Chương 33: Á Tắt Hắc Tư Đình Tư Nguyên Tắc - Bóng Hình Đại Anh

Trang chủ › Bóng Hình Đại Anh › Chương 33

Chương 33 - Á Tắt Hắc Tư Đình Tư Nguyên Tắc

☰ DS Chương 📖 2,079 chữ

Giữa trường đua ngựa ở dinh thự ngoại ô của ngài Peel, cây cối xanh um rợp bóng. Qua đám cỏ mọc đầy hoa, thấp thoáng một bóng người lao đi nhanh như chớp.

Ngài Peel vung roi ngựa, điều khiển thuần thục con ngựa thuần chủng Anh đắt tiền dưới yên vượt hết chướng ngại này đến chướng ngại khác. Huấn luyện viên cưỡi ngựa của ông cầm đồng hồ bỏ túi, cung kính đứng ở vạch đích bấm giờ.

Chỉ trong vài hơi thở, ngài Peel đã hoàn tất chặng nước rút cuối cùng. Ông thở phào, quay sang hỏi huấn luyện viên:

- Lần này có tiến bộ không?

Huấn luyện viên mỉm cười gật đầu:

- Làm huấn luyện viên cưỡi ngựa, nói ra câu này tôi cũng chẳng vui vẻ gì, nhưng vẫn phải thật lòng khen ngài quả là có tài. Thành tích của ngài là hai phút năm mươi hai giây, đã gần đạt trình độ của một tay cưỡi ngựa thành thạo rồi. Nếu ở thời Trung Cổ, giờ ngài đã có thể dẫn theo vài kỵ sĩ tùy tùng, giúp đức vua vĩ đại Henry Đệ Ngũ đánh người Pháp.

Ngài Peel chẳng để bụng lời tâng bốc ấy, chỉ cười đùa:

- So với đánh người Pháp, giờ tôi muốn xông vào đám Whig và những kẻ cực đoan trong chính đảng mình hơn.

Huấn luyện viên dè dặt hỏi:

- Có phải vì Đạo luật Giải phóng Công giáo không? Tôi nghe nói bá tước Eldon, cựu Chánh án Tòa án Tối cao, đã gay gắt chỉ trích công tước Wellington và ngài vì để đạo luật được thông qua. Ông ta còn dọa sẽ dẫn nhóm nghị sĩ ủng hộ mình rời khỏi đảng Tory.

Ngài Peel xuống ngựa:

- Lão già cố chấp ấy cứ như vẫn còn sống ở thời Trung Cổ. Theo ý lão, chẳng những không nên thông qua đạo luật giải phóng, mà còn phải đuổi hết người Ireland đang làm thuê ở London về quê, để họ tiếp tục bới đất kiếm ăn.

Lão không hiểu thời thế đã đổi thay. Biến cố Clare chính là minh chứng rõ nhất.

Nếu chúng ta không ban cho người Ireland Đạo luật Giải phóng Công giáo, từ nay về sau, chẳng đảng viên Tory nào còn có thể thắng cử ở miền nam Ireland.

Người Ireland thà bỏ phiếu cho những tín đồ Công giáo không đủ tư cách ra tranh cử, chứ nhất quyết không nhận khoản tiền cảm ơn năm mươi bảng cho mỗi lá phiếu mà chúng ta đưa ra.

Các tổ chức như Hiệp hội Công giáo Ireland ra đời cũng cho thấy chuyện giải phóng đã cấp bách đến mức nào. Nếu lần này không thông qua được đạo luật, nội chiến chắc chắn sẽ nổ ra.

Năm xưa, vì một đạo luật về quyền lợi, hai đảng ở Đại Anh đã đánh nhau suốt năm mươi năm, khiến hàng trăm nghìn người bỏ mạng. Không ai hiểu tai họa nội chiến gây ra lớn đến đâu hơn chúng ta.

Người Anh vốn có truyền thống giải quyết mâu thuẫn trong nước bằng thương lượng. Phải cố hết sức, đừng để vấn đề đi đến chỗ dùng binh đao.

Công tước Wellington và tôi đều tán thành đường lối ấy. Đương nhiên, chúng ta phải có trách nhiệm với những người ủng hộ mình, nhưng trước hết vẫn phải nghĩ đến tương lai đất nước.

Còn đám cực đoan kia, chúng chỉ chăm chăm giữ lấy phần lợi của mình.

Có kẻ sợ người Công giáo được vào nghị viện sẽ đe dọa ghế nghị sĩ của chúng.

Các tổng giám mục thuộc Thượng viện thì ôm khư khư cái luận điệu cũ rích: “Anh Quốc là Anh giáo, Anh giáo là Anh Quốc.”

