Chương 49: Đầu tháng Năm, bảng thi Đạo được niêm yết - Trẫm

Trang chủ › Trẫm › Chương 49

Chương 49 - Đầu tháng Năm, bảng thi Đạo được niêm yết

☰ DS Chương 📖 2,541 chữ

Toàn huyện Duyên Sơn có hai mươi mốt người đỗ tú tài, riêng thư viện Hàm Châu đã chiếm bốn suất. Các lớp học tư dưới chân núi chẳng ai đỗ cả. Tất cả người đỗ đều xuất thân từ thư viện lưng chừng núi.

Trong số năm tân khoa đồng sinh ấy, chỉ một người mang họ Phí, còn lại đều là con em họ khác.

Nhà trường lập tức mở cửa dạy học trở lại. Đến bữa trưa, đám học trò xúm xít vây quanh một người, kéo vào nhà ăn.

Triệu Hãn tò mò hỏi:

- Phí Như Ngọc là con nhà nào vậy? Bình thường ta chẳng nghe ai nhắc đến, thế mà đột nhiên lại đứng đầu kỳ thi huyện.

Phí Nguyên Giám cười khẩy:

- Con nhà cháu họ thứ hai của ta đấy. Chắc chắn đã đút lót cho huyện lệnh.

Thi huyện mà đứng đầu thì thi phủ nhất định được nhận. Bằng không, tri phủ chẳng khác nào không nể mặt huyện lệnh.

Bởi vậy, chỉ cần bỏ tiền mua vị trí đầu bảng ở kỳ thi huyện, gần như chắc chắn sẽ được qua cửa, trở thành đồng sinh.

Phí Như Hạc cũng giễu theo:

- Có gì mà vênh váo? Chẳng qua chỉ đỗ đồng sinh, làm cứ như đã đỗ tú tài rồi vậy.

Phí Nguyên Giám bắt đầu kể chuyện thiên hạ:

- Đỗ tú tài đâu phải dễ. Ta nghe người ta nói, quan Đốc học Giang Tây năm nay là một bậc đại nho rất nổi tiếng. Tên là Thái… Thái gì ấy nhỉ?

Từ Dĩnh bỗng chen vào:

- Thái Mậu Đức.

- Đúng rồi, Thái Mậu Đức! Cha ta mấy hôm trước có nhắc đến vị quan Đề học ấy. Ông ta quả là một vị quan thanh liêm. Năm nay, những kẻ định gian lận trong kỳ thi Đạo đều bị lôi ra cả. Kẻ nào muốn dùng tiền mua bằng tú tài cũng bị ông ta đuổi thẳng cổ. Mùa xuân vừa rồi, ông còn được mời đến thư viện Bạch Lộc Động giảng học. Mấy nghìn sĩ tử nghe danh kéo đến, nhà giảng chật kín không còn chỗ. Cuối cùng phải ra ngoài trời giảng suốt ba ngày.

Ghê gớm đến thế sao?

Triệu Hãn dường như từng nghe qua cái tên này, lại dường như hôm nay mới biết rõ.

Bàn của Triệu Hãn đang tán gẫu. Phía bên kia, Phí Như Ngọc cũng đã ngồi xuống, được đám học trò vây quanh tâng bốc.

- Thi huyện đứng đầu, thi phủ lại qua, chẳng qua chỉ là may mắn thôi.

Phí Như Ngọc tỏ ra khiêm nhường, chẳng hề kiêu căng. Hắn quay sang hỏi một người trong tộc:

- Bát đệ, đệ đã qua kỳ thi phủ bằng cách nào vậy?

Cậu đồng sinh được gọi là Bát đệ lập tức cười lớn:

- Cứ viết bừa thôi, nhờ người ngồi bên cạnh chỉ giúp cả đấy.

Phí Như Ngọc ngạc nhiên:

- Người ngồi bên cạnh giúp đệ phá đề ư?

Bát đệ lắc đầu cười:

- Hì hì, người ta chỉ giúp ta một nửa thôi.

- Kể thử xem nào.

Phí Như Ngọc thật sự thấy tò mò.

Bát đệ cũng tự thấy chuyện này nực cười:

- Lão tri phủ đúng là đồ điên. Ra một câu đề cắt nối mà làm ta ngẩn người.

Phí Như Ngọc nói:

- Ta biết câu ấy. Chẳng phải là đoạn trích nói về chuyện “vua ham sắc, bề tôi gửi vợ con cho bạn” đó sao? Đệ đã phá đề thế nào?

