâu, dự tiệc thu nàng đặc biệt chuẩn bị cho chàng. Việc lập Trữ cả nước đều biết, Chân Chân biết rõ trong lòng Triệu Khải buồn bực, hôm nay đặc biệt mang hai Hồ cơ mua từ Quảng Châu đến hiến ca múa, lại mời Vệ Thanh Tầm cùng đến, muốn cô cùng khuyên giải an ủi Triệu Khải. Vệ Thanh Tầm tuyệt nhiên không nhắc đến chuyện lập Trữ, ngược lại trêu chọc Triệu Khải: "Đại vương u sầu thế này, nhìn là biết về Lâm An bị bề trên ép cưới rồi." Triệu Khải liếc cô ta một cái, hỏi: "Người nhà cô lại từ Lâm An truyền tin vỉa hè gì cho cô à?" "Không phải không phải," Vệ Thanh Tầm cười nói, "Không ai truyền tin cả, ta đoán thôi. Mỗi lần ta về Lâm An, đều có trưởng bối ngày ngày lải nhải bên tai ta, bắt ta nhanh chóng thành hôn... Đại vương tuổi không còn nhỏ, lần này lại có thể toàn thân trở ra, không biết có tuyệt chiêu gì, có thể truyền thụ cho ta, để ta cũng dùng để từ chối hôn sự không?" Triệu Khải nói: "Chẳng có tuyệt chiêu gì cả, cứ kiên quyết không đồng ý, ai nhắc đến thì lạnh mặt đứng dậy cáo từ, mặc kệ họ nói gì nữa, một câu cũng không nghe." Vệ Thanh Tầm lạ lùng nói: "Cha ta mỗi lần nói chuyện này với ta, ta vừa tỏ ý không muốn nghe, ông ấy đã tức đến mức muốn lấy roi đ.á.n.h ta. Quan gia khuyên ngài ngài không nghe, chẳng lẽ ngài ấy không tức giận?" "Giận thì đương nhiên là có." Triệu Khải đáp, "Ngài ấy còn từng định cấm túc ta, ép ta cưới vợ rồi mới cho đi. Nghe nói phu nhân cũng chọn xong cho ta rồi, sắp bắt đầu vấn danh nạp thái, kết quả cha tiểu nương t.ử đó bẩm báo rằng, con gái ông ấy gần đây bị bệnh, tạm thời không thể thành hôn, Quan gia lúc này mới thôi, cho phép ta về phủ Ninh Quốc." Chân Chân nghe vậy hỏi: "Là tiểu nương t.ử nhà ai?" "Không biết." Triệu Khải xua tay, "Ta chẳng có chút hứng thú nào, chỉ nghe nói là xuất thân ngoại thích, bất kể ai nói chuyện này với ta ta đều trở mặt ngay, nên rốt cuộc là ai cũng không rõ." "Nhị ca sao không kiên nhẫn nghe thử, tranh thủ gặp mặt xem sao?" Chân Chân cười nói, "Biết đâu gặp rồi lại thấy hợp, lại thành tựu một đoạn giai thoại." Triệu Khải ngước mắt nhìn nàng, cười nhạt: "Nàng mới là giai thoại của ta." Sau đó, chàng thu hồi ánh mắt từ khuôn mặt ngỡ ngàng của Chân Chân, lại nhìn sang Vệ Thanh Tầm, lịch sự cúi người một chút: "Xin lỗi, đều là bạn bè, xin hãy cho phép ta nói thẳng không kiêng dè." Vệ Thanh Tầm lập tức ôm eo Chân Chân, hôn lên má nàng một cái, rồi cười khẩy với chàng: "Đại vương, cái này phải xem ta có đồng ý hay không đã." Triệu Khải cau mày, trong không khí bỗng có chút mùi t.h.u.ố.c súng, mà hai Hồ cơ kia không hiểu đầu đuôi, chỉ tưởng họ đang nói đùa, không nhịn được nối nhau bật cười. Chân Chân đỏ mặt, mắng họ: "Cười cái gì mà cười! Ta bảo các ngươi dừng lại chưa? Còn không mau tấu một khúc mới luyện cho ta nghe." Hồ cơ vâng vâng dạ dạ, rất nhanh một người thổi tiêu, một người ôm tỳ bà, bắt đầu diễn tấu một khúc nhạc mang phong vị dị vực. Giai điệu đó lúc thì bi thương diễm lệ nhu mì, lúc lại mạnh mẽ vang dội như tiếng kim loại va chạm, Hồ cơ gảy tỳ bà ngón tay múa lượn, chỉ pháp phức tạp, càng gảy càng nhanh, đến đoạn cao trào, một sợi dây đàn bỗng đứt phựt, khiến khúc nhạc dừng bặt. Hồ cơ ngượng ngùng tạ tội, nói mình mới bắt đầu luyện khúc này, mà khúc này là nhạc cung đình, độ khó cực lớn, kỹ nghệ mình chưa tinh, nên không hoàn thành được. Chân Chân thì sắc mặt thay đổi hẳn, hỏi Hồ cơ kia: "Khúc này tên gì?" Hồ cơ đáp: "Lương Châu Khúc." Chân Chân lặng người. Giai điệu vừa nổi lên nàng đã thấy quen tai, Hồ cơ gảy đến giữa chừng nàng đã nhớ ra, đây chính là tiếng tỳ bà truyền ra từ trên lầu khi nàng gặp Thu Nương lần cuối, bị đưa ra khỏi khu vườn xa lạ đó. Trong mấy canh giờ ở cùng Thu Nương, nàng không thấy trong tiểu lâu đó có ai khác, chứng tỏ khúc tỳ bà đó chín mười phần là do Thu Nương gảy. Trước đó Hương Lê nhi lại từng nói với nàng Cúc phu nhân giỏi múa Lương Châu, nên đây cũng là một bằng chứng cho việc Thu Nương chính là Cúc phu nhân? Lòng nàng càng thêm u uất. Khi đó nàng bị buộc rời khỏi Lâm An, đến nay chưa được trở về, cũng không biết nương thế nào rồi. Mỗi lần nhớ đến nương, nàng đành tự an ủi mình, nương đêm đó dung nhan vẫn như xưa, thần thái không giảm, y phục trang sức tinh tế, xem ra dường như được đối đãi t.ử tế, chắc không nguy hiểm đến tính mạng, mình cũng chỉ có thể như bà nói, sống cho tốt, sau này tìm cách về Lâm An, mới có ngày gặp lại bà. Triệu Khải thấy nàng thần người ra, nước mắt chực trào, quan tâm gọi nàng một tiếng, Chân Chân mới như tỉnh mộng, cố gắng mở to mắt, dặn dò Hồ cơ: "Đừng gảy tỳ bà nữa, hát khúc khác đi." Hồ cơ vâng lời, bàn bạc nhỏ một chút, sau đó tiếng tiêu lại nổi lên, cô gái gảy tỳ bà ban nãy cất giọng hát: "Bên rào chẳng thấy lá xanh rì, dưới thềm chỉ thấy lật bụi hồng. Nhìn kỹ muốn đem so vật gì, ráng sớm vừa xếp Xích Thành cung." Chân Chân hỏi hát cái gì, Hồ cơ nói: "Đây là khúc nhạc mới nhạc sư Lộc Minh Lâu dạy chúng ta, nói là bài tuyệt cú 'Kim Đăng Hoa' do Tiết Đào viết. Vừa nãy chúng ta tập ở hậu viện, thấy hoa Kim Đăng trong vườn hoa ở hậu viện đang nở rộ, bèn chuẩn bị hát khúc này." Vệ Thanh Tầm nghe xong liền bước tới bên cửa sổ hướng ra hậu viện, nhìn về phía vườn hoa, quả nhiên thấy mảnh đất lớn nhất chính giữa nở đầy hoa Kim Đăng, không có lá, từng đóa đỏ rực rỡ đua nở, cánh hoa như pháo hoa nhảy múa, nối thành một dải lại rực rỡ như gấm, trong cảnh thu tiêu điều xung quanh càng thêm chói mắt. Chân Chân lúc này cũng chậm rãi đi đến bên cạnh cô, cùng cô ngắm hoa. Vệ Thanh Tầm trầm ngâm một chút, hỏi Chân Chân: "Hoa này trồng từ bao giờ? Những năm trước quanh tiết Thu phân ta đều không đến Trạm Nhạc Lâu, nên vẫn chưa từng để ý thấy." Chân Chân nói: "Hoa là do chủ nhân viện này trồng, ta lại thấy nó nở đẹp, bèn giữ lại đến nay." Thấy Vệ Thanh Tầm không cười, không giống tán thưởng, bèn hỏi, "Sao vậy? Có gì không ổn à?" Vệ Thanh Tầm nói: "Hoa này ưa nơi âm u ẩm ướt, thường nở trong rừng cây cổ thụ âm u, cửa hang sâu thẳm, hoặc là... trên mộ, nó còn có một cái tên, gọi là 'Quỷ Đăng Kình' (chân đèn quỷ), nên rất nhiều người không thích, cho là không may mắn. Khách đến Trạm Nhạc Lâu dùng bữa không nhắc tới sao?" Chân Chân ngẩn ra, lắc đầu, nhìn lại mảng hoa đỏ như m.á.u kia, bỗng cảm thấy tư thế kia thêm vài phần yêu dị quỷ quái. "Chắc là hoa này thời gian nở ngắn, người ở đây từng thấy không nhiều, cho dù có người biết, vì lịch sự, cũng không nhắc." Vệ Thanh Tầm nói. Chân Chân im lặng một lát, lại hỏi cô: "Cho nên, ý cô là, chúng ta mở tửu lâu thì đừng giữ lại loài hoa không may mắn này, tốt nhất là cuốc bỏ nó đi?" Vệ Thanh Tầm mỉm cười nói: "Cũng chưa chắc. Vì nơi hoa Kim Đăng sinh trưởng không tốt, người trong nước không thích, nhưng có vị cao tăng từ Nhật Bản đến từng nói với ta, họ thấy hoa Kim Đăng rất đẹp, hoa này rất có thể chính là một trong bốn loài hoa trời được nhắc đến trong kinh Phật, Mạn Thù Sa Hoa. Cho nên may mắn hay không may mắn mấu chốt ở chỗ người ngắm hoa nghĩ thế nào, Trạm Nhạc Lâu này cô vẫn có thể làm chủ, cô nếu cảm thấy không để ý, cứ việc giữ lại nó." Mạn Thù Sa Hoa! Chân Chân lại thầm giật mình, lập tức nhớ tới mấy chữ Trương Vân Kiều năm xưa đ.á.n.h dấu trên "Kinh Diệu Pháp Liên Hoa". Nàng ngước mắt nhìn chăm chú mảng hoa Kim Đăng kia, càng nhìn càng thấy đỏ đến chói mắt, nghiền ngẫm lời Vệ Thanh Tầm, dần cảm thấy rùng mình ớn lạnh, tim đập loạn nhịp vô cớ. Lúc này Triệu Khải bỗng hỏi Vệ Thanh Tầm: "Vệ lâu chủ rất thích hoa cỏ? Dường như nghiên cứu rất sâu." "Là nương ta thích trồng hoa cỏ." Vệ Thanh Tầm nói, "Bà sống một mình trong viện sâu, bình thường không có việc gì làm, liền ngày ngày chăm sóc kỳ hoa dị thảo. Ta hồi nhỏ thường ở bên cạnh bà, nhìn nhiều, tự nhiên cũng biết chút ít." Triệu Khải lại nói: "Lệnh đường và cô chắc chắn tình cảm mẹ con sâu đậm. Người yêu trồng hoa đa phần rất dịu dàng, chắc là sẽ không ép cô cưới chồng đâu nhỉ." "Ta muốn bị bà ép cưới cũng không có cơ hội nữa rồi." Ánh mắt Vệ Thanh Tầm tối sầm lại, "Bà đã qua đời mấy năm rồi." Triệu Khải vội bày tỏ xin lỗi vì lỡ lời, Vệ Thanh Tầm cười nhẹ, nói "không sao", một lát sau, kể cho chàng và Chân Chân nghe chuyện về nương mình: "Bà sinh đại ca ta và ta xong, cha ta liền nạp thiếp, lạnh nhạt với bà. Bà bắt đầu gửi tình vào hoa cỏ, không tiếc chi ngàn vàng mua một loài hoa danh tiếng, ngày tháng liền được lấp đầy bởi con cái và hoa cỏ. Sau này đại ca không phục sự quản thúc của cha, chạy đến phủ Ninh Quốc mở tửu lâu, cha ta nổi trận lôi đình, suýt chút nữa cắt đứt quan hệ cha con với đại ca, từ đó càng thiên vị đệ đệ do thiếp sinh. Nương rất buồn, thường xuyên khóc trước mặt ta, oán ta không phải con trai, không thể thay thế anh trai lấy lòng cha... Bà không biết nghe ai xúi giục, cho rằng chỉ có sinh thêm một đứa con trai đích tôn ngoan ngoãn nghe lời mới có thể thay đổi cục diện bị thiếp thất chèn ép, thế là cam tâm mạo hiểm sinh con khi tuổi đã cao, ngờ đâu cuối cùng cả mẹ lẫn con đều mất... Sau khi bà tạ thế, ta cũng không muốn ở lại cái nhà đó nữa, đại ca về chịu tang, cha nhất định bắt huynh ấy đi làm quan, ta bèn xin đại ca giao Lộc Minh Lâu cho ta, sau đó bất chấp sự phản đối của cha, đến phủ Ninh Quốc." Cô ngừng lại, nhìn Triệu Khải và Chân Chân đang nghe với vẻ mặt thương cảm, lại nhếch lên nụ cười lạnh nhạt, nói: "Hai người nói xem, cuộc đời nương ta có phải quá không đáng không? Gửi gắm toàn bộ hỉ nộ ái ố và hy vọng vào một người đàn ông, hoàn toàn quên mất bản thân mình. Chẳng lẽ sinh ra là phụ nữ, chỉ có một con đường là lấy chồng sinh con sao? Ngày ngày chìm đắm trong lo âu tranh sủng thất sủng và có con trai hay không mà trở thành oán phụ? Ta cứ không nghe theo sắp đặt của cha, cuối cùng đã tìm được cuộc sống ta mong muốn ở phủ Ninh Quốc." Nói xong cô nhìn hai Hồ cơ đang nghe đến ngẩn người, nở lại nụ cười rạng rỡ, cao giọng sai họ rót rượu, rồi nâng ly nói với Triệu Khải và Chân Chân: "Nào, thơ rượu nhân lúc tuổi còn xuân!" Rượu uống đến khi mặt trời ngả về tây, Vệ Thanh Tầm cáo từ về thành, thấy Triệu Khải không có ý định rời đi, cũng không mời chàng đi cùng, ngược lại sai hai Hồ cơ theo mình về. Chân Chân đợi họ đi rồi, mới cẩn thận nhắc đến chuyện lập Trữ, muốn an ủi đôi chút, Triệu Khải lại ngăn nàng, nói: "Thực ra từ nhỏ ta đã nhận định ngai vàng tương lai là của đại ca, nên chưa từng hy vọng gì vào việc đó, nay lỡ mất ngôi vị Trữ quân, cũng không tính là quá thất vọng... Mà điều khiến ta thực sự buồn là, lần về cung này, khiến ta nhận thức sâu sắc rằng, phụ hoàng đã hoàn toàn từ bỏ ta." Chân Chân khuyên giải: "Quan gia vẫn luôn rất quan tâm huynh, chỉ là lúc đầu vì chuyện Trang Văn Thái t.ử mà hiểu lầm huynh, mới dẫn đến cục diện hôm nay. Nhưng ngài ấy sẵn sàng gạt bỏ mọi ý kiến trái chiều trao thực quyền phủ Ninh Quốc cho huynh, chứng tỏ vẫn rất coi trọng huynh, có ý bồi dưỡng huynh." Triệu Khải buồn bã lắc đầu: "Không phải đâu, Chân Chân, ngài ấy từ khi đày ta ra ngoài đã từ bỏ ta rồi... Tại sao bắt ta rời Lâm An? Vì khi đó ngài ấy đã chuẩn bị lập Tam ca làm Thái tử, mà lập Trữ vượt thứ tự, chắc chắn sẽ có đại thần phản đối, nên ngài ấy để ta rời Lâm An trước, tránh có cơ hội liên hệ kết đảng với triều thần, như vậy dù có dị nghị, cũng không ảnh hưởng gì, ngài ấy dễ dẹp yên. Cho ta chút thực quyền địa phương này, chẳng qua là chút an ủi, dù sao ta làm tốt hay không, cũng chẳng ảnh hưởng đến Tam ca." Chàng lại nhìn Chân Chân cười tự giễu: "Lần này thấy ngài ấy triệu ta về, ta còn tưởng ngài ấy nhớ ta, muốn gặp ta, kết quả hóa ra ngài ấy sợ ta thấy Tam ca làm Thái t.ử xong sẽ làm phản, thế là cố ý trước đêm lập Trữ để Thái hậu giữ ta nhốt trong Bắc Đại Nội một đêm, sau đó cũng cho người giám sát chặt chẽ hành động của ta, nghiêm cấm ta tiếp xúc với đại thần, mãi đến sau lễ sách phong của Tam ca, đại cục đã định, mới thả ta về... Ta chỉ là một đứa con trai không nên người của ngài ấy thôi mà, tài đức gì đâu, đáng để ngài ấy đề phòng như thế!" Chàng cười khổ, tự rót một chén rượu ngửa cổ uống cạn, khi nhấc bình định rót thêm chén nữa, tay bị Chân Chân giữ lại. "Nhị ca, hôm nay huynh uống đủ rồi." Chân Chân ôn tồn ngăn cản, lại khuyên, "Sinh mệnh của chúng ta là do cha nương ban cho, lại nuôi nấng chúng ta nên người, đã là ân điển to lớn rồi. Gia sản và thêm nhiều sự quan tâm ngoài lề, có thể cho chúng ta, cố nhiên là thêu hoa trên gấm, nhưng nếu họ không muốn cho nữa, cũng chẳng có gì đáng trách, đó là quyết định của họ, chúng ta không cần oán hận, họ đã nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành, chúng ta có thể tự lực cánh sinh mà sống, thì không cần so đo họ cho chúng ta tiền của và tình yêu nhiều hay ít nữa, bởi chúng ta cuối cùng cũng phải độc lập sinh tồn, độc lập bước đi mà không dựa dẫm vào họ. Muội cũng tin chắc rằng, cha nương đều yêu thương con cái mình, Quan gia là vua một nước, việc nhà cũng là việc nước, suy tính chắc chắn chu toàn hơn chúng ta, hy vọng mọi việc cẩn trọng, không để người ta nắm thóp, làm như vậy, có lẽ ngài ấy chỉ cho rằng lẽ ra phải thế, chứ không phải đặc biệt đề phòng huynh. Nghĩ theo một hướng khác, ngài ấy chắc biết huynh xưa nay phóng khoáng không trói buộc, sẵn lòng cho huynh nhiều tự do hơn, mới phá lệ để huynh rời kinh đô, đến phủ Ninh Quốc phát huy sở trường." Triệu Khải lặng lẽ nghe, không tỏ thái độ về việc này, ngược lại hỏi nàng: "Chân Chân, nàng còn nhớ cha nàng không? Năm xưa ông ấy đối với nàng có tốt không?" Chân Chân sững sờ, rồi nói: "Cha muội rời bỏ muội khi muội còn rất nhỏ, nhưng muội tin, rời bỏ muội không phải mong muốn của ông ấy..." "Sau này nàng vẫn không tra ra ông ấy đi đâu sao?" Triệu Khải lại hỏi. Chân Chân lắc đầu, nhưng mặt tái nhợt, không tự chủ được lại nhìn về phía mảng "Mạn Thù Sa Hoa" kia. Triệu Khải trong cơn say nhẹ không nhận ra thần sắc nàng khác lạ, cũng không truy hỏi nữa, lại đứt quãng kể lể với nàng một số tâm sự, mãi đến khi màn đêm buông xuống, côn trùng mùa thu rả rích kêu, mới đứng dậy nói: "Ta phải về rồi." Chân Chân lo lắng chàng uống nhiều rượu, cưỡi ngựa đi đường đêm không an toàn, bèn đề nghị: "Hay là đêm nay huynh nghỉ ngơi ở phòng ngủ tầng hai đi, lát nữa muội về viện của Tống bà bà." "Thôi." Triệu Khải nói, "Ta ngủ lại đây, sẽ tổn hại thanh danh của nàng." "Thanh danh? Muội sớm đã không quan tâm rồi." Chân Chân cười, "Thanh danh của Tống Đào Sênh sớm đã bị Triệu Phán phủ hủy hoại sạch sành sanh rồi." Họ qua lại thân thiết, chàng lại mấy lần cố tình thể hiện, phủ Ninh Quốc e là ai cũng biết cả rồi, quả thực đều sẽ coi họ là tình nhân. Triệu Khải nghĩ đến đây, trong lòng ấm áp lạ thường, lại thấy nàng không mấy để ý, không khỏi cảm thấy chút ngọt ngào, khóe môi lặng lẽ cong lên. Chân Chân lại nói: "Trải qua bao nhiêu chuyện sinh sinh t.ử tử, đến nay, muội sớm đã nhìn thấu, tên tuổi, thân phận, cái gọi là danh dự đều không quan trọng, mặc kệ người ngoài bàn tán thế nào, lén lút đồn đoán chúng ta chung sống ra sao, chỉ cần bản thân quang minh chính đại, không thẹn với lòng là được rồi." Triệu Khải mỉm cười nhàn nhạt, vươn một ngón tay, điểm nhẹ lên môi nàng, thì thầm hỏi: "Thật sự một chút cũng không thẹn?" Trong màn đêm dày đặc, Chân Chân chỉ thấy đôi mắt chàng sâu thẳm, tình ý thấp thoáng trong mắt lay động theo bóng nến, tim đập thình thịch, nhất thời không nói nên lời. Triệu Khải cười, thu tay về, nói: "Ta không phải Liễu Hạ Huệ, ở thêm nữa ta sẽ nghĩ: Nếu ta ôm nàng, nàng có đẩy ta ra không? Nếu bị nàng từ chối, ta sẽ mất hết mặt mũi, thậm chí một thời gian dài xấu hổ không dám đến gặp nàng nữa; nếu nàng không đẩy ta ra, ta lại sẽ tự hỏi nàng đối xử tốt với ta như vậy có phải chỉ vì thương hại tình cảnh hiện tại của ta không, và ta làm thế này có phải là bán t.h.ả.m cầu thương không... Thôi, ta đừng làm khó chúng ta bằng những bài toán này nữa." Chàng xuống lầu lên ngựa rời đi, không để Chân Chân ra cửa tiễn, Chân Chân bèn đứng bên cửa sổ trên lầu, dõi mắt nhìn chàng đi xa. Chàng cưỡi ngựa đi được vài bước, bỗng quay đầu nhìn về phía nàng, nở nụ cười rạng rỡ, rồi lại nương theo ánh trăng nhạt nước thu rời đi, dọc đường gió đêm lướt qua, tà áo phấp phới, dưới cái nhìn mỉm cười của nàng, tiếng vó ngựa cũng trở nên đặc biệt nhẹ nhàng du dương. Đợi bóng dáng chàng khuất hẳn, Chân Chân mới giật mình nhận ra mình vừa rồi vẫn luôn giữ nụ cười. Nhớ lại tâm trạng ẩm ướt của nàng khi chàng đạp tuyết đến năm nào, nàng mơ hồ cảm thấy, giữa chàng và nàng, dường như quả thực có chút gì đó, đang lặng lẽ thay đổi. Chương 128 - Quận Phu Nhân Mùa xuân năm sau, hai con đê Huệ Dân và Hóa Thành đều đã xây xong, đê tư nhân cũng được các hương thân chủ trì tu sửa hoàn tất. Tá điền phiêu bạt lục tục trở về, kế hoạch canh tác hai vụ lúa mạch tiến hành thuận lợi. Đầu thu lúa sớm đã chín, bông lúa trĩu hạt, được mùa lớn. Sau khi gặt hái, nông hộ cày xới phơi ải, bón phân vun đất, chuẩn bị gieo trồng lúa mạch hoặc rau đậu. Hoa màu tươi tốt, người làm ruộng mặt mày hớn hở, phóng mắt nhìn khắp phủ Ninh Quốc, đâu đâu cũng một màu hân hoan, phồn thịnh. Ngày Mậu thứ năm sau Lập Thu là ngày Thu Xã. Hàng năm cứ đến lúc này, triều đình và quan lại các châu huyện đều lập đàn tế Xã Tắc, báo đáp thần linh. Thu Xã năm nay, Triệu Khải cũng cho lập đàn ở gần đê Huệ Dân, dẫn sai quan phủ Ninh Quốc cử hành nghi thức tế lễ. Nữ t.ử dân gian có tục lệ làm cơm Xã mời khách cúng dường vào ngày Thu Xã, trong cung cũng vậy. Thượng Thực Cục thường dùng thịt heo, thịt dê, cật, bao tử, phổi, vịt, bánh, dưa, gừng... thái hạt lựu hoặc thái lát, nêm nếm gia vị vừa miệng rồi trải lên mặt cơm, dâng lên Hoàng đế và các cung viện. Chân Chân biết Triệu Khải xong lễ sẽ ở lại đê Huệ Dân để tiếp tục thị sát đồng ruộng, bèn theo công thức của Thượng Thực Cục làm cơm Xã, tự mình đưa tới. Khi Chân Chân đến đê Huệ Dân, nhìn xuống bờ sông thì thấy Triệu Khải đã cởi bỏ công phục, chỉ mặc một chiếc áo ngắn, chân trần không giày tất, đang đứng trên một guồng nước khổng lồ cao mấy trượng. Chàng cùng sáu thanh niên nông phu khác, lưng khom gối uốn, đang hào hứng đạp guồng, dẫn nước sông đổ vào kênh mương. Chàng vừa làm vừa nói cười vui vẻ với các nông phu, mãi đến khi có sai quan nhắc nhở đã đến giờ dùng bữa trưa, chàng mới bước xuống, rửa tay chân, thay y phục. Một lúc lâu sau, chàng mới phát hiện Chân Chân đang lặng lẽ đứng trong đám đông, liền nở nụ cười với nàng, tay chỉ guồng nước, giới thiệu: "Đây là xe nước xương rồng do Tiên sinh Tăng Chi Cẩn thiết kế, phải cần đến bảy người mới đạp nổi, khí thế này nàng chưa từng thấy bao giờ đúng không? Xe xương rồng này hút nước cực mạnh, chúng ta làm nhiều thêm vài cái, nếu gặp hạn hán, trăm xe cùng chuyển động, chỉ trong chốc lát là có thể dẫn nước sông tưới đẫm ruộng đồng hai bên bờ." Chân Chân nghe đoạn đầu vốn định mở lời khen ngợi, nhưng nghe đến hai tiếng "chúng ta" thân mật ấy, lại thấy đám đông vây xem bắt đầu nhìn nàng cười đầy ẩn ý, liền thẹn thùng cúi đầu, nhất thời không biết đáp sao cho phải. Trong đám đông có không ít cô nương bưng cơm Xã, lúc này thấy Triệu Khải đã thu dọn xong xuôi liền nhao nhao bước tới, dâng cơm mình làm lên, người một câu ta một lời tranh nhau mời chàng nếm thử. Triệu Khải đón lấy đũa, nếm qua cơm xã của từng người vây quanh mình mỗi thứ một chút, sau đó không quên ngước mắt nhìn Chân Chân. Ánh mắt chàng chuyển dời xuống hộp cơm trên tay nàng, cười hiểu ý, rồi cất bước đi thẳng đến trước mặt Chân Chân, chẳng nói chẳng rằng trực tiếp đón lấy hộp cơm, mở ra ăn liền mấy miếng. Chân Chân khẽ hỏi chàng: "Mùi vị thế nào?" "Không tệ." Chàng đáp, vẫn chăm chú lùa cơm, mi mắt cũng không buồn nhướng lên, buông một câu bâng quơ: "Có điều so với cơm nàng làm ngày thường thì hơi mặn một chút." "Ồ..." Người xem xung quanh ồ lên, vẻ mặt ngầm hiểu ý. Có kẻ to gan hỏi thẳng: "Triệu Phán phủ, đây là nương t.ử của ngài à?" Triệu Khải cười mà không đáp. Bốn bề lập tức rộ lên tiếng cười vui vẻ. Chân Chân ngượng chín mặt, chỉ hận không có cái lỗ nào để chui xuống. Đã thế lại còn có mấy nông phụ nhiệt tình tiến lên, dúi bầu non và táo vào tay nàng, chúc phúc: "Chúc nương t.ử và Triệu Phán phủ sớm sinh quý tử." Ngày Thu Xã, nữ t.ử dân gian thường về nhà mẹ đẻ, người nhà mẹ đẻ sẽ tặng bầu mới và táo, ngụ ý cầu mong cháu ngoại tốt lành, nên họ mang theo rất nhiều những thứ này. Chân Chân không sao chịu nổi ánh mắt trêu chọc của mọi người nữa, vội vàng trả lại quà tặng, rẽ đám đông lên con ngựa mình cưỡi đến, phi dọc theo bờ đê chạy ra xa. Triệu Khải thấy thế liền đứng dậy, rảo bước tìm ngựa của mình, cũng quất roi phóng đi, đuổi theo Chân Chân. Chạy được một lúc, hai người đã rời xa đám đông. Triệu Khải thấy phía trước vắng người qua lại, liền thúc ngựa vọt lên, rất nhanh đã song song với Chân Chân. Ngay khi Chân Chân quay đầu nhìn sang, chàng vươn tay ôm chặt eo nàng, dứt khoát kéo nàng qua, ôm trọn vào lòng mình, để nàng ngồi nghiêng trên lưng ngựa phía trước chàng. Chân Chân vùng vẫy kịch liệt, va phải cánh tay cầm cương của Triệu Khải khiến con ngựa lệch hướng, lao khỏi bờ đê, chạy xuống ruộng lúa bên dưới. Chân Chân vẫn không ngừng kháng cự, Triệu Khải thấy ngựa đã lao vào ruộng, bèn dứt khoát dùng cả hai tay ôm chặt lấy nàng, nghiêng người rời khỏi lưng ngựa, ôm nàng lăn vào sâu trong vạt lúa chưa gặt. Hai người lăn mấy vòng mới dừng lại. Chân Chân thấy mình nằm dưới, còn Triệu Khải phủ phục bên trên, chỉ dùng khuỷu tay chống hai bên để tránh đè lên người nàng, vừa thẹn vừa giận, hai tay đẩy liên hồi hòng đẩy chàng ra. Triệu Khải lại chẳng hề có ý buông tha, ngược lại còn nắm chặt lấy hai tay nàng, nhìn sâu vào mắt nàng, nghiêm túc nói: "Chân Chân, ta thật lòng muốn cưới nàng làm vợ." Chân Chân sững sờ, dưới ánh mắt rực lửa của chàng, nàng tạm thời ngừng vùng vẫy. "Nàng nghe ta nói đây, Chân Chân." Triệu Khải hạ giọng, thủ thỉ: "Cách đây không lâu phụ hoàng gửi thư cho ta, riêng tư bảo rằng người định điều ta rời phủ Ninh Quốc, chuyển sang phán Minh Châu. Minh Châu không chỉ có ruộng tốt sông ngòi, mà còn là cảng biển, có Ty Thị Bạc quản lý buôn bán đường biển. Nếu ta đi Minh Châu, việc có thể làm sẽ nhiều hơn, ngoài nông nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi, còn có thể giám sát việc thương mại. Ta rất muốn đi, nhưng lại không yên tâm về nàng... Từ nay ly biệt, mỗi người một phương, sau này chúng ta muốn gặp lại e là khó." Chân Chân nương theo lời chàng mà tưởng tượng, lòng chợt dâng lên nỗi chua xót, mới hay ba năm nay nàng đã quen với việc cùng chàng ở chung một thành, nương tựa giúp đỡ lẫn nhau. Nếu chàng đột ngột rời đi, vĩnh viễn không gặp lại, cuộc đời nàng như khuyết mất một mảnh, biết lấy gì mà lấp đầy đây? Thấy Chân Chân nghe xong vẻ mặt ảm đạm thương cảm, Triệu Khải như được khích lệ, lấy hết can đảm nói tiếp: "Vì thế, ta suy đi tính lại, quyết định hồi âm phụ hoàng rằng ta nguyện đi Minh Châu, nhưng ở phủ Ninh Quốc ta gặp được một cô nương lương thiện tên là Tống Đào Sênh, ta muốn cho nàng ấy một danh phận để theo ta cùng đi. Phụ thân hồi âm rất nhanh, nói chuyện đó có gì khó, ban cho nàng ấy một danh phận là được... Thế là hôm qua, ta đã nhận được chế từ do người phái người đưa tới, phong Tống Đào Sênh làm Tín An Quận phu nhân... nạp làm thiếp của Ngụy vương." Chân Chân kinh ngạc tột độ, cau mày mở to mắt: "Sao có thể làm thế..." "Đó đã là cách tốt nhất ta có thể nghĩ ra lúc này rồi." Triệu Khải tiếp lời, "Từ nay chúng ta có thể đường đường chính chính ở bên nhau. Sau này nếu nàng sinh con cho ta, ta sẽ tìm cách đưa nàng về Lâm An, xin phụ thân xá miễn tội lỗi ngày trước của nàng, nể tình cháu nội, người hẳn sẽ đồng ý thôi." "Nhưng ta sẽ không đồng ý." Chân Chân bác bỏ. "Xin lỗi Chân Chân, ta đã không hỏi ý nàng trước." Triệu Khải thành khẩn xin lỗi, rồi giải thích, "Ta biết nếu để nàng biết trước thì nàng sẽ không chịu, nên mới tự ý quyết định... Nhưng xin nàng hãy tự hỏi lòng mình, bỏ qua những chuyện khác, quãng đời còn lại nàng muốn ngày ngày bên ta hay là vĩnh viễn không gặp lại ta, nàng chọn cái nào?" Chân Chân ngẩn ngơ, hồi lâu không đáp. Ánh mắt Triệu Khải dừng lại ở đóa cúc trắng nhỏ cài bên mái tóc Chân Chân, từ từ đưa tay ngắt bỏ. "Chân Chân, ba năm rồi, dù là trảm thôi cũng đến lúc xả tang rồi." Chàng khẽ thở dài, rồi nhìn thẳng vào đáy mắt nàng, hỏi: "Chúng ta không có lỗi, tại sao cứ phải bỏ lỡ nhau?" Chân Chân không sao đối đáp, cũng không biết phải đối mặt thế nào với cõi lòng đang rung động mãnh liệt của mình, nàng khẽ cụp mi, không kìm được mà rơi lệ. Triệu Khải đưa tay lau đi vệt nước mắt cho nàng, ôn tồn nói: "Nàng từng bảo, Đại ca cho nàng cảm giác tốt đẹp nhất của nam nữ chi tình. Còn chúng ta mấy năm nay, cùng nhau làm chính sự, làm đại sự, tin tưởng lẫn nhau, thành toàn cho nhau, chẳng lẽ đó không phải là một loại dáng vẻ tốt đẹp nhất sao?" Không đợi nàng trả lời, chàng ngẫm nghĩ rồi nói thêm: "Tất nhiên, chỉ làm chính sự thôi là chưa đủ, nhưng ta nghĩ, những chuyện khác chúng ta phối hợp cũng sẽ rất ăn ý." "Chuyện khác là chuyện gì?" Chân Chân buột miệng hỏi theo quán tính, rồi lập tức phản ứng lại, mặt đỏ bừng. Còn Triệu Khải nở nụ cười rạng rỡ, sau đó cúi đầu, ghé môi hôn lên môi nàng. Thân mình Chân Chân khẽ run lên, nàng co người muốn lùi lại, nhưng tư thế lúc này khiến nàng tránh cũng không thể tránh. Nhất thời lòng rối như tơ vò, đối diện với gương mặt ngày càng kề sát của Triệu Khải, hơi thở nàng dồn dập, luống cuống nhắm nghiền hai mắt. Ngay khi môi Triệu Khải sắp chạm vào đôi môi Chân Chân, chợt nghe trên đê truyền đến một giọng nói nghe quen quen: "Ngô Chân Chân, Nhị Đại vương!" Hai người giật mình, Chân Chân lập tức đẩy Triệu Khải ra, chống tay đứng dậy. Triệu Khải cũng đứng lên theo, cả hai cùng nhìn về phía bờ đê. Chỉ thấy một nam t.ử dắt ngựa đứng dưới gốc liễu trên đê, tay kia đang vẫy nhiệt tình về phía họ, miệng vui vẻ hét lớn bày tỏ sự mừng rỡ: "Đúng là hai người rồi! Tốt quá, cuối cùng cũng gặp được hai người!" Là Hàn Tố Vấn đã lâu không gặp. Tuy đúng là cố nhân hội ngộ, nhưng trong tình cảnh lúng túng nhường này, Chân Chân và Triệu Khải cũng chỉ biết nhìn nhau trân trối, chưa kịp đáp lại sự nhiệt tình của hắn. Chính trong cái liếc mắt nhìn nhau ấy, Triệu Khải phát hiện trên búi tóc Chân Chân còn vương một hạt thóc. Trước khi cùng nàng rời khỏi ruộng lúa, chàng mượn cớ ôm eo nàng bước đi, làm như vô tình đưa tay ra sau gáy nàng, nhón lấy bằng chứng ám muội kia vứt đi. "Đã lâu không gặp, Hàn Y quan vẫn khỏe chứ?" Trên bờ đê, Triệu Khải phong thái đoan chính chủ động chắp tay chào Hàn Tố Vấn, so với Chân Chân mặt vẫn còn vương nét hồng, thần sắc chàng vô cùng tự nhiên, cứ như thể vừa rồi chàng và Chân Chân chỉ xuống ruộng kiểm tra lúa má mà thôi. Hàn Tố Vấn cười híp mắt thi lễ. Sau khi hàn huyên đôi câu, Triệu Khải hỏi lý do Hàn Tố Vấn rời kinh đến đây, hắn bèn kể: "Đại vương trước đó dâng biểu lên Quan gia, xin Quan gia cho phép ngài nạp thiếp ở phủ Ninh Quốc. Nghe nội nhân trong điện Phúc Ninh kể lại, Quan gia tuy đã đồng ý, nhưng lại than phiền với Hoàng hậu rằng ngài không chịu cưới vợ, hóa ra là vì có người đẹp ở Ninh Quốc, lại còn sốt sắng xin nạp thiếp như vậy, không biết nữ t.ử kia hồ mị thế nào. Hoàng hậu bèn khuyên giải, nói Nhị Đại vương bên ngoài trăm công nghìn việc, vất vả vô cùng, có thiếp thất tận tâm hầu hạ là chuyện nên làm. Chưa kịp về kinh bẩm báo đã dâng biểu thỉnh cầu, biết đâu là cô nương kia đã bụng mang dạ chửa, cần gấp rút cho nàng ta một danh phận. Quan gia nghe xong vỗ trán cái đét: 'Phải rồi, sao trẫm không nghĩ ra nhỉ!' Thế là chuyển giận làm vui, liền sai ta đến phủ Ninh Quốc, một là thường trú tại phủ trị để đảm bảo sức khỏe cho Đại vương, hai là tiện thể quan sát tình hình Tín An Quận phu nhân, nếu có tin vui thì phải báo ngay cho Quan gia. Vậy nên ta lĩnh mệnh mà đến, tới phủ trị thì nha lại bảo Đại vương đang ở đê Huệ Dân, ta bèn vội vã chạy tới đây. Vừa đến chỗ xe xương rồng thì thấy hai người phi ngựa tách khỏi đám đông, ta liền đuổi theo. Nhìn bóng lưng đã ngờ ngợ là hai người, thấy hai người lao xuống ruộng lúa ta lại quan sát hồi lâu, nhìn đi nhìn lại thấy chắc chắn rồi mới dám gọi..." Nghĩ đến cảnh tượng vừa rồi đều lọt hết vào mắt hắn, Chân Chân âm thầm day trán, càng thêm xấu hổ không nói nên lời, Triệu Khải thì chỉ cười không đáp, để mặc Hàn Tố Vấn thao thao bất tuyệt: "Hóa ra đi một vòng lớn, hai người vẫn gặp lại nhau. Thế cũng tốt lắm, năm xưa cùng ăn mì với hai người, ta đã ngấm ngầm quan sát rồi, hai người trai tài gái sắc, vô cùng xứng đôi, ở chung lại hòa hợp như vậy, chuyện gì cũng nói thẳng với nhau chẳng hề khách sáo, lẽ ra nên sớm ở bên nhau rồi..." Trở về phủ trị, ba người lại kể chuyện biệt ly, Chân Chân kể những gì mình đã trải qua mấy năm nay cho Hàn Tố Vấn, Hàn Tố Vấn cũng thuật lại chuyện năm xưa, nhắc đến nguyên nhân cái c.h.ế.t của Trang Văn Thái tử, lại nói: "Sau khi ta thu thập vật phẩm nôn mửa của Trang Văn Thái tử, đã cùng các thái y xem xét kỹ lưỡng từng chút cặn bã, còn cho động vật nhỏ ăn thử, nhưng chúng đều không có biểu hiện gì khác thường, không có dấu hiệu trúng độc, nên các thái y đều cho rằng bản thân thức ăn không có độc, khăng khăng là lỗi do cô dâng đồ ăn sống lạnh, sau đó lại... Tất nhiên ta trước sau vẫn không đồng ý với ý kiến của bọn họ, nhưng cũng không tìm được bằng chứng xác thực để biện bác, chỉ đành chạy vạy khắp nơi, muốn tìm người cứu được cô. May mà người hiền tự có trời giúp, cuối cùng cô cũng thoát được." Chân Chân bèn nói cho hắn nghe suy đoán về nọc rắn, Hàn Tố Vấn trầm ngâm một hồi rồi bảo: "Có lý, nếu là nọc rắn thì đúng là có thể gây trúng độc qua vết thương hở hoặc vết loét, mà dùng động vật khỏe mạnh thử thì không ra. Chỉ là vật đổi sao dời, thức ăn còn sót lại năm xưa đều không tìm được nữa, nếu thật sự có người dùng nọc rắn hại Trang Văn Thái tử, cũng không biết là hạ độc vào đâu, chúng ta muốn tra cũng không biết bắt đầu từ đâu, rất khó biện bạch." Hắn cố ý nhìn Chân Chân và Triệu Khải, rồi khuyên Chân Chân: "Chuyện đã đến nước này, chi bằng cô cứ yên tâm gả cho Nhị Đại vương, sống những ngày tháng yên bình ở nơi Quan gia không nhìn thấy. Đợi thêm vài năm nữa, nỗi bi thương Quan gia dành cho Trang Văn Thái t.ử nhạt dần, cô hãy bế con cùng Nhị Đại vương trở về, giải thích cặn kẽ với Quan gia, cầu xin người lượng thứ." Triệu Khải cũng nói với Chân Chân: "Ta nhớ nàng từng nói, chân tướng sự việc của Đại ca chưa rõ ràng thì nàng không thể nào buông bỏ, không tiện chấp nhận ta. Nhưng tình hình trước mắt, chúng ta buộc phải có cơ hội ở bên nhau đường đường chính chính thì mới có thể tiếp tục cùng nhau tìm kiếm sự thật. Nếu tách ra, mất đi sự hỗ trợ của đối phương, ngày chân tướng phơi bày e là càng thêm xa vời vợi." Thấy Chân Chân im lặng không còn phản đối, Triệu Khải bắt đầu tích cực trù bị hôn lễ. Tuy báo lên Quan gia là nạp thiếp, nhưng những nghi thức, vật dụng ngài sai người chuẩn bị ở phủ Ninh Quốc đều chẳng khác gì con nhà quan lại cưới vợ cả, lục lễ đều đủ cả. Chàng chân thành nói với Chân Chân: "Thân phận hạn chế ta cưới nàng làm thê t.