Chúng sợ tín đồ Tin Lành sẽ bị Công giáo lôi kéo một khi đã mở tiền lệ này. Chúng còn sợ chẳng bao lâu nữa, các giám mục và giáo sĩ cấp cao ở Anh sẽ lại do Giáo hoàng La Mã bổ nhiệm.

Còn nhà vua, cái gã tham lam, hư vinh mà tự ti ấy, lại là người đứng đầu tối cao của Anh giáo. Dĩ nhiên ông ta chẳng đời nào chịu để những tín đồ Công giáo không công nhận mình là người lãnh đạo tối cao về đức tin được bước chân vào nghị viện.

May thay, cuối cùng công tước Wellington vẫn trụ vững trước mọi sức ép. Chiến công lẫy lừng và uy danh lừng lẫy của ông đã khiến nhà vua phải khuất phục.

Haiz…

Có lẽ cậu không biết, hôm Thượng viện bỏ phiếu, công tước Wellington chống gậy ngồi trong phòng họp. Hễ quý tộc nào đi ngang qua, ông đều nhìn thẳng vào mặt họ, dõi theo từng người bỏ phiếu thuận.

Nói thật, trong mấy chục năm qua, ở Đại Anh chỉ có hai người đủ uy tín lẫn năng lực làm nên chuyện này.

Một người còn sống, một người đã khuất.

Người còn sống chính là công tước Wellington, Arthur Wellesley.

Người đã khuất là linh hồn của Hải quân Hoàng gia, Horatio Nelson.

Đáng tiếc thay, có người cam lòng hy sinh vì đất nước, vậy mà kẻ khác chẳng những không biết điều, còn nhân cơ hội này định kích động một cuộc từ chức hàng loạt, kéo sang phe Whig và ép công tước Wellington từ chức.

Cậu cũng đọc báo rồi chứ? Lần này, chúng thậm chí chẳng ngại phanh phui chuyện mua chuộc cử tri và những khu bầu cử đã suy tàn, chỉ cốt đánh đổ nội các Wellington.

Chúng ra sức tố cáo chính phủ mục ruỗng, kích động đám đông theo đạo Tin Lành, bảo rằng chính phủ nhận tiền của người Ireland, bị tín đồ Công giáo và thế lực Giáo hội La Mã thao túng, nên mới để đạo luật giải phóng được thông qua.

Trời đất ơi!

Tôi thật không thể tin nổi!

Lũ khốn nạn ấy!

Đám cực đoan kia nên tự soi gương mà xem!

Xưa nay, trong đảng, kẻ nào thích nhận hối lộ để làm việc cho người khác nhất?

Bộ phận mục nát nhất của đảng Tory chính là cái đám vừa rời đi!

Giờ chúng làm chuyện này, rêu rao những lời ấy, cuối cùng chỉ tự hại mình thôi. Một lũ ngu xuẩn!

Ngài Peel vốn luôn ôn tồn nhã nhặn, nay bỗng buông lời chửi thề khiến huấn luyện viên ngỡ ngàng, chẳng biết phải làm sao.

Đúng lúc ông ta đang lúng túng, một gia nhân cầm phong thư chạy về phía trường đua.

Người ấy thở hổn hển đến trước mặt ngài Peel, bẩm:

- Thưa ngài, đây là thư từ Sở Cảnh sát Scotland Yard gửi đến. Ngoài ra, Thủ tướng, công tước Wellington, cùng bá tước Anglesey, Bộ trưởng phụ trách Ireland, đã đến theo lời mời của ngài. Hai vị đang uống trà trong phòng khách.

- Thư từ Scotland Yard à? Sao dày thế?

Ngài Peel hít sâu một hơi để lấy lại bình tĩnh, rồi tháo găng tay, dặn gia nhân:

- Cậu hãy báo với hai vị ấy, thay quần áo xong tôi sẽ tới.

Nói rồi, ông vừa mở phong thư vừa đi về phía dinh thự.

Phong thư vừa mở, ngài Peel đã nhìn rõ dòng tiêu đề:

“Phúc đáp đề nghị lấy ý kiến về việc sửa đổi Nội quy Sở Cảnh sát Đại London do ngài Peel khởi xướng.”

- Thì ra là thứ này.

Ông đang định cất thư đi trước, chợt liếc thấy tên người gửi ở cuối thư: Arthur Hastings.

- Sĩ quan Arthur à?

Ngài Peel bỗng thấy hứng thú. Ông mở thư ra đọc.

Ban đầu, ông chỉ định lướt qua cho biết. Nào ngờ vừa nhìn vào nội dung, mắt ông đã dán chặt vào trang giấy.