Bát đệ kể:

- Ta cứ lẩm nhẩm mãi câu “bề tôi gửi vợ”, làm người ngồi bên cạnh phát bực. Người ấy mới nói: “Gửi cho bạn của vua, chứ đâu phải gửi cho vua. Ấy là vì vua ham sắc.” Ta vội chép nguyên câu ấy vào bài. Thế là qua được kỳ thi phủ!

Cả đám học trò cười ngặt nghẽo.

Từ Dĩnh sa sầm mặt, hạ giọng nói:

- Người như thế mà cũng qua được kỳ thi phủ, nhất định đã đút lót cho tri phủ. Ít nhất cũng đút lót cho thầy ký của tri phủ.

Triệu Hãn thì kinh ngạc:

- Khoa cử Giang Tây khó đến mức thi phủ cũng ra những câu quái gở thế này sao?

Lão tri phủ đúng là đồ khốn!

Hắn đem hai đoạn kinh văn trước sau trong thiên Lương Huệ Vương của sách Mạnh Tử xé rời, rồi cưỡng ép kéo chúng lại với nhau.

Đại ý đoạn trước là: nếu người cai trị khiến dân chúng được sống yên vui, thì chuyện ham sắc cũng chẳng có gì đáng hổ thẹn, đó vốn là thói thường của con người.

Còn đoạn sau kể chuyện một người đem vợ con gửi cho bạn, bản thân lại bỏ đi du ngoạn. Đến khi trở về, thấy vợ con phải chịu đói rét. Vậy thì nên đối xử với người bạn ấy ra sao?

Còn cách phá đề của Bát đệ thì chẳng dính dáng gì đến cả hai đoạn. Ý của hắn là: bề tôi không gửi vợ mình cho Tề vương, lại đem gửi cho bạn của Tề vương, bởi vì Tề vương ham sắc.

Thế mà hắn vẫn được nhận làm đồng sinh…

Không bỏ tiền đút lót mới là chuyện lạ!

Ăn trưa xong, Phí Như Ngọc và Bát đệ được đám bạn vây quanh, kéo lên núi.

Dù chưa đỗ tú tài, chỉ cần trở thành đồng sinh là đã có thể rời lớp học tư dưới chân núi, lên thư viện lưng chừng núi học tiếp.

Nếu quan Phó Đề học Thái Mậu Đức không thanh liêm, hai kẻ này chỉ cần âm thầm bỏ tiền, e rằng đã mua được cả công danh tú tài!

Lúc này, Thái Mậu Đức đang viết tấu chương. Ông định đàn hặc tri phủ Quảng Tín, buộc tội lão ta ra đề bừa bãi, cố ý đẩy thí sinh xuống hố.

Vì sao phải ra đề bừa bãi?

Bởi chỉ cần khiến phần lớn thí sinh hoa mắt chóng mặt, làm bài be bét, quan trường sẽ dễ dàng chọn sẵn vài chục người đưa lên. Lại chẳng tìm được chứng cứ gian lận khoa cử nào.

Sau chuyện ấy, Triệu Hãn dứt khoát từ bỏ ý định theo đường khoa cử.

Phí Như Hạc cười nói:

- Mặc kệ bọn họ. Chúng ta đi luyện võ thôi!

Phí Nguyên Giám cũng gật đầu lia lịa:

- Đúng đúng, đi luyện võ!

Phí Như Hạc chọn hơn mười học trò lớp tư, đem bài trận pháp thầy vừa dạy ra tập luyện. Hắn hăm hở chẳng khác nào một vị đại tướng.

Đám học trò vừa sợ uy hắn, vừa thấy chuyện luyện quân đánh trận thật thú vị, lúc đầu ai nấy đều hào hứng.

Nhưng sang ngày hôm sau, một nửa số học trò đã sinh chuyện. Kẻ đau bụng đi ngoài, người cảm mạo sốt cao, tóm lại chẳng ai chịu đến thao luyện.

Khổ quá mà!

Phí Như Hạc nổi giận đùng đùng:

- Dám giở trò với thiếu gia! Ta phải đi đánh chết chúng nó!

Triệu Hãn vội kéo hắn lại, cười nói:

- Đã không muốn thì kéo đến luyện quân cũng ích gì? Trông cậy vào đám người ấy chẳng được đâu. Chi bằng chúng ta tự luyện lấy.

Mấy tháng sau trôi qua bình lặng.