ử trên tông điệp, nhưng ta muốn dành cho nàng lễ ngang hàng vợ cả, để nàng trở thành người con gái đầu tiên ta cưới, là nguyên phối phu nhân trong lòng ta." Hôn lễ định vào cuối tháng Chín, Chân Chân quay về Trạm Nhạc lâu ở, càng gần đến ngày cưới, Triệu Khải liên tục sai người đưa mũ phượng, áo t.ử đỏ, cùng các loại trang sức của hồi môn nườm nượp đưa đến chỗ nàng. Hai ngày trước hôn lễ, chàng lại sai một hỷ nương mang hoa điền dùng cho ngày cưới tới, tổng cộng hơn mười bộ, để Chân Chân tùy ý lựa chọn. Những bộ hoa điền ấy được làm từ lông chim trả, đá quý, trân châu... đựng trong hộp gấm, lộng lẫy bắt mắt. Hỷ nương dâng đến trước mặt Chân Chân, ánh mắt nàng lướt qua, ma xui quỷ khiến thế nào lại cầm lên một miếng châu điền (hoa điền bằng ngọc trai). Hỷ nương cười nói: "Mắt nhìn của nương t.ử thật tốt, cái này nhìn qua là biết làm từ trân châu Nam Hải thượng hạng." Dứt lời bà ta kéo Chân Chân ngồi xuống trước gương đồng, đón lấy miếng châu điền, đặt trên đầu ngón tay, ngửa mặt trái lên, đưa tới bên môi Chân Chân, mời nàng hà hơi vào. Đây là lần đầu tiên Chân Chân dùng hoa điền kể từ khi Trang Văn Thái t.ử qua đời, chẳng hiểu sao tim nàng bỗng đập thình thịch dữ dội, ngần ngừ nhìn miếng châu điền hồi lâu, nàng mới từ từ hé môi hà hơi. Lớp a giao phía sau miếng châu điền mờ đi vì hơi nước, tỏa ra một chút hương thơm như phấn sáp. Chân Chân bỗng nhớ tới mùi hương cam tỏa ra từ miếng châu điền trên trán mình trong đêm bên Thái tử, bất giác thấy đầu óc choáng váng. Hỷ nương hoàn toàn không hay biết, vừa dán miếng châu điền lên giữa trán Chân Chân, vừa tấm tắc khen: "A giao tốt của nhà phú quý dùng có khác, còn pha cả hương chi, át hết mùi tanh của keo cá..." Sắc mặt Chân Chân trắng bệch, nàng nhìn chằm chằm miếng châu điền vừa dán lên trán trong gương một lát, rồi đứng phắt dậy, bước nhanh ra ngoài. Vừa ra đến cửa lớn, nàng suýt đụng phải Hàn Tố Vấn vừa xuống ngựa trước cửa. Hắn thấy nàng, cười rạng rỡ khen: "Dung mạo hôm nay không tệ nha, rất đẹp, đúng là người sắp có chuyện vui." Nói đoạn hắn quay người lấy từ hành lý trên lưng ngựa ra một hộp gấm nhỏ, đưa cho Chân Chân: "Cái này ta nhặt được dưới gầm giường khi thu thập vật phẩm nôn mửa của Trang Văn Thái tử. Ta nghĩ chắc là cô đ.á.n.h rơi, thấy hạt châu quý giá nên thuận tay cất đi, định bụng khi nào gặp cô sẽ trả lại. Sau đó bận rộn quá nên quên bẵng đi. Hôm gặp lại định lấy ra đưa cô, nhưng đây là vật dụng chốn khuê phòng, sợ đưa đường đột lại khiến Nhị Đại vương đa nghi, nên mới lần lữa đến tận bây giờ." Chân Chân mở hộp gấm ra, thấy bên trong chính là miếng châu điền nàng dùng hôm đó, lật ra xem mặt sau, phát hiện lớp a giao bên trên đã mất quá nửa, nhưng vẫn còn sót lại một chút, cảm xúc dồn nén bấy lâu không sao kìm lại được nữa, hai hàng nước mắt nóng hổi lập tức tuôn rơi lã chã. Hàn Tố Vấn giật mình, vội hỏi nàng bị làm sao. Chân Chân bịt miệng, cố nén bi thương, một lúc sau mới dùng giọng điệu bình tĩnh nhất có thể nói với Hàn Tố Vấn: "Đi tìm một con vật thử độc, cho nó nếm thử lớp a giao trên châu điền này." Chương 129 - Thân thế Tiệp dư Hàn Tố Vấn tìm đến một con chuột đồng, chọc rách lưỡi nó, dụ nó l.i.ế.m lớp a giao phía sau miếng châu điền. Kết quả đúng như Chân Chân dự đoán, chẳng bao lâu sau con chuột co giật lăn ra c.h.ế.t, triệu chứng y hệt trúng độc rắn. Chân Chân lập tức đến phủ trị tìm Triệu Khải. Khi hai người ở riêng trong phòng, Chân Chân không hề giấu giếm, kể lại kết quả thử độc trên chuột và chuyện nếm a giao trong đêm Thái t.ử lâm chung cho Triệu Khải nghe, rồi nói với chàng: "Giờ đã có thể khẳng định, Trang Văn Thái t.ử là bị người ta mưu sát mà c.h.ế.t. Lớp a giao này nếu chỉ chạm vào da thịt thì sẽ không trúng độc, hung thủ chắc chắn biết Trang Văn Thái t.ử thích ăn cam, nên đã dùng hương cam trộn vào a giao có pha nọc rắn và mật ong, liệu tính rằng khi Trang Văn Thái t.ử thân mật với ta, ngửi thấy mùi thơm sẽ không kìm được mà nếm thử... Nếu ta biết rõ sự tình mà không truy tìm hung thủ, báo thù cho Thái tử, chỉ lo chuyện hôn nhân của mình, trốn sau lưng chàng sống tạm bợ qua ngày, thì quãng đời còn lại sao ta có thể yên lòng? Sau này còn mặt mũi nào gặp Trang Văn Thái t.ử nơi chín suối?" Triệu Khải trầm ngâm rồi gật đầu: "Ta hiểu tâm trạng của nàng, hôn kỳ của chúng ta có thể hoãn lại. Chỉ là hiện giờ bản thân nàng còn ốc không mang nổi mình ốc, về Lâm An vừa lộ diện sẽ bị bắt ngay, làm sao có cơ hội truy tìm hung thủ? Dù nàng nói ra chuyện a giao có độc, nếu không biết hung thủ là ai, cũng không thoát khỏi hiềm nghi nàng tự mình hạ độc." Chân Chân biết lời chàng nói có lý, nhất thời cũng không có kế sách gì hay, đành ảm đạm cụp mắt, im lặng không đáp. Triệu Khải lại nói: "Mấy ngày nữa Tam ca sẽ cử hành lễ nạp phi, chính thức cưới Lăng PhượngTiên rồi. Phụ thân cũng giục ta về dự lễ, hay là ta về Lâm An trước, âm thầm điều tra nguồn gốc miếng châu điền kia, khi nào manh mối hung thủ rõ ràng, sẽ bẩm báo Quan gia, xin người cho phép nàng về cung làm chứng." Chân Chân nói: "Miếng châu điền đó là Vân Oanh Ca tặng ta, nói là cô ấy bỏ tiền ra mua làm quà mừng cho ta... Cô ấy xưa nay dịu dàng lương thiện, lại cảm kích ta từng giúp đỡ, quan hệ riêng tư giữa chúng ta rất hòa thuận, cô ấy đối với Trang Văn Thái t.ử cũng rất trung thành, không có lý do gì lại tàn độc hại chúng ta như vậy." Triệu Khải hỏi: "Liệu có phải cô ta thầm thương trộm nhớ Đại ca nhưng không được đáp lại, nên mới hạ độc thủ?" Chân Chân lắc đầu: "Cô ấy từ sau khi bị kẻ bạc tình hại một lần thì không còn dễ dàng động lòng với nam t.ử nữa, tuy vẫn luôn tận tụy hầu hạ Trang Văn Thái tử, nhưng chưa từng biểu lộ tình ý ái mộ gì đặc biệt với ngài ấy." "Cũng có thể hung thủ mượn tay cô ta đưa châu điền cho nàng..." Triệu Khải phỏng đoán, rồi lại nói, "Dù thế nào, đợi ta về Lâm An tìm được cô ta rồi sẽ rõ. Cho dù không phải cô ta, nhất định cũng tra ra được manh mối quan trọng." Chân Chân muốn cải trang đi cùng chàng về Lâm An, nhưng Triệu Khải kiên quyết không cho, nói: "Nàng và ta đi cùng nhau, khó tránh khỏi tiếp xúc thân mật, dù cải trang thế nào cũng dễ bị lộ. Nàng tuyệt đối không được mạo hiểm như vậy." Chân Chân đành từ bỏ ý định này. Triệu Khải an ủi nàng một hồi, lại bày tỏ nỗi lòng: "Lần này hôn sự của chúng ta chỉ là tạm hoãn, không phải hủy bỏ. Ta đã xem nàng là thê t.ử chưa qua cửa, đợi khi chân tướng sáng tỏ, ta vẫn sẽ cho nàng một hôn lễ long trọng." Chân Chân cười tự giễu: "Chắc ta bị dính lời nguyền gì rồi, mỗi lần sắp thành thân với ai là y như rằng nảy sinh trắc trở... Có đôi khi không kìm được mà nghĩ, hay là phải dứt bỏ hẳn ý định lấy chồng thì mới được sống những ngày yên ổn." "Đừng nghĩ lung tung, ngốc ạ." Triệu Khải mỉm cười ôm vai nàng, nói, "Những hôn sự trước kia bị hủy là ý trời, ông trời biết họ đều không phải người thích hợp nhất với nàng, mà ta mới là bến đỗ cuối cùng của nàng." Trong vòng tay chàng, Chân Chân tựa đầu vào vai chàng, một lúc sau, khẽ hỏi: "Chuyện giữa ta và Trang Văn Thái tử, giờ chàng biết hết rồi, có để tâm không?" "Để tâm thì tất nhiên là có một chút..." Triệu Khải từ tốn nói, nhưng lời lẽ lập tức xoay chuyển, "Nhưng chút để tâm đó càng khiến ta cảm thấy chúng ta có được ngày hôm nay thật không dễ dàng, ta sẽ càng thêm trân trọng." Triệu Khải nhanh chóng lên đường về Lâm An, để Chân Chân ở lại phủ Ninh Quốc yên tâm đợi tin tốt. Chân Chân bèn quay lại Lộc Minh lâu, vừa chờ đợi, vừa giúp Vệ Thanh Tầm quản lý tửu lâu như thường lệ. Một buổi trưa nọ, người pha trà của Lộc Minh lâu báo với Chân Chân rằng có một vị khách gọi trà đoàn, nhưng khi pha trà cho ông ta thì ông ta không uống, khăng khăng đòi mời Tống nương t.ử tới đích thân đun trà cho ông ta. Chân Chân cứ ngỡ gặp phải kẻ cố tình trêu ghẹo, vốn định tránh mặt không gặp, nhưng người nọ lại nhờ người pha trà chuyển lời: "Trà đoàn quá đậm, tính quá hàn lương, lão phu uống không nổi." Câu nói này khiến Chân Chân giật mình thon thót, nhớ lại thói quen uống trà của Trang Văn Thái tử, lập tức rảo bước đi gặp người đó. Người nọ dáng vẻ gầy gò khẳng khiu, ăn mặc như văn sĩ, nhưng trên đầu lại đội một chiếc nón lá của ngư tiều, vành nón sụp xuống rất thấp, che khuất hơn nửa khuôn mặt. "Tiên sinh không thích điểm trà?" Chân Chân ướm hỏi. "Thích thì có thích," Người nọ đáp, "Chỉ là tỳ vị không tốt, đành phải phiền nương t.ử đem trà đi đun, mới có thể uống được." Ông ta chưa kịp ngẩng đầu bỏ nón, nghe giọng nói ấy, mắt Chân Chân đã đỏ hoe, nàng quay sang bảo tất cả lui xuống, đóng cửa phòng lại, cảm xúc lẫn lộn, nghẹn ngào thi lễ với vị lão tiên sinh kia: "Dương tiên sinh, cuối cùng cũng gặp lại ông rồi..." Dương T.ử Thành vội đứng dậy chắp tay hoàn lễ: "Ngô Điển thiện, năm xưa sau khi Thái t.ử hoăng thệ, ta bị kẻ ác truy sát, bất đắc dĩ phải bỏ xứ mà đi, không kịp thời biện bạch cho cô, thật sự hổ thẹn!" Hai người ngồi xuống hàn huyên, Dương T.ử Thành kể lại hết chuyện cũ. Hóa ra không lâu sau khi Thái t.ử mất, liền có thích khách bịt mặt định ám sát Dương T.ử Thành, ông ta liều c.h.ế.t chạy thoát khỏi Đông Cung, cưỡi ngựa tạm thời cắt đuôi được thích khách, nhưng cứ hễ đến gần cổng cung là lập tức có người hiện ra truy sát. Ông ta trốn chui trốn lủi trong kinh thành, cảm thấy người truy sát mình ngày càng đông, bản thân hoàn toàn không thể vào lại hoàng thành. Để bảo toàn tính mạng, ông ta đành phải trốn khỏi kinh thành, vậy mà vẫn có thích khách bám riết không tha. Ông ta chạy một mạch về phương Nam, mãi đến khi vào đất Lĩnh Nam mới cảm thấy cắt đuôi hoàn toàn được thích khách. "Ông có biết ai muốn g.i.ế.c ông không?" Chân Chân hỏi. "Có một lần, ta nấp trong bóng tối, nghe thấy thích khách nói chuyện, nhận ra bọn họ là hoạn quan." Dương T.ử Thành nói, "Nên lúc đó ta đoán là do Trình Uyên sai khiến, vì hắn lấy danh nghĩa bảo vệ cung Từ Phúc, nắm trong tay rất nhiều hoạn quan biết võ nghệ, từng làm không ít chuyện thanh trừng phe đối lập trong kinh thành. Hơn nữa, lúc đó Trang Văn Thái t.ử sai ta điều tra chuyện Cúc phu nhân, Cúc phu nhân rất có thể bị Trình Uyên giam cầm, Trình Uyên sợ chuyện này bại lộ nên cũng có động cơ g.i.ế.c ta... Ta trốn ở Lĩnh Nam, tạm thời không dám quay về, thay tên đổi họ để sống. Sau này cơ duyên xảo hợp, xin vào một thư viện ở Quảng Châu, kiếm được chân thầy dạy học. Trong thư viện có một vị tiên sinh tên là Trần Lạc Sơn, chí thú tương hợp, kết giao rất thân với ta. Có lần ta uống rượu với ông ấy, lỡ miệng nói mình đến từ Lâm An, ông ấy cũng say, ra vẻ bí mật hỏi ta có biết Liễu Tiệp dư không. Ta bảo ai mà không biết, Liễu Tiệp dư là nương t.ử được Kim thượng sủng ái. Ông ấy liền bảo, Liễu Tiệp dư từng là học trò của ông ấy. Ta rất ngạc nhiên, hỏi kỹ lại, ông ấy mới kể cho ta nghe, khi ở Nhai Châu, ông ấy từng được Liễu Côn thuê về dạy vỡ lòng cho con gái Liễu gia, lúc đó Liễu cô nương mới hơn năm tuổi. Hai năm sau Liễu Côn thu nhận hai nương con lang thang, cô bé con kia cũng trạc tuổi Liễu cô nương, Liễu Côn bèn cho làm thư đồng cho con gái. Khi hai cô bé tám tuổi, Nhai Châu xảy ra dịch bệnh, Liễu cô nương bất hạnh nhiễm bệnh c.h.ế.t yểu, nương của cô bé thư đồng kia là Ngọc thị thấy Liễu phu nhân đau đớn muốn c.h.ế.t, bèn quỳ xuống xin tặng con gái mình cho Liễu phu nhân làm con. Liễu phu nhân chưa kịp đồng ý thì cùng phu quân đều ngã bệnh, chẳng bao lâu sau lần lượt qua đời. Gia nhân nhà họ Liễu kẻ c.h.ế.t người bỏ đi, Trần Lạc Sơn niệm tình cũ của Liễu Côn, ở lại lo liệu hậu sự, Ngọc thị kia bèn bàn bạc với ông ấy, muốn để con gái mình lấy thân phận con gái Liễu gia để tống táng vợ chồng Liễu Côn. Trần Lạc Sơn nghĩ nhà họ Liễu đã tuyệt hậu, đoán Ngọc thị muốn mượn cớ này chiếm đoạt nhà cửa điền sản của Liễu gia, nhưng bản thân ông thương xót cô học trò nhỏ, nên cũng không phản đối, để cô học trò mạo danh Liễu cô nương đưa tang vợ chồng Liễu Côn. Xong việc, Trần Lạc Sơn rời khỏi Nhai Châu, phiêu bạt đến Quảng Châu, mất liên lạc với nương con Ngọc thị. Nhiều năm sau, ông ấy tình cờ nghe nói con gái Liễu Côn vào cung được phong Tiệp dư, biết ngay chắc chắn là cô bé lang thang năm nào, chỉ là e ngại thân phận Liễu Tiệp dư hiện giờ nên không nhắc lại với người ngoài nữa." "Hóa ra Liễu Tiệp dư không phải con ruột của Liễu Côn..." Chân Chân lập tức nhớ lại chuyện cùng Thái t.ử bắt gặp bà ta tế cha dưới trăng, mối nghi ngờ bỗng chốc sáng tỏ, bèn kể chuyện này cho Dương T.ử Thành nghe, rồi hỏi: "Vậy người mà bà ta cúng tế đêm đó, là Liễu Côn hay là cha đẻ của bà ta?" "Thì ra là thế, thì ra là thế, Điện hạ biết được là nhờ chuyện này..." Dương T.ử Thành cũng như vừa thông suốt mọi mắt xích, lẩm bẩm, nước mắt già nua tuôn rơi. Một lát sau, ông lau nước mắt nói tiếp: "Ta nghĩ, người Liễu Tiệp dư cúng tế, hẳn là cha đẻ của bà ta... Sau hôm đó, Thái t.ử Điện hạ từng bảo ta tra ngày sinh của Liễu Côn, tra ra không phải ngày đó. Sau đó Thái t.ử Điện hạ lại bảo ta tra ngày sinh của các quan lại từ ngũ phẩm trở lên đã mất trong vòng hai mươi sáu năm qua, xem có ai có ngày sinh là hôm đó không... Ta đã tra ra, và bẩm báo với Thái t.ử Điện hạ. Ngài ấy lúc đó định đến điện Phúc Ninh báo cho Quan gia, tiếc là Tuyên Nghĩa lang Lâm Hoằng đột ngột ghé thăm, nên Điện hạ không đi được." Tất cả thông tin như những mảnh ghép, tụ lại cuối cùng cũng sắp ghép thành chân tướng. Chân Chân chớp mắt c.ắ.n môi, cố nén cơn run rẩy do cảm xúc dâng trào, hỏi dồn Dương T.ử Thành: "Người Tiên sinh tra được, là ai?" "Tề Hi." Dương T.ử Thành đáp ngay, "Con trai Tề Tuân, Tề Hi." Trong sự ngỡ ngàng khó tả, Chân Chân bất giác bật cười chua chát, một nỗi căm phẫn và bi thương mãnh liệt trào dâng trong lòng, hận đến mức rơi hai hàng nước mắt. Dương T.ử Thành thở dài thườn thượt: "Từ miệng Trần Lạc Sơn biết chuyện Liễu Tiệp dư, ta liên tưởng đến ngày sinh kỵ mà Thái t.ử Điện hạ bảo ta tra, liền biết thân thế Liễu Tiệp dư đáng ngờ, rất có thể là người nhà họ Tề. Nếu chuyện ta điều tra ngày sinh kỵ cha bà ta bị bà ta biết được, thì việc bà ta hại Thái t.ử Điện hạ và truy sát ta đều có lý do cả... Ta muốn về Lâm An nhắc nhở Quan gia Liễu Tiệp dư rắp tâm khó lường, nhưng hiện giờ thế cô sức yếu, rất có thể chưa sờ được đến cổng hoàng thành đã bị g.i.ế.c hại t.h.ả.m thương. Suy đi tính lại, quyết định đi đường vòng đến phủ Ninh Quốc, tìm Nhị Đại vương, xin ngài ấy đưa ta về, bẩm báo Kim thượng. Không ngờ chậm một bước, nha lại bảo Nhị Đại vương đã về hoàng thành dự lễ... Nha lại nghe nói ta là cố nhân của Ngụy vương, bèn bảo ta đến Lộc Minh lâu tìm Tống nương tử, nói Tống nương t.ử đã được phong Tín An Quận phu nhân, chuyện cần nói với Ngụy vương đều có thể nói với cô. Ta bèn đến tìm Tống nương tử, nhìn qua khe cửa thấy bóng dáng cô, liền nhận ra ngay, nên mới mượn cớ uống trà mời cô qua gặp." Sau chuyện này, Chân Chân càng không thể yên tâm ngồi đợi tin Triệu Khải, một lòng muốn đưa Dương T.ử Thành về Lâm An càng sớm càng tốt để nói rõ chân tướng cho Quan gia, bèn xin từ biệt Vệ Thanh Tầm, tỏ ý muốn về cung làm rõ cái c.h.ế.t của Trang Văn Thái tử. Vệ Thanh Tầm hỏi nàng, chẳng lẽ không sợ thân phận bại lộ, chưa làm gì đã bị bắt giam trị tội sao. Chân Chân nói: "Ta mang theo chế từ Quan gia phong ta làm Quận phu nhân, dùng thân phận này vào thành, dọc đường che mặt cẩn thận, Dương Đô giám cải trang làm người hầu trong nhà, chắc sẽ không có quá nhiều người tra hỏi. Tìm được Nhị Đại vương rồi tính tiếp." Vệ Thanh Tầm nói: "Để ta đi cùng cô. Ta có thân phận ngoại thích, gặp người tra hỏi càng dễ giúp cô hóa giải." Chân Chân đương nhiên vô cùng cảm kích. Tối đó hai cô nương cùng về Trạm Nhạc lâu, Chân Chân biết lần này về hoàng thành phúc họa khó lường, bèn quỳ lạy Tống bà bà, trịnh trọng từ biệt. Tống bà bà đỡ nàng dậy, thấy nàng bi thương như vậy, trong lòng đã hiểu được vài phần, hỏi thẳng: "Con định về cung gặp Quan gia, tự chứng minh sự trong sạch phải không?" Chân Chân rất ngạc nhiên, mình chưa từng kể cho Tống bà bà nghe về thân phận trước kia và chuyện trong cung, không biết sao bà đoán được. Tống bà bà nói: "Hồi trước ta thấy Ngụy vương ở bên con, lời nói cử chỉ tỏ ra rất thân thiết tự nhiên, như là quen biết đã lâu, liền đoán con từ trong cung ra. Nhưng hai đứa mãi vẫn cứ gần gần xa xa, giữa hai người như có rào cản gì đó. Ta nhớ con từng nói, nhà chồng đổ tội con hại c.h.ế.t chồng, đuổi con ra khỏi nhà. Chuyện Trang Văn Thái t.ử người đời cũng có lời đồn đại, nói có liên quan đến một nội nhân, ta liền đoán có thể là con. Nếu là con, thì tình cảnh giữa con và Ngụy vương cũng không khó hiểu." Chân Chân thấy bà đã đoán đúng quá nửa, bản thân ở chung với bà mấy năm, sớm đã coi như người thân ruột thịt, bèn kể hết nỗi niềm thầm kín cho bà nghe. Tống bà bà nghe xong bảo: "Ta cũng theo con về Lâm An, dọc đường có thêm người chăm sóc. Hơn nữa ta dù gì ở Lâm An cũng có chút tiếng tăm, trên đường ai dám nghi ngờ thân phận con, ta sẽ bảo họ đây là cháu gái ruột của ta, Tống Đào Sênh. Năm xưa Quan gia cũng từng ăn canh cá ta nấu, lần này nếu may mắn gặp được Quan gia, biết đâu ta còn nói giúp con được vài câu." Chân Chân tuy có lo lắng, nhưng Tống bà bà kiên quyết đòi đi cùng, Chân Chân đoán bà sợ mình đi một đi không trở lại, bà đến mặt mũi cuối cùng cũng không gặp được, trong lòng đau xót, đành đồng ý. Vệ Thanh Tầm giúp Chân Chân thu dọn hành lý, thấy nàng ngẩn người dưới đèn, tay vô thức nắm chặt chiếc túi thơm bạc đeo bên hông, bèn hỏi: "Mấy năm nay, con luôn mang chiếc túi thơm bạc này bên mình, lúc bất an liền nắm lấy nó, chắc hẳn là người rất quan trọng tặng con nhỉ?" Chân Chân gật đầu: "Là nương ta đưa cho ta." Nghĩ một lát, lại mở túi thơm ra, lấy hạt giống như hạt đậu đỏ bên trong đưa đến trước mặt Vệ Thanh Tầm, "Cô rành hoa cỏ, xem giúp ta xem đây là hạt của cây gì." Vệ Thanh Tầm đón lấy xem kỹ, một lúc sau bảo: "Là hạt hoa Quỳnh (Quỳnh hoa - Cẩm tú cầu thân gỗ) Loài hoa này quý hiếm, năm xưa nương ta sai người mang ngàn vàng đến Dương Châu tìm mua, cũng chỉ được một hạt, mà sau đó trồng không sống. Nương con làm sao có được? Bà ấy cũng từng đến Dương Châu?" Chân Chân lắc đầu: "Bà ấy rời Phố Giang xong vẫn luôn ở Lâm An." Vệ Thanh Tầm hiểu ra: "Có lẽ lấy được từ vườn Thích An. Quan gia từng cho di thực hoa Quỳnh từ Dương Châu về cung Lâm An, ban cho Liễu Tiệp dư. Nghe nói Liễu Tiệp dư sau đó tặng lại cho Trình Uyên, Trình Uyên bèn trồng hoa Quỳnh trong vườn Thích An của hắn." "Trình Uyên rất thích hoa cỏ sao?" Chân Chân hỏi. "Rất thích, trong vườn của hắn có rất nhiều loài hoa cỏ lạ." Vệ Thanh Tầm nói, "Nhưng mấy năm gần đây nghe nói hắn không chỉ trồng hoa nữa, ngày đêm ca hát, đắm mình trong tửu sắc, mua không ít nhạc kỹ, còn cưới một vũ kỹ làm phu nhân." "Cưới vũ kỹ?" Chân Chân ngẩn ngườ nhắc lại, mơ hồ cảm thấy có điềm chẳng lành. "Ừ, một vũ kỹ biết múa điệu Lương Châu, còn viết cả hôn thư, cưới hỏi đàng hoàng." Vệ Thanh Tầm giải thích thêm, "Giới ngoại thích ngầm đồn đại rằng, người Trình Uyên cưới là một tuyệt thế giai nhân, nhưng hắn nhốt mỹ nhân đó trong vườn Thích An, người ngoài không ai gặp được." Chân Chân đột ngột đứng dậy, chỉ cảm thấy đầu óc nổ vang, một tay chống xuống bàn, tay kia càng nắm chặt chiếc túi thơm bạc, lòng đầy phẫn uất và lo sợ không sao giải tỏa, trước mắt tối sầm, thân hình lảo đảo chực ngã. Vệ Thanh Tầm vội vàng đỡ lấy nàng, hỏi nàng bị làm sao. Chân Chân khó nhọc điều chỉnh hơi thở, hồi lâu sau mới nhẹ nhàng gỡ tay Vệ Thanh Tầm ra, đi đến bên cửa sổ, nhắm mắt lại trước luống hoa Kim Đăng (hoa Bỉ Ngạn) đã tàn trong hậu viện, một lát sau mở mắt ra, quay đầu nhìn Vệ Thanh Tầm, nói: "Còn một việc nữa, ta muốn nhờ cô giúp ta." Chương 130 - Dưới gốc Ngân Hạnh Chân Chân cùng Vệ Thanh Tầm đưa Dương T.ử Thành, Tống bà bà, Hàn Tố Vấn và vài tùy tùng lên đường về Lâm An ngay ngày hôm sau. Chân Chân và Tống bà bà ngồi trong xe, suốt ngày đội mũ có rèm che, người ngoài rất khó nhìn thấy mặt nàng, thi thoảng có lính tuần tra hỏi đến, Vệ Thanh Tầm đứng ra giải thích nàng là Tín An Quận phu nhân, rất nhanh liền được cho qua, không ai dây dưa thêm. Đường đi dầm mưa dãi nắng, khi còn cách thành Lâm An chừng hai ba mươi dặm, bỗng nghe phía sau tiếng xe ngựa ồn ào, có người dọn đường hô to bắt người đi đường tránh ra, nói Hoàng Thái t.ử phi giá lâm. Chân Chân nghe tiếng sững sờ, rồi nhận ra "Hoàng Thái t.ử phi" này hẳn là chỉ Phượng Tiên. Hôn sự với Triệu Hạo đã định, Phượng Tiên liền được cha đón về nhà nương đẻ ở, cho đến khi hôn kỳ đến gần mới từ ngoại quận xuất phát, về Lâm An hoàn hôn. Lúc này PhượngTiên ngồi trên chiếc xe cung đình cao như ngôi nhà do bốn con tuấn mã cao lớn kéo, tùy tùng trước sau mấy trăm người, kẻ dẫn đường mở lối, kẻ cầm binh khí hộ vệ, kẻ tấu lễ nhạc, kẻ khiêng hàng rương hòm của hồi môn, trùng trùng điệp điệp tiến về phía Lâm An. Vệ Thanh Tầm cưỡi ngựa quay đầu nhìn lại, rồi ra hiệu cho tùy tùng đ.á.n.h xe cho Chân Chân dừng lại, tránh sang bên đường, bản thân cùng Dương T.ử Thành, Hàn Tố Vấn xuống ngựa, cũng lùi vào lề đường. Người đi đường đều dạt sang hai bên, cúi người hành lễ với xe của Hoàng Thái t.ử phi, còn Chân Chân lo sợ lộ diện sẽ sinh thêm chuyện, bèn không xuống xe, vẫn ngồi trong chiếc xe cửa đóng then cài. Kẻ dọn đường thấy xe của Chân Chân kiểu dáng lớn hơn xe của nữ quyến thường dùng, hoa văn cũng tinh xảo, bèn đoán người ngồi trong xe có chút thân phận, lại có ý muốn lấy lòng Phượng Tiên, để nàng ta cảm thấy sự tôn quý ngạo nghễ của mình, bèn cố ý quát về phía xe Chân Chân: "Kẻ nào vô lễ như vậy, thấy loan giá của Hoàng Thái t.ử phi cũng không xuống xe hành lễ!" Vệ Thanh Tầm đứng bên giải thích: "Đây là gia quyến của Ngụy vương, Tín An Quận phu nhân. Vì đường xa vất vả, xe ngựa xóc nảy, hôm nay người rất chóng mặt, nên vừa rồi ngủ quên trong xe, chưa kịp xuống xe hành lễ, mong Thái t.ử phi thứ tội." Cô tưởng nhắc đến gia quyến Ngụy vương, người tới sẽ như những lính tuần tra trước đó không làm khó dễ nữa, nào ngờ Phượng Tiên nghe xong lại cất tiếng từ trong xe: "Đã là gia quyến Ngụy vương, vậy với ta cũng có thể coi là người một nhà, muội muội sao không xuống xe, cùng ta hàn huyên đôi câu?" Dứt lời nàng ta tự mở cửa sổ xe, nhìn chằm chằm về phía xe Chân Chân, rồi lại quan sát đám người Vệ Thanh Tầm. Dương T.ử Thành mặc y phục gia nhân của Vệ Thanh Tầm, lúc này cố ý quỳ rạp xuống đất vẻ cung kính sợ sệt, Phượng Tiên không nhìn thấy mặt ông ta, cũng chẳng mấy để ý, ánh mắt lướt qua một lượt, chỉ dừng lại thêm chốc lát ở chiếc rương gỗ đỏ hình chữ nhật do người hầu Vệ Thanh Tầm đ.á.n.h xe chở theo. Nghe cô ta nói vậy, Chân Chân biết không tránh được, đành phải xuống xe, vẫn đội mũ có rèm, khẽ nhún mình hành lễ với PhượngTiên: "Thiếp, Tín An Quận phu nhân Tống thị, bái kiến Hoàng Thái t.ử phi. Hoàng Thái t.ử phi vạn phúc." Để tránh Phượng Tiên nhận ra giọng mình, nàng cố tình nói giọng địa phương phủ Ninh Quốc, đầu cũng cúi thấp, che giấu sau lớp màn thưa, không để PhượngTiên nhìn thấy mặt mũi. Phượng Tiên nhìn chằm chằm nàng đ.á.n.h giá, lạnh nhạt nói: "Ta và muội muội lần đầu gặp mặt, phu nhân sao không bỏ mũ xuống, để ta có duyên được chiêm ngưỡng dung nhan phu nhân, sau này gặp lại trong cung cũng dễ nhận nhau." Chân Chân cúi đầu đáp: "Thiếp đi đường này nắng mưa dãi dầu, lại bị muỗi đốt, mặt mũi sưng vù không coi được, nên mới dùng mũ che mặt. Để tránh bộ dạng xấu xí làm kinh hãi Thái t.ử phi, xin Thái t.ử phi thứ cho thiếp thất lễ, ân chuẩn cho thiếp tiếp tục đội mũ. Ngày sau gặp lại trong cung, thiếp nhất định sẽ đích thân bái tạ ơn khoan dung của Thái t.ử phi." Phượng Tiên vẫn từ trên cao nhìn xuống xét nét nàng, im lặng một lát mới mở miệng: "Thôi được, ngươi cứ đội đi. Hiếm khi có duyên, gặp phu nhân ở đây, ta tặng phu nhân một món quà mọn, gọi là chút lòng thành, mong phu nhân vui lòng nhận cho." Nói rồi Phượng Tiên gọi thị nữ bên cạnh, thì thầm dặn dò đôi câu. Thị nữ lĩnh mệnh đi, lấy từ chiếc xe phía sau ra một hộp gấm, mở ra rồi cung kính dâng lên cho Chân Chân. Chân Chân ngước mắt nhìn, thấy bên trong là một bộ hoa điền màu trắng, thoáng giật mình, nhìn kỹ lại mới nhận ra hoa điền này được khảm bằng vỏ ốc và vân mẫu, chế tác tinh xảo, dưới ánh mặt trời lấp lánh ánh hào quang bảy màu. Chân Chân từ từ đón lấy, bái tạ Phượng Tiên lần nữa. Phượng Tiên mỉm cười nói miễn lễ, rồi bảo thị nữ đóng cửa sổ xe, tiếp tục lên đường. Chân Chân trở lại xe mình, cầm một miếng hoa điền lên, lật xem lớp a giao phía sau, a giao bán trong suốt, nhìn qua không có gì khác thường, Chân Chân lại ngửi thử, cũng không ngửi thấy mùi hương gì. Nàng đóng hộp gấm lại, cố gắng trấn tĩnh trái tim đang bất an, nhắm mắt nghĩ, có lẽ Phượng Tiên chỉ đơn thuần tặng mình món quà gặp mặt, mình phản ứng thái quá rồi, xem ra đúng là chim sợ cành cong. Đoàn người Chân Chân đến ngoại thành Lâm An, không vào thành ngay mà đến viện Đại Thạch Phật trên núi Bảo Thạch phía Tây Bắc hoàng thành trước. Ngôi chùa này xây lưng chừng núi, trong viện có một bức tượng Phật Di Lặc bán thân tạc từ tảng đá khổng lồ, tảng đá đó tương truyền vốn là đá neo thuyền của Tần Thủy Hoàng. Niên hiệu Hiển Đức thời Hậu Chu, Ngô Việt Quốc vương cho xây tăng viện tại đây, tượng Phật Di Lặc thì được tạc vào niên hiệu Tuyên Hòa triều ta, tăng viện bèn được đặt tên là "Viện Đại Thạch Phật". Vệ Thanh Tầm đưa Chân Chân, Tống bà bà và Dương T.ử Thành vào trong viện, rồi cùng Hàn Tố Vấn vào thành tìm Triệu Khải. Chân Chân xin gặp trụ trì tăng viện, xin gửi tạm chiếc rương gỗ đỏ mang theo ở hậu viện, trụ trì đồng ý, mời đoàn người Chân Chân nghỉ ngơi uống trà trong viện. Chân Chân đích thân chỉ huy tùy tùng đặt chiếc rương yên vị trong viện, tùy tùng sau đó rời đi uống trà, còn Chân Chân vẫn đứng nguyên tại chỗ, ánh mắt dừng lại trên chiếc rương, hồi lâu không rời. Trước tượng Đại Thạch Phật trong viện có một cây ngân hạnh cao hơn mười trượng, cành lá sum suê, lúc này thu đã đậm, lá rụng xào xạc, lá ngân hạnh vương đầy người Chân Chân mà nàng cũng chẳng hay biết, cứ lẳng lặng đứng đó, mãi đến khi nghe tiếng hạc kêu, mới ngẩn ngơ ngước mắt nhìn về phía hạc múa. Đại Thạch Phật tạc dựa vào núi, sau đỉnh đầu Phật là đoạn giữa sườn núi, có một đài ngắm cảnh, một con hạc trắng lượn vòng trên đầu Chân Chân một lát rồi bay về phía đài, đáp xuống bên cạnh một nam t.ử đang đứng hứng gió trên đó. Chân Chân ngẩng đầu, nheo mắt trong ánh ngược sáng, mới nhìn rõ nam t.ử mặc áo choàng nhẹ, phong thái ung dung kia chính là Lâm Hoằng đã xa cách ba năm. Đỉnh núi Bảo Thạch đá lớn thành ngọn, đứng trên đó có thể ngắm toàn cảnh Đoạn Kiều. Hôm nay Lâm Hoằng mang theo A Triệt l*n đ*nh núi, hướng về Tây Hồ gảy đàn lâm phong, lúc sắp về đi ngang qua đài giữa núi, thấy lá ngân hạnh vàng rực, bèn tản bộ qua đó, nhìn xuống phong cảnh bên dưới. Tán cây ngân hạnh rộng lớn, những chiếc lá hình quạt như những lá vàng dát mỏng nương theo nhịp điệu của gió thu, lúc thì như bướm lượn, lúc thì trút xuống rào rạt, trải đầy mặt đất, nhuộm vàng quá nửa sân viện. Chiếc rương gỗ đỏ đặt trong sân bên trên cũng phủ một lớp lá vàng dày, còn một cô nương mặc y phục trắng đứng giữa thế giới sắc vàng ấy, dáng hình mong manh, ý thái tiêu sơ, tóc xanh được gió nâng lên, bay về phía sau, hư ảo như ảnh như mị. Khi nàng ngửa mặt lên, ánh vàng của mặt trời chiếu lên khuôn mặt thanh tú, nàng mở đôi mắt mờ mịt, vẻ mặt ấy lại thuần khiết như trẻ thơ. Lâm Hoằng lặng lẽ nhìn nàng trong gió lá bay, hồi lâu mới nhớ ra hôm nay là ngày nào, liền men theo bậc đá xuống núi, vòng qua cổng chính viện Đại Thạch Phật, đi thẳng vào hậu viện, sải bước đến trước mặt Chân Chân. Mắt chàng ánh lên vẻ rạng rỡ, vừa gọi một tiếng "Chân Chân", lại thấy Dương T.ử Thành bỗng từ thiền phòng bên cạnh bước ra, vái chào chàng, giới thiệu: "Tuyên Nghĩa lang, đây là Tín An Quận phu nhân." Lâm Hoằng lập tức im bặt, một lúc sau, lặng lẽ thi lễ thật sâu với Chân Chân. Dương T.ử Thành mời chàng và Chân Chân vào thiền phòng, trong phòng có một tăng nhân trẻ tuổi đang cắm hoa vào bình cổ rụt, thấy họ vẻ mặt ngưng trọng bước vào, đoán họ có chuyện quan trọng muốn bàn, bèn đứng dậy cáo từ, để lại những cành hoa chưa cắm xong, đi lên điện trước. Ba người ngồi xuống, A Triệt đi theo Lâm Hoằng đặt đàn xuống, tự ra gian ngoài lấy nước đun trà cho họ. Dương T.ử Thành phá vỡ sự im lặng trước, hỏi Lâm Hoằng sao lại đến đây. Lâm Hoằng nói: "Ta mua một khu vườn nhỏ trên đảo Cô Sơn gần đây, hiện đang sống ở đó, trồng hoa nuôi hạc, lúc rảnh rỗi thì đi dạo các núi quanh đây. Hôm nay đến núi Bảo Thạch gảy đàn, không ngờ may mắn gặp lại cố nhân." Chàng rất muốn hỏi Chân Chân mấy năm nay lưu lạc thế nào, nhưng Chân Chân không chủ động nói, chàng cũng không tiện mở lời, trong phòng lại rơi vào sự im lặng ngượng ngùng. Khi chàng quyết định rời đi, đứng dậy cáo biệt, Chân Chân lại gọi chàng lại: " Thầy Lâm, trước kia khi ta theo người học nghệ, thường nghe người kể điển cố dật sự. Hôm nay, ta cũng có một câu chuyện, muốn kể cho người nghe, người có muốn nghe không?" Lâm Hoằng gật đầu, bèn ngồi xuống lại. Chân Chân nhìn chàng, bắt đầu kể: "Triều đại nọ, gian thần lộng quyền, lừa vua dối trên, đất nước trong thù ngoài giặc, dân chúng lầm than. Một vị Hoàng t.ử quyết chí diệt trừ gian nịnh, chấn hưng đế quốc, lại bị đại gian thần trả thù, hại c.h.ế.t phu nhân của ngài. Hoàng t.ử có hai người bạn chí cốt, một là Gián quan, một là Thái y, cha của Gián quan cũng bị gian thần bức hại đến c.h.ế.t. Nợ nước thù nhà khiến ba người quyết tâm liên thủ trừ gian diệt ác, lập ra một kế sách tương tự Kinh Kha thích Tần vương..." "Thích Tần?" Lâm Hoằng ngẫm nghĩ lặp lại, ánh mắt có chút thẫn thờ. "Phải." Chân Chân tiếp tục kể, "Hoàng t.ử là Yên Thái t.ử Đan, Thái y là Kinh Kha, còn Gián quan là Phàm Ư Kỳ... Gián quan chủ động xuất kích, đàn hặc đại gian thần, đại gian thần vì thế hận ông ta thấu xương. Lúc này Thái y tỏ ý muốn đầu quân cho hắn, đại gian thần biết bọn họ có giao tình, không tin Thái y thật lòng đầu hàng, bèn bắt Thái y bán đứng Gián quan, cung cấp bằng chứng tội phạm, để hắn hãm hại Gián quan. Chuyện này Hoàng t.ử và các bạn hữu đã liệu trước, Thái y và Gián quan trước đó đã bàn bạc xong, Gián quan nguyện hy sinh tính mạng, để Thái y lấy được lòng tin của đại gian thần... Chuyện về sau, ngài hẳn là biết chứ?" Lâm Hoằng không đáp, chỉ chăm chú nhìn Chân Chân, hỏi: "Ai nói cho nàng biết?" Chân Chân cười thê lương: "Trang Văn Thái tử... bằng một cách đặc biệt." Lúc này Dương T.ử Thành ở bên cạnh thở dài nói: "Chuyện này là thật. Trước khi được Quan gia phái đến Đông Cung làm Đô giám, ta là cận thị của Quan gia, từ khi ngài còn niên thiếu ta đã hầu hạ. Ngài rất tin tưởng ta, năm xưa bàn bạc chuyện này với Trương Quốc y và lệnh tôn, thường sai ta ngầm liên lạc, nên ta biết rõ nội tình... Kế sách này tuy thành công, nhưng lệnh tôn đã hy sinh tính mạng, còn Trương Quốc y thì danh dự quét rác, trở thành kẻ tiểu nhân vong ân bội nghĩa, bán bạn cầu vinh trong mắt triều thần, sau này cũng không rõ tung tích. Nội tình chuyện này không thể công khai, chắc hẳn Tuyên Nghĩa lang và lệnh đường đều bị che giấu, mãi không biết chân tướng." Ánh mắt Lâm Hoằng di chuyển giữa Dương T.