Nhà họ Trần từ đó đóng cửa núi, không hỏi đến chuyện trên nguyên nữa.
Hứa Huyền lòng dạ bất an. Về tới Lạc Thanh, hắn liền chuẩn bị bế quan đột phá, giao việc trong môn cho Ôn Tư An trông nom trước.
Việc đầu tiên là luyện hóa khúc Huyền Kỳ Lôi Mộc kia.
Hắn lấy linh mộc ra, chỉ nghe tiếng sấm rền khe khẽ. Thân gỗ cháy đen như than, vừa chạm vào đã cảm thấy luồng khí chết chóc quấn quanh, thấp thoáng còn văng vẳng tiếng oán than.
Linh mộc này vốn là tinh hoa của cây cỏ, đã sinh linh trí, mở mang suy nghĩ. Nếu tu luyện thêm trăm năm, vượt qua lôi kiếp, nó sẽ hóa thành tinh quái. Nay bị người ta lấy đi quá sớm, khó trách trong nó còn vương oán khí.
Tinh hoa ngũ hành không thuộc loài sâu bọ hay chim muông, nên trời ghen, người hại.
Hứa Huyền từng nghe có đạo thống chuyên tu con đường này. Ở quận Thiên Thủy phía bắc có núi Đề Phong, tu đạo tàng kim. Mười hai Kim Nhân bảo vệ sơn môn, ai nấy đều đã vào hậu kỳ Trúc Cơ, quả thật là tiên môn thượng tông.
Hắn dùng pháp lực luyện hóa Huyền Kỳ Lôi Mộc, khiến nó không ngừng thu nhỏ. Cuối cùng, linh mộc chỉ còn bằng ngón tay, trong suốt như ngọc, ánh sét chớp động. Lúc ấy, chút sinh cơ ẩn sâu trong thân gỗ mới trỗi dậy, khiến toàn thân Hứa Huyền khoan khoái, đầu óc sáng rõ.
Hắn đưa linh mộc vào khí hải, dùng tâm thần nối liền với nó. Tu sĩ bình thường muốn luyện hóa vật làm bản mệnh thường dùng lửa đạo. Nhưng Hứa Huyền không dám làm vậy.
Trên Huyền Kỳ Lôi Mộc quấn đầy nguyên khí sấm sét. Dùng lửa luyện nó, hai thứ khắc nhau, e rằng sẽ nổ tung ngay trong khí hải. Hắn chỉ đành dùng bản nguyên từ từ thấm nhuần, rồi lấy kiếm khí gọt bỏ oán khí còn sót lại trên thân gỗ. Tiến độ vì thế rất chậm.
Hứa Huyền đang cặm cụi luyện hóa thì nét bùa trên linh đài bỗng đổi khác. Huyền giao lượn giữa tầng mây kiếm, gầm lên một tiếng. Linh mộc lập tức rung mạnh, chút linh tính còn sót lại tan biến. Nó thôi chống cự, mặc cho Hứa Huyền luyện hóa.
Một lát sau, Huyền Kỳ Lôi Mộc rốt cuộc thu hết ánh sáng, rồi đâm chồi mới, bén rễ trong khí hải của hắn.
Thành rồi.
Hứa Huyền lặng lẽ cảm nhận biến đổi trong khí hải. Linh mộc có hai công dụng. Một là dùng nguyên khí sấm sét bồi đắp pháp thể, giúp cơ thể hắn hợp với lôi lực hơn. Thi triển bí thuật trong bộ Chấn Diệu Vấn Linh Pháp, tốc độ lẫn uy lực đều tăng hai thành. Hai là bên trong ẩn chứa một luồng sinh cơ tinh khiết. Nếu Hứa Huyền bị trọng thương, tính mạng gặp nguy, luồng sinh cơ ấy có thể chữa lành thương thế. Nhưng làm vậy sẽ tổn hại linh mộc rất nặng, chỉ dùng được một lần.
Trước cảnh giới Luyện Khí tầng sáu, hiếm ai luyện vật như hắn. Sau khi cầu lấy mệnh bản, khí hải sẽ nảy sinh nhiều biến hóa kỳ diệu, đến lúc ấy luyện vật dễ dàng hơn nhiều. Ai lại khổ công ở tầng năm Luyện Khí?