Trong thư, Arthur diễn giải tỉ mỉ và bổ sung sửa đổi từng điều trong bản nội quy ban đầu. Sau mỗi điều hợp lý hay chưa hợp lý, anh đều ghi rõ nguyên do, kèm theo những trường hợp thực tế gặp phải khi thi hành nhiệm vụ.

Sợ ngài Peel đọc mỏi mắt, hoặc không thích những lời dài dòng, Arthur còn chu đáo tóm lược mọi kiến nghị thành chín nguyên tắc ngắn gọn về cách hành xử của cảnh sát:

1. Nhiệm vụ căn bản của cảnh sát là ngăn ngừa tội phạm và giữ trật tự, chứ không phải dùng bạo lực hay luật pháp hà khắc để trấn áp tội phạm và bạo loạn.

2. Khả năng làm tròn bổn phận của cảnh sát dựa vào sự ủng hộ của công chúng đối với cách hành động của họ.

3. Khi người dân tuân thủ pháp luật tự nguyện hợp tác với cảnh sát, cảnh sát phải bảo vệ danh dự và phẩm giá của họ.

4. Cảnh sát được công chúng hợp tác nhiều hay ít tỷ lệ nghịch với mức độ vũ lực và cưỡng chế cần dùng để hoàn thành nhiệm vụ.

5. Cảnh sát phải giành được sự kính trọng và quý mến của công chúng, không phải bằng cách chiều theo dư luận, mà nhờ thi hành pháp luật công bằng trong thời gian dài. Họ được người dân yêu mến vì sẵn lòng phục vụ mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt chủng tộc hay địa vị; vì luôn nhã nhặn, ôn hòa; và vì tinh thần sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ sinh mạng của mọi người.

6. Cảnh sát chỉ được dùng vũ lực theo đúng quy định pháp luật, và chỉ khi nhắc nhở, khuyên bảo, cảnh cáo đều không có tác dụng.

7. Cảnh sát phải luôn giữ mối quan hệ tốt đẹp với công chúng, tôn trọng truyền thống lâu đời rằng “cảnh sát chính là công chúng, công chúng chính là cảnh sát”. Cảnh sát xuất thân từ người dân và trở về phục vụ người dân. Họ chỉ là một thành viên trong xã hội, phải hết lòng làm tròn bổn phận bảo vệ quyền lợi của mọi người.

8. Cảnh sát phải hành động để hoàn thành chức trách của mình, tuyệt đối không chiếm lấy quyền xét xử bằng tâm thế trả thù cá nhân hay tập thể, cũng không được tùy tiện tự phán xét và trừng phạt người phạm tội.

9. Hiệu quả công việc của cảnh sát được đánh giá bằng việc tội phạm có giảm, trật tự xã hội có bớt rối ren hay không, chứ không phải bằng số lần cảnh sát ra tay đối phó với tội phạm.

Đọc đến đây, ngài Peel dừng bước lúc nào chẳng hay.

Một giọng nói uy nghiêm chợt vang lên bên tai ông:

- Robert, chẳng phải anh bảo đi thay quần áo sao? Sao còn đứng đây?

Ngài Peel ngẩng đầu. Người vừa lên tiếng chính là bạn cũ của ông, công tước Wellington.

Đợi mãi không thấy ông quay lại, công tước sốt ruột nên ra ngoài tìm. Không ngờ vừa đến cửa đã gặp ngài Peel.

Công tước chỉ vào lá thư trên tay ông:

- Đây là thứ gì?

- Ông hỏi cái này à?

Ngài Peel liếc nhìn tiêu đề chín nguyên tắc, đáp:

- “Chín nguyên tắc thi hành nhiệm vụ của Sở Cảnh sát Scotland Yard” sắp được công bố. Nhưng cách gọi này nghe cứng nhắc quá, tôi không thích.

Wellington hỏi:

- Vậy anh thường gọi nó là gì?

- Hay cứ gọi là “Nguyên tắc Arthur Hastings” cho gọn, lại đúng với ý nghĩa của nó.

- Arthur Hastings?

Công tước Wellington ngẫm nghĩ:

- Anh nói viên cảnh sát trẻ ở Scotland Yard từng lên báo ấy à?

Ngài Peel mỉm cười đáp:

- Thưa công tước, xét tình hình phong trào đòi bãi bỏ Đạo luật Giải phóng Công giáo đang dâng cao, tôi cho rằng chúng ta cần xây dựng trong xã hội hình ảnh một thủ lĩnh ngoài Anh giáo có sức ảnh hưởng tích cực, nhờ đó xóa bỏ thái độ chống đối của công chúng đối với đạo luật. Theo tôi, thanh tra trưởng Arthur Hastings, người trẻ tuổi mà lại có năng lực, là lựa chọn rất thích hợp.

‹ ☰ ›