ử Thành và Chân Chân, rõ ràng là đang cân nhắc độ tin cậy trong lời nói của họ. Chân Chân bèn nói: "Dương Đô giám trung thành đáng tin, chưa từng nói bậy, nên năm xưa sau khi Vương Mộ Trạch xảy ra chuyện Quan gia mới phái ông ấy đến Đông Cung, chịu trách nhiệm dẫn dắt Trang Văn Thái tử. Còn ta, đối diện với ngài, ta luôn nghĩ gì nói nấy, trước kia như vậy, bây giờ, sau này cũng sẽ như vậy. Huống hồ, trải qua bao nhiêu chuyện sinh t.ử như thế, ngài còn cho rằng ta cần thiết phải bịa chuyện lừa gạt người sao?" Lâm Hoằng im lặng không nói, Chân Chân lại nói: "Câu chuyện này vẫn chưa kết thúc... Đại gian thần c.h.ế.t rồi, nhà tan cửa nát, mà hắn có một đứa cháu gái, được nương dẫn dắt, đi đến Lĩnh Nam..." Lâm Hoằng trong lòng kinh hãi, nhưng sắc mặt không đổi nhiều, chỉ nhìn Chân Chân, khẽ nhíu mày, nín thở nghe nàng kể. Chân Chân kể chuyện Ngọc thị lợi dụng Liễu Tiệp dư mạo danh biểu tỷ của Lâm Hoằng, nhập cung làm tần ngự thành một câu chuyện, kể đến đoạn Thái t.ử bắt gặp Liễu Tiệp dư bái nguyệt tế cha, sau đó không lâu Thái t.ử c.h.ế.t bất đắc kỳ tử. Dương T.ử Thành cũng tiếp tục làm chứng, kể chuyện mình gặp thầy giáo vỡ lòng của nhà họ Liễu ở Lĩnh Nam cho Lâm Hoằng nghe, chứng minh cho chàng thấy Liễu Tiệp dư thực chất không phải biểu tỷ của chàng. Nghe hai người kể xong, Lâm Hoằng hồi lâu không lên tiếng, Chân Chân biết chuyện này đối với chàng chấn động chẳng khác nào trời long đất lở, chỉ là chàng tính tình thâm trầm, vui buồn sướng khổ đều giấu kín trong lòng, trong tim đã m.á.u chảy thành sông, ngoài mặt vẫn cứ dửng dưng như không, giống như lúc này, ngoại trừ việc Chân Chân liếc thấy hai tay chàng nắm chặt, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay ra, chàng trông có vẻ không có gì bất thường. "Tại sao nàng lại cố ý nhắc đến những chuyện này?" Hồi lâu sau, chàng mới ảm đạm hỏi. Chân Chân nói: "Ta muốn biết, khi ngài qua lại với Liễu Tiệp dư và Ngọc thị, có phát hiện ra điểm gì khả nghi liên quan đến thân phận của họ hoặc Trang Văn Thái t.ử không... Để làm sáng tỏ chân tướng cái c.h.ế.t của Trang Văn Thái tử, để rửa sạch nỗi nhục nhã lời đồn gán cho ngài ấy và nỗi oan khuất ta phải gánh chịu, để ngăn chặn bàn tay kẻ gian nịnh vươn tới quyền bính thiên hạ, ta cần thêm bằng chứng." Lâm Hoằng lại im lặng, không nói một lời. Chân Chân hiểu tình nghĩa bao năm chàng dành cho Liễu Tiệp dư không phải vài lời của mình là có thể cắt đứt, cho dù chàng biết rõ cô ta không có chút m.á.u mủ nào với mình, thậm chí có thể là con gái kẻ thù. Nàng tạm thời không khuyên bảo Lâm Hoằng nữa, quay đầu nhìn những cành hoa tăng nhân để lại, đứng dậy đi đến chỗ cắm hoa, tự chọn cành hoa c*m v** bình. Nàng cắm trước mấy cành lá phong màu sắc chuyển từ xanh sang đỏ, lại cắt một ít cúc trắng nhỏ điểm xuyết so le, sau đó chọn một bông cúc đỏ cắm gần miệng bình, hai cành nụ cùng màu một cao một thấp đứng sau bông hoa đó, chỉnh sửa một chút, để ba cành hoa vươn về ba hướng khác nhau. Lâm Hoằng lặng lẽ nhìn, không tỏ thái độ gì. Nhưng khi Chân Chân cắt một cành phù dung gỗ màu đỏ, định cắm bên cạnh bông cúc, và hỏi chàng có hợp không, thì chàng ngăn nàng lại. "Cành phù dung này cùng màu với hoa cúc, độ lớn cũng tương đương, không thể cắm chung." Chàng nói với Chân Chân. "Tại sao?" Chân Chân hỏi, "Hai bông hoa này đều nở rất đẹp, ta muốn dùng làm hoa chính, dùng cùng lúc." "Hoa chính quan trọng nhất trong một bình hoa chỉ có một loại, hai loại hoa tương tự nhau cùng dùng, thì đều không còn là 'nhất' nữa." Lâm Hoằng vẫn kiên nhẫn dạy bảo như ngày xưa, "Phải biết lấy,biết bỏ. "Đúng vậy, phải biết bỏ, biết lấy." Chân Chân đặt cành hoa xuống, nhìn thẳng vào Lâm Hoằng, nghiêm nghị nói, "Đại nghĩa và sinh mệnh không thể cùng giữ, lệnh tôn đã chọn đại nghĩa; đại nghĩa và danh dự không thể cùng giữ, Trương Quốc y đã chọn đại nghĩa; bây giờ, đại nghĩa và tư tình nhi nữ không thể cùng giữ, ngài sẽ chọn cái gì?" Lâm Hoằng nhìn nàng hồi lâu, chắc hẳn nội tâm đang giằng xé đau đớn, cuối cùng khẽ cụp mắt, chuyển sang nhìn những cành hoa vương vãi, rốt cuộc cũng mở miệng: "Trước khi Trang Văn Thái t.ử uống nước nấm trúng độc, Ngọc thị từng đến tìm ta, nói Liễu Tiệp dư muốn mô phỏng đường nước Đông Cung, dẫn nước suối trên đỉnh núi vào trong các, hỏi mượn ta bản đồ đường ống nước suối Đông Cung để tham khảo. Lúc đó ta không nghi ngờ gì, cho bà ta mượn... Thái t.ử ngã bệnh, nàng đến tìm ta hỏi về chất lượng nước, sau đó ta nhớ ra chuyện này, mơ hồ cảm thấy khả nghi, vô cùng áy náy với Trang Văn Thái tử, nên mới chuyên tâm đến Đông Cung thỉnh tội." "Thảo nào, đường ống trên núi có vật che phủ và đất đá lấp lên, nếu không có bản đồ, người thường không thể dễ dàng tìm thấy và đào lên như vậy." Chân Chân ngỡ ngàng cười lạnh một tiếng, "Sao lúc đó người không nói?" Lâm Hoằng đáp: "Chuyện này nói ra, liên lụy rất rộng, huống hồ ta cũng chỉ là nghi ngờ, không có bằng chứng xác thực." Chân Chân ngẫm nghĩ, cũng hiểu được tâm trạng muốn bảo vệ Liễu Tiệp dư của chàng lúc đó, cũng hiểu được tại sao sau khi Thái t.ử khỏi bệnh chàng nhất định phải đến thỉnh tội. Cảm xúc lẫn lộn không biết nói gì, hồi lâu sau mới cứng nhắc nói: "Đa tạ người đã cho ta biết chuyện này." "Còn một chuyện nữa." Lâm Hoằng lại nói, "Sau đó, Liễu Tiệp dư bảo ta cải tạo vườn tược ở Phù Dung các cho nàng ta. Có một hôm, Ngọc thị nhờ ta phái một thợ thủ công đến sửa mái nhà bị dột cho bà ta. Người thợ đó về kể với ta, thực ra là dưới sàn nhà gầm giường Ngọc thị có một mật thất nhỏ, lúc đó bị thấm nước, nên bảo hắn ta xuống sửa... Ngày hôm sau, người thợ thủ công này bỗng để lại thư, nói cha nương bị bệnh, hắn ta buộc phải về quê, từ đó mất tích, cũng không biết có thật sự về quê không." Dứt lời chàng ngước lên nhìn Chân Chân, nói: "Nếu sau này lục soát Phù Dung các, có thể tìm mật thất này, Ngọc thị có lẽ sẽ giấu những vật quan trọng bên trong." Chân Chân chưa kịp đáp lời, Dương T.ử Thành đã đứng dậy vái dài Lâm Hoằng: "Tuyên Nghĩa lang, ngày sau Trang Văn Thái t.ử và Ngô Điển thiện được giải oan, ta nhất định bẩm báo Quan gia, không quên ơn của ngài hôm nay." Lâm Hoằng gượng gạo cười, đứng dậy hoàn lễ, nhưng không biết do ngồi lâu đứng dậy đột ngột hay vừa rồi quá đau lòng hao tổn tinh thần, bỗng thấy chóng mặt, người lảo đảo. Chân Chân ở bên cạnh nhìn thấy, theo phản xạ đưa tay ra đỡ, tay phải Lâm Hoằng buông thõng xuống, vừa vặn nắm lấy bàn tay Chân Chân đưa tới. Tay chàng lạnh buốt lạ thường. Chân Chân cúi nhìn, chỉ thấy bàn tay ấy như ngọc như băng, trắng trẻo sạch sẽ, lúc này nắm lấy tay nàng, các đốt ngón tay hơi cong lại, hình dáng thon dài đẹp đẽ. Trong khoảnh khắc như tia lửa điện xẹt qua này, suy nghĩ của Chân Chân bỗng bay về đêm đảo nhỏ vườn Tụ Cảnh bị nước lũ nhấn chìm, người cứu nàng cũng từng nắm tay nàng như thế này, tay kia của nàng mơ màng nắm lại, lờ mờ cảm nhận được những đốt ngón tay thon dài của người đó. Nàng như bị bỏng, rụt phắt tay về, định thần lại, mới ngước mắt nhìn Lâm Hoằng, hỏi chàng: "Thầy Lâm, người có biết bơi không?" Lâm Hoằng im lặng trong chốc lát, rồi trong đôi mắt dịu dàng hiện lên nét cười nhàn nhạt, hơi dang rộng hai tay áo về phía nàng, nói: "Nàng xem, bộ dạng này của ta, có giống người biết bơi không?" Chân Chân lại quan sát chàng, chỉ thấy chàng vẫn như trong ký ức của nàng, một thân thư sinh, nho nhã yếu ớt, hoàn toàn không giống kẻ giỏi bơi lội. Huống hồ, chàng mắc bệnh sạch sẽ, bảo chàng nhảy xuống nước hồ đục ngầu cứu người, quả thực là chuyện không thể nào xảy ra. "Xin lỗi, ta hỏi thừa rồi, là ta thất lễ." Chân Chân cụp mắt xin lỗi. "Không sao." Chàng đáp, nụ cười vẫn vương trên môi không chê vào đâu được, rồi khách sáo thi lễ với nàng lần nữa, "Ta phải cáo từ rồi." Chương 131 - Tư cung lệnh Khi ánh hoàng hôn buông xuống, Triệu Ngai theo Vệ Thanh Tầm đến viện Đại Thạch Phật, cùng đi còn có Ân Đề và một phụ nhân trung niên. Triệu Ngai đưa một mình Chân Chân vào trong thiền phòng, nói với nàng: "Sau khi về Lâm An, ta dò la được tin Vân Oanh Ca một năm trước đã theo Trang Văn Thái t.ử phi dời khỏi Đông Cung, dọn đến ở tại phủ đệ Quan gia ban cho Trang Văn Thái t.ử phi. Nhân cơ hội biếu sơn hào hải vị phủ Ninh Quốc cho đại tẩu, ta tìm gặp Vân Oanh Ca, cùng cô ấy hàn huyên, rồi dẫn dắt câu chuyện về món quà mừng cô ấy tặng nàng năm xưa. Cô ấy dường như chẳng hề kiêng dè, thản nhiên nói món quà tặng nàng là châu điền, sau đó nhắc đến việc Đại ca qua đời, vẻ mặt có vẻ rất đau lòng, vừa gạt nước mắt vừa nói: 'Không ngờ Trang Văn Thái t.ử và Chân Chân lại âm dương cách biệt nhanh đến thế, Chân Chân đáng thương giờ không biết lưu lạc nơi nào, có được bình an không.' Ta chú ý quan sát, sự quan tâm cô ấy dành cho nàng không giống giả vờ, nếu là cố tình diễn kịch thì công lực của cô ấy cũng thâm hậu quá rồi." "Cô ấy xưa nay đơn thuần, năm đó nếu nói dối thì chắc chắn sẽ đỏ mặt tía tai, ấp a ấp úng, không lừa được ai đâu." Chân Chân than, "Ta đoán bí mật về miếng châu điền này cô ấy thật sự không biết... Chàng có hỏi cô ấy lấy châu điền từ đâu không?" Triệu Ngai đáp: "Tất nhiên là có hỏi. Cô ấy nói bỏ tiền mua từ bên ngoài cung với giá cao, nhưng khi nói đến điểm này thần sắc lại có chút không tự nhiên. Ta còn định gặng hỏi, đúng lúc đó Trang Văn Thái t.ử phi đi tới, ta đành thôi không nói chuyện nhiều với cô ấy nữa... Nhưng cũng không sao, đợi Dương T.ử Thành vào cung, bẩm rõ ẩn tình vụ án này với Quan gia, Quan gia tự khắc sẽ triệu Vân Oanh Ca đến thẩm vấn. Hôm nay cửa hoàng thành đã đóng, không vào cung được nữa, ta đưa nàng về vương phủ của ta trước, sáng mai cùng vào cung." Chân Chân kinh ngạc hỏi: "Ta cũng đi? Cứ thế đường hoàng mà đi, e là chưa đến gần cửa cung đã bị người ta bắt nhốt lại rồi ấy chứ?" "Vốn dĩ ta định để Dương T.ử Thành bẩm báo Quan gia xong mới đưa nàng đi, nhưng tình hình giờ có biến..." Triệu Ngai cau mày, "Vừa rồi có nội thị Đông Cung đến phủ Ngụy vương, nói Thái t.ử phi trên đường về thành gặp Tín An Quận phu nhân, vừa gặp đã thân thiết như cố nhân, đặc biệt mời nàng ngày mai vào cung dự lễ... Nàng thật sự gặp cô ấy rồi sao?" Chân Chân bèn kể lại chuyện tình cờ gặp Phượng Tiên cho chàng nghe, rồi nói: "Ta luôn đội mũ có rèm che, cô ấy không nhìn rõ mặt ta. Nhưng ta và cô ấy sống chung nhiều năm, quá hiểu nhau rồi, dù ta cố ý đổi giọng nói chuyện, cô ấy vẫn có khả năng nhận ra ta. Giờ lại đặc biệt mời mọc thế này, chẳng biết là họa hay phúc." Triệu Ngai trầm ngâm, một lúc sau vẻ mặt nghiêm trọng nói: "Lăng Phượng Tiên người này rất khả nghi. Nàng từng nói với ta, bộ châu điền Vân Oanh Ca tặng nàng có tất cả năm miếng, hôm Đại ca mất nàng chỉ dùng miếng dán giữa trán, những miếng còn lại để trong phòng nàng. Sau khi nàng bị giam cầm, tiểu viện của nàng bị niêm phong, đồ dùng đều bị tịch thu nhập kho. Lần này trở về, ta tìm cách tra lại danh sách đồ đạc bị tịch thu nhập kho của nàng năm xưa, kết quả phát hiện ra, sau khi Lăng Phượng Tiên được định làm Thái t.ử phi, lấy cớ nhớ tình chị em cũ, muốn giữ chút kỷ vật làm tin, xin Hoàng hậu ban cho cô ấy những món trang sức nàng để lại, Hoàng hậu đã đồng ý, trong số trang sức ban cho cô ấy có bộ châu điền này." "Ý chàng là, Phượng Tiên có thể liên quan đến miếng châu điền này?" Chuyện này nằm ngoài dự liệu của Chân Chân, theo bản năng nàng không muốn liên hệ Phượng Tiên với việc này, nhưng trong lòng lại dấy lên một đám mây ngờ vực. "Có liên quan hay không, ngày mai thẩm vấn Vân Oanh Ca sẽ rõ." Triệu Ngai lại nói, "Đã là Thái t.ử phi đích thân mời, nàng không đi tức là đại bất kính, không trốn được đâu, vì thế ta đã đi tìm Ân Đề. Lính tuần tra của Hoàng thành ty thám thính tin tức trong thành thường xuyên phải cải trang, có người chuyên trách việc dịch dung hóa trang. Ta nhờ Ân Đề tìm một người đến, chính là vị phụ nhân bên ngoài kia, lát nữa nhờ bà ấy hóa trang cho nàng và Dương T.ử Thành, khiến người ta không nhận ra diện mạo ban đầu. Mai nàng theo ta vào cung, chỗ ngồi của thiếp thất Thân vương cách xa ngai vàng, nhất thời chắc sẽ không ai nhận ra nàng. Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết dâng lên Quan gia một lô sơn hào hải vị, sáng sớm mai sẽ đưa vào Ngự trù. Để tránh Dương T.ử Thành bị nhận diện và truy sát, trước khi vào hoàng thành, ta bảo Ân Đề sắp xếp cho ông ấy cải trang thành tiểu lại vận chuyển hàng hóa, trà trộn vào đám đông vào Ngự trù trước. Đợi hôn lễ xong xuôi, tiệc sắp mở, Quan gia, Hoàng hậu và phu thê Thái t.ử đều phải về tẩm điện thay y phục, lúc đó ta sẽ dẫn Dương T.ử Thành vào điện Phúc Ninh gặp Quan gia." Người phụ nhân Ân Đề mang tới quả nhiên tinh thông thuật cải trang dịch dung, dùng phấn son, bột chàm tô vẽ lên mặt Chân Chân một hồi, Chân Chân soi gương, cảm giác như đang đối diện với một nữ t.ử xa lạ, người đứng xem cũng tấm tắc lấy làm lạ, đều bảo hoàn toàn không nhận ra nàng nữa. Năm ngoái Quan gia ban cho Triệu Ngai một phủ đệ ngoài cung, đêm nay Triệu Ngai đưa Chân Chân về vương phủ, lại giao Dương T.ử Thành cho Ân Đề, dặn dò hắn nhất định phải bảo vệ Dương T.ử Thành chu toàn, ngày mai sau khi dịch dung thì đưa vào Ngự trù. Canh tư, người phụ nhân kia lại đến trang điểm cho Chân Chân, giúp nàng mặc lễ phục Quận phu nhân, sau đó Triệu Ngai theo kế hoạch đưa Chân Chân vào cửa cung. Chân Chân theo thứ tự phẩm cấp đứng trong hàng ngũ nội ngoại mệnh phụ, chờ đợi Thái t.ử phi vào hoàng thành. Sau khi trời hửng sáng, Triệu Hạo xuất cung thân nghênh Thái t.ử phi, cùng Phượng Tiên ngồi trên chiếc kim xa do sáu con ngựa đỏ kéo trở về hoàng thành. Chiếc kim xa cao hơn mười tám thước, hình dáng như ngôi nhà vuông, trang trí bằng vàng bạc, trước sau có một trăm năm mươi bốn giá sĩ hộ tống, rầm rộ tiến vào cửa Lệ Chính. Phu thê Thái t.ử bước xuống từ kim lộ, dưới sự dẫn dắt của Đô tri, Thượng cung, kẻ trước người sau bước về phía điện Đại Khánh. Nội ngoại mệnh phụ chia làm hai hàng hai bên quỳ xuống nghênh đón Thái t.ử phi, Chân Chân cũng ở trong đó. Khi Phượng Tiên đi qua trước mặt Chân Chân, Chân Chân hơi ngước lên nhìn cô, chỉ thấy Phượng Tiên mặc y phục Du Địch (lễ phục cao quý nhất của hoàng hậu, phi tần), trên đầu đội mũ hoa sai quan (mũ gắn trâm hoa) có mười tám đóa hoa lớn nhỏ, hai bên cài bác mấn (cánh phượng), mắt nhìn thẳng chậm rãi bước đi, cằm hơi hất lên khiến cô trông có vẻ khá kiêu ngạo, hoàn toàn không còn chút nào vẻ khúm núm của một nội nhân năm xưa. Và trong cái liếc mắt ấy, Chân Chân cũng phát hiện trên mặt Phượng Tiên có dán châu điền, giữa trán, hai bên thái dương và hai bên mép, tổng cộng năm miếng, mà hình dáng và màu sắc của những miếng châu điền đó trông y hệt bộ châu điền của nàng năm xưa. Liệu có phải cô ấy dùng mấy miếng mình để lại không? Ý nghĩ này thoáng qua trong đầu, nhưng Chân Chân rất nhanh thầm phủ nhận: Hôn lễ Thái t.ử phi long trọng nhường nào, cô ấy sao có thể dùng châu điền của một cung nhân mang tội để lại, bộ này có lẽ chỉ là giống nhau mà thôi. Hoàng đế đội mũ Thông Thiên, mặc áo bào Giáng Sa, ngự tại điện Văn Đức, quan lễ nghi tuyên đọc văn sách phong Hoàng Thái t.ử phi, phu thê Hoàng Thái t.ử bái tạ Kim thượng, hôn lễ diễn ra suôn sẻ đúng theo nghi thức. Đợi lễ xong, Hoàng đế về điện Phúc Ninh, phu thê Hoàng Thái t.ử về Đông Cung thay lễ phục, chuẩn bị dự tiệc thịnh soạn sau đó. Triệu Ngai lập tức cho người đưa Chân Chân đến bên ngoài điện Phúc Ninh đợi truyền gọi, bản thân đi tìm Dương T.ử Thành, đích thân dẫn ông vào điện, xin gặp Quan gia. Hoàng đế chợt thấy Dương T.ử Thành, đương nhiên vô cùng khiếp sợ, liên tục hỏi năm xưa đã xảy ra chuyện gì, tại sao lại mất tích. Dương T.ử Thành nước mắt giàn giụa quỳ rạp xuống đất, khẩn cầu Quan gia cho lui hết những người không liên quan, mới bắt đầu kể từ chuyện Trang Văn Thái t.ử bảo ông điều tra thân thế Chân Chân, rồi lần lượt kể hết những chuyện xảy ra trước khi Thái t.ử mất, mãi cho đến sau khi Thái t.ử mất ông bị truy sát, bất đắc dĩ phải trốn khỏi Lâm An, nhưng tạm thời chưa nhắc đến chuyện Liễu Tiệp dư. Ông vừa khóc vừa kể, những chuyện này lại rối rắm phức tạp, Hoàng đế nghe mà đầu óc mơ hồ, chỉ hỏi trước một chuyện: "Ngươi nói là, Ngô Chân Chân rất có thể là con gái của Trương Vân Kiều và Lưu Minh Sơ, sau đó được Cúc phu nhân nhận nuôi, đưa về Phố Giang nuôi lớn?" Dương T.ử Thành xác nhận, bổ sung thêm: "Năm xưa Trang Văn Thái t.ử bảo thần giao những văn thư bằng chứng liên quan đến thân thế Ngô Chân Chân cho Mạnh Tư ký sao chép, hiện giờ chỗ Mạnh Tư ký chắc vẫn còn lưu giữ, Quan gia có thể cho lấy tới xem." Hoàng đế than rằng: "Năm đó sau khi Ngô Chân Chân biến mất ở Tây Hồ, trẫm phái người lục soát khắp trong ngoài thành Lâm An, Mạnh Vân Tụ liền đến cầu xin trẫm tha cho Chân Chân, và dâng những văn thư đó cho trẫm xem. Cho nên, trẫm không cho người truy bắt Chân Chân nữa, nghĩ rằng nếu nó là con gái của Trương Vân Kiều, thì đây có lẽ là ý trời, bảo trẫm tha cho nó một con đường sống." Dương T.ử Thành nói: "Trước khi Trang Văn Thái t.ử hoăng thệ, Ngô Chân Chân và ngài ấy đã lưỡng tình tương duyệt, yêu thương nhau sâu sắc. Trang Văn Thái t.ử tin tưởng thần, chuyện của hai người họ chưa bao giờ giấu thần, thần lại tận mắt chứng kiến cảnh Ngô Chân Chân lo lắng như thiêu như đốt, chạy ngược chạy xuôi vì ngài ấy khi Trang Văn Thái t.ử trúng độc nấm, nên thần hiểu rõ tâm ý của Ngô Chân Chân đối với Trang Văn Thái tử, nàng ấy không thể nào có tâm hại Thái tử. Huống hồ Trang Văn Thái t.ử là Trữ quân, sau này Ngô Chân Chân có thể làm phi, tiền đồ vô lượng, về tình về lý, cô ấy đều không có lý do gì làm hại phu quân của mình. Mà sau khi Trang Văn Thái t.ử hoăng thệ, rất nhanh đã có người đến truy sát thần, thần liền biết, đó chắc chắn là do hung thủ thật sự phái tới." "Vậy ngươi đã biết hung thủ là ai chưa?" Hoàng đế truy hỏi. Dương T.ử Thành đáp: "Thần chỉ có vài suy đoán, tạm thời chưa dám nói thẳng. Ngô Chân Chân đã đợi bên ngoài điện, có những chuyện quan trọng hơn, chi bằng để cô ấy bẩm rõ với Quan gia." Hoàng đế mở to mắt ngạc nhiên: "Ngô Chân Chân hồi cung rồi?" Lúc này Triệu Ngai đứng bên cạnh cao giọng dặn dò hoạn quan ngoài cửa: "Tuyên Tín An Quận phu nhân vào điện." Chân Chân nghe tin, từ từ bước vào trong điện, hành đại lễ với Hoàng đế. Hoàng đế hiểu ra: "Ngươi chính là người thiếp Nhị ca nạp, Tống Đào Sênh là tên giả của ngươi." "Thần là Ngô Chân Chân." Chân Chân điềm tĩnh đáp, "Thần năm xưa bị nước lũ cuốn trôi, may mắn được người cứu thoát, rời khỏi Lâm An, đến phủ Ninh Quốc nơi thần từng sống hồi nhỏ. Sau đó gặp Ngụy vương, chúng thần luôn đối đãi với nhau bằng lễ nghĩa. Lần này mượn danh Tín An Quận phu nhân vào cung, thực ra là kế sách tạm thời, thần và Ngụy vương, chưa hề thành thân." Hoàng đế lạnh lùng xét nét nàng, không truy cứu chuyện đó nữa, chỉ ra lệnh: "Chuyện năm xưa, ngươi biết những gì, nói hết ra đi." Chân Chân bèn bắt đầu kể từ việc Trang Văn Thái t.ử giúp nàng điều tra thân thế, nhắc đến sự nghi ngờ và giám sát của Thái t.ử đối với Trình Uyên, lại kể tỉ mỉ chuyện cùng Thái t.ử bắt gặp Liễu Tiệp dư và Ngọc thị bái nguyệt tế lễ, Hoàng đế nghe đến đây, lập tức nhíu mày. Lúc này Dương T.ử Thành ở bên cạnh nói thêm: "Trang Văn Thái t.ử sau đó liền sai thần đi tra ngày sinh của cha Liễu Tiệp dư, thần phát hiện ngày hôm đó không phải sinh kỵ của Liễu Côn, mà là, của Tề Hi..." Hoàng đế kinh ngạc tột độ, đập mạnh xuống án: "Ngươi có biết ngươi đang nói gì không?" Dương T.ử Thành lập tức quỳ rạp xuống, khẩn thiết nói: "Thần tuyệt đối không dám nói dối. Sự việc hệ trọng, thần nếu có nửa lời gian dối, xin chịu hình phạt ngũ mã phanh thây, lăng trì xử tử." Hoàng đế nhắm mắt, n.g.ự.c phập phồng liên hồi, một lúc lâu sau sắc mặt mới dịu đi đôi chút, lại bảo Chân Chân: "Sau đó xảy ra chuyện gì, ngươi nói tiếp đi." Chân Chân ảm đạm cụp mắt, cố gắng điều chỉnh tâm trạng, hồi lâu sau mới chậm rãi kể ra chuyện đêm đó nàng và Trang Văn Thái t.ử thân mật, Thái t.ử ngậm lấy châu điền nếm thử a giao, sau đó lại nói về việc phát hiện nọc rắn ở phủ Ninh Quốc có thể liên quan đến chuyện này, cuối cùng là quá trình Hàn Tố Vấn dùng chuột đồng để chứng thực. Triệu Ngai gọi Hàn Tố Vấn đã đợi sẵn ngoài điện vào, trình lên Hoàng đế miếng châu điền vẫn còn độc tố kia. Triệu Ngai sau đó vái dài Hoàng đế, nói: "Phụ hoàng, nọc rắn đã bị Hàn lâm Y quan viện liệt vào danh sách t.h.u.ố.c cấm, người trong cung cực khó có được. Sau đó nhi thần cho người điều tra, mấy năm nay Trình Uyên vẫn luôn dùng nọc rắn chữa chứng đau đầu, lén thuê mấy người bắt rắn, quanh năm cung cấp rắn độc cho hắn." "Vậy, các ngươi muốn nói, kẻ hại Trang Văn Thái t.ử là Liễu Tiệp dư hay là Trình Uyên?" Hoàng đế hỏi. "Chuyện này liên quan đến ai, phải xem nguồn gốc của miếng châu điền." Chân Chân nói, "Miếng châu điền đó của nô là do nội nhân Vân Oanh Ca tặng, triệu cô ấy đến thẩm vấn, ắt biết châu điền từ đâu mà có." Hôm nay Vân Oanh Ca cũng được Trang Văn Thái t.ử phi đưa vào cung, lúc này đang ở trong điện Hoàng hậu. Hoàng đế lập tức lệnh cho Trương Tri Bắc phái người đưa cô đến điện Phúc Ninh. Vân Oanh Ca còn chưa biết xảy ra chuyện gì, vừa vào trong điện, thấy mọi người ai nấy mặt mày lạnh tanh nghiêm nghị, lập tức sợ hãi quỳ sụp xuống đất. Triệu Ngai liền hỏi cô nguồn gốc miếng châu điền, lúc này cô cũng không dám giấu giếm nữa, rơi lệ nói ra sự thật: "Là Phượng Tiên... ồ, không, là Thái t.ử phi hiện giờ tặng cho nô. Lúc đó cô ấy nói muốn cảm tạ nô đã chăm sóc chỉ bảo, tặng nô bộ châu điền này, nô thấy châu điền quý giá, Chân Chân lại sắp có chuyện vui, nên tặng lại cho Chân Chân." "Thái t.ử phi?" Hoàng đế chau mày hỏi, "Nàng ta lại lấy từ đâu ra? Nàng ta có biết ngươi định tặng cho Chân Chân không?" "Cô ấy biết, nô nói với cô ấy là nô định tặng cho Chân Chân, cô ấy không phản đối, bảo đã tặng cho nô rồi thì tùy nô xử lý." Vân Oanh Ca khóc nức nở, "Nhưng cô ấy lấy từ đâu ra thì nô không biết." Hoàng đế gọi hoạn quan ngoài cửa, đang định sai đi mời Thái t.ử phi, đúng lúc này lại có một nội thị Đông Cung hớt ha hớt hải chạy vội vào, quỳ xuống trước mặt Hoàng đế, bẩm báo: "Vừa rồi Tứ Đại vương và Thái t.ử phi ở Đông Cung bỗng nhiên nôn mửa ngất xỉu, hiện giờ bất tỉnh nhân sự, thái y bảo, hình như là trúng độc gì đó." Tứ Đại vương tức tiểu hoàng t.ử Triệu Giảo do Liễu Tiệp dư sinh, hôm nay Liễu Tiệp dư nói bị cảm lạnh, nằm liệt giường trong các, không đến dự lễ, nhưng cho phép v.ú nuôi bế Triệu Giảo và Công chúa Như Anh đến Đông Cung xem hôn lễ long trọng. Hoàng đế vừa nghe Triệu Giảo có thể trúng độc, vừa sốt ruột vừa tức giận, lập tức đứng dậy quát hỏi hoạn quan nguyên do, hoạn quan lại nói thái y cũng tạm thời chưa biết trúng độc gì. Chân Chân lập tức nhớ đến miếng châu điền Phượng Tiên dùng trước đó, nói với Hoàng đế điểm nghi vấn này, Hoàng đế liền quát: "Đi! Theo trẫm đến Đông Cung." Đến Đông Cung, chỉ thấy bên trong hỗn loạn tưng bừng, rất nhiều nội nhân vây quanh trong tẩm điện của Thái t.ử phi, kẻ gọi người khóc bên cạnh Phượng Tiên và Triệu Giảo đang hôn mê, còn mấy vị thái y cau mày ủ dột, chốc chốc lại bàn bạc hoặc tranh luận, một số hoạn quan chạy đôn chạy đáo, trông có vẻ nôn nóng bận rộn, nhưng cũng chẳng biết đang bận cái gì. Công chúa Như Anh trong lòng v.ú nuôi khóc ngặt nghẽo, còn Triệu Hạo ủ rũ ngồi trước giường Phượng Tiên, hai mắt đỏ hoe, dường như cũng vừa mới khóc. Hoàng đế đến xem tình trạng Triệu Giảo trước, Chân Chân thì đến bên cạnh Phượng Tiên, cúi người kiểm tra, phát hiện châu điền trên mặt cô đã được gỡ xuống. "Châu điền của Thái t.ử phi đâu?" Chân Chân hỏi thị nữ trước giường Phượng Tiên. Thị nữ kia đáp: "Thái t.ử phi về đến Đông Cung, việc đầu tiên là gỡ châu điền xuống, sau đó Tứ Đại vương cầm chơi một lúc." "Có phải thằng bé đã bỏ châu điền vào miệng không?" Chân Chân hỏi tiếp. "A, đúng, đúng vậy!" Không đợi thị nữ trả lời, v.ú nuôi của Triệu Giảo như bừng tỉnh, sấn tới trả lời câu hỏi của Chân Chân, "Khi Thái t.ử phi tẩy trang, Tứ Đại vương và Công chúa nô đùa đuổi nhau trong điện, sau đó Tứ Đại vương bỗng nhiên ngã, dập môi, chảy ít máu, đau quá khóc ré lên, Thái t.ử phi bèn vẫy tay gọi thằng bé lại, ôm vào lòng, lấy trang sức vừa tháo xuống cho thằng bé xem, dỗ dành ngon ngọt. Tứ Đại vương rất thích miếng châu điền bên tóc mai Thái t.ử phi, nhón lấy chơi, chơi một hồi thì nhét vào miệng. Thái t.ử phi vội bảo nhả ra, Tứ Đại vương không chịu, lại còn nhón một miếng khác đưa đến bên miệng Thái t.ử phi, bảo là ngọt, bắt Thái t.ử phi nếm thử. Thái t.ử phi vốn không muốn nếm, nhưng Tứ Đại vương tính trẻ con, cứ nhét châu điền vào miệng người, Thái t.ử phi đành phải nếm thử, cũng bảo là ngọt, Tứ Đại vương mới chịu cho người nhả ra. Hai người lại nói chuyện một lúc, rồi Tứ Đại vương bắt đầu nôn mửa, Thái t.ử phi vội vàng sai người mời thái y, nhưng chẳng bao lâu sau người cũng bắt đầu nôn mửa, rồi cả hai đều hôn mê bất tỉnh..." Chân Chân bảo thị nữ mau đi tìm tất cả những miếng châu điền Phượng Tiên đã tháo ra, rồi vạch môi Phượng Tiên, kiểm tra khoang miệng cô. Chỉ thấy lợi Phượng Tiên sưng đỏ, dường như có dấu hiệu chảy máu, bèn hỏi thị nữ Thái t.ử phi gần đây có bị nóng trong người không, thị nữ đáp: "Thái t.ử phi đi đường xa vất vả về Lâm An, ban đêm cũng ngủ không ngon, nên sinh chút hỏa khí, đau răng mấy ngày nay rồi." Chân Chân lập tức tìm thái y Quách Tư Tề, nhờ ông dùng t.h.u.ố.c giải nọc rắn chữa trị cho Tứ Đại vương và Thái t.ử phi. Quách Tư Tề làm theo lời nàng, sắc t.h.u.ố.c xong cho hai người uống. Một lát sau, mi mắt Phượng Tiên động đậy, bắt đầu r*n r*, còn Triệu Giảo vẫn không có phản ứng gì. Hoàng đế càng thêm lo lắng, liên tục hỏi Quách Tư Tề t.h.u.ố.c dùng có đúng không. Quách Tư Tề khom người nói: "Quan gia, phải bốc t.h.u.ố.c đúng bệnh mới đảm bảo hiệu quả. Hiện giờ chỉ biết độc này có thể là nọc rắn, nhưng là nọc rắn gì, liều lượng nọc rắn bao nhiêu, chúng thần hoàn toàn không biết, chỉ có thể chữa trị cầm chừng. Nếu có thể tra rõ, thần mới biết làm sao giải độc tốt hơn." "Trình Uyên!" Hoàng đế chợt nhớ tới cái tên Trình Uyên mà nhóm người Chân Chân vừa nhắc tới, quát lên, "Mau đi bắt Trình Uyên tới đây!" "Quan gia, vạn lần không thể!" Đô tri Trương Tri Bắc đi theo ngài quỳ xuống can ngăn, "Trình Uyên hiện giờ đang hầu hạ Thái hậu ở cung Từ Phúc, nếu vì chuyện này mà bắt hắn, chẳng khác nào bố cáo thiên hạ Thái hậu có liên quan đến việc mưu hại Hoàng tử. Thứ nhất, Thái hậu có thể sẽ không cho phép chúng ta vào cung Từ Phúc bắt người, thứ hai, cho dù Trình Uyên bị bắt, vì tính mạng bản thân và bảo vệ Thái hậu, hắn cũng sẽ một mực khẳng định không liên quan đến việc này, sẽ không nói ra làm cách nào mới giải được độc đâu." Dương T.ử Thành cũng phụ họa: "Lời Trương Đô tri rất có lý, lúc này quả thực không nên lấy lý do truy tra việc Hoàng t.ử trúng độc để đến cung Từ Phúc bắt Trình Uyên." "Vậy các ngươi nói xem phải làm sao?" Hoàng đế gầm lên. Lúc này Chân Chân tiến lên, quỳ xuống trước mặt Hoàng đế, nói: "Nô có một cách, có thể giải quyết việc này. Mong Quan gia về điện Phúc Ninh trước, rồi cho thần bẩm tấu." Hoàng đế giờ đã hết cách, lại thấy ánh mắt Chân Chân kiên định, dáng vẻ tính trước làm sau, đành chấp thuận lời thỉnh cầu của nàng. Đợi khi về đến điện Phúc Ninh, Chân Chân lại trịnh trọng giơ tay lên trán, quỳ lạy Hoàng đế, rồi nghiêm nghị nói: "Nô tài, Điển thiện Ngô thị, xin tự tiến cử làm Tư cung lệnh, vì Bệ hạ truy tìm chân tướng vụ việc Trang Văn Thái t.ử cùng Tứ Đại vương, Thái t.ử phi trúng độc, thanh lọc cung cấm. Mong Bệ hạ gia ân, chuẩn cho lời thỉnh cầu của thần." Hoàng đế kinh ngạc tột độ: "Ngươi nói cái gì? Tư cung lệnh?" "Vâng." Chân Chân bình tĩnh ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt Hoàng đế, nói rõ ràng từng chữ, "Chỉ có Tư cung lệnh, mới có quyền quản thúc cung nhân hai cung Nam Bắc đại nội, mới có thể danh chính ngôn thuận bước vào cung Từ Phúc tra án mà không sợ Thái hậu phản đối." "Tư cung lệnh chỉ quản thúc được nữ quan, nội nhân hai cung, không quản được hoạn quan như Trình Uyên." Hoàng đế nghi ngờ nói. "Tội lỗi Trình Uyên dính líu đến, không chỉ có mỗi vụ hạ độc này, hắn còn bị nghi ngờ tự ý giam cầm Cúc phu nhân. Cúc phu nhân là cung nhân của Tiên đế, thuộc phạm vi quản lý của Tư cung lệnh, nô sẽ lấy lý do truy tìm tung tích Cúc phu nhân để vào cung Từ Phúc trước, sau đó thuyết phục Thái hậu giao Trình Uyên ra, đến lúc đó giao cho Ngự sử đài, Hình bộ thẩm vấn, hay là Hoàng đế hạ chỉ lập Chiếu ngục (nhà lao riêng của vua), đều do Bệ hạ quyết định." Chân Chân bình tĩnh nói ra kế hoạch của mình, thấy Hoàng đế không tỏ thái độ gì, lại nói, "Vụ án Cúc phu nhân, không chỉ liên quan đến chuyện Trang Văn Thái tử, mà còn liên quan đến tung tích của Trương Quốc y. Nếu Bệ hạ phong thần làm Tư cung lệnh, thần có thể điều tra rõ luôn bí ẩn về sự mất tích của Trương Quốc y, đích thân đưa ông ấy đến trước mặt Bệ hạ." Hoàng đế trầm mặc một lát, trầm giọng hỏi: "Ngươi thật sự nắm chắc sẽ tra rõ hết những chuyện này?" "Ta nắm chắc." Giọng điệu Chân Chân như đinh đóng cột, "Rất nhiều chuyện, thần đã suy nghĩ thông suốt rồi, bây giờ chỉ cần thẩm vấn những người liên quan để kiểm chứng. Những vụ án này, thần cũng bị cuốn vào trong đó, có lẽ không nên trở thành người điều tra, nhưng không ai có thể hiểu rõ những mấu chốt trong đó hơn thần. Thần đứng ra truy tra, có thể đảm bảo kết quả chính xác và nhanh chóng. Và thần cũng có thể thề trước với Bệ hạ, đảm bảo chấp pháp công bằng, sẽ không vì tư tình cá nhân mà che giấu, bỏ sót bất kỳ chân tướng nào." Thấy Hoàng đế vẫn chưa tỏ thái độ, Chân Chân lạy thêm cái nữa, tiếp tục thỉnh cầu: "Thần chỉ cần một ngày, làm một ngày, mười hai canh giờ Tư cung lệnh. Trong một ngày này tra rõ mọi chân tướng, ngày mai sẽ từ nhiệm, và trải chiếu rơm chờ chịu tội, xin Bệ hạ cứ theo trách nhiệm ta phải gánh chịu trong vụ án Trang Văn Thái tử, cũng như tội vượt quyền hôm nay mà định tội xử phạt." Hoàng đế trầm ngâm một lát, rồi vung tay chỉ về phía Tây Nam, nói với Chân Chân: "Ngươi hãy hướng về phía toàn sở (nơi quàn linh cữu) của Trang Văn Thái tử, thề với nó, nếu làm Tư cung lệnh, ắt sẽ xử án công bằng, không trái quốc pháp, không thiên vị tình riêng, không mưu cầu tư lợi." Chân Chân lập tức quay về hướng ngài chỉ, trịnh trọng lạy thêm lần nữa, từng chữ từng chữ thề rằng: "Điện hạ, Chân Chân nếu được phong làm Tư cung lệnh, ắt sẽ xử án công bằng, không trái quốc pháp, không thiên vị tình riêng, không mưu cầu tư lợi. Nếu làm trái lời thề, nguyện chịu nỗi khổ vạn rắn c.ắ.n xé, và đọa vào địa ngục A Tỳ, đời đời kiếp kiếp, vĩnh Khi ánh hoàng hôn buông xuống, Triệu Ngai theo Vệ Thanh Tầm đến viện Đại Thạch Phật, cùng đi còn có Ân Đề và một phụ nhân trung niên. Triệu Ngai đưa một mình Chân Chân vào trong thiền phòng, nói với nàng: "Sau khi về Lâm An, ta dò la được tin Vân Oanh Ca một năm trước đã theo Trang Văn Thái t.