Ngoài cửa sổ, mưa vẫn rơi rả rích. Trên lớp kính trong veo, nước mưa đọng thành từng giọt dày đặc.
Nhìn qua cửa sổ, có thể thấy Arthur và Elder đang hỏi đáp với nhau.
Thời gian thoắt cái trôi qua. Chẳng bao lâu sau, tờ giấy thứ hai Arthur mang đến hôm nay cũng kín đặc thông tin về “tên tướng trộm cắp” Fred.
Tên: Fred Matthews
Giới tính: Nam
Tuổi: 40 đến 50
Lai lịch:
1. Nói giọng miền Nam. Có thể hắn xuất thân từ một gia đình tá điền ở vùng quê Sussex hoặc Kent.
2. Thuở trẻ từng đi lính trong quân đội chính quy, biết sử dụng súng đạn và có chút võ đánh giáp lá cà. Chưa rõ hắn phục vụ trong đơn vị nào.
3. Sau khi chiến tranh Napoleon kết thúc năm 1815, hắn bị giải ngũ. Khi ấy nhiều đơn vị cùng lúc bị giải tán, việc làm trở nên khan hiếm. Fred bèn lang bạt khắp các bến tàu London, làm phu khuân vác kiếm sống. Sau đó, hắn tập hợp một nhóm cựu binh, dùng vũ lực giành mối vận chuyển hàng hóa ở bến cảng.
4. Từ sau năm 1820, hắn dần chuyển sang làm những nghề khác, bao gồm nhưng không giới hạn ở tiêu thụ đồ ăn cắp, trộm cắp, cướp bóc, đòi tiền bảo kê và tống tiền.
5. Năm 1825, nghiệp đoàn kinh doanh bến cảng đệ đơn tố cáo. Băng nhóm của hắn bị giáng một đòn nặng nề, nhiều tay chân thân tín bị kết án treo cổ.
6. Sau một thời gian biến mất, Fred cùng đám thuộc hạ lại xuất hiện. Năm 1828, hắn mở một văn phòng thám tử tư tên là “Hắc Trì” tại số 75 ngõ Brick Lane, khu Whitechapel, phía đông London. Hắn tuyên bố văn phòng nhận đủ loại việc, từ bắt trộm, điều tra cho tới bảo vệ an toàn.
7. Công việc thường ngày ở văn phòng chủ yếu do thuộc hạ của Fred đảm nhiệm. Từ sau năm 1825, hắn rất ít lộ diện nơi công cộng. Người biết mặt thật của hắn chẳng được mấy ai.
Viết đến đây, Arthur chợt thấy vụ này khá hóc búa.
Những vụ án Fred công khai gây ra phần lớn đều xảy ra trước năm 1825. Chúng đã qua lâu, muốn thu thập chứng cứ để khởi tố hắn quả là khó như mò kim đáy biển.
Còn bây giờ, tuy có thể theo dõi văn phòng thám tử tư của Fred để điều tra, nhưng theo những gì Arthur nắm được, kể từ khi tái xuất, hắn luôn hành sự rất kín đáo.
Khi làm những phi vụ mờ ám như tiêu thụ đồ ăn cắp, hắn lựa chọn người giao dịch hết sức thận trọng.
Hoặc hắn chỉ giao dịch riêng lẻ, số tiền nhỏ. Những vụ như thế diễn ra nhanh, giá trị thấp, gần như không để lại dấu vết, rất khó lần ra.
Còn với các phi vụ lớn, dễ bị điều tra, Fred chỉ chọn người có Hải quân Hoàng gia đứng sau chống lưng, hoặc có thế lực vững chắc như Elder.
Nói trắng ra, chỗ có thể tra thì khó tra. Chỗ dễ tra lại không thể đụng vào.
Arthur đâu thể xách còng tay đến Bộ Hải quân bắt người, phải không?
Trước mớ thông tin rối như tơ vò, Arthur chỉ thấy trong người bứt rứt khó chịu.
Tên Fred này quả thực chẳng dễ bắt.
Elder ngồi bên cạnh khuyên:
- Arthur, tự dưng cậu dây vào hắn làm gì? Hắn chỉ là một tên lính quèn giải ngũ từ lục quân. Bản thân chẳng có tài cán gì, nhưng những kẻ dính dáng phía sau hắn thì nhiều lắm. Cậu có muốn bắt thì cũng chỉ nên bắt hắn chết, tuyệt đối đừng bắt sống. Nếu cậu nhốt hắn vào Sở Cảnh sát Scotland Yard, e là đêm đó sẽ có khối người ở London mất ngủ.
Arthur ngả người dựa vào ghế:
- Trong đó có cả cậu à?
- Tôi á? Đương nhiên không.
Elder thản nhiên nói:
- Có chú tôi chống lưng. Chú tôi có tư lệnh hạm đội che chở. Tư lệnh hạm đội có Bộ Hải quân làm chỗ dựa, Bộ Hải quân lại có Nghị viện đứng sau. Ai cũng biết dưới nhà xí toàn phân, ai cũng biết chỗ đó thối hoắc, nhưng ai rảnh mà đi mở nắp lên xem? Đến lúc cần đi vệ sinh, chẳng phải vẫn phải bịt mũi mà vào sao? Chẳng lẽ lại định cho nổ tung hố phân? Nói thật, nếu cậu bươi đống phân ấy ra, dù cậu không thấy ghê, đến lúc đau bụng thì định chạy ra đồng mà giải quyết à?