Ngày nào Triệu Hãn cũng đọc sách, luyện võ, học binh pháp. Quan hệ giữa hắn với Từ Dĩnh và ba người họ Phí càng lúc càng thân thiết.

Phí Nguyên Giám có thêm một thư đồng mới, do Trần thị đích thân chọn lựa đưa đến. Thằng bé tên là Phí Du, lanh lợi thông minh, lại rất biết điều. Từ đó, ba người họ Phí biến thành bốn người họ Phí.

Triệu Hãn bắt đầu vươn vai cao lớn. Chỉ trong nửa năm, hắn đã cao thêm sáu phân.

Mùa đông năm ấy, trên núi Hàm Châu bỗng xuất hiện một hán tử vạm vỡ. Sau lưng hắn còn có hai gã lực lưỡng, một đen một trắng.

Phí Như Hạc mừng rỡ chạy ra:

- Tứ thúc, sao thúc lại về Duyên Sơn?

Phí Ánh Công đáp:

- Việc lớn của nước nhà!

Phí Như Hạc nói:

- Tứ thúc, cháu đã kết giao được mấy người anh em tốt. Sau này cháu cũng muốn học theo thúc, hành hiệp trượng nghĩa.

- Trước hết kiếm cho ta bát nước. Khát chết mất!

Phí Ánh Công khô cả cổ, nói xong liền đi thẳng vào phòng nghỉ.

Hai chú cháu cùng vào trong, khiến Triệu Hãn giật mình.

Một trong hai người đi theo Tứ thúc rõ ràng là người da đen, nô lệ bị người Bồ Đào Nha bán sang Đại Minh.

Thời ấy, người Quảng Đông gọi những gia nô da đen đến từ các nước xa là quỷ nô. Nhà giàu thường mua họ về trông nhà giữ cửa. Những người này sức khỏe phi thường, có thể vác cả mấy trăm cân. Họ không hiểu tiếng người, tính tình lại hiền lành, ít khi bỏ trốn. Da đen như mực, môi đỏ, răng trắng, tóc xoăn vàng, phân biệt nam nữ đầy đủ.

Đại Minh là nơi nhập khẩu nô lệ da đen chủ yếu của cả vùng Đông Á. Nhà giàu mua họ phần lớn để sai khiến và hộ vệ, chứ chẳng dùng vào việc trồng trọt hay hái bông như đời sau.

Tên gia nô da đen bên cạnh Phí Ánh Công cao hơn một trượng tám, rõ ràng đã được tuyển lựa kỹ càng. Giá mua hẳn cực kỳ đắt đỏ.

Triệu Hãn chắp tay cúi chào:

- Bái kiến Tứ thúc!

Phí Như Hạc giới thiệu:

- Đây là nghĩa tử do cha cháu nhận nuôi, tên Triệu Hãn, cũng gọi là Phí Hãn.

Phí Ánh Công ngửa cổ uống cạn một bát nước, gật đầu với Triệu Hãn, rồi nói:

- Ta lên núi đây. Cháu cứ tự chơi đi.

Phí Như Hạc vội hỏi:

- Tứ thúc mấy năm chẳng về nhà, sao vừa về đã chạy lên núi?

- Xảy ra chuyện lớn rồi.

Phí Ánh Công vừa nói vừa bước đi.

- Chuyện lớn gì vậy?

Phí Như Hạc vội đuổi theo.

Phí Ánh Công đáp:

- Bọn Thát Đát đã phá cửa ải. Triều đình bó tay không đối phó nổi, phải phát hịch khẩn cấp gọi các nơi đem quân về cứu giá. Tuần phủ Ngụy Chiếu Thừa đang gom quân Giang Tây cần vương. Ta về Duyên Sơn chiêu mộ con em họ Phí làm quân đội riêng. Mẹ kiếp, các chi họ Phí chẳng ai chịu đem quân cần vương, chỉ sai người đưa vài lạng bạc, bảo là góp vào quân phí. Ta đành lên thư viện thử vận may, xem có chiêu mộ được vài kẻ hào kiệt nào không.

Triệu Hãn nghe mà kinh hãi, cũng vội chạy theo hỏi:

- Chuyện xảy ra từ bao giờ?

- Tháng trước.

Phí Ánh Công không muốn nói nhiều với bọn trẻ, chỉ đáp qua loa:

- Không kể với các cháu nữa. Ta còn phải mau chóng lên núi!