ử phi dời khỏi Đông Cung, dọn đến ở tại phủ đệ Quan gia ban cho Trang Văn Thái t.ử phi. Nhân cơ hội biếu sơn hào hải vị phủ Ninh Quốc cho đại tẩu, ta tìm gặp Vân Oanh Ca, cùng cô ấy hàn huyên, rồi dẫn dắt câu chuyện về món quà mừng cô ấy tặng nàng năm xưa. Cô ấy dường như chẳng hề kiêng dè, thản nhiên nói món quà tặng nàng là châu điền, sau đó nhắc đến việc Đại ca qua đời, vẻ mặt có vẻ rất đau lòng, vừa gạt nước mắt vừa nói: 'Không ngờ Trang Văn Thái t.ử và Chân Chân lại âm dương cách biệt nhanh đến thế, Chân Chân đáng thương giờ không biết lưu lạc nơi nào, có được bình an không.' Ta chú ý quan sát, sự quan tâm cô ấy dành cho nàng không giống giả vờ, nếu là cố tình diễn kịch thì công lực của cô ấy cũng thâm hậu quá rồi." "Cô ấy xưa nay đơn thuần, năm đó nếu nói dối thì chắc chắn sẽ đỏ mặt tía tai, ấp a ấp úng, không lừa được ai đâu." Chân Chân than, "Ta đoán bí mật về miếng châu điền này cô ấy thật sự không biết... Chàng có hỏi cô ấy lấy châu điền từ đâu không?" Triệu Ngai đáp: "Tất nhiên là có hỏi. Cô ấy nói bỏ tiền mua từ bên ngoài cung với giá cao, nhưng khi nói đến điểm này thần sắc lại có chút không tự nhiên. Ta còn định gặng hỏi, đúng lúc đó Trang Văn Thái t.ử phi đi tới, ta đành thôi không nói chuyện nhiều với cô ấy nữa... Nhưng cũng không sao, đợi Dương T.ử Thành vào cung, bẩm rõ ẩn tình vụ án này với Quan gia, Quan gia tự khắc sẽ triệu Vân Oanh Ca đến thẩm vấn. Hôm nay cửa hoàng thành đã đóng, không vào cung được nữa, ta đưa nàng về vương phủ của ta trước, sáng mai cùng vào cung." Chân Chân kinh ngạc hỏi: "Ta cũng đi? Cứ thế đường hoàng mà đi, e là chưa đến gần cửa cung đã bị người ta bắt nhốt lại rồi ấy chứ?" "Vốn dĩ ta định để Dương T.ử Thành bẩm báo Quan gia xong mới đưa nàng đi, nhưng tình hình giờ có biến..." Triệu Ngai cau mày, "Vừa rồi có nội thị Đông Cung đến phủ Ngụy vương, nói Thái t.ử phi trên đường về thành gặp Tín An Quận phu nhân, vừa gặp đã thân thiết như cố nhân, đặc biệt mời nàng ngày mai vào cung dự lễ... Nàng thật sự gặp cô ấy rồi sao?" Chân Chân bèn kể lại chuyện tình cờ gặp Phượng Tiên cho chàng nghe, rồi nói: "Ta luôn đội mũ có rèm che, cô ấy không nhìn rõ mặt ta. Nhưng ta và cô ấy sống chung nhiều năm, quá hiểu nhau rồi, dù ta cố ý đổi giọng nói chuyện, cô ấy vẫn có khả năng nhận ra ta. Giờ lại đặc biệt mời mọc thế này, chẳng biết là họa hay phúc." Triệu Ngai trầm ngâm, một lúc sau vẻ mặt nghiêm trọng nói: "Lăng Phượng Tiên người này rất khả nghi. Nàng từng nói với ta, bộ châu điền Vân Oanh Ca tặng nàng có tất cả năm miếng, hôm Đại ca mất nàng chỉ dùng miếng dán giữa trán, những miếng còn lại để trong phòng nàng. Sau khi nàng bị giam cầm, tiểu viện của nàng bị niêm phong, đồ dùng đều bị tịch thu nhập kho. Lần này trở về, ta tìm cách tra lại danh sách đồ đạc bị tịch thu nhập kho của nàng năm xưa, kết quả phát hiện ra, sau khi Lăng Phượng Tiên được định làm Thái t.ử phi, lấy cớ nhớ tình chị em cũ, muốn giữ chút kỷ vật làm tin, xin Hoàng hậu ban cho cô ấy những món trang sức nàng để lại, Hoàng hậu đã đồng ý, trong số trang sức ban cho cô ấy có bộ châu điền này." "Ý chàng là, Phượng Tiên có thể liên quan đến miếng châu điền này?" Chuyện này nằm ngoài dự liệu của Chân Chân, theo bản năng nàng không muốn liên hệ Phượng Tiên với việc này, nhưng trong lòng lại dấy lên một đám mây ngờ vực. "Có liên quan hay không, ngày mai thẩm vấn Vân Oanh Ca sẽ rõ." Triệu Ngai lại nói, "Đã là Thái t.ử phi đích thân mời, nàng không đi tức là đại bất kính, không trốn được đâu, vì thế ta đã đi tìm Ân Đề. Lính tuần tra của Hoàng thành ty thám thính tin tức trong thành thường xuyên phải cải trang, có người chuyên trách việc dịch dung hóa trang. Ta nhờ Ân Đề tìm một người đến, chính là vị phụ nhân bên ngoài kia, lát nữa nhờ bà ấy hóa trang cho nàng và Dương T.ử Thành, khiến người ta không nhận ra diện mạo ban đầu. Mai nàng theo ta vào cung, chỗ ngồi của thiếp thất Thân vương cách xa ngai vàng, nhất thời chắc sẽ không ai nhận ra nàng. Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết dâng lên Quan gia một lô sơn hào hải vị, sáng sớm mai sẽ đưa vào Ngự trù. Để tránh Dương T.ử Thành bị nhận diện và truy sát, trước khi vào hoàng thành, ta bảo Ân Đề sắp xếp cho ông ấy cải trang thành tiểu lại vận chuyển hàng hóa, trà trộn vào đám đông vào Ngự trù trước. Đợi hôn lễ xong xuôi, tiệc sắp mở, Quan gia, Hoàng hậu và phu thê Thái t.ử đều phải về tẩm điện thay y phục, lúc đó ta sẽ dẫn Dương T.ử Thành vào điện Phúc Ninh gặp Quan gia." Người phụ nhân Ân Đề mang tới quả nhiên tinh thông thuật cải trang dịch dung, dùng phấn son, bột chàm tô vẽ lên mặt Chân Chân một hồi, Chân Chân soi gương, cảm giác như đang đối diện với một nữ t.ử xa lạ, người đứng xem cũng tấm tắc lấy làm lạ, đều bảo hoàn toàn không nhận ra nàng nữa. Năm ngoái Quan gia ban cho Triệu Ngai một phủ đệ ngoài cung, đêm nay Triệu Ngai đưa Chân Chân về vương phủ, lại giao Dương T.ử Thành cho Ân Đề, dặn dò hắn nhất định phải bảo vệ Dương T.ử Thành chu toàn, ngày mai sau khi dịch dung thì đưa vào Ngự trù. Canh tư, người phụ nhân kia lại đến trang điểm cho Chân Chân, giúp nàng mặc lễ phục Quận phu nhân, sau đó Triệu Ngai theo kế hoạch đưa Chân Chân vào cửa cung. Chân Chân theo thứ tự phẩm cấp đứng trong hàng ngũ nội ngoại mệnh phụ, chờ đợi Thái t.ử phi vào hoàng thành. Sau khi trời hửng sáng, Triệu Hạo xuất cung thân nghênh Thái t.ử phi, cùng Phượng Tiên ngồi trên chiếc kim xa do sáu con ngựa đỏ kéo trở về hoàng thành. Chiếc kim xa cao hơn mười tám thước, hình dáng như ngôi nhà vuông, trang trí bằng vàng bạc, trước sau có một trăm năm mươi bốn giá sĩ hộ tống, rầm rộ tiến vào cửa Lệ Chính. Phu thê Thái t.ử bước xuống từ kim lộ, dưới sự dẫn dắt của Đô tri, Thượng cung, kẻ trước người sau bước về phía điện Đại Khánh. Nội ngoại mệnh phụ chia làm hai hàng hai bên quỳ xuống nghênh đón Thái t.ử phi, Chân Chân cũng ở trong đó. Khi Phượng Tiên đi qua trước mặt Chân Chân, Chân Chân hơi ngước lên nhìn cô, chỉ thấy Phượng Tiên mặc y phục Du Địch (lễ phục cao quý nhất của hoàng hậu, phi tần), trên đầu đội mũ hoa sai quan (mũ gắn trâm hoa) có mười tám đóa hoa lớn nhỏ, hai bên cài bác mấn (cánh phượng), mắt nhìn thẳng chậm rãi bước đi, cằm hơi hất lên khiến cô trông có vẻ khá kiêu ngạo, hoàn toàn không còn chút nào vẻ khúm núm của một nội nhân năm xưa. Và trong cái liếc mắt ấy, Chân Chân cũng phát hiện trên mặt Phượng Tiên có dán châu điền, giữa trán, hai bên thái dương và hai bên mép, tổng cộng năm miếng, mà hình dáng và màu sắc của những miếng châu điền đó trông y hệt bộ châu điền của nàng năm xưa. Liệu có phải cô ấy dùng mấy miếng mình để lại không? Ý nghĩ này thoáng qua trong đầu, nhưng Chân Chân rất nhanh thầm phủ nhận: Hôn lễ Thái t.ử phi long trọng nhường nào, cô ấy sao có thể dùng châu điền của một cung nhân mang tội để lại, bộ này có lẽ chỉ là giống nhau mà thôi. Hoàng đế đội mũ Thông Thiên, mặc áo bào Giáng Sa, ngự tại điện Văn Đức, quan lễ nghi tuyên đọc văn sách phong Hoàng Thái t.ử phi, phu thê Hoàng Thái t.ử bái tạ Kim thượng, hôn lễ diễn ra suôn sẻ đúng theo nghi thức. Đợi lễ xong, Hoàng đế về điện Phúc Ninh, phu thê Hoàng Thái t.ử về Đông Cung thay lễ phục, chuẩn bị dự tiệc thịnh soạn sau đó. Triệu Ngai lập tức cho người đưa Chân Chân đến bên ngoài điện Phúc Ninh đợi truyền gọi, bản thân đi tìm Dương T.ử Thành, đích thân dẫn ông vào điện, xin gặp Quan gia. Hoàng đế chợt thấy Dương T.ử Thành, đương nhiên vô cùng khiếp sợ, liên tục hỏi năm xưa đã xảy ra chuyện gì, tại sao lại mất tích. Dương T.ử Thành nước mắt giàn giụa quỳ rạp xuống đất, khẩn cầu Quan gia cho lui hết những người không liên quan, mới bắt đầu kể từ chuyện Trang Văn Thái t.ử bảo ông điều tra thân thế Chân Chân, rồi lần lượt kể hết những chuyện xảy ra trước khi Thái t.ử mất, mãi cho đến sau khi Thái t.ử mất ông bị truy sát, bất đắc dĩ phải trốn khỏi Lâm An, nhưng tạm thời chưa nhắc đến chuyện Liễu Tiệp dư. Ông vừa khóc vừa kể, những chuyện này lại rối rắm phức tạp, Hoàng đế nghe mà đầu óc mơ hồ, chỉ hỏi trước một chuyện: "Ngươi nói là, Ngô Chân Chân rất có thể là con gái của Trương Vân Kiều và Lưu Minh Sơ, sau đó được Cúc phu nhân nhận nuôi, đưa về Phố Giang nuôi lớn?" Dương T.ử Thành xác nhận, bổ sung thêm: "Năm xưa Trang Văn Thái t.ử bảo thần giao những văn thư bằng chứng liên quan đến thân thế Ngô Chân Chân cho Mạnh Tư ký sao chép, hiện giờ chỗ Mạnh Tư ký chắc vẫn còn lưu giữ, Quan gia có thể cho lấy tới xem." Hoàng đế than rằng: "Năm đó sau khi Ngô Chân Chân biến mất ở Tây Hồ, trẫm phái người lục soát khắp trong ngoài thành Lâm An, Mạnh Vân Tụ liền đến cầu xin trẫm tha cho Chân Chân, và dâng những văn thư đó cho trẫm xem. Cho nên, trẫm không cho người truy bắt Chân Chân nữa, nghĩ rằng nếu nó là con gái của Trương Vân Kiều, thì đây có lẽ là ý trời, bảo trẫm tha cho nó một con đường sống." Dương T.ử Thành nói: "Trước khi Trang Văn Thái t.ử hoăng thệ, Ngô Chân Chân và ngài ấy đã lưỡng tình tương duyệt, yêu thương nhau sâu sắc. Trang Văn Thái t.ử tin tưởng thần, chuyện của hai người họ chưa bao giờ giấu thần, thần lại tận mắt chứng kiến cảnh Ngô Chân Chân lo lắng như thiêu như đốt, chạy ngược chạy xuôi vì ngài ấy khi Trang Văn Thái t.ử trúng độc nấm, nên thần hiểu rõ tâm ý của Ngô Chân Chân đối với Trang Văn Thái tử, nàng ấy không thể nào có tâm hại Thái tử. Huống hồ Trang Văn Thái t.ử là Trữ quân, sau này Ngô Chân Chân có thể làm phi, tiền đồ vô lượng, về tình về lý, cô ấy đều không có lý do gì làm hại phu quân của mình. Mà sau khi Trang Văn Thái t.ử hoăng thệ, rất nhanh đã có người đến truy sát thần, thần liền biết, đó chắc chắn là do hung thủ thật sự phái tới." "Vậy ngươi đã biết hung thủ là ai chưa?" Hoàng đế truy hỏi. Dương T.ử Thành đáp: "Thần chỉ có vài suy đoán, tạm thời chưa dám nói thẳng. Ngô Chân Chân đã đợi bên ngoài điện, có những chuyện quan trọng hơn, chi bằng để cô ấy bẩm rõ với Quan gia." Hoàng đế mở to mắt ngạc nhiên: "Ngô Chân Chân hồi cung rồi?" Lúc này Triệu Ngai đứng bên cạnh cao giọng dặn dò hoạn quan ngoài cửa: "Tuyên Tín An Quận phu nhân vào điện." Chân Chân nghe tin, từ từ bước vào trong điện, hành đại lễ với Hoàng đế. Hoàng đế hiểu ra: "Ngươi chính là người thiếp Nhị ca nạp, Tống Đào Sênh là tên giả của ngươi." "Thần là Ngô Chân Chân." Chân Chân điềm tĩnh đáp, "Thần năm xưa bị nước lũ cuốn trôi, may mắn được người cứu thoát, rời khỏi Lâm An, đến phủ Ninh Quốc nơi thần từng sống hồi nhỏ. Sau đó gặp Ngụy vương, chúng thần luôn đối đãi với nhau bằng lễ nghĩa. Lần này mượn danh Tín An Quận phu nhân vào cung, thực ra là kế sách tạm thời, thần và Ngụy vương, chưa hề thành thân." Hoàng đế lạnh lùng xét nét nàng, không truy cứu chuyện đó nữa, chỉ ra lệnh: "Chuyện năm xưa, ngươi biết những gì, nói hết ra đi." Chân Chân bèn bắt đầu kể từ việc Trang Văn Thái t.ử giúp nàng điều tra thân thế, nhắc đến sự nghi ngờ và giám sát của Thái t.ử đối với Trình Uyên, lại kể tỉ mỉ chuyện cùng Thái t.ử bắt gặp Liễu Tiệp dư và Ngọc thị bái nguyệt tế lễ, Hoàng đế nghe đến đây, lập tức nhíu mày. Lúc này Dương T.ử Thành ở bên cạnh nói thêm: "Trang Văn Thái t.ử sau đó liền sai thần đi tra ngày sinh của cha Liễu Tiệp dư, thần phát hiện ngày hôm đó không phải sinh kỵ của Liễu Côn, mà là, của Tề Hi..." Hoàng đế kinh ngạc tột độ, đập mạnh xuống án: "Ngươi có biết ngươi đang nói gì không?" Dương T.ử Thành lập tức quỳ rạp xuống, khẩn thiết nói: "Thần tuyệt đối không dám nói dối. Sự việc hệ trọng, thần nếu có nửa lời gian dối, xin chịu hình phạt ngũ mã phanh thây, lăng trì xử tử." Hoàng đế nhắm mắt, n.g.ự.c phập phồng liên hồi, một lúc lâu sau sắc mặt mới dịu đi đôi chút, lại bảo Chân Chân: "Sau đó xảy ra chuyện gì, ngươi nói tiếp đi." Chân Chân ảm đạm cụp mắt, cố gắng điều chỉnh tâm trạng, hồi lâu sau mới chậm rãi kể ra chuyện đêm đó nàng và Trang Văn Thái t.ử thân mật, Thái t.ử ngậm lấy châu điền nếm thử a giao, sau đó lại nói về việc phát hiện nọc rắn ở phủ Ninh Quốc có thể liên quan đến chuyện này, cuối cùng là quá trình Hàn Tố Vấn dùng chuột đồng để chứng thực. Triệu Ngai gọi Hàn Tố Vấn đã đợi sẵn ngoài điện vào, trình lên Hoàng đế miếng châu điền vẫn còn độc tố kia. Triệu Ngai sau đó vái dài Hoàng đế, nói: "Phụ hoàng, nọc rắn đã bị Hàn lâm Y quan viện liệt vào danh sách t.h.u.ố.c cấm, người trong cung cực khó có được. Sau đó nhi thần cho người điều tra, mấy năm nay Trình Uyên vẫn luôn dùng nọc rắn chữa chứng đau đầu, lén thuê mấy người bắt rắn, quanh năm cung cấp rắn độc cho hắn." "Vậy, các ngươi muốn nói, kẻ hại Trang Văn Thái t.ử là Liễu Tiệp dư hay là Trình Uyên?" Hoàng đế hỏi. "Chuyện này liên quan đến ai, phải xem nguồn gốc của miếng châu điền." Chân Chân nói, "Miếng châu điền đó của nô là do nội nhân Vân Oanh Ca tặng, triệu cô ấy đến thẩm vấn, ắt biết châu điền từ đâu mà có." Hôm nay Vân Oanh Ca cũng được Trang Văn Thái t.ử phi đưa vào cung, lúc này đang ở trong điện Hoàng hậu. Hoàng đế lập tức lệnh cho Trương Tri Bắc phái người đưa cô đến điện Phúc Ninh. Vân Oanh Ca còn chưa biết xảy ra chuyện gì, vừa vào trong điện, thấy mọi người ai nấy mặt mày lạnh tanh nghiêm nghị, lập tức sợ hãi quỳ sụp xuống đất. Triệu Ngai liền hỏi cô nguồn gốc miếng châu điền, lúc này cô cũng không dám giấu giếm nữa, rơi lệ nói ra sự thật: "Là Phượng Tiên... ồ, không, là Thái t.ử phi hiện giờ tặng cho nô. Lúc đó cô ấy nói muốn cảm tạ nô đã chăm sóc chỉ bảo, tặng nô bộ châu điền này, nô thấy châu điền quý giá, Chân Chân lại sắp có chuyện vui, nên tặng lại cho Chân Chân." "Thái t.ử phi?" Hoàng đế chau mày hỏi, "Nàng ta lại lấy từ đâu ra? Nàng ta có biết ngươi định tặng cho Chân Chân không?" "Cô ấy biết, nô nói với cô ấy là nô định tặng cho Chân Chân, cô ấy không phản đối, bảo đã tặng cho nô rồi thì tùy nô xử lý." Vân Oanh Ca khóc nức nở, "Nhưng cô ấy lấy từ đâu ra thì nô không biết." Hoàng đế gọi hoạn quan ngoài cửa, đang định sai đi mời Thái t.ử phi, đúng lúc này lại có một nội thị Đông Cung hớt ha hớt hải chạy vội vào, quỳ xuống trước mặt Hoàng đế, bẩm báo: "Vừa rồi Tứ Đại vương và Thái t.ử phi ở Đông Cung bỗng nhiên nôn mửa ngất xỉu, hiện giờ bất tỉnh nhân sự, thái y bảo, hình như là trúng độc gì đó." Tứ Đại vương tức tiểu hoàng t.ử Triệu Giảo do Liễu Tiệp dư sinh, hôm nay Liễu Tiệp dư nói bị cảm lạnh, nằm liệt giường trong các, không đến dự lễ, nhưng cho phép v.ú nuôi bế Triệu Giảo và Công chúa Như Anh đến Đông Cung xem hôn lễ long trọng. Hoàng đế vừa nghe Triệu Giảo có thể trúng độc, vừa sốt ruột vừa tức giận, lập tức đứng dậy quát hỏi hoạn quan nguyên do, hoạn quan lại nói thái y cũng tạm thời chưa biết trúng độc gì. Chân Chân lập tức nhớ đến miếng châu điền Phượng Tiên dùng trước đó, nói với Hoàng đế điểm nghi vấn này, Hoàng đế liền quát: "Đi! Theo trẫm đến Đông Cung." Đến Đông Cung, chỉ thấy bên trong hỗn loạn tưng bừng, rất nhiều nội nhân vây quanh trong tẩm điện của Thái t.ử phi, kẻ gọi người khóc bên cạnh Phượng Tiên và Triệu Giảo đang hôn mê, còn mấy vị thái y cau mày ủ dột, chốc chốc lại bàn bạc hoặc tranh luận, một số hoạn quan chạy đôn chạy đáo, trông có vẻ nôn nóng bận rộn, nhưng cũng chẳng biết đang bận cái gì. Công chúa Như Anh trong lòng v.ú nuôi khóc ngặt nghẽo, còn Triệu Hạo ủ rũ ngồi trước giường Phượng Tiên, hai mắt đỏ hoe, dường như cũng vừa mới khóc. Hoàng đế đến xem tình trạng Triệu Giảo trước, Chân Chân thì đến bên cạnh Phượng Tiên, cúi người kiểm tra, phát hiện châu điền trên mặt cô đã được gỡ xuống. "Châu điền của Thái t.ử phi đâu?" Chân Chân hỏi thị nữ trước giường Phượng Tiên. Thị nữ kia đáp: "Thái t.ử phi về đến Đông Cung, việc đầu tiên là gỡ châu điền xuống, sau đó Tứ Đại vương cầm chơi một lúc." "Có phải thằng bé đã bỏ châu điền vào miệng không?" Chân Chân hỏi tiếp. "A, đúng, đúng vậy!" Không đợi thị nữ trả lời, v.ú nuôi của Triệu Giảo như bừng tỉnh, sấn tới trả lời câu hỏi của Chân Chân, "Khi Thái t.ử phi tẩy trang, Tứ Đại vương và Công chúa nô đùa đuổi nhau trong điện, sau đó Tứ Đại vương bỗng nhiên ngã, dập môi, chảy ít máu, đau quá khóc ré lên, Thái t.ử phi bèn vẫy tay gọi thằng bé lại, ôm vào lòng, lấy trang sức vừa tháo xuống cho thằng bé xem, dỗ dành ngon ngọt. Tứ Đại vương rất thích miếng châu điền bên tóc mai Thái t.ử phi, nhón lấy chơi, chơi một hồi thì nhét vào miệng. Thái t.ử phi vội bảo nhả ra, Tứ Đại vương không chịu, lại còn nhón một miếng khác đưa đến bên miệng Thái t.ử phi, bảo là ngọt, bắt Thái t.ử phi nếm thử. Thái t.ử phi vốn không muốn nếm, nhưng Tứ Đại vương tính trẻ con, cứ nhét châu điền vào miệng người, Thái t.ử phi đành phải nếm thử, cũng bảo là ngọt, Tứ Đại vương mới chịu cho người nhả ra. Hai người lại nói chuyện một lúc, rồi Tứ Đại vương bắt đầu nôn mửa, Thái t.ử phi vội vàng sai người mời thái y, nhưng chẳng bao lâu sau người cũng bắt đầu nôn mửa, rồi cả hai đều hôn mê bất tỉnh..." Chân Chân bảo thị nữ mau đi tìm tất cả những miếng châu điền Phượng Tiên đã tháo ra, rồi vạch môi Phượng Tiên, kiểm tra khoang miệng cô. Chỉ thấy lợi Phượng Tiên sưng đỏ, dường như có dấu hiệu chảy máu, bèn hỏi thị nữ Thái t.ử phi gần đây có bị nóng trong người không, thị nữ đáp: "Thái t.ử phi đi đường xa vất vả về Lâm An, ban đêm cũng ngủ không ngon, nên sinh chút hỏa khí, đau răng mấy ngày nay rồi." Chân Chân lập tức tìm thái y Quách Tư Tề, nhờ ông dùng t.h.u.ố.c giải nọc rắn chữa trị cho Tứ Đại vương và Thái t.ử phi. Quách Tư Tề làm theo lời nàng, sắc t.h.u.ố.c xong cho hai người uống. Một lát sau, mi mắt Phượng Tiên động đậy, bắt đầu r*n r*, còn Triệu Giảo vẫn không có phản ứng gì. Hoàng đế càng thêm lo lắng, liên tục hỏi Quách Tư Tề t.h.u.ố.c dùng có đúng không. Quách Tư Tề khom người nói: "Quan gia, phải bốc t.h.u.ố.c đúng bệnh mới đảm bảo hiệu quả. Hiện giờ chỉ biết độc này có thể là nọc rắn, nhưng là nọc rắn gì, liều lượng nọc rắn bao nhiêu, chúng thần hoàn toàn không biết, chỉ có thể chữa trị cầm chừng. Nếu có thể tra rõ, thần mới biết làm sao giải độc tốt hơn." "Trình Uyên!" Hoàng đế chợt nhớ tới cái tên Trình Uyên mà nhóm người Chân Chân vừa nhắc tới, quát lên, "Mau đi bắt Trình Uyên tới đây!" "Quan gia, vạn lần không thể!" Đô tri Trương Tri Bắc đi theo ngài quỳ xuống can ngăn, "Trình Uyên hiện giờ đang hầu hạ Thái hậu ở cung Từ Phúc, nếu vì chuyện này mà bắt hắn, chẳng khác nào bố cáo thiên hạ Thái hậu có liên quan đến việc mưu hại Hoàng tử. Thứ nhất, Thái hậu có thể sẽ không cho phép chúng ta vào cung Từ Phúc bắt người, thứ hai, cho dù Trình Uyên bị bắt, vì tính mạng bản thân và bảo vệ Thái hậu, hắn cũng sẽ một mực khẳng định không liên quan đến việc này, sẽ không nói ra làm cách nào mới giải được độc đâu." Dương T.ử Thành cũng phụ họa: "Lời Trương Đô tri rất có lý, lúc này quả thực không nên lấy lý do truy tra việc Hoàng t.ử trúng độc để đến cung Từ Phúc bắt Trình Uyên." "Vậy các ngươi nói xem phải làm sao?" Hoàng đế gầm lên. Lúc này Chân Chân tiến lên, quỳ xuống trước mặt Hoàng đế, nói: "Nô có một cách, có thể giải quyết việc này. Mong Quan gia về điện Phúc Ninh trước, rồi cho thần bẩm tấu." Hoàng đế giờ đã hết cách, lại thấy ánh mắt Chân Chân kiên định, dáng vẻ tính trước làm sau, đành chấp thuận lời thỉnh cầu của nàng. Đợi khi về đến điện Phúc Ninh, Chân Chân lại trịnh trọng giơ tay lên trán, quỳ lạy Hoàng đế, rồi nghiêm nghị nói: "Nô tài, Điển thiện Ngô thị, xin tự tiến cử làm Tư cung lệnh, vì Bệ hạ truy tìm chân tướng vụ việc Trang Văn Thái t.ử cùng Tứ Đại vương, Thái t.ử phi trúng độc, thanh lọc cung cấm. Mong Bệ hạ gia ân, chuẩn cho lời thỉnh cầu của thần." Hoàng đế kinh ngạc tột độ: "Ngươi nói cái gì? Tư cung lệnh?" "Vâng." Chân Chân bình tĩnh ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mắt Hoàng đế, nói rõ ràng từng chữ, "Chỉ có Tư cung lệnh, mới có quyền quản thúc cung nhân hai cung Nam Bắc đại nội, mới có thể danh chính ngôn thuận bước vào cung Từ Phúc tra án mà không sợ Thái hậu phản đối." "Tư cung lệnh chỉ quản thúc được nữ quan, nội nhân hai cung, không quản được hoạn quan như Trình Uyên." Hoàng đế nghi ngờ nói. "Tội lỗi Trình Uyên dính líu đến, không chỉ có mỗi vụ hạ độc này, hắn còn bị nghi ngờ tự ý giam cầm Cúc phu nhân. Cúc phu nhân là cung nhân của Tiên đế, thuộc phạm vi quản lý của Tư cung lệnh, nô sẽ lấy lý do truy tìm tung tích Cúc phu nhân để vào cung Từ Phúc trước, sau đó thuyết phục Thái hậu giao Trình Uyên ra, đến lúc đó giao cho Ngự sử đài, Hình bộ thẩm vấn, hay là Hoàng đế hạ chỉ lập Chiếu ngục (nhà lao riêng của vua), đều do Bệ hạ quyết định." Chân Chân bình tĩnh nói ra kế hoạch của mình, thấy Hoàng đế không tỏ thái độ gì, lại nói, "Vụ án Cúc phu nhân, không chỉ liên quan đến chuyện Trang Văn Thái tử, mà còn liên quan đến tung tích của Trương Quốc y. Nếu Bệ hạ phong thần làm Tư cung lệnh, thần có thể điều tra rõ luôn bí ẩn về sự mất tích của Trương Quốc y, đích thân đưa ông ấy đến trước mặt Bệ hạ." Hoàng đế trầm mặc một lát, trầm giọng hỏi: "Ngươi thật sự nắm chắc sẽ tra rõ hết những chuyện này?" "Ta nắm chắc." Giọng điệu Chân Chân như đinh đóng cột, "Rất nhiều chuyện, thần đã suy nghĩ thông suốt rồi, bây giờ chỉ cần thẩm vấn những người liên quan để kiểm chứng. Những vụ án này, thần cũng bị cuốn vào trong đó, có lẽ không nên trở thành người điều tra, nhưng không ai có thể hiểu rõ những mấu chốt trong đó hơn thần. Thần đứng ra truy tra, có thể đảm bảo kết quả chính xác và nhanh chóng. Và thần cũng có thể thề trước với Bệ hạ, đảm bảo chấp pháp công bằng, sẽ không vì tư tình cá nhân mà che giấu, bỏ sót bất kỳ chân tướng nào." Thấy Hoàng đế vẫn chưa tỏ thái độ, Chân Chân lạy thêm cái nữa, tiếp tục thỉnh cầu: "Thần chỉ cần một ngày, làm một ngày, mười hai canh giờ Tư cung lệnh. Trong một ngày này tra rõ mọi chân tướng, ngày mai sẽ từ nhiệm, và trải chiếu rơm chờ chịu tội, xin Bệ hạ cứ theo trách nhiệm ta phải gánh chịu trong vụ án Trang Văn Thái tử, cũng như tội vượt quyền hôm nay mà định tội xử phạt." Hoàng đế trầm ngâm một lát, rồi vung tay chỉ về phía Tây Nam, nói với Chân Chân: "Ngươi hãy hướng về phía toàn sở (nơi quàn linh cữu) của Trang Văn Thái tử, thề với nó, nếu làm Tư cung lệnh, ắt sẽ xử án công bằng, không trái quốc pháp, không thiên vị tình riêng, không mưu cầu tư lợi." Chân Chân lập tức quay về hướng ngài chỉ, trịnh trọng lạy thêm lần nữa, từng chữ từng chữ thề rằng: "Điện hạ, Chân Chân nếu được phong làm Tư cung lệnh, ắt sẽ xử án công bằng, không trái quốc pháp, không thiên vị tình riêng, không mưu cầu tư lợi. Nếu làm trái lời thề, nguyện chịu nỗi khổ vạn rắn c.ắ.n xé, và đọa vào địa ngục A Tỳ, đời đời kiếp kiếp, vĩnh viễn không được gặp lại Điện hạ." Nói đến câu cuối cùng, giọng nàng hơi run, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước cũng dâng lên tầng lệ mỏng. Hoàng đế thấy vậy, thầm thở dài trong lòng, rồi cao giọng gọi Trương Tri Bắc đang đợi bên ngoài, dặn dò: "Đi triệu học sĩ trực ban đến, bảo ông ta soạn chế từ: Phong Điển thiện Ngô Chân Chân làm Chính tứ phẩm Tư cung lệnh, nhiệm kỳ bắt đầu từ giờ Mùi hôm nay, mười hai canh giờ." viễn không được gặp lại Điện hạ." Nói đến câu cuối cùng, giọng nàng hơi run, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước cũng dâng lên tầng lệ mỏng. Hoàng đế thấy vậy, thầm thở dài trong lòng, rồi cao giọng gọi Trương Tri Bắc đang đợi bên ngoài, dặn dò: "Đi triệu học sĩ trực ban đến, bảo ông ta soạn chế từ: Phong Điển thiện Ngô Chân Chân làm Chính tứ phẩm Tư cung lệnh, nhiệm kỳ bắt đầu từ giờ Mùi hôm nay, mười hai canh giờ." Chương 132 - Cung Từ Phúc Chế từ soạn xong, Hoàng đế giao cho Trương Tri Bắc tuyên đọc tại điện Văn Đức. Thượng phục biết tin này từ trước đã phái người đến Nội Tàng khố lấy bộ quan phục Tư cung lệnh cất kỹ nhiều năm không ai dùng đến, mời Chân Chân thay vào. Chân Chân rửa sạch lớp phấn son, mặc công phục màu tím, đội mũ Phù đầu sơn mài, chân đi giày da đen, thắt đai vàng ngang lưng, nhận chức và tạ ơn ngay trong điện. Khi nàng bước ra khỏi điện Văn Đức, Thượng cung, Thượng nghi, Thượng phục, Thượng tẩm, Thượng công, cùng Tần Tư thiện đã thăng chức Thượng thực đã đứng đợi hai bên dưới thềm son, dẫn đầu các nữ quan Lục Thượng, đồng loạt cúi người hành lễ với nàng: "Chúng thiếp cung chúc Tư cung lệnh. Chúc Tư cung lệnh hoa nở lại lên cao, sải bước đường bằng vạn dặm." Chân Chân vội chắp tay hoàn lễ, ngước mắt nhìn, thấy các nữ quan Lục Thượng tuy miệng nói lời chúc mừng nhưng đa phần mặt không cảm xúc, có lẽ trong lòng không phục lắm, chỉ có Tần Thượng thực nhìn nàng, nở một nụ cười khích lệ. Trương Tri Bắc ngay sau đó bước ra, hỏi nàng bây giờ có cần chuẩn bị xe cung đình đưa nàng đến cung Từ Phúc hay không. Chân Chân lắc đầu: "Đợi thêm chút nữa." Rồi hỏi: "Liễu Tiệp dư biết chuyện Tứ Đại vương trúng độc chưa?" "Vẫn chưa biết." Trương Tri Bắc đáp, "Tứ Đại vương và Thái t.ử phi lần lượt ngất xỉu, ta biết sự việc hệ trọng, đã cho người phong tỏa Đông Cung, nghiêm cấm người không phận sự qua lại, chắc là chưa có ai đến Phù Dung các báo tin." "Phiền Đô tri sai người cấp tốc đến Phù Dung các, bảo với Liễu Tiệp dư rằng Tứ Đại vương đã ngậm phải châu điền của Thái t.ử phi, hiện giờ tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, nguy hiểm vô cùng." Chân Chân điềm nhiên nói với Trương Tri Bắc, "Lúc này đến cung Từ Phúc, nhất thời cũng chưa lấy được t.h.u.ố.c giải ngay. Chi bằng thử cách này xem, biết đâu lại lấy được sớm hơn." Trương Tri Bắc lập tức phái một nội thị đến Phù Dung các, thông báo chuyện này cho Liễu Lạc Vi. Liễu Lạc Vi vốn đang uể oải nằm trên giường, vừa nghe thị nữ vào truyền tin này, lập tức bật dậy, áo thị nữ khoác cho còn chưa kịp buộc dây đã lao ra hỏi tên nội thị kia: "Ngươi nói cái gì, Tứ Đại vương m*t phải châu điền của Thái t.ử phi nên trúng độc sao?" Nội thị đáp: "Tứ Đại vương trước đó vẫn khỏe mạnh, m*t miếng châu điền đó xong không lâu thì nôn mửa ngất xỉu, Thái t.ử phi cũng vậy, chắc là a giao trên châu điền có độc." Mặt Liễu Lạc Vi cắt không còn giọt máu, quay người chạy về phòng, lục lọi hòm tủ một hồi, cuối cùng lôi ra một chiếc lọ sứ nhỏ, định chạy ra ngoài, ngờ đâu bị Ngọc thị túm chặt lấy. "Không được đi!" Ngọc thị hạ giọng quát, "Chuyện này kỳ quặc lắm, đa phần là Lăng Phượng Tiên hoặc kẻ nào đó bày mưu, muốn ép con đưa ra t.h.u.ố.c giải. Nếu con đưa t.h.u.ố.c giải ra là trúng kế, chuyện của chúng ta sẽ bại lộ." "Nhưng con của con sắp c.h.ế.t rồi!" Liễu Lạc Vi trừng đôi mắt đỏ ngầu, giọng nghẹn ngào giận dữ, "Nọc rắn này kịch độc như vậy, năm xưa khiến Trang Văn Thái t.ử c.h.ế.t ngay tức khắc, Tứ ca còn nhỏ thế, chậm chút nữa là không cứu được đâu!" Ngọc thị vẫn cản nàng ta, ra sức ngăn lại: "Không đưa t.h.u.ố.c giải, có bao nhiêu thái y ở đó, Tứ ca chưa chắc đã c.h.ế.t, nhưng nếu con đưa t.h.u.ố.c giải, coi như đã nhận có liên quan đến việc hạ độc, chúng ta có thể đều sẽ c.h.ế.t!" "C.h.ế.t thì c.h.ế.t, con ta nếu không sống được, ta cũng sống không bằng c.h.ế.t!" Liễu Lạc Vi liều mạng gạt tay Ngọc thị ra, định xông ra ngoài. Ngọc thị cuống lên, một tay kéo nàng ta lại, tay kia giơ lên, theo thói quen định tát nàng ta một cái, nhưng lần này Liễu Lạc Vi phản ứng nhanh hơn, vung tay, tát Ngọc thị một cái thật mạnh trước. "Bà không có tim, nhưng ta có! Bà không coi con mình là người, ta không làm được!" Nàng ta nước mắt lưng tròng, căm hận trừng mắt nhìn Ngọc thị, lùi lại hai bước dưới cái nhìn sững sờ của Ngọc thị, rồi nắm chặt lọ sứ nhỏ chạy ra gian ngoài. Vì chạy quá nhanh, nàng ta trượt ngã trên sàn nhà trơn bóng, ập người xuống đất. Nội thị đang đợi ở sảnh vội bước tới đỡ nàng ta, nàng ta chưa kịp bò dậy đã nhét lọ sứ vào tay nội thị, giục giã: "Mau mang t.h.u.ố.c này cho Tứ Đại vương uống, mau lên!" Nội thị vâng dạ, lập tức chạy ra khỏi cửa hướng về Đông Cung. Liễu Lạc Vi sau đó đứng dậy, đi khập khiễng đuổi theo bóng lưng hắn vài bước, cao giọng dặn với theo: "Cho Tứ Đại vương uống ba viên, ba viên nhé!" Liễu Lạc Vi thẫn thờ nhìn theo nội thị đi xa, rồi lặng lẽ quay về phòng ngủ, mặc lại y phục chỉnh tề, tự ngồi trước gương chải đầu. Ngọc thị đi đến sau lưng nàng ta, nhìn nàng ta trong gương nói: "Sự việc đã đến nước này, một đại họa là không thể tránh khỏi rồi. Con hãy theo đường hầm trốn ra ngoài đi, ta ở lại tùy cơ ứng biến. Nếu còn đường xoay chuyển, lát nữa ta sẽ đi đường hầm tìm con. Con ở đầu bên kia nếu đợi đến tối vẫn không thấy ta đến thì cứ đi đi, đi được bao xa thì đi, đừng quay lại nữa." Khi nội thị kia cầm lọ t.h.u.ố.c đến Đông Cung, Chân Chân và Trương Tri Bắc đã đợi sẵn trong tẩm điện nơi Phượng Tiên và Triệu Giảo nằm. Nội thị giao lọ t.h.u.ố.c vào tay Quách Tư Tề, chuyển lời dặn dò về liều lượng của Liễu Lạc Vi: "Liễu Tiệp dư nói, cho Tứ Đại vương uống ba viên." Quách Tư Tề mở nút lọ, đổ t.h.u.ố.c ra xem, thấy bên trong chỉ vỏn vẹn bảy viên to bằng hạt đậu xanh, đang suy tính xem chia cho Tứ Đại vương và Thái t.ử phi thế nào, Triệu Hạo bỗng lao tới, giật phắt sáu viên t.h.u.ố.c từ tay ông ta, quay người rảo bước đến bên giường bệnh của Phượng Tiên, cúi xuống nhét cả sáu viên t.h.u.ố.c vào miệng Phượng Tiên. Quách Tư Tề trợn mắt há mồm nhìn Triệu Hạo đỡ Phượng Tiên dậy đích thân mớm nước cho cô, để cô nuốt t.h.u.ố.c xuống, mới ấp úng nói: "Điện hạ, chỉ còn một viên thuốc, e là không đủ liều cho Tứ Đại vương..." "Có bao nhiêu thì cho nó uống bấy nhiêu đi." Triệu Hạo lạnh lùng nói. Quách Tư Tề hiểu Triệu Hạo nghe nói Triệu Giảo cần uống ba viên, liền tính ra Phượng Tiên ít nhất phải uống gấp đôi mới có hiệu quả, thấy t.h.u.ố.c giải không đủ, bèn ra tay trước, giữ mạng cho vợ mình đã, không lo được cho em trai nữa. Đã thế rồi, Quách Tư Tề cũng chẳng biết làm sao, đành hòa viên t.h.u.ố.c còn lại với nước, cho Triệu Giảo uống. Một lát sau, Triệu Giảo vẫn nhắm nghiền hai mắt, hơi thở thoi thóp, còn Phượng Tiên thì đã mở mắt, thở nhè nhẹ. Triệu Hạo mừng rỡ, gọi cô liên hồi. Phượng Tiên gật đầu, rồi đưa mắt nhìn quanh. Lúc này Chân Chân bước tới, khẽ hỏi cô: "Phượng Tiên tỷ tỷ, miếng châu điền này của tỷ, là ai đưa cho tỷ?" Phượng Tiên vẻ mặt mờ mịt, một lúc sau mới đáp: "Là Liễu Tiệp dư... châu điền... là Liễu Tiệp dư... tặng ta..." Chân Chân cũng chẳng ngạc nhiên, quay sang nói với Trương Tri Bắc: "Phiền Trương Đô tri tâu với Quan gia, Liễu Tiệp dư bị nghi ngờ đầu độc, mong Quan gia phái cấm vệ Điện tiền ty cấp tốc phong tỏa Phù Dung các." Chẳng bao lâu sau, Phù Dung các đã bị cấm vệ bao vây trùng điệp. Khi Chân Chân và Trương Tri Bắc vào trong, đã có nhiều nội thị lục soát một lượt, bẩm báo không thấy bóng dáng Liễu Tiệp dư đâu, Chân Chân hỏi: "Ngọc bà bà đâu?" "Ta ở đây." Ngọc thị sa sầm mặt mày từ hậu viện đi ra, trên người vương mùi khói lửa nồng nặc. Nhìn rõ mặt mũi và cách ăn mặc của Chân Chân, bà ta thoáng sững sờ, rồi khóe miệng nhếch lên một nụ cười lạnh lẽo. Chân Chân hỏi bà ta Liễu Tiệp dư đang ở đâu, Ngọc thị chỉ nói không biết, Chân Chân lại hỏi bà ta còn t.h.u.ố.c giải để cứu Tứ Đại vương không, Ngọc thị bảo không có, cũng không biết công thức. Chân Chân bèn hỏi tiếp: "Vậy t.h.u.ố.c giải của Liễu Tiệp dư từ đâu mà có?" Ngọc thị đáp: "Lĩnh Nam nhiều rắn rết, chúng ta từ đó đến, trong người mang theo ít t.h.u.