Hứa Huyền cũng hết cách. Mệnh bản mà những công pháp khác trong môn cầu được, đâu có bá đạo như thứ của hắn.
Sư huynh Tập Vi tu bộ Độ Hỏa Bất Việt Quyết tam phẩm, có thể điều khiển lửa tùy ý. Khi luyện khí, huynh ấy cần một luồng khí Độ Việt. Muốn có luồng khí này, phải luyện khí quanh năm, nung chảy vàng đá, đốt tan đồng sắt. Làm vậy suốt bảy năm mới ngưng được một sợi. Còn muốn cầu mệnh bản, phải dùng lửa nung khí hải, mở lò thành ngọn.
Thế nhưng Thê Vân cũng tu bộ công pháp ấy. Khí cần dùng khi luyện khí có thể lấy ngay trong lò Cảnh Dương.
Tư An nay đã tới cảnh giới Luyện Khí tầng ba, tu bộ Thương Dương Văn Vũ Pháp tam phẩm, thuộc đường Quý Thủy, giỏi gọi mây gieo mưa, khơi dậy linh khí và tưới nhuần sinh cơ. Nhờ vậy, ruộng linh ở Trường Minh mới dần được nàng chăm nom cho ra dáng.
Muốn luyện khí theo công pháp này, phải tìm một luồng khí Văn Vũ U. Cần nuôi một con chim mưa, cho nó nghe mưa mà múa. Mười năm như thế mới sinh ra luồng khí ấy. Cầu mệnh bản thì chỉ cần thuận theo lúc mưa, hóa khí thành mây, tạo được mưa trong khí hải.
Chỉ riêng hắn, Hứa Huyền, muốn cầu mệnh bản lại phải chịu sét đánh!
Có điều, bộ Thiên Hỏa Hằng Quang Kinh trong đạo quán dường như đòi hỏi phải chịu lửa luyện mới cầu được mệnh bản. Nghĩ vậy, e rằng đến lượt Lưu Tiêu Văn cũng chẳng dễ chịu gì. Hứa Huyền thở dài. Thầy trò bọn họ đúng là cùng một dòng, người trước kẻ sau đều phải chịu khổ.
Rời điện Cư Chân, Hứa Huyền đi thẳng tới đỉnh Đãng Vân.
Vương Tập Vi đang dùng chiếc búa nhỏ bằng ngọc đỏ, hết lần này đến lần khác gõ lên một thanh kiếm ngắn bằng ngọc biếc. Thanh kiếm thuộc hàng trung phẩm Luyện Khí, ánh sáng trong trẻo, luồng khí mát lạnh lưu chuyển. Trông nó giống pháp khí thuộc hành Thủy.
Hứa Huyền tò mò hỏi:
- Sư huynh Tập Vi, thanh kiếm này huynh luyện cho ai vậy?
Vương Tập Vi thấy Hứa Huyền xuất quan nhanh đến thế, mí mắt giật một cái, chỉ tưởng hắn luyện hóa thất bại.
- Sư đệ, sao đệ luyện hóa linh mộc nhanh vậy? Mọi chuyện ổn cả chứ?
Hứa Huyền mỉm cười, lấy Huyền Kỳ Lôi Mộc trong khí hải ra. Lúc này nó đã bén rễ, đâm chồi, cành cây đan bằng ánh sét, trông rất khác thường.
- Thành rồi!
Vương Tập Vi hơi kinh ngạc, nhưng chỉ cho rằng Hứa Huyền thân cận với lôi đạo nên mới luyện hóa nhanh như vậy.
- Thanh pháp kiếm này là Tư An sư muội nhờ ta luyện. Muội ấy nói những năm qua chỉ quanh quẩn ngoài ruộng, lơ là việc đấu pháp, nên muốn học kiếm thuật. Muội ấy giao vật liệu cho ta, nhờ ta đúc thanh kiếm này.
Hứa Huyền ghé lại xem kỹ. Thanh kiếm ngắn bằng ngọc biếc lấy Thiên Vũ Bích Ngọc cấp Luyện Khí làm vật liệu chính, bên trong thân kiếm khắc một đạo phù Trì Quang Thủy. Nó có thể chia ánh sáng, giữ cảnh vật đứng yên, gọi mưa nhờ sức nước. Pháp khí này cũng khá tốt, nhưng vẫn kém Đan Đình của Hứa Huyền không ít.