Tuần phủ Giang Tây Ngụy Chiếu Thừa tuy tham lam, bất tài, nhưng vào mùa đông năm Sùng Trinh thứ hai, ông ta là vị quan địa phương duy nhất ở toàn miền Nam nhận chiếu lệnh đem quân cần vương.

Ít nhất, lòng trung của ông ta cũng đáng khen!

Đứng nhìn Phí Ánh Công đi lên núi, Triệu Hãn không nhịn được, hỏi:

- Bình thường Tứ thúc của đệ làm nghề gì?

Phí Như Hạc vênh mặt đầy tự hào:

- Đại hào hiệp!

Vào cuối thời Minh, mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt. Tư tưởng trọng nghĩa khí vì thế lan rộng, rồi dần phát triển theo hướng méo mó.

Chẳng hạn như Trần Tổ Thụ, người đứng đầu kỳ thi Giải nguyên ở Nam Trực vào năm Thiên Khải thứ nhất. Khi ấy, hắn đã bắt đầu nuôi dưỡng hiệp khách. Sau này làm đến chức Lang trung Bộ Binh, hắn kết giao với hơn nghìn tráng sĩ, tất cả đều tự xưng là “đại hiệp đất Ngư Dương”.

Sau khi Trần Tổ Thụ chết, có người định thu phục đám hiệp khách ấy. Bọn họ lại nói:

- Chúng ta vì trọng nghĩa mà nguyện chết theo Trần công, há chịu cúi đầu nhìn sắc mặt đám quan văn?

Các hiệp khách khóc tang, rồi lần lượt giải tán.

Lại như Doãn Canh, Phó sứ Ty Binh bị vào thời Gia Tĩnh. Khi ấy hắn không có tiền lên kinh dự thi Hội, bèn dựa vào trò lừa bạc bịp bợm mà kiếm được mười lạng bạc, mua một con ngựa hèn rồi đi về phương Bắc.

Mới ra khỏi kinh thành hơn trăm dặm, hắn đã đổi được một con ngựa tốt. Đến khi vào kinh, toàn bộ tiền bạc trong người đều là do bọn trộm cướp dọc đường tặng cho.

Còn có Lưu Đào, Tả Đô ngự sử đời Gia Tĩnh. Khi bị điều ra Sơn Đông làm quan, các thủ lĩnh đạo tặc vùng Trung Nguyên lần lượt kéo đến quy thuận, đi theo hắn đến phủ Tế Nam nhậm chức.

Anh trai của thủ phụ Cao Củng là Cao Tiệp, thuở thiếu niên đã thích hành hiệp. Dù sau khi đỗ cử nhân, hắn vẫn theo bọn cướp đánh chặn thương nhân trên đường. Mãi đến khi đỗ tiến sĩ, hắn mới chịu thu mình đôi chút.

Đám học trò của Vương Dương Minh cũng sản sinh ra cả một bọn đại hiệp giang hồ.

Ngày thường, những người ấy là đại nho, dẫn môn đồ đi khắp nơi giảng học, lần nào cũng khiến người người kéo đến nghe, phố xá vắng tanh. Đạo tặc, hiệp khách thường tìm đến xin theo học. Các đại nho chỉ qua một phen đã biến thành thủ lĩnh của đám giang hồ.

Còn Thôi Trình Tú, kẻ đứng đầu năm con hổ của phe hoạn quan, khi làm quan Tuần án vùng Hoài Dương cũng kết giao với rất nhiều hào hiệp. Quan địa phương bắt được cường đạo, chỉ cần nộp cho hắn hai nghìn lạng bạc là hắn thả người.

Tứ thiếu gia nhà họ Phí, Phí Ánh Công, chính là một “nhà nho hành hiệp” như thế.

Gã mang sách thánh hiền bên mình, lấy cớ du học để lang bạt khắp nơi. Khi thì tìm đến danh sư cầu học, khi lại kết giao với phường cướp bóc, cùng chúng đi cướp của. Chỉ trong ít năm, hắn đã gây dựng được danh tiếng ở ba tỉnh Giang Tây, Phúc Kiến và Quảng Đông. Nhiều quan địa phương gặp hắn còn phải cung kính tiếp đãi.

Lần này hưởng ứng lệnh cần vương, hắn dẫn theo hơn trăm tên cướp, gia nhập dưới trướng tuần phủ Ngụy Chiếu Thừa.

Nước sắp mất, ắt sinh yêu nghiệt!

‹ ☰ ›