ố.c giải độc rắn thì có gì lạ?" "Chúng ta chỉ báo cho các người biết Tứ Đại vương trúng độc, chứ đâu có nói trúng độc gì đâu nhỉ?" Chân Chân cười khẩy, "Sao bà biết là nọc rắn?" Ngọc thị cứng họng, hừ lạnh một tiếng, quay đầu đi chỗ khác. Trương Tri Bắc ra lệnh cho nội thị tiếp tục lục soát đồ đạc trong các, tìm kiếm chứng cứ tội phạm liên quan đến việc đầu độc, một lúc sau, các nội thị báo lại là tạm thời chưa phát hiện bằng chứng rõ ràng nào, Chân Chân liếc nhìn Ngọc thị vẻ mặt dửng dưng, ra lệnh: "Tìm dưới gầm giường trong phòng Ngọc thị." Sắc mặt Ngọc thị lập tức biến đổi, ánh mắt nhìn lại Chân Chân vừa giận dữ vừa sợ hãi. Trong phòng Ngọc thị thoang thoảng mùi khói củi. Nội thị dời giường bà ta đi, phát hiện mấy tấm ván sàn bên dưới có khe hở rõ rệt, cạy ván lên xem, thấy bên dưới là một cái nắp sắt hình vuông, mở nắp sắt ra, một luồng khói đặc cuồn cuộn bốc lên. Khói tan đi, lộ ra một lối cầu thang đi xuống. Cầu thang dẫn đến một mật thất nhỏ vuông vức chừng một trượng, bên trong có một chiếc bàn thờ nhỏ, trên bàn bày hương án và một ngọn đèn trường minh, trước bàn đặt một chậu than nhỏ, bên trong có hai tấm bài vị gỗ đang cháy dở, hình dạng trông như bài vị thờ cúng tổ tiên. Các nội thị dập lửa, lấy bài vị chưa cháy hết ra, trình cho Trương Tri Bắc và Chân Chân xem. Hai người thấy một tấm đã cháy thành than đen, chữ viết rất khó phân biệt, còn tấm kia có lẽ là tấm bị đốt sau cùng, khi Ngọc thị rời đi đã bịt kín lối ra, trong phòng thiếu khí, lửa cháy yếu dần nên chưa bị thiêu rụi, chữ viết vẫn còn đọc được, nhìn kỹ thì thấy dòng chữ "Tiên phu Tề quân húy Hi chi linh vị" (Linh vị chồng quá cố Tề quân tên Hi). Chân Chân ném tấm bài vị đó xuống chân Ngọc thị, Ngọc thị lập tức nhặt lên ôm vào lòng, ngẩng đầu oán hận trừng trừng nhìn Chân Chân, trong mắt như muốn phun ra lửa. "Bà là thiếp của Tề Hi phải không? Tấm bài vị bị cháy kia, chắc là của Tề Tuân?" Chân Chân nói thẳng, "Năm xưa ta và Trang Văn Thái t.ử bắt gặp bà và Liễu Tiệp dư bái nguyệt tế Tề Hi, Trang Văn Thái t.ử sau đó sai người điều tra việc này, các người sợ chuyện bại lộ, bèn trộn nọc rắn vào a giao trên châu điền, lợi dụng người khác chuyền tay mấy lần, cuối cùng hại c.h.ế.t Trang Văn Thái tử." Ngọc thị cười khanh khách: "Sao ngươi không nói Trang Văn Thái t.ử cuối cùng làm sao mà nuốt vào miệng? Chẳng lẽ ngươi có thể đứng ngoài cuộc sao? Ba năm nay, chuyện đêm đó đã trở thành cơn ác mộng bám riết lấy ngươi chưa? Tiện nhân, ngươi là con gái Trương Vân Kiều, đây là quả báo của ngươi!" Chân Chân nhìn tả hữu, nói: "Vả miệng." Lập tức có nội thị bước lên vả vào mặt Ngọc thị. Nội thị vung cả hai tay, tát liên hồi khiến mặt mũi Ngọc thị sưng vù, Ngọc thị vẫn không ngừng c.h.ử.i rủa, nội thị kia dứt khoát nắm tay đ.ấ.m một cú, làm bà ta rụng ngay hai cái răng cửa. Chân Chân không hề bị bà ta chọc giận, bình tĩnh nói với bà ta: "Nếu nói báo ứng, Tứ Đại vương mới là báo ứng của các người đấy. Miếng châu điền các người dùng để độc hại Trang Văn Thái tử, đi một vòng lớn lại rơi vào miệng thằng bé, để đứa trẻ vô tội này gánh chịu hậu quả tội ác tày trời của các người. Nói ra thì, nó là cháu ngoại của bà đấy? Giờ nó ngàn cân treo sợi tóc, bà nhẫn tâm bỏ mặc, không đưa t.h.u.ố.c giải sao?" "Ta làm gì có t.h.u.ố.c giải, chẳng phải nương t.ử đã đưa hết cho các người rồi sao? Sao còn hỏi ta?" Ngọc thị hậm hực nói, "Nếu còn chưa đủ, các người đi hỏi Trình Uyên mà lấy, tất cả nọc rắn, t.h.u.ố.c giải đều là của hắn, ngươi có bản lĩnh thì đi hỏi hắn mà lấy... " Nói đến đây, bà ta lại không kìm được nở nụ cười lạnh, "Nếu thuyết phục được Thái hậu nhường đường." Chân Chân đến cung Từ Phúc, lấy thân phận tân nhậm Tư cung lệnh, giơ tay lên trán hành đại lễ bái kiến Hoàng Thái hậu, ngay sau đó đề nghị muốn gặp Trình Uyên. Thái hậu đã nghe phong thanh, biết chuyện xảy ra ở Đông Cung, từ chối thẳng thừng: "Tư cung lệnh chỉ quản được nữ quan nội nhân, Trình Uyên là hoạn quan, Đề cử cung Từ Phúc, còn chưa đến lượt Tư cung lệnh quản. Ngươi muốn gặp hắn, hãy sai người thông báo trước hai ngày, xin gặp mặt, còn việc có đồng ý hay không, cũng do hắn tự quyết định." Chân Chân nói: "Thiếp đương nhiên không thể quản cả nội thị, chỉ là Phượng mệnh Quan gia, phải truy tìm tung tích cung nhân Cúc An của Tiên đế mất tích, Trình Uyên có liên quan, thiếp to gan xin Trình Uyên lộ diện giải đáp nghi vấn, mong Thái hậu lượng thứ." "Cúc An?" Sắc mặt Thái hậu thay đổi. "Vâng, cũng chính là, Cúc phu nhân." Chân Chân nói, "Có nhân chứng vật chứng cho thấy, Trình Uyên đã giam cầm Cúc phu nhân ở vườn Thích An, thậm chí... cưới bà ấy." Thái hậu im lặng, rồi cười nhạt: "Cúc An là cung nhân Bắc đại nội, lão thân còn sống sờ sờ đây, có quản thì cũng là lão thân quản. Ai cho ngươi cái quyền thò tay vào Bắc đại nội, can thiệp chuyện cung nhân của lão thân?" "Người cho thiếp quyền lực, là đương kim Chí tôn." Chân Chân ung dung đáp, "Tư cung lệnh có thể quản cung nhân hai cung Nam Bắc đại nội, Thái hậu chẳng lẽ không biết? Hay là muốn sửa đổi cung quy, để cung nhân Bắc đại nội thoát khỏi sự quản thúc của Tư cung lệnh?" Thái hậu tạm thời không đáp, nhưng n.g.ự.c phập phồng rõ rệt, cơn giận khó kìm nén. "Thái hậu muốn sửa đổi cung quy, e là cũng không được." Chân Chân tiếp tục bình tĩnh nói, "Dù sao người trong thiên hạ đều biết, quyền bính thiên hạ này, nằm trong tay Hoàng đế, chứ không phải trong tay Thái hậu." Thái hậu vô cùng kinh ngạc, chỉ tay vào Chân Chân, giận đến mức không nói nên lời: "Ngươi, ngươi, to gan..." "Quan gia xưa nay hiếu kính Thái hậu, cho nên trước giờ không đặt chức Tư cung lệnh, mà hôm nay bổ nhiệm thiếp làm Tư cung lệnh, Thái hậu anh minh, sẽ không không hiểu ý của Người." Chân Chân nói thẳng thắn với Thái hậu, "Lần trước Trang Văn Thái t.ử trúng độc nấm, kẻ hạ độc là nội thị, Nam đại nội không có nội thị mất tích, lẽ ra phải tra xét nội thị Bắc đại nội, Thái hậu lại kiên quyết không cho người điều tra, khăng khăng bao che chuyện này, triều đình trong ngoài bàn tán xôn xao, Thái hậu lẽ nào không biết? Quan gia tôn trọng Thái hậu, đành phải từ bỏ truy cứu, nhưng trong lòng khó tránh khỏi có khúc mắc. Nếu chuyện như vậy cứ tái diễn, Quan gia chưa chắc sẽ tiếp tục dung thứ, đến lúc đó xảy ra hậu quả gì, e là khó mà lường trước được." Thái hậu giận dữ nhìn Chân Chân, nhưng cũng không tìm được lời lẽ thích hợp để phản bác. Chân Chân tiếp tục khuyên nhủ: "Thật ra trong lòng Quan gia hiểu rõ, Thái hậu và Người hiện giờ chung sống hòa thuận, nương hiền con thảo, chuyện mưu đại nghịch, Thái hậu căn bản không cần thiết phải nghĩ tới. Tuy nhiên, xin thứ cho thiếp nói thẳng, người đời đều biết Thái hậu năm xưa từng nâng đỡ tông thất t.ử khác, nếu người cung Từ Phúc phạm lỗi lớn, người ta sẽ võ đoán rằng Thái hậu không thoát khỏi liên can, đây cũng là lý do Thái hậu kiên quyết không cho người ta tra ra lỗi lầm của người cung Từ Phúc. Nhưng hiện giờ tội Trình Uyên phạm phải không tầm thường, liên quan đến vụ án Trang Văn Thái t.ử cũng như chuyện Hoàng t.ử và Thái t.ử phi trúng độc lần này, nhân chứng vật chứng đã có không ít rồi, Quan gia không thể nào dung thứ nữa, ắt sẽ truy tra đến cùng. Thái hậu sáng suốt như vậy, đương nhiên biết việc nên làm hiện giờ là không bao che cho kẻ có hiềm nghi mưu đại nghịch nữa, mà phải nhanh chóng phủi sạch quan hệ." Mi mắt Thái hậu khẽ cụp xuống, ánh mắt không còn hùng hổ dọa người như trước, cơn giận cũng tan đi quá nửa, dường như đang suy nghĩ lời Chân Chân. Chân Chân biết tâm ý bà ta đã lung lay, lại nói: "Thái hậu những năm nay tu tâm dưỡng tính, sự từ ái quan tâm dành cho Quan gia và các Hoàng t.ử Quan gia đều ghi tạc trong lòng. Bất kể Trình Uyên làm gì, Quan gia đều sẽ không cho là do Thái hậu sai khiến, cũng sẵn lòng bảo toàn danh dự cho Thái hậu, không bắt giữ hắn với tội danh mưu phản, mà sai thiếp ra mặt, mượn cớ điều tra vụ án Cúc An để đi tìm hắn. Tự ý tàng trữ giam cầm cung nhân Tiên đế, chỉ riêng điều này đã đủ định trọng tội cho hắn, sau này công bố cho thiên hạ rất có thể cũng là tội danh này, chứ không dùng tội mưu phản rắc rối phức tạp khiến người ta nghi ngờ Thái hậu." Thái hậu ngưng thần suy tư, đi đi lại lại trong điện, hồi lâu không tỏ thái độ. Chân Chân ngẫm nghĩ, lại nói với bà ta: "Trình Uyên hầu hạ Thái hậu nhiều năm, Thái hậu chắc là không nỡ từ bỏ sự che chở đối với hắn. Tuy nhiên Trình Uyên bề ngoài trung thành, nhưng đối với Thái hậu chưa chắc đã nhất nhất nghe lời như vẻ bề ngoài. Nói ra thì, hắn ít nhất đã phản bội Thái hậu hai lần." "Hai lần?" Thái hậu cau mày nhắc lại. "Đúng vậy. Hắn giấu Thái hậu, lén lút giấu diếm Cúc phu nhân là một lần..." Chân Chân vừa nói, vừa tháo chiếc túi thơm bạc đeo bên mình, mở ra để lộ hạt hoa Quỳnh, đưa đến trước mắt Thái hậu, "Nhận hối lộ hoa Quỳnh của Liễu Tiệp dư, sau đó cấu kết mưu phản, là lần thứ hai. Một tên nô tài, giả vờ khúm núm vâng dạ với chủ nhân, sau lưng lại bất chấp sự yêu ghét của chủ nhân mà lạm quyền mưu tư, gia nô như vậy, giữ lại làm gì?" Thái hậu nhắm mắt, trầm ngâm giây lát, cuối cùng cũng đưa ra quyết định: "Trước khi ngươi đến, Trình Uyên đã rời cung Từ Phúc, đi đến vườn Thích An rồi." Chân Chân vái dài, tạ ơn Thái hậu. Sắp cáo lui, bỗng lại dừng bước, quay sang hỏi Thái hậu: "Thiếp còn một thắc mắc, mong Thái hậu chỉ giáo." Thái hậu mặt không cảm xúc nói: "Ngươi nói đi." Chân Chân hỏi: "Thái hậu có từng hạ giáo chỉ, sai người truy sát Cúc phu nhân không?" Thái hậu cười ha hả: "Đây là tin đồn lưu truyền trong cung nhiều năm nay. Ta rất ghét Cúc An, con tiện nhân đó tưởng mình được muôn vàn sủng ái, năm xưa làm không ít chuyện ngỗ ngược với ta, có điều, năm đó khi ả xuất cung ta chỉ dùng vài lời ngắn gọn đã đ.â.m c.h.ế.t cái tâm không an phận của ả rồi, ả sau đó, chẳng qua chỉ là cái xác không hồn trôi nổi giữa cõi đời ô trọc này, c.h.ế.t hay không c.h.ế.t, thì có quan hệ gì?" Chân Chân lặng lẽ lắng nghe, vẫn hỏi lại để xác nhận: "Cho nên, chuyện truy sát, chỉ là tin đồn, Thái hậu chưa từng hạ ý chỉ như vậy?" Thái hậu lạnh lùng nói: "Không cần thiết." Chân Chân rời cung Từ Phúc, nhờ thủ lĩnh Điện tiền ty đến Nam đại nội áp giải Ngọc thị đến vườn Thích An đối chất với Trình Uyên, còn mình và Trương Tri Bắc thì đến vườn Thích An trước. Hôm nay Tống bà bà không thể vào cung, nhưng trong lòng lo lắng cho an nguy của Chân Chân, cứ đứng đợi tin mãi ngoài cửa Hòa Ninh. Chân Chân ra vào đều ngồi trong xe cung đình, Tống bà bà cũng không biết người có nghi trượng Tư cung lệnh này lại là Chân Chân, dửng dưng nhìn xe cung đình đi qua trước mặt, ngược lại khi cấm vệ áp giải Ngọc thị ra, lúc lên xe tù ngoài cửa cung, Tống bà bà bỗng xúc động mạnh, chạy theo xe tù nhìn đi nhìn lại, cuối cùng không nhịn được hét lớn với người trong xe: "Xuân Dung!" Ngọc thị nghe tiếng quay đầu lại, phát hiện là bà, cười một cách âm hiểm, không nói một lời, lại quay đầu nhìn về phía trước, mặc cho xe tù đưa mình đi về phía trước mịt mờ chưa biết ra sao. Tống bà bà liều mạng chạy đuổi theo xe tù, vừa chạy vừa gào: "Xuân Dung, cháu ngoại của ta đâu? Đào Sênh nhà ta đâu? Ngươi đưa con bé đi đâu rồi?" Ngọc thị vẫn không trả lời. Tống bà bà chạy mãi chạy mãi, cuối cùng kiệt sức ngã quỵ xuống đất, òa khóc nức nở trong bụi mù do xe tù cuốn lên, vỗ tay xuống vết bánh xe để lại nghẹn ngào: "Đào Sênh, Đào Sênh của ta ơi..." Chương 133 - Rắn và Lửa Trương Tri Bắc biết Trình Uyên những năm này luôn nắm trong tay một đám hoạn quan biết võ nghệ, danh nghĩa là bảo vệ cung Từ Phúc, thực chất phần lớn là dùng cho việc riêng, lo hắn lợi dụng đám người này chống cự đến cùng, bèn điều động một số cấm vệ của Điện tiền ty và Hoàng thành ty đi theo hộ tống trước khi cùng Chân Chân đến vườn Thích An, đồng thời chuẩn bị bắt Trình Uyên quy án. Đến trước cửa vườn Thích An, quả nhiên thấy rất nhiều hoàng môn đứng nghiêm chỉnh trong ngoài cửa lớn, nhưng thấy họ thì không ngăn cản, trái lại còn đồng loạt hành lễ, và dẫn đường cho họ vào trong. Lúc này lá đỏ và các loại hoa cúc trong vườn nở rộ khắp nơi, màu sắc rực rỡ, cảnh tượng huy hoàng, phóng mắt nhìn đâu cũng thấy gấm vóc, hoàn toàn không thấy chút sát khí nào. Hoạn quan dẫn đường mời Chân Chân và nhóm Trương Tri Bắc vòng qua hòn non bộ, xuyên qua rừng trúc, đến trước một ngôi nhà rộng rãi bốn mặt đều có thể di chuyển khung cửa sổ. Hoạn quan mở cửa, rồi khom người mời họ vào. Chân Chân bước vào ngôi nhà này trước, thoáng chốc mở to hai mắt: Mặt đất hai bên trong phòng thấp xuống một chút, trồng hai vạt hoa Kim Đăng đang nở đỏ rực như lửa, chính giữa bắc một cây cầu nhỏ, dẫn ra hành lang phía sau. Giờ đã là cuối thu, theo lẽ thường hoa Kim Đăng đã tàn, nhưng Trình Uyên trồng trong nhà, cửa sổ xung quanh dán giấy bông trắng, có thể thấu quang, lại ngăn được khí lạnh, lúc ấm áp lại có thể di chuyển khung cửa thông gió, dẫn ánh nắng vào, vì thế kéo dài mùa hoa đến tận hôm nay. Chân Chân nhớ tới cảnh sắc dưới cầu trong giấc mơ vĩnh biệt Thái t.ử sau khi ngài mất, càng cảm thấy loài hoa này đỏ tươi như máu, yêu dị đến mức khiến người ta bất an. Nàng chớp mắt, ngước nhìn về phía trước, mặc kệ hoa Kim Đăng, qua cầu tiếp tục đi tới. Qua mấy khúc hành lang gấp khúc, lại đến trước một ngôi nhà. Lần này hoạn quan vừa mở cửa, một luồng gió tanh tưởi liền phả vào mặt, khiến người ta buồn nôn. Chân Chân nhìn kỹ, phát hiện cách đó không xa có một cái hố sâu, trên miệng hố chăng lưới sắt, che kín miệng hố, nhưng có thể nhìn thấy tình hình bên dưới qua khe hở. Hố sâu hơn hai trượng, bên trong có đá núi, có thân cây cành cây, và nhiều hơn cả là chi chít những con rắn đủ loại hoa văn, màu sắc, từng con từng con bò lổm ngổm khắp nơi, quấn lấy nhau, khiến người ta rợn tóc gáy. Bên ngoài hố sâu có đặt bàn ghế, Trình Uyên lúc này đang ngồi trên ghế, thấy nhóm Chân Chân đi vào, thong thả đứng dậy, chắp tay chào họ. Trương Tri Bắc hoàn lễ, ôn tồn hỏi: "Trình tiên sinh biết mục đích chúng ta đến đây chứ?" Trình Uyên mỉm cười đáp: "Biết." Chân Chân thấy hắn có thể chỉ huy nhiều hoạn quan như vậy, liền biết tai mắt của hắn rất nhiều, chuyện xảy ra ở hai cung e là đã có người báo cho hắn biết rồi. Trương Tri Bắc lúc này cũng cười, khen Trình Uyên: "Tiên sinh đã biết, mà vẫn ung dung như thế, quả là phong độ tốt." Trình Uyên nói: "Các người đã đến được đây, chứng tỏ Thái hậu đã từ bỏ Trình mỗ rồi. Chuyện đã đến nước này, hà tất phải kháng cự, chi bằng mở cửa mời quân vào, có câu hỏi gì ta tự nhiên sẽ thẳng thắn trả lời, cũng để hai vị thực thi công vụ dễ dàng hơn chút, sớm về cung phục mệnh." Trương Tri Bắc lịch sự cảm ơn, Chân Chân thì hỏi thẳng Trình Uyên: "Cúc phu nhân ở đâu?" "Không vội, chúng ta nói chuyện trước đã." Trình Uyên ôn tồn nói, "Lát nữa ta sẽ đưa cô đi gặp bà ấy." Hắn mời hai người ngồi xuống, từ tốn đốt một lò hương, rồi tự mình ngồi xuống điểm trà. Trương Tri Bắc mấy lần hỏi hắn chuyện Trang Văn Thái t.ử cùng Tứ hoàng tử, Thái t.ử phi trúng độc có liên quan gì đến hắn không, có t.h.u.ố.c giải không, hắn đều nói: "Nếu ta liệu không sai, Liễu Tiệp dư hoặc Ngọc thị sẽ đến chỉ chứng, chi bằng đợi họ đến, nói rõ một thể." Một lát sau, cấm vệ giải Ngọc thị đến nơi, Trình Uyên mới từ từ đứng dậy, chắp tay với Ngọc thị, nói: "Xuân Dung nương tử, Trình mỗ xin chào." Ngọc thị trừng mắt nhìn hắn, thấy hắn gọi tên tục mình chưa từng tiết lộ với cung nhân, rõ ràng có chút kinh ngạc. Trình Uyên cười khẩy, lại ngồi xuống, bắt đầu giải thích với nhóm Chân Chân: "Sau khi ta và Cúc phu nhân kết làm phu thê, lời qua tiếng lại giữa chúng ta dần nhiều hơn, ta nhắc với bà ấy chuyện Liễu Tiệp dư cũng biết múa điệu Lương Châu, hơn nữa có mấy tư thế múa giống hệt Cúc phu nhân biểu diễn năm xưa, ta chưa từng thấy người khác múa bao giờ. Cúc phu nhân bèn hỏi ta là những tư thế nào, sau khi ta mô tả, bà ấy bảo ta, mấy động tác đó là do bà ấy tự biên soạn, năm xưa bà ấy chỉ dạy cho một đệ tử, chắc chỉ có nữ đệ t.ử đó biết. Ta nghĩ, xét về tuổi tác, Liễu Tiệp dư chắc chắn không phải là nữ đệ t.ử đó, bèn hỏi Cúc phu nhân nữ đệ t.ử đó có phải họ Ngọc không, bà ấy bảo không phải, là họ Du, hoặc là, họ Tề." Chân Chân nghe vậy quay sang nhìn Ngọc thị, hơi thở Ngọc thị dần trở nên dồn dập, cảm xúc bắt đầu d.a.o động. "Bà ấy sau đó kể cho ta nghe thân thế của Du thị đó." Trình Uyên nói tiếp, "Năm xưa Tề Thái sư sợ vợ, lén nạp thiếp bên ngoài, nhưng không dám đưa về nhà, vẫn luôn nuôi ở bên ngoài. Thiếp thất này họ Du, sau đó sinh cho Tề Thái sư một cô con gái, đặt tên là Xuân Dung, nhưng Xuân Dung trước sau vẫn không dám công khai nhận Tề Thái sư làm cha, với bên ngoài tự xưng họ Du. Khi Xuân Dung mười bảy mười tám tuổi, Tề Thái sư thấy cô ta dung mạo rất đẹp, lại tập múa từ nhỏ, bèn có ý bồi dưỡng, ngày sau đưa đến bên cạnh Tiên đế làm phi, lại thấy Tiên đế sủng ái Cúc phu nhân, bèn lấy danh nghĩa mời Cúc phu nhân dạy vũ kỹ trong nhà, nhiều lần đón Cúc phu nhân đến nhà riêng bên ngoài của mình, nhờ Cúc phu nhân dạy Xuân Dung múa. Cúc phu nhân nhìn một cái là thấu tâm tư của Tề Thái sư, nhưng Tiên đế đã bảo bà ấy đi, thì bà ấy đi thôi. Bà ấy có sự tự tin này, tin rằng cô nương này không đe dọa được bà ấy. Xuân Dung học rất nỗ lực, ngày đêm luyện tập, trong mắt người thường thì đã múa rất đẹp rồi, nhưng Cúc phu nhân và cô ta trong lòng đều hiểu, cô ta múa thế nào cũng không đạt được cảnh giới của Cúc phu nhân. Có một lần để luyện cho tốt mấy động tác cực khó của điệu Lương Châu, cô ta bị trẹo lưng, Cúc phu nhân bèn thẳng thắn bảo cô ta, bất kể kỹ nghệ gì, chỉ cần nghiêm túc học, đều có thể luyện rất tốt, nhưng nếu muốn luyện đến đỉnh cao mà người thường khó với tới, thì cần có thiên phú. Mà Xuân Dung, không có loại thiên phú này." Nghe đến đây, Ngọc thị không kìm được nở một nụ cười lạnh. Trình Uyên liếc bà ta, hỏi: "Học múa không thành, Tề Thái sư sau đó lại bắt bà đi học làm món ăn phải không?" "Phải, ông ấy bảo Lưu Tư thiện dạy ta. Ta vẫn dốc hết tâm sức để học, món ăn làm ra trông cũng gần giống món Lưu Tư thiện làm rồi, nhưng phụ thân nếm thử xong vẫn bảo, chỉ kém một chút xíu, nhưng một chút xíu đó chính là linh hồn của cả món ăn." Ngọc thị cười khổ, một tia căm hận thoáng qua trong mắt, "Vì thất vọng về ta, cha vô tình trách mắng và chế giễu ta, nói ta dung mạo và vũ kỹ không bằng Cúc phu nhân, trù nghệ lại không bằng Lưu Tư thiện, làm sao thu hút được ánh mắt của Quan gia. Ông ấy oán ta không hết lòng, hay lười biếng, nên học cái gì cũng không học đến nơi đến chốn, đối với ông ấy, một chút tác dụng cũng không có. Mà ta biết, ta thật sự đã cố gắng hết sức rồi, không đạt được yêu cầu của ông ấy, có lẽ thật sự là thiếu chút thiên phú đó đi..." Chân Chân ngồi bên nghe, chợt nghĩ đến một vấn đề: "Bà đã là con gái Tề Tuân, sao sau này lại làm thiếp của Tề Hi, gọi ông ta là phu quân?" Trương Tri Bắc giải thích trước: "Tề Hi là con nuôi của Tề Tuân. Vợ Tề Tuân là Vương thị không sinh nở được, bèn nhận nuôi con trai của em gái mình và nhân tình bên ngoài, đổi tên là Tề Hi. Cho nên Tề Hi và Ngọc thị tuy danh nghĩa là huynh muội, nhưng thực chất không phải ruột thịt." Trình Uyên cũng bổ sung: "Nghe nói Tề Hi năm xưa Phượng mệnh Tề Tuân, giấu Vương thị lén lút chăm sóc vợ lẽ bên ngoài của Tề Tuân, có lẽ vì thế mà qua lại nhiều với Ngọc thị, lâu ngày sinh tình chăng." Nghe họ nhắc đến Tề Hi, Ngọc thị buồn bã thương cảm, im lặng giây lát, chậm rãi nói: "Khi ta ngày ngày khổ luyện trù nghệ mà chẳng có tiến triển gì, bị cha trách cứ đủ điều, chính người ca ca đó thường xuyên đến thăm ta, khích lệ ta, an ủi ta. Bất cứ món gì ta làm cho huynh ấy, huynh ấy đều thích, đều khen ngon... Tóm lại, ngược với cha, trong mắt huynh ấy, ta dung mạo đẹp, múa giỏi, nấu ăn ngon, cái gì cũng tốt... Lúc đó chúng ta đều đang tuổi thanh xuân, mến mộ lẫn nhau, bèn lén lút ở bên nhau. Sau đó cha biết được, vô cùng giận dữ, nói ta đã không còn là xử nữ, hoàn toàn mất hy vọng vào cung, còn dùng làm gì nữa... Ông ấy muốn ta c.h.ế.t, nhưng không tự mình ra tay, mà nói cho chính thất của ông ấy biết chỗ ở của nương con ta. Kết quả, Vương thị phái một đám người đến, đ.á.n.h c.h.ế.t tươi nương ta. Ta cũng bị đ.á.n.h thương tích đầy mình, nếu không nhờ Tề Hi chạy đến ngăn cản bọn côn đồ, ta cũng không sống nổi... Sau đó, để tránh sự bức hại của Vương thị, ta trốn khỏi Lâm An, đến phủ Ninh Quốc, an cư ở một tửu lâu, sống những ngày yên ổn một thời gian, dưỡng lành vết thương." Chân Chân trước đó nghe cái tên "Xuân Dung" đã thấy quen tai, chỉ là nhất thời không nhớ ra đã nghe ở đâu, nghe Ngọc thị nhắc đến phủ Ninh Quốc và tửu lâu, lập tức vỡ lẽ: "Hóa ra bà chính là Xuân Dung mà Tống bà bà nhắc tới!" "Ngươi quen bà ấy?" Ngọc thị cau mày hỏi ngược lại. "Bà ấy giờ đã thành tổ mẫu của ta." Chân Chân nói, "Còn cháu gái ruột của bà ấy, là bị bà bắt cóc đúng không?" Ngọc thị không trả lời thẳng, mà cười "hà hà", một lúc sau mới nói: "Ta theo Tống Tam nương học trù nghệ, bà ấy nói chuyện không uyển chuyển như Lưu Tư thiện, thấy ta học không tốt là nói thẳng, thậm chí mắng mỏ, cũng giống Cúc phu nhân, nói ta không có thiên phú... Thiên phú, hai chữ thiên phú như lời nguyền, ám ảnh ta cả đời, cũng hại ta cả đời... Tống Tam nương thường bảo ta trông Đào Sênh giúp bà ấy, ta thấy cô bé đó như ngọc trạm trổ, xinh xắn vô cùng, lại rất thông minh, nghe thấy tiếng nhạc là lắc lư múa, múa còn đẹp hơn nhiều đứa trẻ lớn được học hành đàng hoàng... Có một hôm, ta nhìn chằm chằm con bé hồi lâu, bỗng nhiên nghĩ, đây chính là cái gọi là thiên phú đây, nó lại là cháu gái Tống Tam nương, vậy thì về trù nghệ, nó cũng có thiên phú." "Đây là lý do bà bắt cóc Đào Sênh?" Chân Chân mắng, "Bà có biết chỉ vì một ý niệm sai lầm của bà, hại Tống bà bà nhà tan cửa nát, sống trong đau khổ một ngày dài như một năm không?" "Đau khổ? Ai mà chẳng khổ? Người đời đều có nỗi khổ riêng, kiếp nạn riêng, chẳng qua kiếp nạn của bà ấy là ta mà thôi." Ngọc thị lạnh lùng nói, "Đứa cháu gái đó của bà ấy, ở lại bên cạnh bà ấy, lớn lên cũng chỉ là một thôn nữ bình thường, còn ta đưa Đào Sênh đến kinh thành, bồi dưỡng đến xuất sắc, thập toàn thập mỹ, đưa vào cung hưởng nửa đời vinh hoa này, cũng coi như xứng đáng với bà ấy rồi." "Cô bé bà bắt cóc chính là Liễu Tiệp dư phải không?" Trương Tri Bắc lúc này cũng đã hiểu, "Bà đã là con gái Tề Tuân, hao tâm tổn trí đưa Liễu Tiệp dư vào cung, mục đích chắc chắn không đơn giản như theo đuổi vinh hoa phú quý." "Ta muốn nó làm việc mà ta chưa làm được." Ngọc thị nói, "Ta đưa nó về Lâm An, quỳ trước mặt phụ thân cầu xin ông ấy tha thứ, nói ta tuy hết hy vọng vào cung, nhưng ta nắm chắc sẽ bồi dưỡng tốt cô nương này, sau này đưa nó vào cung. Phụ thân tuy nói chuyện đó ông ấy đã từ bỏ từ lâu, không trông mong gì ở ta nữa, nhưng cũng tha cho ta, bảo Tề Hi chăm sóc ta t.ử tế, không để Vương thị bắt nạt ta nữa. Tề Hi bảo Đào Sênh gọi huynh ấy là cha, đối đãi như con ruột. Đào Sênh cũng nhanh chóng quên chuyện cũ, nhận chúng ta làm cha nương. Ta cùng Đào Sênh sống ở biệt nghiệp của Tề Hi mấy năm yên ổn, cho đến khi cha bị Trương Vân Kiều, Lâm Dục và Quan gia hiện giờ thiết kế hại c.h.ế.t, Tề Hi bị ép về hưu, không lâu sau uất ức mà c.h.ế.t, trước khi lâm chung dặn dò người thân bên cạnh, phải báo thù rửa hận cho cha con huynh ấy. Thấy huynh ấy buông tay trần thế, ta chỉ thấy trời sập xuống, nhưng khóc xong, ta ngược lại phấn chấn hẳn lên, quyết định báo thù cho họ." Chân Chân hỏi: "Cái c.h.ế.t của Tề Tuân sao bà biết có người thiết kế?" Ngọc thị cười lạnh: "Với tâm trí của cha ta, sao có thể không cài cắm người của mình bên cạnh Hoàng tử? Tuy Hoàng t.ử mưu tính thành công, nhưng sau đó đắc ý quên mình, khó tránh khỏi lọt chút tiếng gió, người bên cạnh biết được liền báo cho chúng ta." "Người đó, là Vương Mộ Trạch phải không?" Trương Tri Bắc lúc này xen vào hỏi. Ngọc thị không trả lời, nhưng xem ra là ngầm thừa nhận. Chân Chân nhớ lại năm xưa Vương Mộ Trạch bịa đặt hãm hại Lệ Quý phi bị bại lộ, chạy trốn đến núi Phượng Hoàng treo cổ tự tử, giờ xem ra, hướng hắn chạy trốn rất gần Phù Dung các, e là trước khi c.h.ế.t còn thông báo tin tức cho Ngọc thị, Liễu Tiệp dư. Chân Chân lúc này đã xâu chuỗi được tất cả nhân quả, nói với Ngọc thị: "Sau đó bà muốn che giấu thân thế đưa Liễu Tiệp dư vào cung, thì phải tìm một thân phận an toàn, vậy thì họ hàng của đồng minh Quan gia, là thích hợp nhất." "Đúng," Ngọc thị thẳng thắn thừa nhận, "Ta dò la được Lâm Dục có cô em họ gả đến Nhai Châu, bèn đưa Đào Sênh đi tìm, được nhà đó thu nhận. Vốn chỉ định đợi Đào Sênh lấy lòng phu thê họ, xin họ nhận làm con nuôi, như vậy có được thân phận con gái Liễu gia để ứng tuyển vào cung, không ngờ trời giáng một trận dịch bệnh, lại càng giúp ta một tay... Phu thê họ Liễu và con gái Lạc Vi c.h.ế.t rồi, ta chẳng tốn chút công sức nào đã tìm được giấy khai sinh của Liễu Lạc Vi và sổ hộ khẩu nhà họ Liễu, mang theo những giấy tờ này đến núi Vũ Di tìm quả phụ Lâm Dục, rất dễ dàng được giữ lại nhà họ Lâm. Ta tận tâm dạy dỗ Đào Sênh, Đào Sênh cũng rất cố gắng, lớn lên xinh đẹp như tiên, múa đẹp như Cúc phu nhân, nấu ăn lại ngon như Lưu Tư thiện, được Quan gia sủng ái, cũng là chuyện thuận lý thành chương." Lúc này bà ta cười mãn nguyện, rõ ràng rất hài lòng vì kế hoạch của mình thực hiện suôn sẻ. "Món ăn..." Chân Chân chợt nhớ tới Bùi Thượng thực, bèn hỏi, "Lúc đó món ăn Quan gia dùng đều phải qua Bùi Thượng thực nếm thử phân biệt mùi vị thử độc trước, hậu cung tần ngự dâng đồ ăn thức uống, cũng phải được bà ấy cho phép. Sau này Bùi Thượng thực vị giác thoái hóa, dưới sự ngầm đồng ý của Quan gia, Liễu Tiệp dư mới có cơ hội vượt qua Bùi Thượng thực thường xuyên lo liệu món ăn cho Quan gia. Cho nên, chuyện Bùi Thượng thực mất vị giác, giờ xem ra, chưa chắc chỉ do tuổi tác, các người đa phần cũng đã giở trò gì đó rồi nhỉ?" Ngọc thị nói nhẹ tênh: "Bà ta lớn tuổi rồi, thường hay đau đầu nóng sốt, đau lưng mỏi gối, đi tìm thái y Chu Chi Kỳ kê đơn điều dưỡng, lại không biết Chu Y quan là người của chúng ta, trong t.h.u.ố.c cho bà ta uống thêm hai vị, đẩy nhanh quá trình thoái hóa vị giác, không phải chuyện khó gì." Chân Chân hỏi: "Bùi Thượng thực uống t.h.u.ố.c vị giác thoái hóa, chẳng lẽ không nghi ngờ?" Ngọc thị nói: "Thêm từ từ từng chút một, bà ta chỉ cho là thay đổi do tuổi già thôi, rất khó phát hiện." Trương Tri Bắc xen vào hỏi: "Sau đó Bùi Thượng thực vì chuyện Trang Văn Thái t.ử mà bị liên lụy, có người nặc danh tố cáo bà ấy mất vị giác, cũng là do các người làm?" Ngọc thị cũng không phủ nhận: "Thật ra Quan gia đã sớm biết vị giác bà ta có vấn đề, nể tình, vẫn luôn giữ bà ta lại. Chúng ta không mượn cơ hội đó loại bỏ bà ta triệt để, còn đợi đến bao giờ?" Chân Chân nén cơn giận đầy lồng ngực, ghi thêm món nợ này cho bà ta trong lòng, để dành cho Quan gia thanh toán, rồi hỏi tiếp: "Báo thù của bà, là chỉ mưu hại Quan gia hay Hoàng tử?" "Ban đầu, ta định để Đào Sênh sau khi được sủng ái, sẽ hạ độc trong thức ăn, cho Quan gia dùng. Nhưng Đào Sênh bảo, hạ độc đột ngột như vậy quá lộ liễu, cho dù thành công, nhưng Quan gia ăn đồ ăn chúng ta chuẩn bị mà băng hà, chúng ta cũng không sống nổi. Chi bằng củng cố sủng ái trước, đợi Quan gia hoàn toàn không đề phòng, rồi mỗi ngày hạ một chút độc, như vậy khi độc phát người khác chỉ tưởng là c.h.ế.t bệnh, không phát hiện được là do ta làm. Sau đó Quan gia độc sủng một mình nó, nó hoàn toàn có cơ hội từ từ hạ độc, lại không chịu làm nữa, bảo với ta Quan gia c.h.ế.t nó cũng sẽ bị đưa ra khỏi cung đi tu, nửa đời sau của chúng ta sẽ rất gian nan, chi bằng đợi nó sinh Hoàng tử, như vậy Quan gia băng hà nó cũng có thể lấy thân phận nương Hoàng t.ử cùng ta tiếp tục sống cuộc sống vinh hoa phú quý. Sau đó nữa, Công chúa Hoàng t.ử đều sinh rồi, ta hỏi nó bao giờ ra tay, nó lại bảo, đã có Hoàng tử, sao không tìm cách nâng đỡ Hoàng t.ử làm Thái t.ử trước, sau này kế thừa đại thống, như vậy cả thiên hạ đều là của chúng ta... Ta hiểu nó cứ lần lữa mãi, thực ra là không nỡ lòng độc sát Quan gia, ta tuy bất mãn, nhưng thấy nó nói cũng không phải không có lý, nếu con nó làm Thái tử, sau này trở thành Hoàng đế, thì coi như ta đã nắm cả quốc gia trong tay, đây chính là chuyện mà phụ thân và phu quân ta đều không làm được..." Trương Tri Bắc không kìm được đập bàn, mắng: "Hai ả độc phụ các ngươi, dám nuôi lòng lang dạ thú như vậy, vọng tưởng g.i.ế.c vua trộm nước!" "Kẻ muốn g.i.ế.c vua luôn là ta, Đào Sênh thấy Quan gia đối xử với nó rất tốt, khó tránh khỏi nảy sinh tình cảm, nên mãi không chịu ra tay." Ngọc thị thản nhiên giải thích, "Còn mong Đô tri sau này chuyển lời với Quan gia điểm này, nếu tìm được Tiệp dư, hy vọng Quan gia niệm tình nghĩa nó dành cho Quan gia, tha cho nó một con đường sống. Đây cũng là lý do hôm nay ta thú nhận hoàn toàn với các người." Trương Tri Bắc không tỏ ý kiến. Chân Chân tiếp tục truy hỏi: "Đã quyết định nâng đỡ Tứ hoàng t.ử làm Trữ quân, vậy ba vị ca ca của nó đều trở thành chướng ngại vật các người cần loại bỏ, nên các người ra tay với Trang Văn Thái t.ử trước. Chuyện nấm độc là do các người làm phải không?" "Chủ ý là ta đưa ra, nhưng hạ độc là Trình Uyên sai người làm." Ngọc thị cười lạnh nhìn về phía Trình Uyên, "Lúc đó Trình Uyên đã nhận ra Trang Văn Thái t.ử đang điều tra chuyện hắn tàng trữ Cúc phu nhân, như ngồi trên đống lửa, lo lắng không yên, ta khuyên bảo một chút, hắn liền đồng ý." Trương Tri Bắc quay sang nhìn Trình Uyên, thở dài hạ giọng: "Hồ đồ! Tàng trữ cung nhân, tuy là trọng tội, nhưng nếu cầu xin Thái hậu lượng thứ, hoặc xin Quan gia cảm thông cho mối tình si bao năm của ngươi dành cho Cúc phu nhân, xin ngài ấy chính thức ban hôn, cũng không phải hoàn toàn vô vọng." "Không thể nào. Ngô Chân Chân đã biết Cúc phu nhân ở chỗ ta, dù thế nào cũng sẽ nhờ Trang Văn Thái t.ử tìm cách giải cứu, Thái hậu, Quan gia đều không ngăn cản được cô ấy." Trình Uyên điềm tĩnh nói, "Mà Trang Văn Thái t.ử nhất định sẽ làm được vì cô ấy, ta và Cúc phu nhân, từ đó sẽ chia lìa." Hắn lại ngước nhìn Chân Chân: "Xin lỗi, ta không thể chịu đựng được việc chia lìa Cúc An." Chân Chân giận run người, ngầm siết chặt nắm tay kiềm chế cảm xúc, nhưng cơ thể vẫn không ngừng run rẩy: "Cho nên, ngươi không tiếc độc hại Trang Văn Thái tử!" Trình Uyên cười thê lương: "Cô nói xem, cô đừng nhớ nhung đi tìm nương cô thì tốt biết bao? Như vậy ta và Cúc An, cô và Trang Văn Thái tử, đều sẽ mãi mãi ở bên nhau." Trong khoảnh khắc phẫn nộ và bi thương cuộn trào như sông, Chân Chân chỉ thấy trước mắt từng đám mây đen kéo đến, suýt ngất đi, đúng lúc này Trương Tri Bắc hơi nghiêng người về phía nàng, cao giọng nhắc nhở: "Tư cung lệnh, án tình chưa rõ ràng, mong tiếp tục truy tra." Chân Chân lập tức ý thức được thân phận hiện giờ của mình, là Tư cung lệnh, quả thực phải chấp pháp công bằng, xử lý bình tĩnh, không để cảm xúc cuốn đi. Thế là nàng ngồi thẳng dậy, khôi phục vẻ điềm tĩnh, tiếp tục hỏi Trình Uyên: "Nọc rắn trên a giao châu điền Liễu Tiệp dư tặng cho Thái t.