- Tư An sư muội đã đến Tàng Kinh Các lấy bộ Tòng Minh Nhất Khí Kiếm Quyết tam phẩm. Nếu đệ rảnh, cũng nên chỉ điểm muội ấy đôi điều.
Vương Tập Vi thở dài. Huynh nâng thanh kiếm ngắn bằng ngọc biếc lên, ngắm dưới nắng rồi khẽ nói:
- Đệ sáng dạ, biết lo liệu mọi việc chu toàn. Đệ làm chưởng môn, ta rất yên tâm. Nhưng những tiên môn có truyền thừa như kia, sao lại để tài năng trong môn phí hoài vào chuyện vụn vặt?
- Người có tài ắt phải được đặt đúng chỗ. Kẻ đấu pháp thì chuyên đấu pháp, người đột phá thì chuyên đột phá, người quán xuyến việc nhà thì lo việc nhà. Nay mọi gánh nặng đều đè lên vai đệ. Ta chỉ biết luyện khí, chẳng giúp được gì nhiều. Mấy năm qua đệ vất vả quá, trông đã chẳng kém gì tuổi ta.
Thân hình vạm vỡ như tháp sắt của Vương Tập Vi khẽ cúi xuống. Huynh tiếp lời, giọng vẫn trầm thấp:
- Tư An sư muội là người cố chấp. Từ ngày sư phụ mất, muội ấy đau buồn đến tột cùng mà chẳng rơi một giọt nước mắt, rồi đến Trường Minh, ngày đêm làm lụng. Không khóc, cũng chẳng cười, tính nết đổi khác hẳn.
- Ta già rồi, tu vi cũng giậm chân tại chỗ. Tương lai của sư môn vẫn phải trông vào các đệ và lớp người sau.
- Đệ với Tư An hãy nâng đỡ nhau, cũng nên thường trò chuyện, hỏi han cảnh ngộ của nhau. Lạc Thanh rộng lớn thế này, chẳng có ai để tâm sự, nơi đây cũng hóa lạnh lẽo.
Hứa Huyền không biết đáp sao, chỉ hẹn với Vương Tập Vi ba ngày sau sẽ cầu mệnh bản.
Vương Tập Vi luyện xong pháp khí, liền nhờ Hứa Huyền mang đến Trường Minh.
Hứa Huyền vốn định để Lưu Tiêu Văn đi chuyến này, nào ngờ Vương Tập Vi đã cho Thê Vân cùng Tiêu Văn tới Bạch Thạch khảo sát mạch quặng. Hắn đành tự mình lên đường.
Hứa Huyền nhận thanh pháp kiếm, cưỡi mây đỏ bay thẳng tới Trường Minh.
Ruộng linh đã trở lại nề nếp. Từng cây linh dược khẽ lay trong gió, tỏa hương thơm dịu.
Hứa Huyền không muốn phô trương, bèn giấu thân hình, bay một vòng trên trời. Cuối cùng, ở bên một thửa ruộng linh giữa núi, hắn trông thấy Ôn Tư An.
Nàng mặc áo vải xanh bình dị, trên mái tóc vấn cao cài một chiếc trâm ngọc trắng. Hứa Huyền nhớ hình như đó là món hắn tặng nàng khi nàng đột phá Luyện Khí, nhưng ngày thường gặp mặt, hắn chưa từng thấy nàng đeo.
- Tư An.
Giọng hắn từ trên cao rơi thẳng xuống thửa ruộng mềm xốp, rồi lướt qua những đóa thược dược Thanh Nguyên đang nở rộ, khiến Ôn Tư An dừng tay, thôi khơi mạch đất, gọi mây gieo mưa.
Giọng nói ấy thân thuộc đến lạ, gợi nàng nhớ về những ngày tu hành ở Lạc Thanh thuở trước.
- Sư huynh.
Ôn Tư An ngẩng đầu nhìn lên. Ánh nắng ngược chiếu khiến người ta khó lòng thấy rõ vẻ mặt nàng.