Elder nói toàn chuyện phân với nước tiểu, khiến Darwin vừa cầm miếng bánh mì lên đã phải đặt xuống.
Ông than:
- Elder, cậu thật sự tốt nghiệp ngành văn học cổ điển đấy à?
Elder nhướng mày:
- Sao anh cũng hỏi câu ấy?
Hắn cầm một miếng cá khô bỏ vào miệng, vừa nhai vừa chỉ bảo:
- Charles, anh thế này không được đâu! Sau này lên tàu, lỡ lênh đênh lâu ngày mà hết lương thực, thì trái cây thối hay vụn bánh quy mốc meo, anh cũng phải nuốt xuống đấy.
Ba người đang trò chuyện thì cửa quán cà phê bỗng bị đẩy ra.
Chiếc chuông treo trên cửa reo lanh lảnh. Hai người mặc đồng phục cảnh sát, người ướt sũng, bước đến trước mặt Arthur.
Elder nhìn hai người, ngẫm nghĩ một hồi rồi bỗng giật nảy khỏi ghế.
Hắn chỉ vào Arthur, mắng:
- Arthur, cậu định tóm cổ tôi thật đấy à? Sợ một mình không chế ngự nổi tôi nên còn gọi thêm hai tay giúp sức?
Arthur chẳng hiểu người bạn này bị chập mạch ở đâu, đành bất lực giải thích:
- Cậu cứ ngồi xuống ăn cá khô đi. Họ không đến bắt cậu đâu.
Elder vẫn ngờ vực:
- Thế họ đến làm gì?
Arthur liếc đồng hồ trong quán cà phê, rồi nói với hai viên cảnh sát:
- Tom, Tony, hôm nay hai cậu đến muộn quá đấy.
Viên cảnh sát Tony ngượng ngùng đáp:
- Arthur, chúng tôi thật sự không cố ý. Hai đứa tôi quen làm việc ngoài đường rồi, hôm nay tuần tra được nửa chừng mới chợt nhớ ra cậu đã điều chúng tôi về làm ở đồn cảnh sát khu vực.
Tom cũng đỏ mặt, gật đầu:
- Arthur, hay là tôi với Tony quay lại đội tuần tra nhé. Trước kia Tony làm nghề khâu giày, còn tôi thì đánh giày. Mấy việc giấy tờ này, hai đứa tôi thật sự không kham nổi.
- Ai bảo các cậu về đồn cảnh sát khu vực để làm giấy tờ?
Tony và Tom ngẩn ra, rồi đồng thanh hỏi:
- Thế cậu gọi chúng tôi đến làm gì?
Arthur nghiêm mặt nói:
- Tuần tra thì ai cũng làm được. Nhưng phá án thì đâu phải ai cũng biết cách. Tôi điều hai cậu đến đây là muốn rèn các cậu từ cảnh sát tuần tra thành thám tử. Đã định làm thám tử thì đương nhiên phải học thêm những kiến thức liên quan. Hai cậu biết người với khỉ khác nhau lớn nhất ở chỗ nào không? Người hơn khỉ ở chỗ biết không ngừng học hỏi để theo đuổi những kỹ năng cao hơn. Còn vị Charles Darwin trước mặt tôi đây, không chỉ hiểu về khỉ mà còn hiểu về con người, hơn nữa còn biết khỉ đã tiến hóa thành người ra sao. Vì vậy, trong ba tháng tới, việc chính của hai cậu là theo ông Darwin học kiến thức về tự nhiên và y học.
Arthur vừa dứt lời, Tom và Tony còn chưa kịp đáp thì Darwin đã lên tiếng phản đối:
- Arthur, tuy tôi theo thuyết tiến hóa của Lamarck, nhưng tôi không cho rằng giữa người và khỉ có mối liên hệ tất yếu nào.
Arthur chẳng bận tâm đến lời phản đối của Darwin, chỉ khoát tay:
- Không sao, sau này ông muốn tin như vậy cũng được.
Lần này đến lượt Tom và Tony khó xử.
- Arthur, cậu bảo chúng tôi đi tuần thì còn được.
- Nhưng chuyện học hành này…
Arthur hiểu quá rõ hai đồng nghiệp của mình là hạng người thế nào. Hắn chẳng nói gì, chỉ giơ ba ngón tay lên.
Tony cau mày hỏi:
- Arthur, ý cậu là sao?
Arthur bình thản đáp:
- Mỗi tuần, hai cậu sẽ được trợ cấp tạm thời ba shilling một người. Tiền này trích từ lương của tôi. Nếu ba tháng sau các cậu vượt qua kỳ sát hạch, khoản trợ cấp sẽ được tính hẳn vào lương tuần.
- Chậc…
Tony và Tom nhìn nhau. Chẳng cần nghĩ ngợi lấy nửa khắc, cả hai lập tức đứng nghiêm, giơ tay chào Arthur:
- Rõ, thưa cấp trên!