ử phi hiện giờ, là ngươi cung cấp cho bà ta?" "Đúng vậy." Trình Uyên nói, "Ngọc thị đến hỏi ta xin nọc rắn, hỏi kỹ liều lượng cần thiết để độc c.h.ế.t một người. Ta đoán được bà ta muốn dùng để hại Trang Văn Thái tử, khuyên bà ta hạ độc như vậy quá lộ liễu, rất khó che giấu, bà ta nói Tiệp dư tự có diệu kế, sẽ không bị ai phát hiện... Cuối cùng ta đưa nọc rắn cho bà ta, đồng thời cũng đưa t.h.u.ố.c giải tương ứng, bảo bà ta nếu hạ độc xong hối hận, có thể dùng t.h.u.ố.c giải để giải. Bảy viên, có thể cứu một nam t.ử trưởng thành. Sau đó... rõ ràng các ả đã không dùng t.h.u.ố.c giải." Chân Chân giận dữ quay sang nhìn Ngọc thị, nếu ánh mắt có thể hóa thành mũi tên nhọn, Ngọc thị đã sớm bị đ.â.m thủng lỗ chỗ, nhưng Ngọc thị không hề sợ hãi, lại còn nhìn Chân Chân cười khiêu khích: "Ngươi không phải muốn t.h.u.ố.c giải sao? Giờ có thể hỏi Trình Uyên mà lấy rồi." "Thuốc giải ta dùng hết rồi, nhưng biết cách phối chế, chỉ là hơi phiền phức..." Trình Uyên nói với Ngọc thị, "Bà có muốn biết không? Nghe nói Tứ Đại vương đã trúng độc ngất xỉu, nói ra thì bà và nó cũng có vài phần tình bà cháu, chi bằng đích thân mang vài vị t.h.u.ố.c giải cho nó." Hắn đi đến giữa lưới sắt trên hố rắn, ở đó có một lỗ vuông dùng để ném thức ăn, có nắp đóng mở, lúc này Trình Uyên dùng chân gạt nắp vuông ra, nhìn xuống dưới, rồi gọi Ngọc thị lại: "Thuốc giải chính là mấy loại thảo d.ư.ợ.c cộng sinh với rắn, bà xem, trong hố có mọc mấy cây đấy." Ngọc thị nghe vậy lại gần xem thử, vừa đi đến bên miệng lỗ, Trình Uyên bỗng ôm lấy bà ta nhét vào cái lỗ vuông đó, buông hai tay ra, Ngọc thị lập tức rơi xuống hố rắn. Trong nháy mắt vô số con rắn tụ lại, quấn lấy Ngọc thị c.ắ.n xé, Ngọc thị liều mạng vùng vẫy, hét lên t.h.ả.m thiết, tiếng sau to hơn tiếng trước, nhưng chẳng ích gì, rắn trên người ngày càng nhiều. Trương Tri Bắc và Chân Chân thấy vậy biến sắc, đều bước tới hố rắn hai bước, nhìn xuống tình hình bên dưới. Trương Tri Bắc do dự một chút, vẫy tay với cấm vệ phía sau, định bảo họ cứu Ngọc thị, Trình Uyên thấy vậy nói: "Bà ta bị nhiều rắn độc c.ắ.n như vậy rồi, kéo lên cũng không sống nổi, hà tất phải để cấm vệ mạo hiểm." Trương Tri Bắc bèn im lặng không nói gì nữa. Trình Uyên lại nói: "Bà ta độc hại Trang Văn Thái tử, mưu đồ trộm nước, tội đáng muôn c.h.ế.t. Tuy nhiên chuyện của bà ta liên quan đến Tề gia, Quan gia cũng chưa chắc muốn công khai giao cho Ngự sử đài, Đại lý tự hay Hình bộ xét xử, đa phần là một chén rượu độc cho xong chuyện, thế chẳng phải hời cho bà ta quá sao? Hình phạt như bây giờ, chắc Quan gia cũng sẽ cảm thấy, thích hợp với bà ta hơn." Chân Chân hỏi: "Ngươi đích thân xử t.ử Ngọc thị, là muốn tranh công với Quan gia, xin ngài ấy xử nhẹ cho ngươi?" "Không, vì ta hận bà ta." Trình Uyên nhàn nhạt nói, "Ta thực ra không hề muốn mưu đại nghịch... Thứ ta muốn, trước sau chỉ có Cúc An." Trương Tri Bắc truy hỏi hắn rốt cuộc còn t.h.u.ố.c giải không, hắn nói: "Hết rồi, t.h.u.ố.c giải mới phối lại, cũng không kịp cứu Tứ Đại vương nữa. Huống hồ, thứ cho ta nói thẳng, đứa trẻ này có quan hệ dây mơ rễ má với nhà họ Tề, nương ruột nó lại phạm tội mưu nghịch, không có kết cục tốt đẹp, liệu sau này nó có vì oán sinh hận, tiếp tục mối thù này không? Thay nương trả món nợ nghiệp chướng này, chưa chắc đã là không tốt." Trương Tri Bắc bèn im lặng. Thấy Chân Chân không nói gì, Trình Uyên lại mỉm cười với nàng, ôn tồn nói: "Nào, ta đưa cô đi gặp Cúc An." Tiếng kêu t.h.ả.m thiết của Ngọc thị yếu dần, Trương Tri Bắc để lại vài tên cấm vệ, lệnh cho họ lát nữa tìm người nuôi rắn đến, tìm cách lấy xác Ngọc thị ra, sau đó cùng Chân Chân dưới sự dẫn đường của Trình Uyên đi về phía hòn giả sơn xếp bằng đá núi bên ngoài. Cửa tiểu lâu trên núi mở toang, lúc này trời đã tối, trong lầu đã thắp mấy ngọn nến cung đình, Thu Nương đoan trang ngồi trong ánh nến ấm áp ấy, tĩnh lặng đợi họ đến. Thấy Chân Chân, mắt Thu Nương ánh lên niềm vui, đứng dậy đi đến trước mặt con gái, mỉm cười nói: "Chân Chân, cuối cùng nương cũng đợi được con rồi." Còn Chân Chân thầm dốc hết sức lực, mới kìm nén được xúc động muốn ôm chầm lấy nương, ôm nhau khóc rống lên, chỉ nhìn bà mỉm cười qua làn nước mắt, nhất thời không nói nên lời. Trương Tri Bắc đúng lúc bước lên, chắp tay với Thu Nương, giới thiệu Chân Chân: "Cúc phu nhân, đây là Tư cung lệnh Quan gia vừa bổ nhiệm hôm nay, cùng ta đến đây, đón phu nhân về cung." Thu Nương trong nháy mắt đã hiểu, chỉnh lại trâm cài bên tóc mai, ung dung hành lễ với Chân Chân: "Thứ nhân Cúc An, bái kiến Tư cung lệnh." Chân Chân kìm nén nỗi đau lòng lúc này, chỉ đưa tay hư đỡ, miệng nói: "Miễn lễ." Thu Nương ngẩng đầu lên, giữ một nụ cười nhẹ, nhìn Chân Chân không nói gì. "Các người đưa Cúc An về đi." Trình Uyên đứng sau lưng Thu Nương, nói với Trương Tri Bắc, "Mong Trương Đô tri và Tư cung lệnh đưa Cúc An xuống núi đợi một lát, ta thu dọn đồ đạc trong lầu một chút, rồi sẽ theo các người về cung." Trương Tri Bắc nói: "Trong cung cái gì cũng có, Trình tiên sinh cần gì phải mang theo hành lý." Trình Uyên nói: "Ta là người hoài cổ, dùng quen đồ cũ rồi, muốn sắp xếp lại mang đi luôn. Mong Trương Đô tri cho ta giữ lại chút thể diện này." Trương Tri Bắc cân nhắc đôi chút, cuối cùng gật đầu, cùng Chân Chân đưa Thu Nương xuống núi trước, còn Trình Uyên lúc Chân Chân quay người thì gọi nàng lại, hơi tránh Trương Tri Bắc và Thu Nương, nói nhỏ với Chân Chân: "Nương cô gả cho ta, là bất đắc dĩ. Lúc đó bà ấy vì cứu cô, chủ động đề nghị giao dịch với ta, nếu ta cứu cô thoát khỏi vườn Tụ Cảnh, đưa đến nơi an toàn, bà ấy sẽ gả cho ta. Cho nên đêm mưa bão ở vườn Tụ Cảnh, ta đã phái người lái thuyền đi cứu cô." Chân Chân mở to mắt nhìn hắn, lại quay đầu nhìn Thu Nương, kinh ngạc lẫn chua xót trào dâng, lòng đau như cắt, nhưng lúc này lại chỉ có thể cố gắng duy trì tôn nghiêm của Tư cung lệnh, nghiêm cấm mọi cảm xúc lộ ra ngoài. "Đối xử tốt với bà ấy." Trình Uyên dặn dò, "Sau này chỉ có cô mới bảo vệ được bà ấy thôi... Hãy nhớ, bất kể bà ấy đã làm gì, đều là vì yêu cô." Đợi nhóm người Chân Chân đi xa, Trình Uyên một mình đóng cửa tiểu lâu, chậm rãi đi tìm vò rượu ngon giấu trong lầu, mở vò rượu uống một ngụm, sau đó tưới rượu ra khắp nơi, và dội hết nửa vò còn lại lên người mình, cuối cùng đá đổ chân nến đứng bên cạnh, mấy ngọn nến cung đình lập tức châm lửa vào rượu và rèm trướng trong lầu, lan sang cả người Trình Uyên, ngọn lửa hừng hực cuộn trào, trong nháy mắt nuốt chửng lấy hắn. Chương 134 - Ngọc nát Liễu Lạc Vi lặng lẽ đi vào khu vườn phía sau tẩm các của mình, rẽ vài vòng trong hang động giả sơn, ấn vào một hòn đá Thái Hồ lõm vào mấy cái theo thứ tự trên dưới trái phải, rồi đẩy một cái, hòn đá bắt đầu chuyển động, lộ ra một đường hầm hẹp và dài phía sau. Liễu Lạc Vi thắp ngọn nến mang theo, bước vào đường hầm, đóng cửa hang lại, soi nến đi về phía trước. Đường hầm này thông ra chân núi phía bên kia núi Phượng Hoàng, cửa ra nằm ngoài cung thành, bị đá và dây leo che khuất, vô cùng kín đáo. Liễu Lạc Vi dò dẫm đi đến gần cửa ra, đã nhìn thấy ánh sáng bên ngoài, nhưng lòng lo lắng cho an nguy của con cái và Ngọc thị, nhất thời không biết nên đi đâu, bèn dừng bước, ngồi thẫn thờ chờ đợi. Im lặng chờ hồi lâu, mãi không thấy Ngọc thị đến tìm, Liễu Lạc Vi thấp thỏm không yên, ló đầu nhìn ra ngoài, thấy mặt trời đã lặn về tây, bóng tối dần buông, không khỏi hoảng hốt, linh cảm chẳng lành ngày càng nặng nề, bèn vạch dây leo, bước ra khỏi đường hầm, định xuống núi tìm nơi ẩn nấp. Vừa phủi bụi đất trên váy áo ngẩng đầu lên, liền thấy một nam t.ử đứng bên vách núi phía trước, quay lưng về phía nàng ta, đang cúi đầu nhìn xuống màn sương khói dưới thung lũng, tà áo bay bay trong gió chiều. Liễu Lạc Vi giật mình, lập tức quay người định trốn lại vào trong đường hầm, lùi lại quá gấp, chân giẫm phải một hòn đá, lảo đảo vài cái, va vào dây leo phát ra tiếng sột soạt. Nam t.ử kia nghe tiếng quay đầu lại, bốn mắt nhìn nhau, dường như không ngạc nhiên lắm, nhàn nhạt gọi một tiếng: "Tỷ tỷ." Liễu Lạc Vi mừng rỡ, cười tươi: "Hoằng Ninh!" Lâm Hoằng khẽ nhếch môi, nụ cười trông vô cùng gượng gạo. Liễu Lạc Vi dần cảm thấy khác thường, đi đến trước mặt chàng, hỏi: "Sao đệ lại ở đây?" "Ta đang đợi tỷ." Lâm Hoằng nói, "Hôm nay Thái t.ử nạp phi, ta cũng có trong danh sách khách mời, chuyện ở Đông Cung ta có nghe loáng thoáng. Nghe nói tỷ sai người mang t.h.u.ố.c đến Đông Cung, ta bèn đoán, có lẽ tỷ sẽ xuất hiện ở đây." Liễu Lạc Vi rùng mình cảnh giác: "Sao đệ lại nói vậy?" Lâm Hoằng đưa mắt nhìn về phía mật đạo sau lưng nàng ta: "Mật đạo này là lúc ta cải tạo khu vườn cho tỷ, tỷ bảo ta sắp xếp người đào, nói Phù Dung các nhiều hoa cỏ, sợ dễ xảy ra hỏa hoạn, xây mật đạo này cũng là thêm một con đường thoát thân. Lý do này gượng ép, nhưng ta vẫn xây cho tỷ, không ngờ tỷ thực sự dùng đến... Tỷ tỷ, tỷ quả nhiên đã dẫn đến một trận hỏa hoạn." Liễu Lạc Vi hoảng hốt hỏi: "Đệ biết những gì rồi?" Lâm Hoằng nói: "Trước khi Trang Văn Thái t.ử trúng độc nấm, Ngọc thị từng tìm ta xin bản đồ đường ống nước suối Đông Cung, sau đó Thái t.ử trúng độc, ta có chút nghi ngờ, nhưng tự nhủ với lòng, có lẽ chỉ là trùng hợp, không nên nghĩ nhiều. Nhưng sau khi Thái t.ử hoăng thệ, ta xây vườn cho tỷ, có một hôm sau cơn mưa từng phát hiện một chỗ mọc lên mấy cây nấm độc, đào chỗ đất đó lên xem, thấy có mấy đoạn xương rắn... Còn nhớ hồi nhỏ chúng ta cùng nhau đọc sách, có một cuốn sách ghi chép phương pháp dùng tro rơm rạ phủ lên rắn độc, k*ch th*ch nấm độc sinh trưởng. Tại sao trong vườn của tỷ lại có thứ này? Tỷ thực sự đang nghiên cứu phương pháp này sao? Mấy đoạn xương rắn này, có phải là do tỷ nuôi cấy nấm độc xong dọn dẹp không sạch còn sót lại không?" "Xương rắn gì cơ? Ta không biết..." Liễu Lạc Vi một mực chối bay chối biến, nhưng lại quay đầu đi chỗ khác, tránh ánh mắt của Lâm Hoằng. Trong lòng Lâm Hoằng rõ ràng đã có câu trả lời của riêng mình, chàng vẫn nhìn thẳng vào nàng ta, ảm đạm hỏi: "Tại sao ngươi phải mạo danh biểu tỷ của ta? Là vì thân phận này có thể khiến Quan gia lơ là cảnh giác sao? Tề nương tử?" Liễu Lạc Vi thấy chàng chắc chắn như vậy, hiểu rằng chàng ắt hẳn đã biết chân tướng, che giấu cũng vô ích, bèn im lặng, không nói một lời. Lâm Hoằng cười chua xót: "Bao nhiêu năm qua, tủi thân lắm phải không? Ẩn mình trong nhà kẻ thù, còn phải che giấu nỗi căm hận đầy lòng để chăm sóc con cái của hắn." "Không phải đâu, Hoằng Ninh!" Liễu Lạc Vi ngước đôi mắt đẫm lệ nhìn chàng, "Ta luôn coi đệ là đệ đệ ruột... không, có lẽ, còn thân hơn đệ đệ vài phần... Nương ta đúng là chỉ muốn dựa vào quan hệ nhà đệ để ta thuận lợi vào cung, nhưng trong lòng ta, đệ chính là người thân của ta, ta chưa bao giờ trút hận thù của cha ông lên người đệ." Thấy Lâm Hoằng không phản ứng gì, nàng ta đau khổ nói: "Mấy năm sống cùng đệ, là khoảng thời gian vui vẻ nhất đời ta, tuy thường xuyên bị nương đ.á.n.h mắng, nhưng chỉ cần thấy đệ bênh vực ta, an ủi ta, ta liền thấy lòng vui sướng, biết rằng trên đời này ít nhất còn có một người thật lòng yêu thương ta... Ta không muốn vào cung, nhưng nương khóc lóc khuyên ta, hết lần này đến lần khác kể lể t.h.ả.m trạng của ông nội và cha trước khi c.h.ế.t cùng di nguyện của họ, ta là hậu duệ của họ, thực sự không có cách nào thoát khỏi số mệnh báo thù cho họ... Biết tin trúng tuyển, đêm nào ta cũng khóc, ta muốn ở lại núi Vũ Di, mãi mãi ở bên đệ, nhưng ai bảo trong người ta chảy dòng m.á.u họ Tề chứ? Dùng cuộc đời mình để báo đáp công ơn dưỡng d.ụ.c của cha nương, là trách nhiệm đương nhiên của phận làm con mà..." Thấy trong mắt Lâm Hoằng thoáng qua tia sáng, nàng ta lau nước mắt lăn dài nói tiếp: "Ngày xuất phát đi Lâm An, thấy đệ chạy theo ta, lòng ta đau như cắt, tuy nhẫn tâm cắt đuôi đệ, nhưng về đến thuyền ta khóc đến đứt hơi, cảm thấy vạn niệm đều tro tàn, nếu không phải nương liều mạng ngăn cản, ta suýt nữa đã nhảy sông tự vẫn..." "Đừng nói nữa." Lâm Hoằng ngắt lời nàng ta, quay lưng về phía nàng ta, nhìn về dãy núi xanh thẫm phía xa, nói, "Ngươi đi đi. A Triệt đang đợi ngươi ở lưng chừng núi, sẽ đưa cho ngươi ít tiền bạc, tìm cách đưa ngươi ra khỏi thành. Hôm nay từ biệt, e rằng chúng ta sẽ không còn cơ hội gặp lại, bảo trọng." "Đệ đi cùng ta, được không?" Liễu Lạc Vi bỗng như nhìn thấy tia hy vọng, rảo bước đến trước mặt Lâm Hoằng, đôi mắt sáng lấp lánh nhìn chàng, "Chúng ta cùng đi, rời khỏi Lâm An, về núi Vũ Di, hoặc tìm một nơi khác không ai tìm thấy, như ngày xưa, bên nhau trọn đời..." Lâm Hoằng im lặng cụp mắt nhìn nàng ta, ánh mắt lạnh lùng, không vui không buồn. "Được không? Hoằng Ninh, đi cùng ta..." Liễu Lạc Vi dịu dàng cầu xin, như ngày thường làm nũng với Quan gia, nắm lấy tay Lâm Hoằng lắc lắc, thấy Lâm Hoằng không phản ứng, nàng ta lại đưa hai tay ôm lấy eo chàng, dựa vào n.g.ự.c chàng, rũ mi thì thầm, "Giờ đây chỉ có đệ, là người ta có thể yên tâm dựa vào..." Lâm Hoằng không ôm nàng ta, nàng ta ngược lại rất nhanh cảm nhận được cơ thể cứng đờ của chàng, ánh mắt nhìn xuống bàn tay buông thõng của Lâm Hoằng, chợt phát hiện, từ cổ tay trở lên của chàng, lại nổi lên một tầng da gà. Liễu Lạc Vi không dám tin nhìn kỹ, rồi mạnh bạo kéo tay áo Lâm Hoằng lên, lập tức phát hiện cả cánh tay chàng đều nổi da gà rõ rệt. Nàng ta đương nhiên biết rõ bệnh sạch sẽ của Lâm Hoằng, nếu có người ngoài chạm vào, chàng sẽ cảm thấy buồn nôn, cơ thể cũng theo đó nổi da gà, nhưng đó là với người ngoài mà. Còn nàng ta lớn lên cùng Lâm Hoằng, trước nay luôn thân thiết không kẽ hở, ở núi Vũ Di thường xuyên khoác tay đi dạo, ôm ấp cũng thường xuyên xảy ra, chàng chưa bao giờ có phản ứng này. Nhưng lớp da gà trên cánh tay chàng lúc này, rõ rành rành, đập vào mắt đến đau lòng. "Hoằng Ninh, đệ... ghét ta?" Liễu Lạc Vi hoang mang ngẩng đầu nhìn Lâm Hoằng, tràn đầy mong đợi chàng nói ra câu phủ nhận. Nhưng chàng không tỏ thái độ, chỉ điềm nhiên rút tay ra, thoát khỏi sự níu kéo của nàng ta. Ánh sáng trong mắt nàng ta vụt tắt, ngẩn ngơ lùi lại vài bước, im lặng một lát, rồi lấy từ túi lụa đeo bên hông ra một chiếc vòng ngọc phỉ thúy. "Đệ còn nhớ chiếc vòng này không?" Nàng ta mỉm cười hỏi Lâm Hoằng. Lâm Hoằng nhìn chiếc vòng nàng ta giơ lên, gật đầu. Đương nhiên nhớ, đây là chiếc vòng chàng tốn bao nhiêu ngày đêm, tỉ mỉ mài dũa từng chút một, để đền cho nàng ta. Sau này nàng ta ở vườn Tụ Cảnh công khai nói muốn tặng cho Chân Chân, vô hình trung đ.â.m cho Chân Chân một nhát d.a.o thấu tim. "Đệ nói, đây là miếng ngọc phỉ thúy đệ ngàn chọn vạn tuyển, điêu khắc mài dũa rất lâu mới làm thành chiếc vòng này, chính là để trả lại cho ta..." Khóe môi Liễu Lạc Vi nhếch lên, vẻ mặt châm chọc, giọng điệu bỗng trở nên vô cùng lạnh lùng, "Nhưng mà, đệ đã sớm quên tay ta to cỡ nào rồi đúng không?" Lâm Hoằng rùng mình, cố ý nhìn tay nàng ta. Liễu Lạc Vi cười lạnh: "Chiếc vòng này, ta đeo hoàn toàn không vừa, ngược lại Ngô Chân Chân kia, đeo vào vừa khít, không to không nhỏ... Đệ chắc hẳn đã nắm tay cô ta rất nhiều lần rồi nhỉ? Khắc ghi kích cỡ trong lòng, lại đem chiếc vòng cho ta mài dũa theo kích cỡ tay cô ta!" Trong lòng Lâm Hoằng cũng thầm kinh ngạc, hoàn toàn không ngờ kích cỡ chiếc vòng lại như Liễu Lạc Vi nói. Nhớ lại thì, lúc chàng cầm miếng ngọc ngày đêm cân nhắc, chính là lúc Chân Chân ở núi Vũ Di, Chân Chân theo chàng học nấu nướng, chàng khó tránh khỏi vô tình hay cố ý nhìn tay nàng vô số lần, quả thực rất quen thuộc với độ lớn bàn tay, độ thô của cổ tay nàng, có lẽ vì thế mà tiềm thức, vô tri vô giác đã mài chiếc vòng theo kích cỡ tay nàng? "Tại sao đệ không giải thích, không phủ nhận? Đệ không biết ta đang mong đợi đệ cho ta một lời giải thích sao? Dù là lừa dối ta cũng được..." Nước mắt Liễu Lạc Vi tuôn rơi như chuỗi hạt đứt dây, "Biết rõ đây không phải chiếc vòng làm cho ta, nhưng đệ đã tặng ta, ta vẫn mang theo bên mình mỗi ngày. Đến hôm nay mới phát hiện, hóa ra chiếc vòng này chỉ là bằng chứng đệ tự lừa mình dối người, còn tình ý của ta đối với đệ cũng chỉ là một trò cười!" "Mang nó đi đi." Cuối cùng Lâm Hoằng cũng mở miệng, "Nếu không thích, thì đem đổi lấy tiền, sau này sống ở bên ngoài, cũng cần chi tiêu..." Liễu Lạc Vi đưa chiếc vòng thẳng đến trước mặt chàng, nghiến răng nói: "Ta không cần." Lâm Hoằng không nhận, Liễu Lạc Vi giận quá hóa cuồng, vung tay ném mạnh chiếc vòng vào người Lâm Hoằng. Lâm Hoằng không đỡ cũng không tránh, chiếc vòng đập vào người chàng, rồi rơi xuống đất, va phải một hòn đá núi, theo một tiếng "keng" giòn tan, vỡ tan tành trong nháy mắt. Liễu Lạc Vi thở phào một hơi, cười khiêu khích với Lâm Hoằng, rồi ngẩng đầu đi về phía mật đạo lúc nãy đi ra. "Lạc Vi," Lâm Hoằng gọi với theo sau lưng nàng ta, "Đừng quay lại, quay lại họa phúc khó lường." "Là họa hay phúc, ta đều nguyện ý gánh chịu. Dù có c.h.ế.t, cũng phải c.h.ế.t bên cạnh con cái ta." Liễu Lạc Vi dứt khoát bước về con đường cũ, "Chúng nó mới là người thân của ta." Trở về Phù Dung các, Liễu Lạc Vi nhanh chóng bị nội thị bao vây trùng điệp, đưa vào tẩm các giam lỏng, xử lý tiếp theo phải đợi Quan gia hạ chỉ. Nhưng đây chưa phải là chuyện bi t.h.ả.m nhất đối với nàng ta, khi tin dữ con trai độc phát thân vong truyền đến, nỗi đau đớn kịch liệt Liễu Lạc Vi cảm nhận được gần như khiến nàng ta phát điên. "Tại sao? Ta đã cho người đưa t.h.u.ố.c giải cho Tứ ca, tại sao các người không cứu sống nó?" Nàng ta giận dữ túm lấy bất cứ ai nhìn thấy để hỏi, nhưng không một ai trả lời câu hỏi của nàng ta. Nàng ta c.h.ử.i bới, cào cấu, đập phá, gào khóc xé ruột xé gan trong không gian chật hẹp, không ai dám lại gần khuyên giải. Mãi đến giờ Hợi, Liễu Lạc Vi khóc đến kiệt sức, ngẩn ngơ dựa vào tường nửa tỉnh nửa mê, cánh cửa đóng chặt bỗng mở ra, một bà lão tóc bạc phơ xuất hiện ở cửa, xách một liễn hầm bước vào, theo sau là Trương Tri Bắc đưa bà đến. "Đào Sênh." Bà lão nhìn nàng ta qua làn nước mắt mờ mịt, mỉm cười gọi. Chân Chân về cung gặp Tống bà bà vẫn đang khóc lóc bên đường ngoài cửa Hòa Ninh, bèn đưa bà vào cung, bẩm báo với Hoàng đế chuyện ở vườn Thích An, lại kể câu chuyện của Tống bà bà và cháu gái. Hoàng đế vì Tứ hoàng t.ử c.h.ế.t yểu nên vô cùng đau buồn, tuy căm hận hành vi của Ngọc thị thấu xương, nhưng đối với Liễu Lạc Vi khó tránh khỏi có vài phần thương xót, lại nghe cháu ngoại Tống bà bà tìm kiếm bao năm nay chính là Liễu Lạc Vi, càng thêm thổn thức, đồng ý cho Tống bà bà đến Phù Dung các thăm Liễu Lạc Vi. Tống bà bà đề nghị muốn làm một bát canh cá cho cháu gái, Hoàng đế cho phép, để Chân Chân đưa bà đến bếp Thượng Thực Cục làm canh cá, mang đến Phù Dung các. Liễu Lạc Vi thần trí mơ hồ, không có phản ứng. Tống bà bà lấy bát múc canh cá ra, thử độ ấm, rồi dùng thìa bón vào miệng Liễu Lạc Vi. Liễu Lạc Vi mê man, vốn dĩ gần như vô tri giác, nhưng khi từng thìa canh cá trôi vào miệng, tròng mắt lờ đờ bỗng bắt đầu chuyển động. Nàng ta bối rối cố gắng nếm kỹ vị canh cá, rồi ngước mắt nhìn Tống bà bà, cau mày cảnh giác hỏi: "Bà là ai?" "Ta là bà ngoại của con, Đào Sênh." Tống bà bà mỉm cười khẽ nói. "Bà ngoại... nói hươu nói vượn, mau cút ra ngoài!" Liễu Lạc Vi thoáng nghi hoặc, rồi quát mắng Tống bà bà. "Có thấy mùi vị bát canh cá này rất quen thuộc không?" Tống bà bà vẫn từ ái nhìn nàng ta, chậm rãi nói, "Hồi con còn bé, ta thường làm canh cá cho con. Làm cho người khác, thịt cá thái lát, hoặc thái sợi, nhưng làm cho con thì đặc biệt tinh tế, thịt cá nghiền nát thành nhuyễn, nhặt xương kỹ càng, không còn một cái xương dăm nào... Măng tươi cũng thái nhỏ như râu rồng, canh nấu thơm ngon, không được quá mặn, không được quá chua... Nè, chính là mùi vị bát canh con đang uống đây, con nhớ ra chưa?" Đúng vậy, đây là mùi vị lưu lại trong ký ức ấu thơ xa xăm của Liễu Lạc Vi. Tuy cách biệt nhiều năm, nhưng khi nước canh trôi vào miệng, cảm giác quen thuộc ấy từng chút từng chút nổi lên từ sâu thẳm ký ức, như một chiếc chìa khóa, từ từ mở ra cánh cửa phủ bụi thời gian, những hình ảnh vụn vặt từ xa đến gần, dần dần hiện lên trong tâm trí: Bà lão hiền từ thổi thìa canh cá, rồi đưa đến bên miệng nàng... Bà lão cười nhìn nàng uống canh, thỉnh thoảng lấy tay áo lau vệt canh còn vương bên khóe miệng nàng... Nàng cười khanh khách uống canh, lỡ bị sặc, bà lão vội đặt bát canh xuống, đưa tay vuốt lưng cho nàng thuận khí... "Bà là ai?" Liễu Lạc Vi hỏi lại, giọng điệu dịu đi nhiều, nghe như chân thành dò hỏi. "Ta là Tống Ngũ nương, con là cháu ngoại Đào Sênh của ta." Tống bà bà nhẹ nhàng dẫn dắt nàng ta nhớ lại chuyện xưa, "Con rất thích hoa đào, ai cho con một bông, con liền cười rất vui vẻ. Sau này, nương con tự tay may cho con một chiếc chăn nhỏ, bên trên thêu rất nhiều hoa đào, ngày nào con cũng phải đắp chiếc chăn đó mới chịu ngủ, đặc biệt thích ngửi mùi chiếc chăn đó, mỗi lần đi ngủ, tay trái con đều phải nắm một góc chăn hoa đào, kéo lên mũi ngửi, rồi đưa ngón trỏ và ngón giữa tay phải vào miệng m*t mới ngủ được..." Vừa nói, Tống bà bà vừa kéo tay phải Liễu Lạc Vi lên, xem xét, nói: "Con xem, hai ngón tay này của tay phải con nhỏ hơn tay trái một chút, thói quen m*t tay này chắc là lớn lắm mới bỏ được phải không?" Mắt Liễu Lạc Vi ngấn lệ, lẩm bẩm: "Năm tuổi, năm tuổi mới bỏ được." Tống bà bà mỉm cười hỏi: "Chăn hoa đào đâu? Hôm Xuân Dung đưa con đi, chiếc chăn nhỏ này cũng biến mất, chắc chắn vẫn đi theo con chứ?" Liễu Lạc Vi vẫn theo bản năng trả lời: "Vẫn luôn theo con, dùng hơn mười năm, đến khi rách nát không dùng được nữa." Tống bà bà lấy tay áo lau khóe mắt: "Nếu nương con còn sống, còn có thể may cho con một chiếc chăn hoa đào nữa, nhưng mà..." Liễu Lạc Vi ngẩn ngơ nhìn Tống bà bà hồi lâu, rồi quay sang Trương Tri Bắc sau lưng bà, hỏi: "Chuyện này rốt cuộc là sao?" Trương Tri Bắc bước lên, thuật lại chuyện cũ Ngọc thị nhắc tới trước khi c.h.ế.t, lại kết hợp với lời giải thích trước đó của Chân Chân, kể lại chân tướng thân thế cho Liễu Lạc Vi nghe. Liễu Lạc Vi sững sờ im lặng hồi lâu, bỗng ôm đầu hét lên một tiếng thê lương. Tống bà bà nước mắt đầm đìa ôm lấy nàng ta, vỗ nhẹ lưng nàng ta như dỗ dành trẻ thơ an ủi: "Không sao rồi, qua hết rồi, bà và Đào Sênh lại gặp nhau rồi..." Liễu Lạc Vi rúc vào lòng bà, bắt đầu khóc hu hu. Tống bà bà rơi lệ, vẫn cố gắng cười khích lệ với nàng ta: "Đào Sênh đừng sợ, sau này ngày nào bà cũng đến thăm con, con muốn ăn gì cứ bảo bà, bà làm cho con. Mì xào, bánh in Tô Châu, bánh ngũ vị, bánh trôi nước đều là món con thích, con còn nhớ không?" Liễu Lạc Vi không đáp, khóc đến đứt từng khúc ruột trong lòng bà. Hai bà cháu ôm nhau khóc, qua một canh giờ, dưới sự khuyên giải của Trương Tri Bắc mới tách ra. Trương Tri Bắc muốn đưa Tống bà bà rời đi, Liễu Lạc Vi đứng dậy đi theo Tống bà bà, Trương Tri Bắc bảo nàng ta dừng bước, Liễu Lạc Vi rưng rưng cầu xin: "Trương Đô tri, ta muốn tiễn bà ngoại ta." Trương Tri Bắc thấy nàng ta đáng thương, bèn đồng ý cho nàng ta tiễn bà ngoại ra đến ban công bên ngoài tẩm các. Khi Tống bà bà sắp bước xuống bậc thang rời đi, Liễu Lạc Vi lại bước lên vài bước gọi bà lại, mỉm cười nói với bà: "Bà ơi, con còn một đứa con gái, tên là Như Anh..." Trương Tri Bắc nghe vậy nói: "Công chúa hôm nay nghỉ ngơi ở tẩm các của Hoàng hậu, xin nương t.ử yên tâm." Liễu Lạc Vi gật đầu, tiếp tục nói với Tống bà bà: "Bà ơi, sau này bà thường xuyên đến thăm Như Anh nhé, nó cũng thích ăn mấy món điểm tâm đó." Tống bà bà liên tục nhận lời, lại bảo gió đêm lạnh, bảo Liễu Lạc Vi sớm về phòng, đừng để bị cảm lạnh. Liễu Lạc Vi vâng dạ, nhưng không quay người vào, mà cứ đứng nhìn theo Tống bà bà mãi. Đợi bóng dáng Tống bà bà khuất hẳn trong tầm mắt, nàng ta mới đau đớn ngẩng đầu, chớp mắt nhìn vầng trăng lưỡi liềm lạnh lẽo trên trời cao, rồi đột ngột xoay người, lao nhanh đến bên lan can, vượt qua lan can, nhảy xuống. Dưới ánh trăng lạnh lẽo, nàng ta mặc đồ trắng như một con bướm đêm màu xám, dang rộng đôi cánh xoay tròn rơi xuống, rơi bên hồ nước nóng ngày xưa chải tóc ngâm chân, m.á.u b.ắ.n ra trong màn đêm màu sắc thẫm lại, như mực tàu loang ra dải lụa đen trong làn nước ấm. Chương 135 - Chuyện cũ Biết tin Liễu Lạc Vi c.h.ế.t, Chân Chân dẫn người đến xem xét, khâm liệm, dọn dẹp hiện trường, rồi đến điện Phúc Ninh, bẩm báo tình hình liên quan cho Quan gia, mọi việc xử lý đâu ra đấy, không chê vào đâu được. Trong một ngày trải qua nỗi đau mất con thơ, kinh hoàng nghe tin con trưởng c.h.ế.t oan, biết được âm mưu và cái c.h.ế.t của sủng thiếp, Quan gia cũng sức cùng lực kiệt, vừa giận vừa thương vừa đau đớn đan xen, nhất thời khóc không ra nước mắt, dưới ánh nến hốc mắt ngài sâu hoắm, tiều tụy hốc hác, ngồi ủ rũ cúi đầu, như già đi mấy tuổi chỉ sau một đêm. Lẳng lặng nghe Chân Chân bẩm báo xong, ngài nhắm đôi mắt đỏ ngầu, hồi lâu sau phất tay ra hiệu cho Chân Chân lui ra, nhưng khi Chân Chân định quay người rời đi, ngài lại mở miệng, hỏi: "Còn chuyện Trương Vân Kiều, ngươi tra rõ chưa? Hắn đang ở đâu?" Chân Chân quay lại đối diện với ngài, từ từ cụp mắt, cúi người nói: "Chuyện này đã có manh mối, nhưng chi tiết còn phải hỏi Cúc phu nhân, thiếp đi hỏi bà ấy ngay đây, sáng sớm mai, có thể tâu rõ mọi chuyện với Quan gia." Lúc này đã qua giờ Tý, Chân Chân ra lệnh đưa Thu Nương đến bếp Thượng Thực Cục, rồi cho lui hết những người khác, chỉ giữ Thu Nương ở lại một mình với nàng. Đợi nội thị đưa Thu Nương vào đóng cửa lánh ra xa, Thu Nương liền quay đầu nhìn Chân Chân, mắt ngấn lệ khẽ gọi một tiếng "Chân Chân", nhưng Chân Chân chỉ cười nhạt, không gọi bà là "nương" như Thu Nương mong đợi, mà chỉ gọi bà là "Cúc phu nhân". Thu Nương không khó nhận ra sự lý trí và xa cách nàng muốn giữ gìn qua giọng điệu, bèn ảm đạm ánh mắt, vẫn cung kính hành lễ: "Tư cung lệnh vạn phúc." "Cúc phu nhân, ta tìm được Trương Quốc y rồi." Chân Chân nói thẳng thắn, không ngoài dự liệu phát hiện vẻ kinh ngạc lộ ra trên mặt Thu Nương, dừng một chút, tiếp tục bình tĩnh nói, "Ta tìm thấy ông ấy rồi, Quốc y Trương Vân Kiều. Ta mời ông ấy tạm thời đợi chúng ta ở viện Đại Thạch Phật, bà có muốn đi gặp ông ấy không?" Mặt Thu Nương xanh mét, c.ắ.n môi, không trả lời. Chân Chân thấy vậy không truy hỏi tiếp chuyện đó, ánh mắt chuyển sang bể nước nuôi cá trong bếp, dường như đổi chủ đề: "Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết dâng lên một số nguyên liệu quý, trong đó có không ít cá nóc, mà Thượng Thực Cục sẽ không làm cá nóc cho quý nhân ăn, nên tạm thời nuôi chúng trong bể nước. Cúc phu nhân, Tống bà bà nói đã dạy bà làm cá nóc rồi, bà có thể làm một lần cho ta xem không? Dùng đúng cách bà nấu cá nóc năm xưa ấy." Thu Nương im lặng hồi lâu, rồi chậm rãi đi đến bên bể nước, nhìn những con cá nóc tươi sống bên trong, cuối cùng trả lời: "Được." Chân Chân chuẩn bị dụng cụ bếp núc cho bà, Thu Nương rửa sạch tay, vớt một con cá nóc từ trong bể ra, một tay giữ, tay kia cầm d.a.o thành thạo cắt vây, đuôi và miệng cá, sau đó nhẹ nhàng lột da cá, bỏ mắt và nội tạng, đựng vào bát, để ở nơi xa thớt, rồi rửa sạch thịt cá, cũng không quên rửa sạch thớt và dao, đổi một cái thớt và d.a.o khác chưa chạm vào cá nóc để xử lý thịt cá, tiếp theo thái thịt cá làm gỏi, xương cá hầm canh, mọi quy trình giống hệt Tống bà bà dạy Chân Chân, không có chút sơ hở nào. Gỏi cá nóc mỏng như lụa được Thu Nương bày thành hình hoa quỳnh, đựng trong đĩa lưu ly dâng đến trước mặt Chân Chân, nước canh trắng sữa trong nồi đất sôi sùng sục, bắt đầu tỏa ra mùi cá thơm ngon. Thu Nương bưng bát đựng nội tạng, đi đến thùng gỗ đựng rác nhà bếp, đổ nội tạng đi, quay lưng về phía Chân Chân đặt bát xuống, bỗng nhiên bịt miệng, ho khan một tràng. Chân Chân thấy đêm khuya lạnh lẽo, sợ bà vì thế mà bị cảm lạnh, vội cởi áo khoác ngoài công phục của mình đi tới khoác cho bà, Thu Nương lập tức từ chối, nhưng Chân Chân kiên quyết buộc dây áo cho bà, Thu Nương đành lặng lẽ chấp nhận. Đợi mặc áo xong, quay lại xem màu nước canh trong nồi, đợi thêm chút nữa, thấy được rồi, bèn múc hai bát, tự mình nếm trước một bát, rồi bưng bát kia cho Chân Chân. Toàn bộ quá trình bà xử lý cá nóc Chân Chân đều thu vào đáy mắt, biết không có vấn đề gì, Chân Chân bèn bưng bát uống một ngụm, đôi mắt luôn dán chặt vào Thu Nương, quan sát biểu cảm của bà. Thu Nương thấy thế, gượng cười, nói: "Con yên tâm, không có độc đâu." Chân Chân đặt bát canh xuống, lấy ra một chiếc hộp sứ nhỏ đẩy đến trước mặt Thu Nương, nhìn thẳng vào bà, bình tĩnh hỏi: "Vậy thì, tại sao Trương Quốc y lại biến thành một bộ xương trắng?" Thu Nương buồn bã không nói, Chân Chân lại nói: "Ta nhờ người đào hài cốt ông ấy lên từ dưới luống hoa Kim Đăng ở hậu viện tửu lâu của Tống bà bà, để tránh tai mắt người đời, đành để ông ấy tạm thời nằm trong rương gỗ, đưa về Lâm An. Hiện giờ ông ấy đang ở viện Đại Thạch Phật, chờ đối chất với bà." Thu Nương nhìn chằm chằm chiếc hộp sứ giây lát, đưa tay cầm lấy mở ra, thấy bên trong có hai cái xương cá đã ngả màu vàng đen. "Cái này tìm thấy ở đốt ngón tay phải của Trương Quốc y, trước khi lâm chung ông ấy nắm chặt chiếc hộp sứ này, hộp sứ rất kín, nên xương cá bên trong bảo quản được đến tận bây giờ." Chân Chân giải thích với bà, lại hỏi, "Xương này là xương cá nóc phải không? Tống bà bà nói khi bà rời phủ Ninh Quốc là lúc giao mùa xuân hạ, lúc đó, chính là lúc cá nóc độc nhất." Thu Nương vẫn không nói một lời. Chân Chân tiếp tục truy hỏi: "Tại sao bà đột ngột rời phủ Ninh Quốc? Đêm trước khi đi, tại sao Tống bà bà lại nghe thấy tiếng bà khóc? Mấy năm nay, tại sao bà không nấu cá nóc nữa? Thậm chí nhắc cũng không cho người khác nhắc? Tống bà bà nói bà xử lý cá nóc đã rất thành thạo rồi, từng làm cho Trương Quốc y ăn nhiều lần. Vậy thì, tại sao lại thành ra thế này? Bà đang sợ cái gì?" "Đừng hỏi nữa, Chân Chân." Thu Nương bỗng ngẩng đầu lên, vẫn nhìn con gái dịu dàng như ngày nào, mỉm cười với nàng, "Con muốn biết tất cả, bây giờ nương có thể nói cho con. Nhưng đây là một câu chuyện dài, mong con kiên nhẫn lắng nghe." Chân Chân gật đầu, ngồi đối diện với Thu Nương, chăm chú chờ đợi câu chuyện tiếp theo của bà. "Ta tên là Cúc An, là một cô nhi không cha không nương, từ nhỏ đã trôi dạt qua tay nhiều bà nương nuôi khác nhau, chịu đủ mọi sự bắt nạt, may mà ta múa cũng khá, được Tiên đế để mắt, trở thành Cúc Bộ đầu của Tiên Thiều viện..." Thu Nương ung dung kể về chuyện cũ, giọng điệu bình thản, không lộ vui buồn, như đang kể một truyền thuyết xa xưa không liên quan đến mình, "Tiên đế đối xử với ta rất tốt, ban cho ta rất nhiều y phục châu báu, nhưng thứ ta muốn nhất là tình yêu mà, còn ngài ấy đối với ta cứ lúc gần lúc xa, cũng không nạp ta làm tần ngự, ta không xác định được ngài ấy có yêu ta không, bèn hết lần này đến lần khác thử lòng, đòi ngài ấy mẫu đơn Lạc Dương, hoa quỳnh Dương Châu, đòi rất nhiều thứ Lâm An không có, lại rất khó có được. Bây giờ nhìn lại, chuyện đó thực sự rất trẻ con, nhưng lúc đó ta cũng không biết làm thế nào mới dò biết được ngài ấy có thực sự trân trọng ta hay không, chỉ có thể ấu trĩ đưa ra yêu cầu hết lần này đến lần khác như vậy. Những thứ ngài ấy tìm được đều tìm về cho ta, nhưng nghe ta đòi hoa quỳnh, thì bảo vận chuyển tốn kém sức dân tiền của, hơn nữa vận chuyển về cũng khó sống, cần gì phải làm điều thừa thãi. Ta bèn giận dỗi với ngài ấy, Hoàng hậu lúc đó, tức Thái hậu bây giờ nhân cơ hội trừng phạt ta, ta bèn tuyệt thực, cuối cùng ép Tiên đế phải đích thân đến thăm ta, dỗ dành ta..." "Chuyện này ta có nghe loáng thoáng." Chân Chân nói, "Bà và Lưu Tư thiện, quen nhau từ lúc đó sao?" "Quen từ sớm rồi, dù sao cô ấy cũng là người bên cạnh Tiên đế." Thu Nương đáp, "Có điều sau khi ta tuyệt thực Tiên đế mới bảo cô ấy đến làm đồ ăn cho ta. Ban đầu ta không thích cô ấy, luôn tỏ thái độ lạnh nhạt, nhưng tính cô ấy có nét giống con, suốt ngày cười hì hì, vừa thấy ta là cười, cứ như con thỏ nhảy nhót quanh ta, hỏi ta muốn ăn gì. Ta không để ý, cô ấy liền làm đủ món ngon dụ dỗ ta. Sau này nhìn cái vẻ ngốc nghếch vui vẻ đó nhiều, ta cũng quen, cô ấy mà có hôm không đến, lại thấy nhớ nhớ. Ngày qua ngày, chuyện trò giữa chúng ta dần nhiều lên, ta vốn tưởng cô ấy cũng thích Tiên đế như ta, quen thân rồi mới biết, hóa ra người cô ấy yêu là Trương Vân Kiều." "Lúc đó bà cũng quen Trương Quốc y chứ?" Chân Chân hỏi. Thu Nương gật đầu: "Ta giận dỗi với Tiên đế, nằm liệt giường không dậy, Tiên đế bèn bảo ông ấy đến khám. Các thái y khác đối với ta đều khách sáo, thậm chí có vài phần cung kính, còn người này ấy à, khác hẳn, lần đầu tiên khám cho ta, đã làm một bài thơ châm biếm ta giả bệnh tranh sủng: 'Không ban ân huệ chỉ ban y, Một thoáng hương xông đã tái tê. Tuy múa tay áo nào từng múa, Thường trước gió xuân lệ đầm đìa.' Ta rất tức giận, định đuổi ông ấy ra, ông ấy cũng chẳng vừa, cảnh cáo thẳng thừng ta phải ăn uống t.ử tế, nếu không ông ấy sẽ đưa bài thơ này cho các ca vũ kỹ khác trong Tiên Thiều viện truyền hát, bảo đây là phương pháp trị tận gốc bệnh của ta... Mấy con tiện nhân trong Tiên Thiều viện kia, đứa nào cũng mong ta thất sủng, nếu để bọn họ thấy bài thơ này thì còn ra thể thống gì? Ta nghe ông ấy nói vậy tức điên người, nhưng lại không có cách phản kích, sau này dưới sự khuyên giải của Lưu Tư thiện, ăn uống dần trở lại bình thường." Tưởng tượng ra cảnh Trương Vân Kiều uy h.i.ế.p Cúc phu nhân, Chân Chân không nhịn được cười, nhưng ngay sau đó lại nảy sinh một chút nghi hoặc: "Có phải từ đó bà chú ý đến ông ấy, rồi nảy sinh tình cảm không?" "Không có." Thu Nương nói, "Lúc đó chỉ thấy rất ghét ông ấy, cũng không hiểu sao Minh Sơ lại thích ông ấy, thấy cô ấy yêu ông ấy c.h.ế.t đi sống lại, thậm chí cố tình nếm độc, chỉ để có cơ hội được ông ấy chữa trị, ta đã mắng cô ấy tơi tả, nói xấu Trương Vân Kiều không biết bao nhiêu lần, nhưng Minh Sơ chẳng nghe lọt tai câu nào, sau này ta đành bỏ cuộc, mặc kệ họ vậy, miễn sao Minh Sơ vui là được, thậm chí còn tìm cớ mời Trương Vân Kiều đến khám bệnh, để tạo cơ hội cho họ gặp nhau, quan hệ với Trương Vân Kiều nhờ đó cũng dần hòa hoãn... Tiên đế trước đó từng nói khi ta mặc áo đỏ múa điệu Lương Châu, dải lụa xoay tròn, tà áo bay bay, giống như một đóa hoa Bỉ Ngạn (Mạn Thù Sa Hoa) nở rộ, ta không biết hoa đó trông thế nào, thấy Trương Vân Kiều học thức uyên bác, bèn hỏi thăm ông ấy. Trương Vân Kiều nói ông ấy cũng chưa từng thấy, nhưng sẽ tìm loài hoa này cho ta... Minh Sơ nếm độc suýt c.h.ế.t, Trương Vân Kiều cứu cô ấy về, bọn họ vốn đã mến mộ nhau, lần này không kìm được thổ lộ với nhau, lén lút định tình, lại bị Tiên đế phát hiện. Bọn họ dưới sự trợ giúp của Hoàng tử, tức Quan gia hiện giờ bỏ trốn, trốn trong một tiểu viện trên núi. Còn ta lúc đó vì nhiều lần cãi lại Thái hậu, bị trách phạt liên tục, bèn xin xuất cung, để tìm sự thanh tịnh. Tiên đế đồng ý, ban cho ta một khu vườn để ở, hứa sẽ thỉnh thoảng đến thăm ta... Ta xuất cung xong, dần dần liên lạc được với Minh Sơ, thỉnh thoảng trao đổi tin tức. Sau đó, Trương Vân Kiều và Hoàng t.ử mật mưu, giả vờ vì bỏ trốn cùng Lưu Tư thiện, muốn đầu quân cho Tề Tuân để tìm sự che chở, Tề Tuân bảo ông ấy hại c.h.ế.t Gián quan Lâm Dục để tỏ lòng trung thành, chuyện thành quả nhiên thu nhận ông ấy, để ông ấy chữa bệnh cho mình, kết quả Trương Vân Kiều nhân cơ hội chữa c.h.ế.t Tề Tuân, việc này dẫn đến việc ông ấy và Minh Sơ bị nhà họ Tề truy sát. Còn ta..." Nói đến đây, Thu Nương thần trí hoảng hốt, ánh mắt ảm đạm, trầm ngâm hồi lâu mới tiếp tục kể: "Có một lần ta đến chùa Linh Ẩn dâng hương, gặp Thái hậu, vì không hành lễ với bà ta mà bị hoạn quan bên cạnh bà ta đ.á.n.h đập, ta cười lạnh với Thái hậu, nói mỗi vết thương trên người ta đều sẽ trở thành lý do Quan gia chán ghét bà ta. Thái hậu bèn sai người đưa ta vào một thiền phòng, riêng tư hỏi ta: 'Ngươi có biết tại sao ngài ấy mãi không nạp ngươi không?' Ta không đáp, bà ta lại hỏi: 'Có phải ngài ấy từng nói với ngươi, ngài ấy coi ngươi, như muội muội không?' Ta rất ngạc nhiên, vì Tiên đế quả thực từng nói như vậy, Thái hậu liền cười chế giễu ta, ghé vào tai ta nói: 'Ngài ấy nói thật đấy, ngài ấy chỉ coi ngươi, là muội muội thôi.'" "Muội muội?" Chân Chân ngẫm nghĩ, lại nhớ đến chuyện Tiên đế say rượu trước đêm đính hôn của Trưởng công chúa mà Bùi Thượng thực từng kể, lờ mờ hiểu ra, "Ý của Thái hậu là, Tiên đế coi bà là thế thân của Trưởng công chúa?" Thu Nương cười khổ, nói: "Khi ta gặp Tiên đế, Trưởng công chúa đã qua đời nhiều năm, nghe nói cô ấy chỉ là một cô gái dân gian, vì ham vinh hoa phú quý mà giả mạo Trưởng công chúa mất tích trong chiến loạn ở phương Bắc, nên bị đ.á.n.h c.h.ế.t. Nhưng mà, cận thị bên cạnh Tiên đế, thi thoảng nhắc đến cô ấy vẫn gọi là Trưởng công chúa, nói cô ấy khí chất cao nhã, một thân ngạo cốt như hoa mai, trong lời nói không hề cho rằng cô ấy là giả mạo... Ta cũng nghe Thái hậu nói vậy mới nghĩ, ta và vị Trưởng công chúa kia, trong mắt người khác, có lẽ đúng là có vài điểm tương đồng... Thái hậu thấy ta sững sờ trong giây lát, liền đắc ý nói toạc ra: 'Ngươi tưởng ngươi được muôn vàn sủng ái, là trân bảo trong lòng trong mắt ngài ấy, nào ngờ đâu, ngươi chỉ là một món đồ giả vô giá trị. Ngươi không cha không nương, không địa vị, không quyền thế, tình yêu từng tưởng rằng mình có hóa ra cũng chỉ là một trò cười, từ đầu đến cuối, vẫn luôn trắng tay. Còn ta trước kia là Quý phi, bây giờ là Hoàng hậu, sau này sẽ là Hoàng thái hậu, thiên thu vạn đại, được thần dân tôn trọng, tông miếu thờ Phượng, ngươi có tư cách gì cười nhạo ta? Có cái gì để đe dọa ta?'" Chân Chân chợt hiểu, đây chính là lời nói tru tâm mà Thái hậu từng kể với nàng là đã nói cho Cúc phu nhân nghe. Thấy Cúc phu nhân giờ nhớ lại vẻ mặt vẫn bi thương, không khó đoán lời này năm xưa đả kích bà nặng nề đến mức nào. Thu Nương buồn bã cụp mắt, nói tiếp: "Ta vạn niệm đều tro tàn, chỉ cảm thấy sự sủng ái từng tưởng rằng mình có chẳng qua chỉ là giấc mộng nam kha, bị bà ta chọc một cái, là vỡ tan... Ta không muốn gặp lại Tiên đế nữa, đúng lúc Minh Sơ trước khi rời Lâm An đến từ biệt ta, ta bèn cầu xin cô ấy đưa ta đi cùng, và cô ấy đã đồng ý, thuyết phục Trương Vân Kiều đưa ta đi cùng... Lúc đó, cô ấy đã m.a.n.g t.h.a.i rồi..." Thu Nương ngước đôi mắt đẫm lệ, nhìn vào đôi mắt giống hệt Minh Sơ của Chân Chân, mỉm cười nói: "Đúng vậy, đứa bé trong bụng Minh Sơ chính là con, cô ấy mới là nương ruột của con." Chương 136 - Yêu thương nhau Sự thật mà Thu Nương nói đối với Chân Chân đã chẳng còn là bí mật, nàng tuy không muốn chấp nhận, nhưng lý trí đã sớm buộc nàng phải thừa nhận sự thật này. Giờ nghe chính miệng Thu Nương nói ra, Chân Chân vẫn thấy nỗi bi thương trào dâng khó tả, cảm giác như mình và nương đang nương tựa vào nhau bị một thế lực vô hình nào đó tàn nhẫn chia cắt. Nàng sợ Thu Nương nhìn thấy cảm xúc của mình, càng sợ nhìn thấy nỗi đau đớn sâu sắc hơn của bà lúc này, bèn quay đi, tự nhắc nhở bản thân về trách nhiệm hiện tại, ép mình phải bình tĩnh. Một lúc lâu sau nàng mới quay lại nhìn Thu Nương, hỏi bằng giọng điệu bình thản như thường: "Sau đó mọi người cùng nhau trốn khỏi Lâm An? Lưu Tư thiện bị nhà họ Tề phát hiện và bắt đi như thế nào? Lúc đó bà và Trương Quốc y có mặt ở đó không?" Thu Nương cụp mắt, buồn bã nói: "Chúng ta trốn đến một ngôi làng gần Thiệu Hưng trước, mai danh ẩn tích mấy tháng, đợi Minh Sơ sinh con. Ngôi làng đó rất nhỏ, cũng không có người kinh thành đến lục soát, lâu ngày, chúng ta cũng không còn cảnh giác như lúc mới trốn ra nữa, Trương Vân Kiều bắt đầu nhận lời khám bệnh cho dân làng, ta cũng thỉnh thoảng đến thị trấn gần đó mua một số vật dụng trong làng không có. Mấy ngày sau khi con đầy tháng, Trương Vân Kiều lại đi khám bệnh ở làng bên, ta định đi thị trấn mua cho con mấy bộ quần áo mới, Minh Sơ bỗng nhiên xin ta cho cô ấy đi cùng, nói ở cữ bí bách quá, rất muốn ra ngoài hít thở không khí. Cô ấy nài nỉ mãi, ta thấy cô ấy vốn khỏe mạnh, lúc đó sắc mặt cũng tốt, nên đồng ý, bèn thuê một chiếc xe bò, bế con, đưa cô ấy, cùng đi thị trấn. Ta sợ cô ấy mệt, đi dạo chưa bao lâu, liền bảo cô ấy bế con vào một quán trà nghỉ ngơi, ta tiếp tục đi mua đồ, không ngờ lúc đang xem quần áo trẻ con trước cửa một cửa hàng, bỗng có một người mặc công phục nội thị cưỡi ngựa lao về phía ta, đôi mắt nhìn chằm chằm ta, đầy sát khí. Nhìn màu áo rất giống người của Trình Uyên, đầu óc ta ong lên một tiếng, vứt quần áo bỏ chạy... Lúc mới trốn khỏi chỗ ở tại Lâm An, Trình Uyên từng đích thân dẫn một số nội thị truy bắt ta, cũng không biết là Phượng mệnh Tiên đế hay Thái hậu. Lúc đó ta trốn trong bụi hoa bên hồ Tây, nhìn ngựa của hắn phi nhanh qua, vẻ mặt hắn lúc đó nghiêm nghị xen lẫn vài phần lo lắng, mày nhíu chặt, ánh mắt trông rất sắc bén, khiến ta rùng mình, lúc đó đã nghĩ, thà c.h.ế.t cũng không thể rơi vào tay hắn..." "Vậy người truy bắt bà ở thị trấn, là do Trình Uyên phái đến sao?" Chân Chân hỏi. Thu Nương thở dài: "Lúc đó ta đinh ninh là vậy, liều mạng chạy trốn, may mà đường xá thị trấn nhỏ quanh co khúc khuỷu, có nhiều ngõ hẻm, ta rẽ ngang rẽ dọc tạm thời cắt đuôi được người đó, quay lại quán trà. Ta bảo Minh Sơ nội thị dưới trướng Trình Uyên sắp đến bắt ta rồi, cô ấy lập tức bế con định đi theo ta, nhưng vừa ra đến cửa liền nghe thấy tiếng vó ngựa từ xa vọng lại, nghe tiếng thì lần này không chỉ một người. Chúng ta lại rụt về, trốn lên lầu quán trà. Chúng ta động tĩnh quá lớn, đ.á.n.h thức con đang ngủ say, con khóc ré lên, ta và Minh Sơ càng sợ hãi, lo tiếng khóc của con thu hút sự chú ý của kẻ đến, mà sau đó tiếng vó ngựa quả thực ngày càng gần, mắt thấy sắp đến quán trà rồi. Minh Sơ lúc này bỗng nói với ta, cô ấy và Trình Uyên bình thường quan hệ cá nhân cũng khá tốt, lúc cô ấy trốn khỏi cung từng chạm mặt hắn một lần, mà hắn nhắm mắt làm ngơ, không ngăn cản cô ấy, cho nên nếu người đến là người của Trình Uyên, chắc cũng sẽ tha cho cô ấy, cho dù không tha, đợi quay về gặp Trình Uyên, cô ấy cầu xin một phen, Trình Uyên đa phần cũng sẽ thả cô ấy về. Nói xong những lời này, những người cưỡi ngựa kia đã đến trước cửa quán trà, có người xuống ngựa, định vào trong xem xét. Minh Sơ lập tức giục ta cởi áo ngoài đổi cho cô ấy, rồi nhét đứa bé vào lòng ta, bản thân mặc áo của ta chạy xuống lầu lao ra ngoài, quả nhiên thu hút sự chú ý của đám người đó, đều quay đầu đuổi theo cô ấy, rời khỏi quán trà. Ta nấp sau cửa sổ tầng hai quan sát tình hình bên ngoài, bỗng nhiên có một người ghìm cương quay đầu nhìn lại quán trà, trong khoảnh khắc đó ta phát hiện người đó lại là thị vệ từng được Tề Tuân phái đi hộ tống ta đến nhà riêng của ông ta dạy con gái ông ta múa hát..." Chân Chân nghe đến đây cũng lạnh sống lưng: "Vậy là những người này do nhà họ Tề phái đến?" Thu Nương nhắm mắt gật đầu, hồi lâu sau mới kể tiếp: "Sau này ta mới nghĩ ra, nhà họ Tề trong cung cũng có không ít tai mắt, cho nên hoạn quan đến truy bắt chúng ta chưa chắc đã là người của Trình Uyên, mà trà trộn cả ưng khuyển của nhà họ Tề... May mà người đó chỉ nhìn một cái, rồi lại đuổi theo hướng Minh Sơ chạy. Ta đợi bọn họ đi xa quán trà, bế con lặng lẽ trốn đi từ cửa sau... Ta biết Minh Sơ chạy như vậy không thể nào thoát khỏi sự truy bắt của nhiều người thế, cũng không có gan đi tìm cô ấy, bèn bế con chạy một mạch về làng..." Chân Chân nhớ lại t.h.ả.m trạng nương ruột bị nhà họ Tề xử t.ử như lời Ân Kỳ kể, nhất thời bi phẫn đan xen, tim đau nhói, nhìn nương nuôi trước mặt, biết cái c.h.ế.t của nương ruột bà ấy phải chịu một phần trách nhiệm, nhưng nghĩ đến thân thế và hoàn cảnh lúc đó của bà ấy, lại không nỡ trách cứ, cuối cùng chỉ lạnh lùng hỏi bà: "Bà về xong có nói thật chuyện này cho Trương Quốc y biết không?" "Ta về đến nơi lòng rối như tơ vò, không biết phải đối mặt với ông ấy thế nào, nhanh chóng thay áo của Minh Sơ ra, giấu đi. Đợi Trương Vân Kiều về, ta kể cho ông ấy chuyện chúng ta bị truy đuổi, nhưng không dám kể hết sự thật, chỉ bảo ông ấy ta bế Chân Chân đi mua quần áo, Minh Sơ một mình ở lại quán trà nghỉ ngơi, đợi ta về quán trà, từ xa nhìn thấy cô ấy bị mấy nội thị bắt đi..." Thu Nương nói, "Ông ấy nghe xong như phát điên định lao ra ngoài cứu Minh Sơ, ta khuyên can thế nào cũng không nghe, bỏ mặc ta và đứa bé chạy thẳng về Lâm An. Mấy ngày sau, ông ấy ủ rũ trở về, nói ông ấy nghe ngóng được tin tức của Minh Sơ từ bạn bè ở ngoại thành Lâm An... Cô ấy đã bị nhà họ Tề xử t.ử rồi." "Cho nên, bà cùng ông ấy mang theo ta tiếp tục chạy trốn?" Chân Chân hỏi. "Phải. Lúc đó Tề Tuân c.h.ế.t chưa lâu, thế lực nhà họ Tề rắc rối khó gỡ, nhất thời không thể diệt trừ, bè đảng vẫn tiếp tục truy sát Trương Vân Kiều, ông ấy không về được Lâm An, lại sợ người lần trước bắt Minh Sơ quay lại lùng sục, chỉ có thể cùng ta mang theo con tiếp tục chạy." Thu Nương nói, "Chúng ta đổi hướng, chạy một mạch đến Tuyên Châu, tức phủ Ninh Quốc bây giờ, mới an cư lạc nghiệp." "Tống bà bà kể cho ta chuyện lúc đó," Chân Chân bảo bà, "Nói bà không biết nấu nướng, không biết làm món gì cho hai cha con ta ăn, nên mới đi học bà ấy." "Đúng vậy." Thu Nương cười khổ, "Trước khi chạy trốn, ta chưa từng vào bếp, biết nấu cơm là gì đâu... Càng chưa từng chăm trẻ con, thậm chí còn rất ghét trẻ con, nghe tiếng trẻ con khóc là thấy phiền, chỉ muốn nhét miếng giẻ vào mồm nó." Chân Chân có chút ngạc nhiên, không nhịn được nói: "Nhưng mà, trong ký ức của ta, bà luôn là một người nương rất dịu dàng, không chỉ với ta, mà với các tỷ tỷ ở Thích Trân lâu cũng rất tốt." "Bởi vì con đã thay đổi ta." Thu Nương lại ngẩng đầu nhìn Chân Chân, ánh mắt ấm áp, nhưng nụ cười nhạt bên khóe môi lại khá chua chát, "Ta cảm thấy vô cùng có lỗi với Minh Sơ, nên một lòng muốn chăm sóc con cho tốt, nhưng hoàn toàn không ngờ, nuôi một đứa trẻ sơ sinh lại vất vả đến thế... Con ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn, một đêm thức mấy lần, lần nào dậy cũng khóc long trời lở đất, đòi ăn, mà không chịu đợi một khắc nào, luôn làm ta thức giấc, đành phải mò mẫm trong đêm hâm sữa dê hoặc nước cơm cho con ăn, tròn một năm trời không được ngủ một giấc trọn vẹn... Lại nghe nói trẻ con chỉ uống sữa dê và nước cơm thì không lớn nổi, nên đi đến đâu, ta cũng gõ cửa từng nhà hỏi xem con dâu nhà ai đang cho con bú, có thể cho con b.ú nhờ một chút không... Có lúc con b.ú xong, ta vừa bế lên con đã trớ sạch sữa ra, sau này nghe mấy bà từng nuôi con bảo mới biết, hóa ra cho trẻ con b.ú xong phải bế dựng lên vỗ nhẹ lưng, vỗ cho ợ hơi ra mới không dễ bị trớ... Ngoài ra, ngày nào cũng có núi tã lót và quần áo phải giặt, thời gian đầu, ngày nào ta cũng mệt muốn khóc, có lúc không kìm được mà nghĩ, chắc là vì chuyện Minh Sơ mà tạo nghiệp lớn lắm mới vớ phải cái rắc rối to đùng này... Cho đến một đêm nọ..." Nhớ lại chuyện đêm đó, giọng bà càng thêm dịu dàng, nụ cười sâu hơn: "Lúc đó con hơn hai tháng tuổi, nửa đêm tỉnh dậy, ta vẫn như mọi khi mơ màng dậy hâm sữa cho con. Đợi con b.ú xong, ta ngồi đầu giường, mắt nhắm mắt mở bế dựng con lên, để con tựa vào vai ta, vỗ ợ hơi cho con. Vỗ vỗ một hồi, con bắt đầu ợ, 'ợ' một tiếng, nghe như tiếng chim non kêu... Ợ xong, con vốn đang tựa vào vai trái ta, bỗng nhiên hai tay chống lên vai ta, cái cổ non nớt chưa cứng cáp run rẩy ngóc đầu lên, mở đôi mắt đen láy tròn xoe nhìn ta một cái, rồi khuôn mặt bầu bĩnh trượt sang bên phải, đầu mềm nhũn đập vào vai phải ta, ngủ ngon lành. Con cứ thế vô tư vô lo giao phó hoàn toàn bản thân cho ta, thân thiết dựa dẫm vào ta, ta bỗng nhiên rung động, rõ ràng rất vui, nhưng sống mũi lại cay cay, ôm chặt lấy con, cảm nhận được một niềm hạnh phúc ươn ướt, trĩu nặng trong lòng như sắp mưa." Chân Chân nhìn đuôi lông mày đượm ý cười của Thu Nương lúc này, ánh sáng lấp lánh như sao trong mắt bà, cũng cảm nhận được niềm "hạnh phúc ươn ướt" của người làm nương trong khoảnh khắc bà kể, khó khăn lắm mới từ bỏ ý định đưa tay ôm bà, tiếp tục nhàn nhạt hỏi: "Lúc đó Trương Quốc y thì sao? Ông ấy không chăm con à?" "Ông ấy..." Thu Nương ngập ngừng một lát, mới nói, "Ban đầu vì chuyện Minh Sơ, tâm trạng ông ấy không tốt, rất suy sụp, ta cố gắng làm hết việc nhà, không lấy chuyện con cái làm phiền ông ấy. Sau này ông ấy phấn chấn lên, lại bắt đầu khám bệnh cho người ta, kiếm tiền nuôi gia đình, cũng bận rộn hơn, không có nhiều thời gian ở bên con... Ta theo Tống Ngũ nương học nấu ăn, mua lại căn nhà nhỏ của bà ấy, làm hàng xóm với bà ấy. Bà ấy ngày thường cũng hay giúp ta trông con. Khi con hai tuổi, một hôm, Ngũ nương bỗng nhiên trước mặt ta và Trương Vân Kiều hỏi con: 'Cha, nương và bà, con thích ai nhất nào?' Con cười khanh khách, không chút do dự lao vào lòng ta, nói: 'Nương.'... Đúng vậy, từ khi con bắt đầu tập nói, đã gọi ta là 'nương', thật ra ta không cố ý dạy con, nhưng con cứ tự nhiên như thế, gọi ta như vậy... Ngũ nương lại hỏi, 'Lát nữa cha con đi thị trấn chơi, mua nhiều kẹo lắm, con có đi theo cha không hay ở lại với nương nào?' Con vẫn cười ôm chặt lấy ta, không thèm nhìn cha con lấy một cái, miệng liến thoắng nói: 'Nương, nương, nương...'" Nói đến đây, Thu Nương hé nụ cười, nhưng lại cúi đầu lau đi giọt nước mắt nơi khóe mắt, bịt miệng, một lúc sau mới nói tiếp: "Khoảnh khắc đó, ta chợt nhận ra, ta không còn cô đơn nữa, cuối cùng cũng có một người, toàn tâm toàn ý yêu ta rồi... Con ôm ta cười, ta lại vui đến muốn khóc to, chỉ có thể ôm lấy con, vùi đầu xuống, lặng lẽ rơi nước mắt vào lòng con." Chân Chân không kìm nén được nữa, đưa tay lau nước mắt tuôn rơi, một lát sau mới cất tiếng hỏi, giọng đã khàn đi: "Vậy những ngày tháng bình yên đó kết thúc như thế nào? Trước khi rời phủ Ninh Quốc, giữa bà và Trương Vân Kiều, đã xảy ra chuyện gì?" Thu Nương im lặng hồi lâu, cuối cùng cũng bắt đầu trả lời: "Hơn hai năm trước đó, tuy chúng ta sống chung dưới một mái nhà, nhưng luôn giữ khoảng cách, chia phòng mà ngủ. Ông ấy vốn không phải người nhiệt tình, lại trải qua chuyện Minh Sơ, càng ít nói, giữa chúng ta, ngoài những chuyện cần thiết phải nói, thì chẳng còn gì để nói. Tuy nhiên, ở chung lâu ngày, thấy ta toàn tâm toàn ý chăm sóc con, ông ấy cũng khá tin tưởng ta, hoặc là, coi như người nhà, tiền khám bệnh kiếm được đều đưa hết cho ta, để lo chi tiêu trong nhà. Ta lấy một phần, phần còn lại muốn trả cho ông ấy, để ông ấy giữ lại chút phòng thân, ông ấy lại đẩy hết cho ta, nói bình thường ông ấy chẳng có việc gì cần dùng đến tiền, nếu thật sự cần, sẽ hỏi ta... Ông ấy không biết nấu nướng, nhưng có một hôm, khi ta đưa cho ông ấy một bộ quần áo mới may, ông ấy có vẻ hơi cảm động... Chiều hôm đó, con đang ngủ, ta đang chuẩn bị bữa tối trong bếp, ông ấy bỗng đi vào, lặng lẽ giúp ta thái rau, nhưng đây không phải việc ông ấy giỏi, thái vài cái đã đứt tay. Ta vội lấy vải băng bó cho ông ấy, nắm tay ông ấy băng bó rất lâu, băng xong ngẩng đầu lên, phát hiện ông ấy đang ngẩn người nhìn ta, ông ấy chưa bao giờ nhìn ta bằng ánh mắt đó, ta bị ông ấy nhìn đến tim đập chân run, quay người định đi, ông ấy lại kéo giật ta lại, hôn ta... Sau đó, sau đó..." Thấy bà nhất thời không nói tiếp được, Chân Chân do dự, vẫn hỏi: "Hai người thành thân rồi?" Thu Nương tạm thời không trả lời thẳng, mà đổi cách nói khác: "Ông ấy là người đàn ông đầu tiên của ta, cũng là người cuối cùng... Dù là Tiên đế hay Trình Uyên, đều chưa từng chung chăn gối với ta... Tuy Trình Uyên cưới ta, nhưng đêm tân hôn, hắn nói với ta, tên chúng ta cùng xuất hiện trên hôn thư là hắn mãn nguyện rồi, hắn cũng như Tiên đế, tình càng gần càng rụt rè, sẽ không mạo phạm ta đâu. Sau đó, hắn rời khỏi phòng tân hôn." "Vậy cha ta, không cho bà một hôn lễ sao?" Chân Chân nghĩ ngợi rồi hỏi, "Bà có thích ông ấy không?" Thu Nương cười nhạt: "Ở chung lâu ngày, tình cảm ít nhiều cũng có chút đỉnh, có điều, khi ông ấy ôm ta, ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu ta lại là: Thế này cũng tốt, ta có thể thực sự trở thành nương của Chân Chân rồi..." Chân Chân không biết nói gì, lặng lẽ cụp mắt. Thu Nương lại nói: "Ông ấy muốn cho ta một hôn lễ, nhưng ta cảm thấy mấy năm nay người ngoài thấy chúng ta sống chung, đã sớm coi chúng ta là phu thê, nếu còn tổ chức hôn lễ, chắc chắn sẽ khiến người ta nghi ngờ dò hỏi, dễ sinh chuyện, chi bằng cứ lặng lẽ sống tiếp thôi. Ông ấy nghĩ ngợi rồi bảo, dù thế nào, cũng nên có một nghi thức, chúng ta có thể tự bái thiên địa ở nhà. Ta đồng ý, chúng ta bèn quyết định ba ngày sau bái đường... Hai ngày sau đó, ngày nào ông ấy cũng hớn hở ra ngoài mua hỷ phục và đồ dùng liên quan, ta cũng mua rất nhiều nguyên liệu thượng hạng, chuẩn bị tự tay làm một bữa tiệc cưới thịnh soạn... Trong đó, có món cá nóc ông ấy thích ăn..." Tim Chân Chân chùng xuống, vẫn ngầm mang hy vọng hỏi Thu Nương: "Hôm đó là do bà nấu nướng sơ suất, không phải cố ý, đúng không?" Thu Nương cười thê lương, nói: "Một ngày trước hôn lễ, ta nhớ tới Minh Sơ, lại cảm thấy vô cùng có lỗi với cô ấy, con gái, chồng mà ta có, thực ra đều là của cô ấy... Nhân lúc cha con ra ngoài, ta lấy bộ quần áo năm xưa Minh Sơ đổi cho ta ra, tế bái cô ấy ở sân sau, xin lỗi cô ấy, nói vì ta mà hại cô ấy rời bỏ thế gian, nhưng ta sẽ dốc hết sức chăm sóc tốt cho người nhà của cô ấy, xin cô ấy yên tâm, sớm ngày đầu thai, xin cho phép ta đốt bộ quần áo đó cho cô ấy, từ nay về sau ta sẽ chôn chặt bí mật này trong lòng, dùng phần đời còn lại để chuộc lại lỗi lầm xưa kia... Nhưng lúc này Trương Vân Kiều bỗng từ sau lưng ta lao tới, giật lấy bộ quần áo đó... Ông ấy về sớm, nghe thấy những lời ta nói với Minh Sơ." Chân Chân không khỏi mở to mắt, có thể tưởng tượng ra sự giận dữ của cha lúc đó: "Ông ấy tưởng bà bán đứng nương ta?" Thu Nương gật đầu: "Ông ấy giận dữ mắng mỏ ta, nói ta lòng dạ rắn rết, chắc chắn là cố ý dụ Minh Sơ ra ngoài, giao cô ấy cho người nhà họ Tề... Ta cầu xin ông ấy nghe ta giải thích, nhưng ông ấy không nghe, cứ hỏi dồn ta có phải ghen tị với Minh Sơ, là ghen tị Tiên đế sủng tín cô ấy hay vì muốn cướp ông ấy từ bên cạnh Minh Sơ..." Nhớ đến đây, Thu Nương không kìm được cười lạnh một tiếng: "Nghe thấy suy đoán này, ta thật sự dở khóc dở cười, hóa ra sự chăm sóc tận tình của ta dành cho ông ấy mấy năm nay, sự hiến thân sau đó, đều trở thành bằng chứng ta yêu ông ấy, muốn cướp ông ấy từ bên cạnh Minh Sơ, rồi hại c.h.ế.t Minh Sơ!" "Cho nên..." Chân Chân hỏi, "Sự võ đoán của ông ấy khiến bà oan ức, rồi nảy sinh sát tâm?" "Không phải vì cái đó." Thu Nương thở dài, "Lúc đó ta đầy bụng oan ức, phẫn uất, nhưng cũng chưa hận đến mức muốn g.i.ế.c ông ấy, chỉ nghĩ hôn lễ coi như bỏ, bỏ thì bỏ, ta cũng chẳng quan tâm... Nhưng, cha con rất nhanh đi vào nhà, bế con định đi ra ngoài, ta mới sợ đến mất hồn mất vía, lao tới chặn ông ấy lại, hỏi ông ấy định đưa con đi đâu. Ông ấy nói ông ấy sẽ không cho phép kẻ hại c.h.ế.t vợ mình chạm vào con gái mình nữa, ông ấy muốn đưa con rời khỏi nơi này, vĩnh viễn không cho ta gặp lại con..." Nói đến đây, nước mắt Thu Nương tuôn rơi như suối, nói: "Ta kéo tay áo ông ấy quỳ xuống, cầu xin ông ấy đừng chia cắt chúng ta, ta có thể làm nô làm tỳ để chuộc tội, chỉ cần cho ta tiếp tục ở bên con. Nhưng ông ấy hoàn toàn không nghe lọt tai, gạt tay ta ra định đi, còn con sợ quá khóc òa lên, liều mạng vươn tay về phía ta, không ngừng gọi 'nương'... Con khóc xé ruột xé gan, ta dốc hết sức giằng con lại từ tay ông ấy, hỏi ông ấy đã bao giờ trông con trọn vẹn một ngày chưa, có biết con thích ăn gì không thích ăn gì, thích gì sợ gì, cái gì không được chạm vào, chạm vào sẽ nổi mẩn đỏ không... Ông ấy không trả lời được, nhưng vẫn định cướp con về. Ta đành vừa khóc vừa nói với ông ấy Chân Chân đói rồi, dù có đi, cũng đợi ta nấu cho hai cha con một bữa cơm t.ử tế đã, hai người cũng phải thu dọn hành lý chứ, qua đêm nay rồi hãy đi. Cha con thấy con lúc đó khóc thương tâm quá, ôm chặt lấy ta không buông, đành thỏa hiệp, đồng ý ở lại đêm nay, hôm sau sẽ đi." Chân Chân nhìn ra màn đêm đen đặc ngoài cửa sổ, chỉ thấy tay chân lạnh toát, giọng nói cũng hơi run: "Cho nên, bà làm cá nóc cho ông ấy, cố ý không làm sạch hết độc tố..." "Ban đầu ta không hề nghĩ đến việc dùng cá nóc hại ông ấy, quá trình làm cá nóc vẫn luôn rất cẩn thận, như mọi khi." Thu Nương nói, "Nhưng khi ta làm xong canh cá nóc, chuẩn bị bưng ra, thì phát hiện ông ấy đang thu dọn đồ đạc của con, quần áo giày tất ta từng đường kim mũi chỉ may cho con, bát nhỏ thìa nhỏ con dùng hàng ngày, con búp bê vải, cái trống bỏi ta bế con ra phố để con tự chọn... đều bị ông ấy nhét vào tay nải... Con sợ sệt nhìn ông ấy mặt lạnh tanh làm những việc đó, cứ trốn sau lưng ta, mếu máo gọi 'nương'... Nhìn ông ấy từng chút từng chút xóa sạch dấu vết của con trong nhà, nghĩ đến việc cuối cùng con cũng sẽ bị ông ấy cướp khỏi ta, khiến ta đời này kiếp này không bao giờ gặp lại con nữa, ta thực sự sắp điên rồi, bèn quay người lại, bưng bát đựng nội tạng cá nóc, chắt ra một ít máu, nhỏ vào trong canh." Thu Nương lấy hai tay che mặt, che đi đôi mắt đẫm lệ, cũng tránh nhìn thấy biểu cảm của Chân Chân lúc này, một lát sau lại nói: "Đêm đó, chúng ta ăn bữa tối khá bình lặng. Trước kia mỗi lần ăn cá nóc, ta đều uống canh trước, đợi một lúc không thấy lạ gì mới để ông ấy ăn, nhưng hôm đó, ta không nếm trước, ông ấy cũng chẳng thấy lạ, tự mình lặng lẽ uống canh, cũng ăn chút thịt cá. Ăn xong con ngủ trước, ông ấy tiếp tục thu dọn hành lý, một lúc sau, ông ấy bỗng lảo đảo xông vào phòng ta, hỏi ta có phải cá nóc ta cho ông ấy ăn có độc không, ta không trả lời, chỉ tránh né ông ấy lại gần, ông ấy giận dữ muốn túm lấy ta, ta đóng cửa chạy ra ngoài. Lát sau quay lại, thấy ông ấy ngã trên đất, đã tắt thở, nhưng hai tay nắm chặt, gân xanh nổi lên, mắt không nhắm, vẫn trừng trừng nhìn ta, có thể thấy hận ta thấu xương..." "Ông ấy nắm tay, cũng không hoàn toàn biểu thị sự tức giận." Chân Chân nhắc nhở Thu Nương nhìn chiếc hộp sứ nhỏ đã đưa ra trước đó, nói cho bà biết một sự thật, "Ông ấy nắm chặt chiếc hộp sứ trông như đựng t.h.u.ố.c này trong lòng bàn tay, bên trong niêm phong hai cái xương cá nóc, lưu lại bằng chứng để người ta suy đoán nguyên nhân cái c.h.ế.t của ông ấy." "Hừ," Thu Nương cười lạnh, "Không hổ là Trương Quốc y, lúc ngàn cân treo sợi tóc vẫn nghĩ đến việc lưu lại bằng chứng." "Ông ấy c.h.ế.t rồi, bà có buồn không?" Chân Chân lại hỏi, "Tống bà bà nói đêm đó nghe thấy tiếng bà khóc, bà khóc, là vì đau lòng, hay là sợ hãi?" "Nhìn thấy t.h.i t.h.ể ông ấy, ta có chút sợ hãi, nhưng không khóc, chỉ cảm thấy mờ mịt, không biết nên làm gì. Ta trở về phòng ông ấy, lấy từng món đồ của con ông ấy đã dọn ra, bỗng nhiên phát hiện, bên cạnh tay nải này, còn có một hộp gỗ, trước kia chưa từng thấy, chắc là ông ấy mang về hôm đó. Ta mở ra xem, bên trong là mấy củ rễ cây, trong hộp còn có một tờ giấy, trên đó vẽ một cây hoa Kim Đăng màu đỏ, bên cạnh viết bốn chữ - Mạn Thù Sa Hoa. Lúc đó, ta mới hiểu, hóa ra năm xưa ta hỏi ông ấy Mạn Thù Sa Hoa là hoa gì, ông ấy vẫn luôn nhớ, âm thầm tìm kiếm cho ta, nay cuối cùng cũng tìm được, vốn là định tặng ta trước hôn lễ, làm quà tặng... Ta cảm xúc lẫn lộn, chỉ thấy tạo hóa trêu ngươi, tại sao lại để ta gặp phải một đoạn tình cảm sai trái như vậy... Ta khóc một trận lớn trong mưa gió đêm đó, rồi đào luống hoa lên, kéo ông ấy vào, đặt mấy củ rễ Mạn Thù Sa Hoa đó lên n.g.ự.c ông ấy, rồi lấp đất lại." "Chỗ đó sau này mọc lên một vạt Mạn Thù Sa Hoa đỏ rực như máu," Chân Chân nói, "Giống như vạt hoa yêu dị ta thấy trong vườn Thích An sau này." "Vườn Thích An..." Thu Nương lẩm bẩm, "Đúng vậy, Trình Uyên cũng luôn tìm Mạn Thù Sa Hoa cho ta... Năm xưa ở trong cung, ta đã nhận ra sự quan tâm khác thường hắn dành cho ta, nhưng ta chỉ thấy bất an, chưa bao giờ đáp lại hắn. Sau này bị hắn giam cầm, ta cũng chưa bao giờ cho hắn sắc mặt tốt, cho đến khi biết con vì chuyện Trang Văn Thái t.ử mà có thể bị xử tử, mới dùng hôn sự làm giao dịch, cầu xin hắn tìm cách cứu con. Để lấy được lòng tin của hắn, ta kể cho hắn nghe những chuyện xảy ra mấy năm nay, bao gồm cả nguyên nhân cái c.h.ế.t của cha con, hắn thấy ta đến chuyện tày trời như vậy cũng nói với hắn, mới bỏ sự đề phòng, cứu con ra, còn cho phép ta, gặp con một lần..." Thu Nương cười thê lương: "Có cái thóp này, hắn đương nhiên không sợ ta nói chuyện nhiều với con, bảo con tìm cách đưa ta rời khỏi hắn, nếu không hắn có thể nói cho con biết chân tướng cái c.h.ế.t của cha con, đó mới là nguyên nhân khiến con hoàn toàn rời bỏ ta." Chân Chân nhìn sâu vào mắt Thu Nương, hỏi: "Vậy tại sao bây giờ bà lại thẳng thắn nói cho ta biết tất cả những chuyện này?" Thu Nương cũng nhìn nàng, mỉm cười chậm rãi hỏi: "Con đã đoán được quá nửa rồi... Xin hỏi... Tư cung lệnh... người định xử lý ta... thế nào?" "Bà g.i.ế.c hại mệnh quan triều đình, tội này đã vượt quá phạm vi xử phạt của Tư cung lệnh." Chân Chân bình tĩnh nhìn nương nuôi nói ra quyết định của mình, "Ngày mai ta sẽ bẩm báo chuyện này với Quan gia, trước tiên xóa tên bà khỏi cung tịch, sau đó giao vụ án này cho Ngự sử đài hoặc Hình bộ xét xử. Tội của bà, sẽ do họ định đoạt." Thu Nương vẫn giữ nụ cười, chớp mắt: "Được." "Xin lỗi," Chân Chân tạ lỗi với bà, giải thích thêm, "Ta trước đó đã thề với Quan gia, thân là Tư cung lệnh, phải xét xử công bằng, không trái luật pháp, không thiên vị tình riêng, không mưu cầu tư lợi. Lúc này chúng ta, không phải nương con, ta chỉ có thể làm việc theo cung quy." "Ta... hiểu... con làm, đúng..." Thu Nương cười nói, nhưng giọng nói đứt quãng, phát âm cũng trở nên mơ hồ không rõ, dường như hơi chóng mặt, cơ thể cũng bắt đầu lảo đảo. Chân Chân nhận ra sự khác thường, rảo bước tới, đỡ lấy Thu Nương ngay khi bà sắp ngã. "Nương, nương sao thế?" Một dự cảm chẳng lành ập đến, nàng cuối cùng cũng vứt bỏ mọi gông cùm, gọi Thu Nương như ngày xưa, lo lắng quan sát bà. Thu Nương mỉm cười đưa tay sờ mặt Chân Chân, cố gắng điều khiển cái lưỡi đang dần tê dại, nói: "Vừa nãy ta, đã nuốt... một cái... mật cá..." Mật cá! Chân Chân chợt nhớ tới tràng ho khan của Thu Nương lúc trước, lập tức hiểu ra lúc đó bà quay lưng về phía nàng, lặng lẽ lấy mật cá nóc từ bát nội tạng nuốt xuống, và bây giờ, độc tố bà uống đã bắt đầu phát tác. Chân Chân nhẹ nhàng đặt bà xuống, hoảng hốt đứng dậy, lục lọi khắp nơi trong bếp: "Rau cải, ngải cứu, mầm sậy... Nương đợi chút, Tống bà bà nói mấy loại rau này nấu với cá nóc sẽ không trúng độc, con tìm cho nương giải độc!" "Vô dụng thôi, đừng tìm nữa..." Thu Nương đưa tay về phía Chân Chân, "Để ta chuộc tội... như thế này... rất tốt..." Giờ không phải mùa ngải cứu và mầm sậy, Chân Chân lục lọi trong hoảng loạn mà chẳng được gì, đành quay lại bên cạnh Thu Nương, vừa khóc vừa ôm lấy bà. "Ta không muốn... con khó xử..." Thu Nương muốn lau nước mắt cho Chân Chân, nhưng tay vừa giơ lên chút đã buông thõng xuống, rõ ràng đã dần mất kiểm soát tứ chi, ngay cả hơi thở cũng trở nên khó khăn. Chân Chân nhìn khuôn mặt dần mất đi huyết sắc của nguời đã nuôi mình trong lòng, cảm nhận cơ thể bà cứng đờ từng chút một, dường như chính mình cũng bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt cổ họng, đau đến mức sắp ngạt thở. Ngọn nến cung đình chập chờn, ánh sáng lúc tỏ lúc mờ trong tiếng gió lạnh lúc rạng sáng đập vào khung cửa sổ, Chân Chân nhắm đôi mắt đẫm lệ, từng cảnh tượng nương ở bên mình hiện lên trong tâm trí: Mùa hè nàng nằm ngủ trưa trên chiếu trúc, nương cầm quạt tròn, tỉ mỉ tìm từng con muỗi con ruồi nhỏ xíu, đuổi chúng ra khỏi màn... Mùa đông nàng vui vẻ theo bạn đi học, nương đuổi theo, nhét cái lò sưởi tay ấm áp vào tay nàng... Nương thổi thìa cháo còn bốc hơi nghi ngút, bón từng thìa cho nàng đang ốm trên giường... Nàng hoảng sợ khóc thét trong căn bếp bốc cháy, nương lao vào biển lửa, bế bổng con gái lên... Nàng ôm nương trong tiểu lầu vườn Thích An kể lể nỗi đau mất đi người yêu, nương đáp lại bằng cái ôm ấm áp, cho nàng dũng khí sống tiếp... "Nương, nương ơi, con không muốn nương c.h.ế.t..." Chân Chân ôm chặt lấy Thu Nương, hối hận vì sự vô tình mình vừa thể hiện với bà, khóc không thành tiếng, "Bây giờ con là Tư cung lệnh, con chỉ có thể tuân thủ luật pháp đạo nghĩa, đưa ra sự sắp xếp đó cho nương. Nhưng mà, sau giờ Ngọ hôm nay, con sẽ từ nhiệm, cởi bỏ bộ công phục này, con vẫn là con gái Chân Chân của nương, con sẽ cầu xin Quan gia khoan dung cho nương, cầu xin Hoàng hậu, Nhị Đại vương, Thẩm Tham chính, cầu xin tất cả những người con quen biết nói giúp cho nương. Nếu Ngự sử đài, Hình bộ vẫn không chịu tha cho nương, phán nương tội c.h.ế.t, dù có phải cướp ngục, con cũng sẽ liều mạng cứu nương, rồi đưa nương đến Quảng Châu, đến Nhai Châu, đến nơi không ai biết chúng ta, chúng ta làm lại nương con..." "Không cần đâu..." Thu Nương đã không thể nhếch khóe môi cười với Chân Chân được nữa, nhưng ánh mắt vẫn dịu dàng, nhìn cô con gái nước mắt đầm đìa cố gắng nói ra lời trăn trối cuối cùng: "Cảm ơn con, đã ở bên ta... mười sáu năm... Mười sáu năm, chúng ta... yêu thương... nhau, không chút tạp niệm." Chương 137 - Ngô thị ở Phố Giang Triệu Ngai biết cuộc thẩm vấn đêm nay không bình thường, nên cùng Trương Tri Bắc túc trực bên ngoài nhà bếp Thượng Thực Cục. Cuộc đối thoại của hai nương con trong phòng chàng đều nghe được phần lớn, cuối cùng nghe thấy tiếng Chân Chân khóc òa lên, chàng vội vã bước vào, kiểm tra đồng t.ử và hơi thở của Thu Nương, biết đã vô phương cứu chữa, liền bảo Trương Tri Bắc mời thái y đến kiểm nghiệm, chuẩn bị khâm liệm. Chàng lặng lẽ ở bên Chân Chân, đợi nàng khóc một hồi lâu mới khẽ khàng khuyên: "Hôm nay nàng mệt quá rồi, chuyện ở đây cứ giao cho ta, khẩu cung của Cúc phu nhân ngày mai ta sẽ bẩm báo với Quan gia, nàng về nghỉ ngơi trước đi." Chân Chân nghe vậy sững người, rồi kìm tiếng nấc, nhẹ nhàng đặt Thu Nương trong lòng xuống, lau khô nước mắt, đứng dậy nói: "Bây giờ ta đi ghi lại khẩu cung của Cúc phu nhân." Triệu Ngai định khuyên thêm, nàng xua tay, bước về phía sảnh đường Thượng Thực Cục, bỏ lại một câu: "Đây là chức trách của ta." Giờ Ngọ, nàng đệ trình nội dung thẩm tra trong một ngày qua cùng biên bản khẩu cung liên quan lên Hoàng đế, và đúng giờ Mùi như đã hứa, nàng cởi bỏ quan phục, mặc áo vải thô, quỳ trên chiếu rơm trước điện Phúc Ninh chờ chịu tội. Hoàng đế triệu nàng vào điện, nói với nàng: "Tuy châu điền là do ngươi mang đến trước mặt Trang Văn Thái tử, nhưng ngươi không hề biết gì về âm mưu của Liễu Tiệp dư. Dù có lỗi lầm, nhưng ngươi đã vạch trần thân thế thật sự của Liễu thị, ngăn chặn kế hoạch trộm nước của ả và Ngọc thị, cũng coi như gỡ bỏ thanh kiếm treo trên đầu trẫm, công tội bù trừ. Huống hồ, ngươi là con gái của Trương Vân Kiều, năm xưa hắn vì nước trừ gian mà phải trả giá đắt, tiền đồ, danh dự, thậm chí c.h.ế.t yểu khi tuổi còn xanh, đều liên quan đến việc này. Nương ngươi là Lưu Minh Sơ nếu không tiết lộ âm mưu của Tề Tuân cho trẫm thì cũng không đến nỗi c.h.ế.t t.h.ả.m như vậy. Dù là về tình hay về lý, trẫm đều không thể làm hại con gái của họ. Cho nên, những ân oán liên quan đến ngươi, xóa bỏ toàn bộ, ngươi vẫn có thể sống cuộc sống bình yên của người thường. Nếu ngươi muốn, ngươi cũng có thể ở lại trong cung làm nữ quan, chỉ là muốn chính thức làm Tư cung lệnh thì tư lịch còn quá nông, hãy bắt đầu làm từ Tư thiện trước đi." Chân Chân bái tạ ơn điển của Quan gia, nhưng lại thỉnh cầu: "Mong Quan gia khai ân, cho phép nô xuất cung, trở về dân gian sinh sống." "Ngươi muốn xuất cung?" Hoàng đế trầm ngâm một chút, rồi hỏi, "Có phải ngươi muốn ở bên Nhị ca? Thứ cho trẫm nói thẳng, nếu ngươi và Trang Văn Thái t.ử không có đoạn tình duyên kia, trẫm có thể thành toàn cho ngươi và Nhị ca, truy phong cho cha ngươi một quan hàm cao, để Nhị ca cưới ngươi làm vợ. Nhưng nay tông thất ngoại thích, không ai không biết ngươi từng hầu hạ Trang Văn Thái tử, ngươi và Nhị ca, không thể làm phu thê được nữa. Có điều, chuyện Tống Đào Sênh ở phủ Ninh Quốc phò trợ Ngụy vương, trẫm có nghe loáng thoáng, Nhị ca làm quan bên ngoài, có người hiền nội trợ như vậy cũng là chuyện may mắn. Nếu ngươi theo nó đi Minh Châu, ngươi vẫn là Tín An Quận phu nhân, Tống Đào Sênh." Chân Chân nói: "Nô tỳ muốn xuất cung, không phải để tìm kiếm nhân duyên, chỉ là cảm thấy so với ánh hào quang nơi chín tầng cung khuyết, nô tỳ càng mong chờ màu liễu xanh biếc bên bờ đê qua từng năm tháng. Nô tỳ thích ngắm mạ non xanh rờn, xe nước rào rạt, thích ngắm ánh ban mai rải trên những bờ ruộng ngang dọc, cũng thích ngắm sóng lúa vàng rực rỡ dưới ánh hoàng hôn... Nô tỳ sinh ra ở chốn thôn dã, được tự do phóng ngựa trên đường quê, đón nhận hương cỏ cây phả vào mặt, đó mới là cuộc sống mà nô tỳ mong muốn." "Phóng ngựa trên đường quê..." Hoàng đế đăm chiêu, dần dần nở một nụ cười, "Năm xưa trẫm cùng Vân Kiều, Lâm Dục cũng từng cùng nhau phóng ngựa trên đường quê, cười nói không ngớt trong gió liễu. Trước khi làm thái y, Vân Kiều từng chữa trị cho rất nhiều nông phu trong dân gian, trên đường đi có không ít người nhận ra hắn, nhao nhao bưng rau quả vừa thu hoạch tặng cho hắn. Trẫm và Lâm Dục đều cảm thán Vân Kiều treo bầu cứu thế, tích được công đức vô lượng, còn bọn trẫm chỉ là thư sinh, trói gà không chặt. Vân Kiều bèn nói: 'Thật ra các huynh cũng đang treo bầu cứu thế, chỉ có điều đệ chữa bệnh cứu người, còn các huynh cứu vãn, là vận nước.'" Ngài khẽ thở dài, chớp mắt, thu hồi dòng suy tưởng xa xăm, lại nhìn Chân Chân, nói: "Trẫm đồng ý cho ngươi xuất cung. Sau đó ngươi sẽ đi đâu? Có dự định gì?" Chân Chân trả lời: "Nô muốn đưa hài cốt của cha hợp táng cùng nương, để ông ấy ở lại Lâm An. Sau đó, đưa linh cữu dưỡng mẫu về Phố Giang, chôn cất ở nơi cách Thích Trân lâu không xa." Hoàng đế hỏi: "Cái tên Thích Trân lâu là do Cúc phu nhân đặt sao?" Chân Chân xác nhận. Hoàng đế im lặng, một lúc sau nói: "Thực vô định vị, thích khẩu giả trân (Món ăn không có vị cố định, hợp miệng là quý) —— đây là đạo lý Tiên đế thường nói với người bên cạnh." Thấy Chân Chân không nói gì, Hoàng đế lại gợi ý: "Chôn cất Cúc phu nhân ở Lâm An không tốt sao? Bà ấy sinh trưởng ở Lâm An, cùng chôn cất ở đây, sau này ngươi tảo mộ tiết Thanh Minh cũng không cần chạy ngược chạy xuôi hai nơi." "Nô ty nghĩ bà ấy sẽ muốn được chôn cất ở Phố Giang hơn." Chân Chân nói, "Bà ấy đã trải qua quãng thời gian bình yên nhất cuộc đời ở đó, hơn nữa ở đó có rất nhiều người thực lòng yêu thương và nhớ nhung bà ấy." "Vậy sau đó thì sao, ngươi sẽ làm gì?" Hoàng đế lại hỏi. Chân Chân cụp mắt, nói: "Vẫn chưa chắc chắn, có lẽ tiếp tục mở tửu lâu, cũng có thể nghỉ ngơi một thời gian, sau đó ghi chép lại những món ăn mà thần biết, viết thành sách, như vậy sau này dù thần có rời khỏi nhân thế, vẫn sẽ có người làm theo công thức của thần, để những kỹ thuật nấu nướng này được lưu truyền mãi." "Ý tưởng này không tồi." Hoàng đế mỉm cười khích lệ, "Ngươi viết ra, in thành sách, đề tên 'Tư cung lệnh Trương thị', nhất định sẽ có rất nhiều người xem." "Không." Chân Chân ngước mắt nhìn Quan gia, kiên định nói, "Thần sẽ đề tên, Ngô thị ở Phố Giang." Sau khi Liễu Tiệp dư tự vẫn, Hoàng hậu đón Công chúa Như Anh về nuôi dưỡng bên mình, vì cảm thương cho cảnh ngộ của Tống bà bà, bèn sai người tìm một ngôi nhà cách hoàng thành không xa cho Tống bà bà ở, lại ban cho bà hai tỳ nữ, cho phép bà thường xuyên vào cung thăm Như Anh. Trước khi xuất cung, Chân Chân đặc biệt đến điện Khôn Ninh bái tạ Hoàng hậu. Hoàng hậu hỏi nàng có thật sự không định làm nữ quan nữa không, Chân Chân gật đầu xác nhận. Hoàng hậu bèn thở dài, cho lui người hầu, dốc bầu tâm sự với Chân Chân: "Phượng Tiên từ khi làm Thái t.ử phi, tính tình quyết liệt hơn trước nhiều. Hôm qua Thái t.ử truyền mấy vũ kỹ đến Đông Cung hiến vũ, Hương Lê Nhi múa đẹp nhất, được Thái t.ử khen hai câu, Phượng Tiên nghe được liền gọi Hương Lê Nhi đến các của nó, sai người dùng roi đ.á.n.h vào bắp chân Hương Lê Nhi, đ.á.n.h đến mức con bé không đi nổi, còn không cho người khác dìu, Hương Lê Nhi phải tự bò ra khỏi Đông Cung mới có người đưa về Tiên Thiều viện... Ta nghe chuyện triệu Phượng Tiên đến hỏi, nó còn lý lẽ hùng hồn, nói làm vậy là để răn đe những kẻ hồ mị, tránh để bọn họ quyến rũ Thái t.ử đắm chìm trong tửu sắc. Nó đi rồi có người nói với ta, trong một năm nó về nhà nương đẻ, mấy người thiếp của cha nó lần lượt qua đời, người thì tự vẫn, người thì c.h.ế.t bất đắc kỳ tử... Chỉ trong một năm ngắn ngủi mà c.h.ế.t nhiều người như vậy, chuyện này cũng quá trùng hợp rồi? Haizz, ta có dự cảm chẳng lành, hậu cung này sau này e là sẽ không được yên bình. Con và nó làm chị em nhiều năm, nếu có thể ở lại trong cung, khuyên giải nó nhiều hơn, họa may nó còn thu liễm đôi chút, nếu nó làm quá đáng, chắc con cũng nghĩ ra cách giúp ta quản thúc nó." Chân Chân nói: "Hiện giờ thần và cô ấy tôn ti khác biệt, thần đã không tiện lấy thân phận chị em để khuyên can cô ấy nữa, ở lại trong cung, việc có thể làm cũng có hạn. Hoàng hậu là mẹ chồng của cô ấy, nếu cô ấy có lỗi, Hoàng hậu cứ nói thẳng, đáng phạt thì phạt, đừng quá nhân từ khiến cô ấy có gan vượt quyền phạm thượng. Thần nghĩ, cô ấy tuy hiếu thắng, nhưng cũng biết cân nhắc lợi hại, không đến mức làm ra chuyện quá đáng. Nếu thực sự có một ngày cô ấy gây ra sóng to gió lớn, chỉ cần Hoàng hậu triệu hoán, thần nguyện hồi cung, giúp Hoàng hậu một tay." Chân Chân vừa từ điện Khôn Ninh bước ra, liền có nội thị Đông Cung tiến lại gần, mời nàng đến Đông Cung, nói Thái t.ử phi mời sang hàn huyên. Gặp Chân Chân, Phượng Tiên tươi cười rạng rỡ, hỏi han ân cần, nắm tay Chân Chân đi vào nội thất, mới chăm chú nhìn nàng hỏi: "Hoàng hậu triệu muội đến điện Khôn Ninh có việc gì? Là muốn giữ muội lại làm nữ quan sao?" Chân Chân phủ nhận: "Chỉ hỏi thăm dự định của ta sau khi xuất cung thôi." Phượng Tiên nói: "Tỷ muội ta tình thâm nghĩa nặng, nay ta có tiền đồ tốt, tự nhiên sẽ không quên muội. Muội cứ việc ở lại bên cạnh ta, chúng ta gặp chuyện gì thì đồng tâm hiệp lực, cùng nhau giải quyết. Ngày sau nếu ta làm Hoàng hậu, nhất định sẽ để muội làm Tư cung lệnh, tỷ muội ta cùng nắm quyền bính hậu cung này." "Tỷ muội..." Chân Chân lặp lại từ này, cười nhạt, "Thái t.ử phi lúc đem tặng miếng châu điền kia, chắc đã quên chúng ta là tỷ muội rồi nhỉ?" Sắc mặt Phượng Tiên thay đổi hẳn: "Muội nói cái gì? Muội đang nghi ngờ ta? Nếu ta biết châu điền đó có độc, sao lại đi nếm thử miếng Tứ ca đưa cho ta, để đến nỗi trúng kịch độc, suýt nữa mất mạng!" "Đúng vậy, tất cả mọi người đều nghĩ thế, bao gồm cả ta." Chân Chân nói, "Trước khi vô tình nghe nói tỷ từng làm đổ dầu dưỡng tóc trước khi Tứ hoàng t.ử và Công chúa vào điện, sai người lau sàn nhà bóng loáng như gương, đủ để con ruồi đậu vào cũng trượt chân, ta cũng đã nghĩ như thế." "Muội định nói với Quan gia sao?" Phượng Tiên cười lạnh, "Đó chỉ là một sự trùng hợp." Chân Chân lắc đầu: "Ta sẽ không nói. Không có thêm bằng chứng, chuyện này cũng chỉ có thể là một sự trùng hợp. Ta sắp xuất cung rồi, từ nay mỗi người một phương, chắc khó có cơ hội gặp lại. Phượng Tiên trong lòng ta, vẫn là người tỷ tỷ yêu thương muội muội ở Thích Trân lâu năm nào. Hy vọng ngàn vạn cuốn y thư tỷ từng đọc sẽ giúp tỷ giữ được tấm lòng nhân ái của người thầy thuốc, chứ không chỉ dạy tỷ cách phân biệt độc dược." Nàng giơ tay lên trán, bái biệt Phượng Tiên, rồi từ từ lùi lại, rời khỏi Đông Cung trong ánh nhìn lặng thinh của Phượng Tiên. Trở về Lâm An, Triệu Ngai đương nhiên không tránh khỏi phiền não bị giục cưới. Hoàng đế xử lý xong đại sự trong cung, lại đích thân định đoạt hôn sự cho Triệu Ngai, lần này không nói nhiều, trực tiếp nạp sính lễ cho chàng, nhưng lạ lùng là, vị tiểu nương t.ử nhà kia lại đề nghị muốn gặp Triệu Ngai một lần trước. Dưới sự sắp xếp của Hoàng hậu, hai người chèo thuyền gặp nhau ở Tiểu Tây Hồ. Triệu Ngai ngồi trên một chiếc thuyền con, chán nản ngồi ở mũi thuyền, lênh đênh trên hồ hồi lâu mới thấy một chiếc thuyền họa phảng từ từ tiến lại gần. Triệu Ngai quay đầu nhìn sang, thấy một thiếu niên mặc áo trắng đội khăn triết thượng, tay cầm hờ chiếc quạt xếp, quay lưng về phía chàng đứng chắp tay ngoài khoang thuyền, mãi đến khi hai thuyền sắp va vào nhau, người đó mới quay người cười sảng khoái với chàng: "Nhị Đại vương, hân hạnh quá. Hôm nay sao lại đến đây?" Đó là Vệ Thanh Tầm. Triệu Ngai liếc cô một cái, bực dọc nói: "Xem mắt." "Khéo quá, ta cũng vậy." Vệ Thanh Tầm cười ung dung. Triệu Ngai nghi hoặc nhìn chằm chằm nụ cười của cô, bỗng giật nảy mình: "Lại là cô!" Chiếc thuyền quá nhỏ, hành động đứng dậy đột ngột của chàng khiến thuyền mất thăng bằng, chòng chành dữ dội, Triệu Ngai đứng không vững, loạng choạng suýt ngã xuống hồ. Vệ Thanh Tầm cười đưa chiếc quạt xếp về phía chàng: "Qua thuyền ta đi, tuy không lớn, nhưng hai người nói chuyện cũng không đến nỗi chật chội." Triệu Ngai lạnh nhạt liếc nội thị chèo thuyền phía sau, ra hiệu cho hắn áp sát thuyền của nàng, rồi tự mình nhảy sang thuyền, không chạm vào quạt của Vệ Thanh Tầm. Triệu Ngai tự nhiên đi vào khoang thuyền ngồi xuống, Vệ Thanh Tầm cũng thong thả bước vào, ngồi đối diện chàng, nói: "Chúng ta đều là người hành xử dứt khoát, không cần nói lời thừa thãi. Ta biết Đại vương không muốn cưới người phụ nữ nào ngoài Chân Chân, mà ta cũng chẳng muốn gả cho bất kỳ người đàn ông nào, nhưng cha chúng ta đều ép chúng ta thành thân, ta nghĩ rồi, có lẽ chuyện khó cả đôi đường này có hi vọng biến thành vẹn cả đôi đường." "Vẹn cả đôi đường thế nào?" Triệu Ngai hỏi. Vệ Thanh Tầm nói: "Hôn lễ tương lai chúng ta vẫn cử hành đúng hạn, nhưng sau hôn lễ, ngài đi Minh Châu, ta về phủ Ninh Quốc, nếu gặp dịp lễ tết cần về Lâm An, chúng ta cùng về, vào cung dự tiệc các thứ, ta nhất định phối hợp, để người ta nhìn thấy đều phải khen một câu 'phu thê hiền đức', sau đó chúng ta vẫn ai đi đường nấy. Bây giờ định hôn sự, còn phải mất nửa năm một năm mới kết hôn, trong thời gian này ngài cứ việc đi cưới Chân Chân, ta sẽ không quản. Ta chỉ có một yêu cầu, sau khi chúng ta kết hôn, bất cứ lúc nào, ngài cũng không được ngủ cùng phòng với ta, cho dù đêm tân hôn, chúng ta buộc phải ở chung một phòng, ngài cũng không được ngủ cùng giường với ta, ta ngủ trên giường, ngài ngủ dưới đất." "Ngủ cùng giường cũng chẳng sao." Triệu Ngai không nhịn được cười, "Trong mắt ta, cô còn giống đàn ông hơn cả Lâm Hoằng, ta sẽ không đụng vào cô đâu." Vệ Thanh Tầm cũng chẳng để bụng, hỏi: "Vậy quyết định thế nhé?" "Nhưng có một vấn đề," Triệu Ngai ngập ngừng, "Cô làm chính thất trên danh nghĩa của ta, sau này Chân Chân nếu sinh con, con phải gọi cô là 'nương' hoặc 'nương', nhưng chỉ được gọi nàng ấy là 'tỷ tỷ'..." "Không sao," Vệ Thanh Tầm thong thả phe phẩy chiếc quạt xếp, nói, "Bọn trẻ có thể gọi Chân Chân là 'nương', gọi ta là 'cha'." Triệu Ngai trố mắt: "Thật vô lý hết sức! Gọi cô là 'cha', thế gọi ta là gì?" "Gọi ngài là 'phụ thân' chứ sao, không hề gì." Vệ Thanh Tầm cười nói, "Đại vương, ta cũng có sản nghiệp cần người kế thừa, để con trẻ gọi ta là cha chỉ có lợi chứ không có hại." Thấy Triệu Ngai im lặng, Vệ Thanh Tầm giục: "Đại vương có đồng ý không? Chính thất rộng lượng như ta ngài tìm đâu ra? Nếu còn do dự, ta hối hôn đấy nhé." "Thật ra, xưng hô chỉ là chuyện nhỏ." Triệu Ngai ngẩng đầu, chân thành nhìn cô nói, "Cô gả cho ta, lại không làm phu thê thật sự, chẳng phải lỡ dở cả đời cô sao?" "Ta không gả cho ngài." Vệ Thanh Tầm nghiêm mặt nói, "Thứ ta gả, và thứ ngài cưới, đều là tự do." Triệu Ngai suy nghĩ một hồi, lại nói với cô: "Cứ làm theo ý cô. Nhưng ta hứa với cô, sau này nếu cô có người trong mộng, ta có thể viết thư bỏ vợ cho cô bất cứ lúc nào, để cô thành thân với người đó." "Tại sao các người cứ không chịu tin rằng, có một số người, là không cần hôn nhân?" Vệ Thanh Tầm nói, "Cuộc đời quý phu nhân hào môn như nương ta, nhìn một cái là thấy hết, chẳng qua chỉ là tranh sủng, sinh con, tính kế người khác hoặc bị người khác tính kế, chưa bao giờ là thứ ta muốn." Thấy Triệu Ngai nghe xong vẻ mặt ảm đạm, cô lại nở nụ cười, nhấc bình rượu trên bàn lên, rót hai chén rượu hoa hồng, đẩy một chén đến trước mặt Triệu Ngai, nói: "Nào, cuộc xem mắt thuận ý thế này, phải uống cạn một chén lớn!" Chương 138 - Kết: Ánh lưu ly [Hoàn] Mọi chuyện lắng xuống, trước khi rời Lâm An, Chân Chân đến viếng lăng mộ của Trang Văn Thái t.ử ở bờ nam Tây Hồ, hôm đó Triệu Ngai hộ tống nàng đi cùng. Toàn sở vốn là Pháp đường của viện Bảo Lâm, Chân Chân cứ ngỡ nơi này trong ngoài ắt phải trồng nhiều tùng bách như lăng tẩm các vương giả khác, ánh sáng u tối, không khí trang nghiêm, xuống xe cung đình mới phát hiện, vườn tược bên ngoài Pháp đường rộng rãi, trong đó trồng hoa cỏ bốn mùa, bên ngoài lấy vịnh sông tự nhiên làm ranh giới, không xây tường bao, điện đường lưng tựa núi xanh thẳm, trước mặt là Tây Hồ sóng nước long lanh, bên cạnh cầu nhỏ có mấy tầng thác nước, lá đỏ đầy vườn rực rỡ như mây chiều, quả là một nơi vô cùngtú lệ, không hề có cảm giác âm u thê lương. Người từ trong đường bước ra đón nàng là Dương T.ử Thành, thấy nàng ngắm nhìn phong cảnh xung quanh, bèn giải thích: "Trước kia ta thấy xung quanh Chiêm Lục đường nơi Trang Văn Thái t.ử đọc sách mỗi ngày chỉ trồng trúc cao, không thấy một bóng hoa nào, bèn nói Điện hạ đang độ thanh xuân, nơi ở không nên bố trí lạnh lẽo như vậy, đề nghị trồng thêm ít hoa cỏ. Điện hạ nói: 'Chiêm Lục đường là để đọc sách, xung quanh trồng trúc xanh, có chút thú vị gió lùa trúc thưa là được, nếu trồng đầy hoa cỏ, ban ngày mải ngắm hoa hết, còn tâm trí đâu mà đọc sách. Ta ngược lại hy vọng sau này khi ta mất đi, nơi an nghỉ đừng xây tường cao quây kín một vùng đất rộng, rồi trồng tùng bách cao lớn che khuất ánh mặt trời, khiến trong vườn âm u sâu thẳm, khiến người ta nhìn mà sợ hãi. Chi bằng trồng nhiều hoa cỏ, bốn mùa khoe sắc, hương thơm đầy vườn, không xây tường bao, để du khách có thể dắt già dắt trẻ vào vườn thưởng xuân ngắm thu, vui vẻ hòa thuận. Như vậy, ta dưới suối vàng có biết, chắc chắn cũng vui mừng.' Phong cảnh toàn sở hôm nay, coi như đã toại nguyện ý Điện hạ. Ta tự xin đến đây giữ lăng, gần đây lại trồng thêm ít hoa cỏ lạ và cây phong cây thích, cho nên cảnh thu này, màu sắc lại phong phú thêm nhiều." Triệu Ngai nghe vậy hỏi: "Dương tiên sinh hầu hạ Tiên đế và Quan gia nhiều năm, được hai đời quân chủ trọng dụng, dù muốn làm Đô tri, tư lịch cũng dư sức, tại sao lại bỏ lại tiền đồ xán lạn, quyết ý sống những ngày thanh tịnh ở đây?" Dương T.ử Thành nói: "Ta khác với những người như Trình Uyên, không mấy hứng thú với danh lợi thanh sắc. Tiền nhiều chỉ thêm phiền não, quyền trọng dễ sinh vọng tưởng, ngược lại những ngày tháng thanh tịnh thế này càng khiến ta cảm thấy bình yên thoải mái. Ngày ngày trồng hoa, nuôi cỏ, có người đến viếng Trang Văn Thái t.ử hoặc ngắm hoa, thì trò chuyện với họ, cũng không đến nỗi quá cô đơn. Bình thản sống nốt phần đời còn lại trong cảnh đẹp nhường này, chẳng phải tốt sao?" Chân Chân và Triệu Ngai vào sảnh đường, bái lạy trước linh vị Trang Văn Thái tử. Dương T.ử Thành hướng dẫn họ dâng hương, rót trà, tưới rượu trước hương án, Triệu Ngai kể lại chuyện Chân Chân hồi cung thăng chức Tư cung lệnh, tra rõ chân tướng, vạch trần âm mưu của Liễu thị, Ngọc thị và Trình Uyên một lượt, xin Đại ca an nghỉ. Xong xuôi mọi việc, Triệu Ngai thấy Chân Chân cứ quỳ ngẩn ngơ trước linh vị, không có ý định rời đi, bèn nói với nàng: "Nàng nói chuyện thêm với Đại ca đi, ta ra ngoài trước, đợi nàng ở bên ngoài." Đợi chàng ra ngoài, Chân Chân lấy rượu mơ xanh tự mang theo ra, rót một chén tế Thái tử, lại tự rót một chén, lặng lẽ uống cạn, buồn bã nói: "Điện hạ, thiếp thấy rượu này giống chàng, nên học Tống bà bà ủ. Ở phủ Ninh Quốc, tối nào thiếp cũng uống, lúc một mình uống càng nhiều, luôn hy vọng say rồi, chàng sẽ về thăm thiếp trong mơ... Nhưng mà, tại sao chàng không về? Đã lâu lắm rồi thiếp không gặp chàng, dù là trong mơ..." Nàng lại rót thêm mấy lần rượu, uống cạn từng chén, bất giác nước mắt đã đầm đìa. Gió thu ngoài điện lướt qua rèm cửa, thổi vào người nàng, nàng thấy hơi lạnh, run rẩy rướn người về phía trước, nhắm mắt gục xuống sàn nhà trước bồ đoàn. Một lát sau, có người từ phía sau đến gần, khoác một tấm áo lên người nàng. Tấm áo đó rộng rãi và mềm mại, như một cái ôm ấm áp, nhẹ nhàng bao bọc lấy nàng. Nàng cảm nhận được, mở mắt ra nhìn, phát hiện tấm áo đó chính là chiếc áo choàng lông Trang Văn Thái t.ử đã lấy từ giá áo xuống đắp cho nàng sau khi ân ái. Dương T.ử Thành cúi người nhìn nàng, ôn tồn nói: "Dưới đất lạnh lắm, nương t.ử đứng dậy trước đi." Ông mời nàng ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, rồi đi thu dọn bộ đồ rượu nàng bày ra, vừa dọn vừa nói: "Rượu mơ tuy ngọt, uống nhiều cũng say, nếm chút thôi, không nên uống nhiều." Chân Chân quấn chặt chiếc áo choàng, hỏi ông: "Chiếc áo này, Tiên sinh vẫn luôn giữ sao?" Dương T.ử Thành nói: "Đêm đó, sau khi Trang Văn Thái t.ử hoăng thệ, ta thu dọn đồ đạc trong phòng, gấp gọn chiếc áo này, định đưa về tẩm các của ngài, ai ngờ ra khỏi cửa chưa bao lâu đã có người đến truy sát ta, ta không kịp nghĩ nhiều, mang theo áo choàng chạy trốn, cho nên mấy năm nay, chiếc áo này vẫn luôn ở bên cạnh ta." Tay Chân Chân v**t v* hoa văn như ý bên mép áo choàng, nhớ lại chuyện đêm đó, lại thấy tim đau nhói từng cơn. Một lúc sau, nàng nói với Dương T.ử Thành: "Dương tiên sinh, sau khi ta từ Phố Giang về, cũng đến đây trồng hoa với ngài, được không?" "Không được." Dương T.ử Thành dứt khoát trả lời, "Ta già rồi, gần đất xa trời, cuộc sống này thích hợp với ta nhất. Còn nương t.ử tuổi trẻ phơi phới, còn rất nhiều việc phải làm, tiêu tốn thời gian tươi đẹp ở đây, Trang Văn Thái t.ử cũng sẽ không tán thành đâu." Dừng một chút, ông dừng tay, quay lại nhìn thẳng vào Chân Chân, nói: "Ngài ấy thích nương t.ử tràn đầy sức sống, tích cực làm việc. Hơn nữa, nhìn cảnh sắc rực rỡ khắp vườn này là biết, ngài ấy mong người sống bình an vui vẻ, ai nấy đều có cuộc sống mỹ mãn của riêng mình." Thấy Chân Chân im lặng, ông lại quay đầu nhìn ra ngoài điện, ôn tồn khuyên: "Trời không còn sớm nữa, nương t.ử theo Nhị Đại vương về đi, ngài ấy đang đợi nương tử." Chân Chân đứng dậy, cởi áo choàng ra, nâng trên tay, hỏi Dương T.ử Thành: "Tiên sinh có thể cho ta mang chiếc áo này đi không?" Dương T.ử Thành không trả lời, nhưng mỉm cười nhẹ nhàng rút chiếc áo từ tay Chân Chân, sau đó sải bước ra ngoài điện, dùng nến châm lửa đốt chiếc áo trước lư hương. Ông quay đầu nhìn Chân Chân đang chạy theo, nhìn ngọn lửa với vẻ mặt kinh ngạc, nói: "Chuyện cũ đã qua, những gì thuộc về ngày xưa, nương t.ử hãy để nó tan biến theo làn khói này đi. Bên ngoài ánh nắng chan hòa, chiếc áo này, nương t.ử cũng không cần giữ nữa." Môi Chân Chân run rẩy, nhìn chiếc áo choàng dần biến mất trong ngọn lửa, vô thức gọi: "Điện hạ..." "Điện hạ mong ngài vui vẻ." Dương T.ử Thành cười nhẹ, "Dù là trước kia, hay là sau này." Thấy Chân Chân đi ra, Triệu Ngai liền bước tới, mời nàng lên xe, theo mình về, đúng lúc này ngoài cửa Linh Tinh bỗng có một thanh niên chạy vội tới, miệng gọi "Chân Chân". Chân Chân nhìn kỹ, thấy người đến lại là A Triệt. A Triệt chạy đến trước mặt nàng, nói: "Công t.ử hôm nay cũng đến viếng Trang Văn Thái tử, thấy cô đến, nên chưa đi ngay, hiện giờ đang ở trong đình bên vịnh sông phía Bắc, muốn mời cô qua đó nói chuyện." Chân Chân chưa kịp đáp lời, Triệu Ngai đã nói trước với A Triệt: "Nam nữ thụ thụ bất thân, không có việc gì cần chi phải nói nhiều, chỉ tổ khiến người ta đàm tiếu." A Triệt mặc kệ chàng, tiếp tục nói với Chân Chân: "Công t.ử lại xin từ quan, Quan gia không cho, chỉ cho phép ngài cáo nghỉ, nghỉ ngơi một thời gian. Công t.ử ngày mai phải về núi Vũ Di rồi, rất muốn gặp cô một lần nữa." Thấy Chân Chân vẫn không tỏ thái độ, A Triệt cuống lên, bỗng nhắc đến một chuyện: "Thực ra, Công t.ử biết bơi đấy!" Chân Chân nghe vậy ngạc nhiên, chăm chú nhìn cậu ta, A Triệt bèn nói tiếp: "Núi Vũ Di nhiều nước. Công t.ử thích an tĩnh, hồi nhỏ đọc sách, ngồi một cái là mấy canh giờ, phu nhân lo cứ thế mãi hại sức khỏe, bèn bảo ngài theo ngư dân Cửu Khúc khê học bơi, thế là khi nước ấm Công t.ử đều đi tập, giờ rất rành rẽ sông nước, lặn xuống nước nín thở được rất lâu, nhiều ngư dân cũng không bằng ngài..." Chân Chân không kìm được hỏi: "Vậy, hôm đó ở vườn Tụ Cảnh..." "Đúng vậy!" A Triệt lập tức tiếp lời, "Vườn Tụ Cảnh có nhiều cảnh quan là do ngài thiết kế, ngài nắm rõ địa hình trong vườn như lòng bàn tay. Đêm nước hồ dâng cao, ngài thấy mưa to gió lớn, lo lắng cho an nguy của cô, lập tức đến vườn Tụ Cảnh, ta cũng đi theo, sau đó chính ngài đã lặn xuống nước cứu cô. Ta không biết bơi, cứ đợi ngài trên bờ... Giờ ngài sắp đi rồi, muốn nói vài lời tâm sự với cô, cô cũng không chịu đi gặp sao?" Chân Chân nghe xong quay sang nhìn ngôi đình nhỏ phía Bắc, Triệu Ngai cảm thấy không ổn, lập tức nói với nàng: "Nơi đó chỉ có một nỗi hối tiếc đã cũ, không cần ngoảnh lại." Thấy Chân Chân im lặng, chàng lại đưa tay về phía nàng: "Lên xe. Ta cùng nàng đưa linh cữu Cúc phu nhân về Phố Giang trước, rồi chúng mình đi Minh Châu." Chân Chân không nhận sự dìu đỡ của chàng, dứt khoát bước về phía Bắc. Triệu Ngai đuổi theo vài bước, nói với bóng lưng Chân Chân: "Chân Chân, ta cũng có chuyện muốn nói với nàng!" Chân Chân không trả lời, vẫn tiếp tục đi về phía Lâm Hoằng. Triệu Ngai bất lực dừng bước, nhìn theo bóng nàng đi xa, ánh sáng trong mắt lụi tàn dần. Phía Bắc có một dòng sông nhỏ, ngăn cách khu vườn với bờ đê Tây Hồ, chỗ khúc sông uốn lượn có một con đường sàn gỗ, gấp khúc mấy lần, vươn ra mặt nước, cuối đường sàn là một ngôi đình nhỏ lợp cỏ tranh. Trên bờ cây xanh rợp bóng, dưới đình một dòng nước xanh biếc, in bóng dáng cao gầy áo trắng phiên nhiên của Lâm Hoằng trong đình. Chàng lặng lẽ đứng bên lan can dưới mái đình, nhìn về hướng Chân Chân đi tới, đôi mắt như làn nước thu, cùng tĩnh lặng với ánh nước bóng cây nơi này. Chân Chân đi xuyên qua bóng lá đỏ thưa thớt trong vườn, vượt qua hai cây cầu nhỏ ẩn hiện trong mây chiều đỏ rực, đi qua đường sàn gỗ, nhẹ nhàng bước đến trước mặt Lâm Hoằng. Chàng dùng ánh mắt đón nàng từ xa, thấy nàng đến gần, khẽ mỉm cười, cúi người chào. Chân Chân không hành hư lễ, hỏi thẳng chàng: "Đêm đó ở vườn Tụ Cảnh, là người cứu ta?" "Ừ." Lần này chàng không phủ nhận, "Chỉ là cứu nàng từ trong nước ra, thuyền là do một nhóm hoạn quan điều khiển." " Thầy Lâm, ta..." Chân Chân muốn bày tỏ lòng biết ơn với chàng, nhưng nhất thời lại không biết bắt đầu từ đâu. "Muốn trả ta món nợ ân tình này sao?" Lâm Hoằng cười nhạt, giọng điệu như gió xuân mưa phùn, "Vậy ta hy vọng là dùng nửa đời còn lại, lấp đầy những sớm chiều trong vòng niên luân của chúng ta." Nghe chàng nhắc lại chuyện vòng niên luân, trong lòng Chân Chân ngũ vị tạp trần, rũ mi mắt xuống, tránh để chàng nhìn thấy sóng gợn trong đáy mắt. Một lát sau, nàng ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Lâm Hoằng, nói: "Thế là khắc chu cầu kiếm (khắc dấu mạn thuyền để tìm kiếm) đấy, thầy Lâm." Tắm mình trong ánh mắt dịu dàng của chàng, bất chấp sự mong đợi ẩn chứa trước đó của chàng, nàng vẫn kiên định trả lời một câu: "Trải qua vạn thủy thiên sơn, trái tim người đ.á.n.h rơi năm nào, đã không còn ở bên mạn thuyền của người nữa rồi." Chân Chân từ biệt Lâm Hoằng, trở lại trước sảnh đường, lại không thấy Triệu Ngai đâu. Dương T.ử Thành đưa mắt ra hiệu về phía Đông: "Nhị Đại vương ở trên cầu đằng kia kìa." Dòng sông nhỏ phía Đông hai bên trồng nhiều phong, thích, ngân hạnh, ngô đồng và liễu rủ, thượng nguồn có nước suối trên núi róc rách chảy xuống, nước sông trong veo lạ thường, bóng cây bên bờ in xuống lòng sông, trên dưới mặt nước, những mảng màu đỏ, vàng, xanh đậm nhạt đan xen, tựa như lưu ly, ánh sáng lộng lẫy. Một cây cầu gỗ nhỏ cong cong không có lan can bắc qua sông, hai đầu cầu lá phong đỏ như lửa, ngân hạnh vàng như kim, dương liễu thướt tha, cảnh tượng rực rỡ nồng nhiệt, còn Triệu Ngai thì ủ rũ ngồi ở mép giữa cầu, hai chân buông thõng trên mặt nước, tay cầm mấy hòn đá, ném thia lia vài cái, lại thấy vô vị, ào một cái ném hết những hòn đá còn lại xuống sông, cúi đầu nhìn những vòng sóng lan tỏa dưới chân, chiếc mũ Phù đầu chân mềm trên đầu cũng ủ rũ rủ xuống theo, như đôi cánh én bị mưa làm ướt sũng. Chân Chân lặng lẽ đi đến bên cạnh chàng, cũng ngồi xuống mép cầu, vai kề vai với chàng. Triệu Ngai quay sang nhìn, lập tức cười mừng rỡ: "Nàng về rồi!" Chân Chân cười, hỏi chàng: "Vừa rồi chàng nói có chuyện muốn nói với ta, là chuyện gì?" Triệu Ngai nhìn nàng với ánh mắt rực lửa, nói: "Chân Chân, ta muốn cưới nàng." "Ừm," Chân Chân tránh ánh mắt của chàng, nhìn về nơi dòng nước uốn lượn, "Đây cũng đâu phải bí mật gì." Mắt Triệu Ngai sáng lên: "Nàng vừa nói gì?" Chân Chân lặp lại: "Đây cũng đâu phải bí mật gì." Triệu Ngai lắc đầu: "Ta nói từ phía trước cơ." Chàng rõ ràng đang chỉ tiếng "Ừm" mang ý khẳng định kia. Chân Chân bật cười: "Cái đó thì chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt cả." "Ta không biết, nàng đồng ý rồi đấy." Triệu Ngai hớn hở nói, giọng điệu pha chút ăn vạ như trẻ con. Chân Chân lần này không phản bác, quay sang nhìn chàng một cái, rồi từ từ ngửa mặt lên, đắm mình trong sắc núi ngàn trùng như phỉ thúy, ánh nước vạn dặm tựa lưu ly này, khóe môi bất giác cong lên.